Printable View
《东厨司命灶王灵签》
清代《灶君经/灶君灵签》(灶君神像/司命宝誥志心皈命礼/刮锅忌/东厨司命九灵元王定福真君劝善文/金光咒…)/(嘉庆二十四年宝山金世琛敬譔/道光二十五年元性道人拜识/程应星熏沭百拜谨识/俞塘钮芳山识)
http://weibo.com/5792368498/DreKWF1T...d1484138411480
http://book.kongfz.com/item_pic_1351_253645182/
Theo lương y Vũ Quốc Trung, phòng khám đa khoa chùa Cảm Ứng, Hà Nội, các vị thuốc đông y thường nhiều thành phần, trong đó có những vị nguồn gốc khoáng chất, có độc như diên đan, hùng hoàng, khinh phấn, lộ cam thạch… Loại thuốc cam chữa lở miệng thường có diên đan, hay còn gọi là duyên đơn, hồng đơn… Trong một số bệnh có thể sử dụng để uống nhưng với liều rất nhỏ và được chế biến nghiêm ngặt. Khi dùng bên ngoài, cũng cần phải bào chế cẩn thận, không dùng dài ngày vì thuốc dễ hấp thụ qua da, tích luỹ trong cơ thể gây nhiễm độc mạn tính. Hồng đơn thành phần chủ yếu là ôxít chì (Pb304). Đó là chất bột, màu đỏ cam hoặc vàng cam. “Hiện nay, không loại trừ việc người ta đã sử dụng ôxít chì nhân tạo bằng cách oxy hoá chì nên hàm lượng chì rất cao vì vậy đã dẫn đến ngộ độc, thậm chí tử vong”, lương y Vũ Quốc Trung cảnh báo.
http://tccn.vietstock.com.vn/PrintVi...ticleID=181680
===============
Thuốc cam dùng ngoài này thành phần chính là hồng đơn (còn gọi là: Hoàng đơn, duyên đơn, đơn phấn, tùng đơn, châu đơn) có màu đỏ sẫm tươi dạng bột. Thành phần chính của hồng đơn là chì oxyd (Pb3O4). Theo tài liệu cổ, hồng đơn dùng bôi ngoài thì đuổi được độc và làm cho mau lên da non.
là cho dùng thuốc cam có hồng đơn (thành phần chính là chì oxyd) thậm chí còn chế làm viên hoàn cho trẻ nhỏ uống dẫn đến nhiều trường hợp ngộ độc đáng tiếc xảy ra./.
http://doanhnghiepdautu.net/y-te-cuo...i-ngo-doc.html
=============
Sao riêng từng vị (trừ hồng đơn, mai hoa, thanh đại) rồi tán nhỏ mịn, trộn đều.
http://duocphambinhminh.com/ca-muc-m...-vi-thuoc-quy/
============
HỒNG HOA VÀ HOA HỒNG
Hồng hoa và hoa hồng là hai cây khác nhau, Hồng hoa là Carthamus tinctorius thuộc học cúc còn Hoa hồng là Rosachinensis thuộc họ Hoa hồng.
Hồng hoa
Là cây thảo cao khoảng 1m, cụm hoa mầu đỏ cam đẹp, mùa ra hoa vào tháng 5 đến tháng 7, hái hoa đúng vào lúc hoa có màu hồng cho nhiều hoạt chất, phơi khô trong mát để dùng. Trong hồng hoa có chứa một sắc tố mầu hồng gọi là Carthamin, ngoài ra còn chứa một sắc tố màu vàng . Theo các y văn cổ: Sách bản thảo thông nguyên ghi: Hồng hoa tiêu ứ, tán thũng, sản hậu huyết trệ và sổ thai chết lưu trong bụng. Sách Chu Đan Khê đời Nguyên ghi: Hồng hoa dùng nhiều thì tán huyết, dùng ít thì nuôi huyết. Sách Mâu Hy Ung ghi: Hồng hoa là yếu dược hành huyết, huyết xấu ra hết thì các chứng cấm khẩu, đau bụng khỏi cả, tử thai trong bụng cũng theo ra. Sách Thạch Ngoan ghi: Hồng hoa giải nọc độc, tán huyết ứ nên hòa đồng tiện mà dùng thì hơn nhưng dùng nhiều quá thì huyết ra nhiều có hại.Tóm lại:theo đông y hồng hoa có tác dụng phá huyết xấu, sinh huyết mới, chữa kinh nguyệt bế tác, thông kinh, mất kinh, sản hậu ứ huyết, sổ thai chết lưu, khí hư, viêm tử cung, viêm buồng trứng còn dùng chữa viêm phổi, viêm dạ dày, tổn thương do đòn, ngã, hay bị đánh ứ huyết sưng đau. Còn có tác dụng tẩy, giải nhiệt và ra mồ hôi. Ở Ấn Độ hồng hoa được dùng làm thuốc an thần và điều kinh cũng dùng để chữa sởi, vàng da.
Phàm không phải ứ trệ và phụ nữ có thai chớ dùng. Liều dùng trung bình mỗi ngày 3-8g, dưới dạng thuốc sắc hay thuốc ngâm rượu. Ngoài tác dụng làm thuốc hồng hoa còn được dùng để nhuộm tơ, lụa và thực phẩm có mầu đỏ đẹp, không độc.
Đơn thuốc có hồng hoa:
1/ Tứ vật đào hồng: Xuyên khung 6g, đương quy 12g, thục địa 24g, bạch thược 12g, đào nhân 6g, hồng hoa 6g sắc uống ngày 1 thang. Thuốc có tác dụng phá huyết, hành ứ, chữa có kinh nguyệt bế tắc, sản hậu ứ huyết.
2/ Chữa bệnh nhiệt thai chết lưu trong bụng: dùng hồng hoa nấu với nước giếng trong, hòa với đồng tiên, uống kiến hiệu ngay.
3/ Chữa sản hậu huyết vựng, trong lòng buồn bực: dùng hồng hoa 40g, tán nhỏ , rượu hai chén sắc chia hai lần uống, nếu cấm khẩu thì cậy răng cho uống.
4/Chữa các chứng phong: dùng hồng hoa 40g, rượu 1 bát to, sắc còn một nửa uống làm hai lần, nếu chưa khỏi lại làm thêm một liều nữa.
5/ chữa chứng hầu tê (nghẹn cổ) dùng hồng hoa tươi giã vắt lưng bát nước uống thấy khỏi thì thôi.
6/ chữa sau khi đẻ máu xấu không ra, đau bụng bị ngất mê man, phụ nữ kinh bế lâu ngày, huyết tích thành hòn: hồng hoa, tô mộc, nghệ đen đều 8g sắc rồi cho thêm một chén rượu vào uống
7/ phòng và chống bệnh ban, sởi: hạt hồng hoa 3 đến 5 hạt nhai chiêu nước uống.
Hoa Hồng
Cây hoa hồng ra hoa quanh năm, chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9; hoa có màu sắc thay đổi, từ trắng, hồng, đến đỏ có mùi thơm dễ chịu, trồng làm cảnh, hoa đẹp. Trong hoa có tinh dầu mà thành phần chủ yếu là citronellol, geraniol, phelenthyl alcol và stearoptenes . Hoa có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng hoạt huyết, điều kinh, tiêu viêm, tiêu sưng.
Công dụng: Hoa dùng chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, đinh nhọt, viêm mủ da, lao cổ và bệnh bạch hầu. Liều dùng 6-10g hãm uống hoặc tán bột uống. Bột hoa hồng còn dùng cầm máu, chữa băng huyết, tiêu chảy, dùng cản thận trong trường hợp tiêu hóa khó khăn. Rễ hoa hồng chữa đòn ngã, tổn thương, bạch đới, di tinh, dùng 10-15g, dạng thuốc sắc, cũng dùng hoa tươi và lá giã đắp đòn ngã, tổn thương. Người có thai không dùng được.
Bài thuốc có hoa hồng:
1/ Kinh nguyệt không đều, đau bụng: hoa hồng, ích mẫu mỗi vị 10g, sắc uống.
2/ Lao hạch: hoa hồng 9g, hạ khô thảo 15g sắc uống.
3/ Ho trẻ em: hoa hồng bạch hấp với đường phèn cho uống ít một.
BS Nguyễn Đức Minh
CÂY THUỐC QUANH TA
http://www.suckhoetimmach.com/2010/0...a-hong_05.html
hồng đơn chu sa, mỗi vị 4g
http://yhoccotruyenvn.com/chua-benh-...co-truyen.html
======
hồng đơn, hồng hoa, chu sa
https://thaoduocminhtam.com/cay-thuo...nb-hyland.html
viên có vị hồng đơn (là khoáng chất chì)
đường đỏ (hồng đường) 20g
[PDF]CÁC VỊ THUỐC NGUỒN GỐC KHOÁNG VẬT Chương này chỉ giới ...
vanxuanpharma.com.vn/.../17-cac-vi-thuoc-nguon-goc-khoang-va...
Translate this page
Còn gọi là hoàng đơn, hồng đơn, duyên hoàng, đơn phấn, tùng đơn, châu ... Theo tài liệu cổ duyên đơn là một vị thuốc có vị cay, tính hơi lạnh và không độc; .
NhỮng BÀi ThuỐc ChuyÊn TrỊ Bong GÂn Sai KhỚp
Đôi điều tâm sự về những bài thuốc xoa bóp trị thương bong gân sai khớp của Y HỌC CỔ TRUYỀN DÂN TỘC được trích ra ở đây.:
Nhìn vào kho tàng Y DƯỢC dân tộc thật vô cùng phong phú qua trang sử ngành y dược chúng ta phải nhìn nhận, thật đáng trân trọng quí mến lẫn phục tài đức người xưa đã nghiên cứu sáng chế những bài thuốc hay, quí giá để lại cho đời sau. Giả sử các vị ấy không để lại công trình nghiên cứu củ a mình thì ngày nay chúng ta làm sao biết họ là ai ? và những bài thuốc quí đó cũng chẳng biết được để bây giờ thực dụng.
Còn nói đến việc nghiên cứu về y dược thì mấy ai sánh kịp với các danh y thời xưa như: Trọng Cảnh, Đan Khê, Đông Viên, Nghiêm Dung Hoà, Tuệ Tỉnh, Hải Thượng Lãn Ông... Tất cả các Ngài đã cống hiến biết bao nhiêu công lao của mình vào công cuộc nghiên cứu ra những bài thuốc hay rất có giá trị để chữa bệnh, và bây giờ trở thành nền tảng để nghiên cứu DƯỢC HỌC.
Bằng vào những dự kiện đó tôi đã mạnh dạn trích ra một vài bài thuốc của người xưa để lại, công việc vốn là thực dụng nhưng hiến ích cho đồng môn, là biện pháp tốt, rất tin tưởng trong việc trị thương làm mau lành, vả lại số liệu nghiệm chứng về dược sẽ không cần thiết nữa đã có dư uy tín.
BÀI THUỐC LÀM CAO TRỊ SAI KHỚP:
Các vị thuốc như sau:
Tục đoạn 1 lượng
Xuyên khung 1 lượng
Điền thất 1 lượng
Cốt toái bổ 1 lượng
Hồng Hoa 1 lượng
Sanh quân 2 lượng
Thảo ô 1 lượng
Đơn - Bì 1 lượng
Quy Vỹ 2 lượng
Cầm xạ lạc 1 lượng
Tự nhiên đồng 2 lượng
Nga Truật 1 lượng
CÁCH BÀO CHẾ: Đem 12 vị thuốc tán nhuyễn thật mịn (ở dạng bột). Dùng 12 lượng dầu mè và 3 lượng sáp ông nấu cho chảy ra hết, sau đó đổ thuốc tán vào đánh quết thành cao.
*. Chuyên trị trật khớp xương, làm tiêu sưng hết nhức, tùy theo vết thương lớn nhỏ, phết (bôi) vào chổ bị thương, dùng băng lớn bao (băng) lại khoảng từ 3 đến 4 ngày thay băng làm thuốc 1 lần.
BÀI THUỐC TIẾP CỐT THÔNG MẠCH THANG:
Chuyên trị: Về đường XƯƠNG SỐNG bị SAI KHỜP, bồi bổ Tỳ - Thận - Máu, dùng 3 thang sắc uống, gồm có các vị thuốc sau đây:
1. Lão Thục điạ 6 chỉ
2. Sơn thủ nhục 3 chỉ
3. Nhục Thung dung 6 chỉ
4. Cốt Toái bổ 6 chỉ
5. Phục Linh 4 chỉ
6. Cổ Chỉ 3 chỉ
7. Câu Kỷ 3 chỉ
8. Đổ trọng 4 chỉ
9. Đơn bì 2 chỉ
10. Khiếm thiệt 4 chỉ
11. Thố tư tử 3 chỉ
12. Tục đoạn 4 chỉ
Sắc thuốc dùng sêu ấm đất hoặc bẳng sành. Nước 3 chén sắc còn 1 chén, uống lúc thuốc còn ấm.
HOẶC: BÀI THUỐC LÀM THÔNG MẠCH TIÊU VIÊM GÂN CỐT SAI LẠC MAU BÌNH PHỤC
Các vị thuốc sau đây:
Đương quy 5 chỉ
Cốt thoái bổ 3 chỉ
xuyên tục đoạn 3 chỉ
Nhu Hương 2 chỉ
Xuyên gia bì 3 chỉ
Thủ ô 5 chỉ
Huỳnh cầm 2 chỉ
Liên kiều 2 chỉ
Mộc dược 2 chỉ
Sanh địa 5 chỉ
Dùng ấm sắc thuốc, nước 3 chén còn 1 chén, uống thuốc còn ấm.
BÀI THUỐC PHÒNG THÂN CỦA NGƯỜI LUYỆN VÕ:
CHUYÊN TRỊ; Các chứng trật đả, bị thương đến hôn mê bất tỉnh, tình trạng bị ứ huyết công phạt đến hệ thần kinh sinh dưỡng bên trong làm đau nhức. Trong uống ngoài thoa, vết chảy máu cầm ngay, đây là bài thuốc rất hiệu nghiệm còn có tên là Thất Ly Tán của các bậc tiền bối lưu truyền.
Gồm các phương thuốc như sau:
Xa hương 1 phân 2 ly
Nhủ hương 1 chỉ rưởi
Mộc dược 1 chỉ rưởi
Hồng hoa 1 chỉ rưởi
Mai phiến 1 phân 2 ly
Huyết kiệt 1 lượng
Trân châu 1 chỉ 2 phân
Nhụy trà 2 chỉ 4 phân
Thiên niên kiện 5 chỉ
Cốt toái bổ 2 chỉ 4 phân
Nhục thung dung 1 chỉ 4 phân
CÁCH BÀO CHẾ:
Các vị thuốc tán mịn, bỏ vào ve, đậy nấp kín, kẻo tiết hơi.
CÁCH DÙNG:
Mỗi lần dùng từ 7 ly đến 1 phân rưởi uống với rượu hay nước ấm. Bị nặng uống mỗi ngày 3 lần trong 3 ngày khỏi bệnh. Không nên dùng nhiều, hoặc quá liều lượng không tốt, người trạng thái bình thường không nên dùng.
BÀI NGỌC CHÂN TÁN:
CHUYÊN TRỊ: Chứng phong đòn gánh rất hay, hoặc bị chấn thương vào 36 Đại huyệt nằm bất tỉnh, hoặc bị va chạm mạnh trúng nhằm các hệ thần kinh làm co giật méo miệng, lưng uốn ván. Mau chóng cho nạn nhân dùng trong uống ngoài đắp thuốc này. Rất công hiệu, vết thương đang chảy máu đấp thuốc sẽ cầm ngay.
Gồm các phương phuốc như sau:
Khương hượt 1 lượng
Phong phòng 1 lượng
Bạch chỉ 1 lượng
Bạch phụ tử 2 lượng
Thiên ma 1 lượng
Sanh nam tinh 1 lượng
(sao chế nước gừng)
CÁCH BÀO CHẾ: Các vị thuốc đem tán mịn để vào chai được phong kín, giữ thật kỹ kẻo ẩm ước tiết hơi để dùng lâu.
CÁCH DÙNG: Mỗi lần uống từ 1 đến 2 chỉ với rượu hoặc nước ấm. Bên ngoài dùng thuốc này đấp vào vết thương để cầm máu, rất hiệu nghiệm.
BÀI THUỐC VẠN LINH CAO:
Phương thuốc gồm có các vị:
Hạt cân thảo 1 lượng
Thấu cốt thảo 1 lượng
Đinh hương 1 lượng
Đương quy 1 lượng
Tự nhiên đồng 1 lượng
Huyết kiệt 1 lượng
Mộc dược 1 lượng
Xuyên khung 8 chỉ
Xích thược 2 lượng
Hồng hoa 1 lượng
Ngưu tất 5 chỉ
Ngũ gia bì 5 chỉ
Thạch xương bố 5 chỉ
Thương truật 5 chỉ
Mộ hương 3 chỉ
Tân giao 3 chỉ
Xà Xàn tử 3 chỉ
Nhục quế 3 chỉ
Xuyên phục thử 3 chỉ
Bán hạ (chế) 3 chỉ
Thạch hộc 3 chỉ
Tỳ giải 3 chỉ
Hồ cánh cốt 1 ống xương
Lộc nhung 3 chỉ
Xạ hương 2 chỉ
CÁCH BÀO CHẾ: Gói huyết kiệt, mộc dược, xạhương, tán thâït mịn nhuyển thành bột, để riêng còn 22 vị thuốc dùng làm dầu phong tẩm 3 ngày. Sau đem nấu liên tục 3 ngày, thuốc cạn châm thêm nước, sao cho nước thuốc đen lại, rồi nhắc xuống lọc lậy nước bỏ xác, gia thêm hồng đơn 5 cân vào nước thuốc, đem nấu tiếp tục, quậy đều cho đến khi nào nước thuốc cô lại thành cao, nhắc xuống cho 3 vị thuốc Huyết kiệt, mộc dược, xạ hương, hòa chung vào quết đều xong để nguội.
CÁCH BẢO TRÌ THUỐC CAO: đổ vào bịch nylon cột chặt, cẩn thận hơn bỏ vào keo đậy kín, kẻo bị tiết hơi tránh được độ ẩm và giữ được lâu khi dùng nên phết (phần thuồc) lên miếng vải sạch đã được khử rùng, tránh phết thuốc lên loại giấy kiếng hay nylon để đấp vào vết thương để tránh trường hợp dùng thuốc bó (đáp) quá nóng hay nhớt, không thoát hơi dễ gây phản ứng da, lở loét.
NGUYÊN TẮC DÙNG THUỐC: Các bài thuốc lưu truyền ở đây nhằm vào 2 mục đích:
Trấn thống: Giảm đau, thông huyết, phá huyết
Tiếp Cốt: Sinh Xương, làm cơ gân mau lành, giúp cho vết thương mau bình phục.
BÀI THUỐC CAO DÁN HAY CÒN GỌI LÀ THẦN HIỆU TRẬT ĐÃ TÁN:
Phương dược liệu gồm có:
Cầm xạ lặc 5 chỉ
Sanh quân 5 chỉ
Điền thất 5 chỉ
Huyết kiệt 5 chỉ
Xuyên ô 5 chỉ
Thảo ô 5 chỉ
Phù dung điệp 3 chỉ
Cương huỳnh 1 chỉ
Qui vỹ 5 chỉ
Bạch chi 3 chỉ
Tất cả đem tán mịn (nhuyễn) khu dùng lấy vừa đủ để đấp vào vết hương hòa chung vời rượu nếu xương bị gãy và đã được lấy lại độ lệch của xương rồi thì gia thêm cốt toái bổ, tục đoạn, mỗi thứ 2 chỉ, đem đấp, bó chặt vào chổ trật, gãy của xương hay khớp.
BÀI THUỐC UỐNG KHI BỊ TRẬT KHỚP HAY GÃY XƯƠNG:
Có tên là: QUY GIAO THANG phương thuốc như sau:
Đương quy 1 lượng
Tần giao 3 chỉ
Độc hượt 3 chỉ
Tục đoạn 4 chỉ
Cốt toái bổ 3 chỉ
Ngũ gia bì 3 chỉ
Tuế Tân 1 chỉ
Ngưu Tất 3 chỉ
Chích thảo 1 chỉ
Đỗ trọng 4 chỉ
Xuyên khung 5 chỉ
Nước sắc 3 chén còn lại 1 chén, uống thuốc lúc còn ấm ấm, nên uống liên tục 3 thang, sau đó đổi thuốc, thang uống thuốc tán hoàn viên Bài Tiếp Cốt Tử Kim Đơn
BÀI THUỐC: TIẾP CỐT KIM TỬ ĐƠN:
Gồm các vị thuốc sau:
Địa long 1 lượng
Xuyên ô 1 lượng
Long cốt 2 lượng
Địa miết trùng 2 lượng
Lộc giác giao 2 lượng
Xích thạch phì 2 lượng
Tự nhiên đồng 3 lượng
Hược thạch phi 4 lượng
Nhu hương 1 lượng
Mộc dược 1 lượng rưỡi
Xạ hương 5 phân
CÁCH BÀO CHẾ: Tất cả đem tán mịn dùng lộc giác giao hòa thành nước, chế hòn nhỏ, dùng châu sa làm thành áo.
Mỗi lần uống 1 hoàn với rượu hoặc nước trà nóng, trong ngày từ 2 đến 3 lần liên tục dùng như vậy cho đến khi lành vết thương
CHỬA BONG GÂN VÀ TRẬT KHỚP CỔ, SỐNG LƯNG, BẢ VAI, CÁNH CHỎ, CỔ TAY, XƯƠNG ĐÙI, ĐẦU GỐI, CỔ CHÂN, RÃNH GÓT.
. SAI KHỚP CỘT SỐNG CỔ HAY BONG GÂN SỐNG CỔ:
CÁCH KHÁM TỔNG QUÁT:
Tư thế cột sống lành mạnh bình thường
Không lên gân các cơ cột sống.
Yêu cầu nạn nhân thay đồ chỉ mặt đồ lót, bảo nạn nhân đứng thẳng người
Quan sát từ phía sau.
Ta thấy đường trọng tâm chạy dọc theo các gai sống (tạo nên đường thẳng C - 7 đến S - 1) chạy qua kẻ mông và kéo thẳng dài xuống chạm đất chính giữa 2 mắt cá trong.
Ta thấy hai vòng vai cân xứng ngang bằng, hai mỏm xương bả vai đối xứng
Đường nối 2 mào chậu cũng bằng nhau cân xứng.
Tam giác cạnh thân (kẻ hở thân mình và hai chi trên) hai bên giống nhau.
Khi bị lệch (vặn vẹo) , đi không thẳng người, nghiêng lệch, không cân xứng.
CÁCH CHỬA:
để nạn nhân torng tư thế ngồi, 2 chân duổi thẳng, 2 tay chống vào giữa khoảng đùi bên trong.
Người chửa trị đứng vế phía sau lưng nạn nhân, tay trái đỡ tay phải cùng bợ cằm nạn nhân, dùng 2 cánh chỏ để tỳ trên vai của nạn nhân. Kế tiếp người chửa trị dùng đầu gối phải đặt vào đường rãnh lưng ngay đốt sống cổ C - 7.
Gối ấn nhẹ và từ từ gia tăng kình lực độ vừa phải về phía trước cùng lúc hai tay bợ cằm nâng hàm, nhấc đầu lên lập tức sẽ nghe tiếng kêu nhỏ trong xương, hiện tượng bong gân và khớp đã vào vị trí nguyên trạng (bình thường).
Công việc chửa trị cần phải xoa bớp thuốc và uống thuốc (có htể dùng thuốc hoàn tán bổ gân xương).
GHI CHÚ:
Xương cổ thứ nhất là đốt sống cổ chống đở phần đầu, nối với xương đầu, đốt thứ hai là xương trụ, dùng làm trục quay của đầu. Bởi vậy đầu xoay được nhờ vào bộ phận này. Nạn nhân trật khớp cổ, tức là trật chổ khớp xương này.
Chứng trạng bị nặng là khớp trật hẳn ra ngoài làm hôn mê, nguy hiểm đến tính mạng, nếu chữa vào khớp cũng bị tàn tật (phải đeo một cỗ giả để đở phần đầu). Còn trường hợp nhẹ bong gân sai khớp có thể trị được, chứng trạng nầy phần đầu cúi gục xuống hoặc đầu nghiêng sang một bên, tức là chưa trật khớp hẳn ra ngoài, cổ có thể cố gắng ngẩng mặt hoặc ngã đầu về phía sau hay ngược lại, cổ giử phần đầu cho thẳng nhưng thấy đau buốt, hoặc muốn xoay ngang nhìn qua trái sang phải chuyển động một cách khó khăn và đau đớn khó chịu là phải chữa ngay bằng phương pháp trên.
Công việc chữa trị xong nếu thấy cột xống mà không đở nổi phần đầu thì phải cho nạn nhân nằm an dưỡng để điều trị cổ giữ yên không cử động trong thời gian ngắn ngày, phòng độ lệch có thể bị bong gân sai khớp trở lại.
CÁCH ĐIỀU TRỊ:
Dùng thuốc cao (trị bong gân sai khớp) dán vào chổ đau hoặc bó thuốc tán, cách 2 ngày thay băng kiểm tra lại chổ đau và dán hay bó thuốc lại 1 lần cho đến khi bình phục thì không cần băng bó nữa.
II. TRƯỜNG HỢP SỬA TRẬT HOẶC BỊ CỤP SỐNG LƯNG:
Trạng chứng chổ bị thương lồi ra, đốt sống bị trật rất dể nhận dạng tư thế sống lưng không thẳng, làm cho thân người hơi cong và không ngữa ra sau được, nạn nhân đau nhức đi, đứng, nằm rất khó khăn.
CÁCH ĐIỀU TRỊ:
Phải kiểm chứng dùng tay sờ ấn chổ bị thương để biết rõ trật, cụp thế nào, đốt sống trật ra ngoài, hay trật vẹo sang trái hoặc phải.
Kỹ thuật dùng thủ pháp điều trị đốt xương trật, lồi ra:
Cho nạn nhân nằm sấp để 2 chân duỗi thẳng, nhờ một người phụ ngồi xuống tư thế quỳ chân phải, dùng 2 tay nắm lấy 2 chân nạn nhân kế tiếp người cứu chữa, đứng về bên hông trái nạn nhân, dùng đầu gối phải đặt đúng vào chổ đốt sống lồi ra, kế tiếp dùng tay vòng qua nách bợ đỡ ngực giao với vai trước. Tất cả đã vào trong tư thế chuẩn bị.
THỰC HÀNH:
Dùng 2 tay NÂNG và NHẤC mặt nạn nhân lên cách mặt đất chứng 25 cm đến 30 cm cùng lúc đầu gối ấn đè xuống, đồng thời người phụ việc cứu chữa kéo mạnh 2 chân của nạn nhân, sao cho giãn dài ra .
Kỹ thuật kéo giãn của người phụ việc: Trong tư thế quỳ một chân mông ngồi về gót phải còn chân trái gập lại (giống tư thế quỳ sửa võ phục) dùng 2 tay nắm lấy 2 chân nạn nhân giựt mạnh, kéo ngã ngữa người ra sau, động tác này phải ăn khớp với động tác NHẤC, NÂNG, ẤN đè gối của người cứu chữa chính. Khi nghe tiếng đốt xương sống lồi ra đã khớp vào, cũng cần dán thuốc cao hay bó thuốc kẹp nẹp vào chổ vết thương, khoảng từ 3 ngày đến 5 ngày kiểm tra lại 1 lần, thay băng rửa sạch vết thương bằng nước đun sôi để ấm pha thêm một ít rượu trắng, lấy tay sờ nắn chổ xương trật xem đã được liền lạc chưa, xong xuôi lại bó nẹp và băng lại như cũ, bên trong vẫn đấp thuốc cho đến khi nào vết thương lành hẳn thì không cần bó nữa. Thời gian bó thuốc bên ngoài cũng cần uống 3 thang Tiếp cốt thông mạch để cho vết thương mau lành. Điều quan trọng là tuyệt đối không làm việc nặng như: đội, vác, kéo, gánh. bưng, đẩy trong một thời gian dài nếu không sẽ bị trật lại, và có thể sẽ bị tàn tật suốt đời, hoặc trầm trọng hơn sẽ bị thiệt mạng.
Trường hợp bị trật, cụp lưng vẹo sang bên trái hoặc phải: vết thương trật ở vị trí L - 1 hoặc L - 2 và L - 3 thuộc vùng Mạng môn huyệt.
CÁCH CHỮA KHỚP:
Cho nạn nhân nằm sấp 2 chân duỗi thẳng 2 tay buông lỏng cặp bên hông.
Người cứu chữa, sau khi đã khám nghiệm vết thương, nếu turờng hợp bị trật khớp ngay đốt L- 5 bên dưới huyệt Mạng môn đốt bị trật lệch vẹo sang bên trái. Người cứu chữa phải đứng ngang hông bên phải nạn nhân, dùng gót chân phải để vào vị trí đốt xương trật với kỹ thuật là đạp ấn đè nhấn đốt sương trật sao cho vào khớp, kế tiếp là cúi người xuống dùng 2 tay nắm lấy cẳng chân phải của nạn nhân kéo lên, cùng lúc đó người thứ ba phụ việc cứu chữa ngồi xuống cũng dùng 2 tay nắm lấy cẳng chân còn lại kéo giãn thẳng. Chú ý đến điều này là 3 động tác nói trên phải ăn khớp với nhau nhịp nhàng cùng một lúc, khi chổ bị trật phát ra một tiếng kêu nhỏ RẮC thì biết là khớp đã vào vị trí nguyên trạng. Sau đó chữa bằng phương dược liệu giống như phần trên. Tất cả các vết thương bị trật khớp tuy khác nhau về tư thế, nhưng cách chữa trị lấy khớp cũng tương tự gần giống như 2 cách trên còn thuốc trị thương về đông y dược cũng gần giống nhau tuy có gia giảm vài vị hoặc về liều lượng chút ít cũng tùy thuộc vào vết thương nặng nhẹ, lớn nhỏ.
Đáng lưu ý một điều, thường thường nạn nhân bị trật khớp rất đau nhức giống như gãy xương, nhưng khi khớp được đưa vào vị trí cũ sẽ hết đau ngay. Đó là cách kiểm chứng rõ rệt nhất, và chỉ trong 7 ngày hay quá lắm là 15 ngày sau là khỏi hẳn. Sự vâïn động trong phạm vi chức năng cơ chế của khớp cột sống cũng trở lại của trạng thái bình thường.
CÁCH THỨC NẸP ĐỂ BÓ CỘT SỐNG:
Nẹp để bó cột sống dùng bằng (thông mộc): khúc cây có thiết diện 3 cm X 4 cm có về dài bằng cột sống phía trong có khoét rãnh cho hợp với xương sống, có khoan lỗ để xỏ dây buộc quanh mình.
III. TRƯỜNG HỢP BỊ BONG GÂN TRẬT KHỚP VAI (BẢ VAI):
Trập hớp xương bả vai thường xẩy ra lúc té ngã sai kỹ thuật hay nhào lộn lỡ đà dùng vai để chịu, hay vung tay đập banh ở độ cao quá đà lại bị một sức mạnh bên ngoài tấn công vào mà khớp vai không chịu nổi, làm chấn động trật khớp vai ra ngaòi, chứng trạng cho thấy tỏi xương cánh tay tuột ra ngoài ổ chảo, thòng xuống nách. Hoặc ngược lại đưa lên trên...
CÁCH CHỮA TRỊ:
Trường hợp thứ nhất khớp thụt xuống: Cho nạn nhân ngồi thẳng lưng trên ghế hoặc đứng thẳng người cũng được. Dùng thủ pháp nắn xương và thoa bóp cho bớt tê nhức. Người chữa đứng đối diện với nạn nhân, tay trái nắm lấy tay phải nạn nhân đưa vào nách của người bị nạn, tay phải vội nắm lấy cùi chỏ của nạn nhân, tay trái nắm lấy cườm tay, kế tiếp 2 tay liền đẩy gập cánh tay của người bị nạn lại, kế đó dùng ức bàn tay (chưởng tay phải ấn đẩy cùi chỏ của nạn nhân vào bẹ sườn), thủ pháp này giống như thế đòn bẩy để bẩy tỏi xương cánh tay đưa ngang. Khi thấy tỏi xương lồi ra ngang, thì người cứu dùng thủ pahp nâng, đẩy mạnh cùi chỏcủa nạn nhân đưa lên, chỏm tỏi xương lọt vào ổ chảo, liền nghe tiếng kêu khẻ, RẮC là khớp đã vào.
Trường hợp thứ 2, khớp trật đưa lên trên: tư thế nạn nhân và người chữa trị cùng thủ pháp lấy lại khớp cũng giống như trường hợp thứ nhất, chỉ khác về động tác, thay vì nâng nhấc thì ngược lại trì kéo đưa xuống. Phần kế tiếp là băng và bó thuốc hoặc dán thuốc cao tán giống như đã trinh bày ở phần trên, ... Tùy theo vết hương nặng hoặc nhẹ mà gia giảm liều lượng cho hợp lý vết thương. Thí dụ nạn nhân quá mệt thì phải cần dùng Nhân Sâm, nếu bị ứ huyết sưng phù bầm tím,thì phải uống Xuyên Điền Thất hay Huyết kiệt, nếu bị dập, móp xương thì phải uống Cốt Toái Bổ. Trường hợp tiểu tiện, đại tiện bị bí tắc thì phải dùng Xa tiền tử, Chỉ Xác, Đại hoàng, nếu gân xương đau nhức thì phải uống Tần giao, Tục đoạn, xuyên khung, bắc đổ trọng, các vị thuốc đó sẽ giúp nối liền mau lành gân xương, hoạt huyết, trân thống giảm đau làm mạnh gân cốt.
IV. TRƯỜNG HỢP BỊ TRẬT KHỚP CÁNH CHỎ (LỌI CÙI CHỎ):
Nguyên nhân:
Té ngã chống tay sai kỹ thuật, nhưng sự trật khớp lại nhiều chứng trạng khác nhau vì tư thế té ngã khác nhau tạo cơ chế độ lệch, nhằm vào 3 yếu tố để xẩy đến bong gân trật khớp: Lực chấn thương, lực co rút của cơ, trọng lực. Có thể nói là tùy mỗi trường hợp té ngã khác nhau mà 1 - 2 hoặc 3 lực trên tác động vào vị trí chổ khớp của 2 đầu xương trật khớp ra ngoài điển hình là khớp cánh chỏ khi trật khớp thấy cánh tay ngắn lại.
Hiểu được cơ chế này rất quan trọng vì muốn lấy lại khớp nhẹ nhàng, không gây tổn thương phụ mà có kết quả tốt thì phải hóa giải hết các lực trên. Điều quan trọng là cần khám thật kỹ chứng trạng vết thương, trật ra phía trước hay trật về phía sau, hoặc trong ngoài, hoặc khớp, xương trật ra nhưng có bị gãy không, đầu xương trật ra có đâm ra ngoài da hay không. Từ đó áp dụng thủ pháp, kéo giãn, đẩy nâng nhấn ấn bóp xoay lấy lại độ lệch thân xương, bóp khớp lay bẻ gập cho chổ đầu xương lồi ra được ăn vào khớp. Nêu muốn mau lành vết thương nên uống 3 thang Tiếp cốt thông mạch thang, ngoài xoa thuốc trật đả, hoặc dán cao hay bó thuốc trị bong gân trật khớp.
Thủ pháp sửa khớp cánh chỏ:
Để nạn nhân đứng hay ngồi trên ghế với tư thế thẳng lưng, nhờ một người phụ giúp đứng về phía sau quàng tay qua vai và nách để giữ nạn nhân. Tư thế người chữa trị: Đứng trước đối diện nạn nhân, tay phải nắm lấy cườm tay, tay trái nắm lấy cụm xương trật khớp, lấy đầu chi trên của khớp làm chuẩn, vừa kéo giãn vừa ấn đẩy cho khớp vào: Tay trái tiếp với tay phải, kéo cánh tay nạn nhân cho giãn thẳng, lúc đó nhiệm vụ của tay trái là nắn thẳng xương sao cho 2 đầu xương gối vào với nhau, khi bóp nắn thấy xương đã đúng khớp thì tay phải đang kéo giãn thẳng lập tức ấn mạnh, tay trái nâng ấn bóp khớp rồi từ từ nhẹ nhàng bẻ gập khéo cánh tay nạn nhân lại, trong lúc gập ta cố ý lay mạnh cho khớp xoay để ăn khớp vào nhau, như thế nạn nhân sẽ bớt đau, kỹ thuật đó gọi là Diệu Thủ, nhưng cũng có trường hợp làm không đúng phương pháp cũng tiếng kêu RẮC một cái kèm theo là tiếng thét của nạn nhân vì xương bị gãy, và bệnh trạng đang nhẹ thành nặng. Bởi vậy việc chữa thương phải hết sức thận trọng trong việc nghiên cứu, cần phải có thầy hướng dẫn và thực tập nhuần nhuyễn để viẹâc cứu chữa có hiệu quả tốt.
V. BONG GÂN SAI KHỚP XƯƠNG CƯỜM TAY (CỔ TAY):
Nguyên nhân: Chống tay té ngã sấp hoăc ngã ngữa ra sau sai kỹ thuật thường bị trật khớp cườm tay. Trường hợp nặng khớp trật hẳn ra ngoài hoặc trật ra ngoài phân nữa khớp, nhẹ thì chỉ vẹo khớp, bong gân bao khớp, cũng làm đùn gân lại sưng phù lên đau nhức khó chịu và cườm tay không cử động được.
Phương pháp chữa trị:
Để nạn nhân đứng hay ngồi tùy ý, nhờ một người đứng phía sau ôm giữ nạn nhân, bảo nạn nhân đưa tay bịsai gân hay trật khớp ra phía trước.
Người chữa trị:
Đứng về phía trước đối diện với nạn nhân, dùng tay phải nắm lấy bàn tay bị thương, ngón tay cái để trên lưng bàn tay, bốn ngón còn lại để dưới lòng bàn tay nắm 4 ngón tay của nạn nhân. Bàn tay trái nắm lấy cườm tay ngay chổ trật sai khớp, giữ chặt lấy hổ khẩu (giáp khớp cườm tay). Tay phải tiếp lại khớp, bàn tay phải dùng ngón cái ấn mạnh xuống. Cùng lúc đó ngược lại bàn tay trái nắm chặt hổ khẩu lại nhấc lên, khớp sẽ vào vị trí nguyên trạng phát tiếng kêu (rắc) thì ngưng ngay, đó là trường hợp nạn nhân ngã chống tay để ngữa lòng bàn tay, thì kỹ thuật sửa khớp như vậy, còn ngược lại nạn nhân té ngã chống tay mà để bàn tay úp sấp (lòng bàn tay chạm đất) thì kỹ thuật sửa khớp phải làm ngược trở lại. Sau khi đã lấy lại khớp rồi, công việc điều trị: Bắng cách băng bó (có thuốc bên trong) cho vết thương mau lành, để tránh trường hợp lỏng khớp: Vì sự vững của khớp còn tùy thuộc vào hai yếu tố: sức cơ và cách cấu tạo của khớp. Vì trật khớp ra ngoài có thể ảnh hưởng đến hai yếu tố trên.
Sức cơ yếu:
Đây là di chứng tạm thời, do sự bất động trong thời gian điều trị trật khớp, chứng trạng nhận định ban đầu bệnh nhân sau khi được băng bó khớp, cầm nắm rất yếu, thì không nên lo âu nên chịu khó luyện tập sau một thời gian sẽ trở lại bình thường.
Tổn thương khớp: Hoặc tổn thương phần mềm, như: Đứt dây chằng hoặc là rách bao khớp hay bị mẻ đầu xương của khớp có rất nhiều nguyên nhân có thể lúc té ngã bị chấn thương gây ra cũng có thể lúc đưa khớp vào, người chửa trị làm sai kỹ thuật lấy khớp.
Trường hợp nầy đã bị tổn thương phần mềm, dù sau thời gian chữa và điều trị cho vết thương lành hẳn, nhưng phải tránh cố gắng dùng sức hay làm việc nặng có thể bị trật lại.
Trở lại việc chửa trị lấy khớp. Sau việc lấy khớp là xoa bóp vào chổ trật cho thông kinh mạch để giảm bớt đau nhức, kế tiếp là dán thuốc cao VẠN LINH và uống thuốc Tiếp Cốt Thông Mạch Thang, đã nói thật kỹ ở phần trên, sau khi đã dán thuốc cao xong (bao quanh khớp cườm tay) rồi lấy băng vải (bề ngang 5 phân) băng bó ngay chổ trật, cách thức băng bó phải đúng kỹ thuật làm sao vừa ít tốn băng lại vừa giữ được khớp chặt vững và được êm vết thương cũng như về mỹ quan phải gọn gàng, sạch. Về phần thay băng cũng giống trường hợp trật khớp cột sống, sự kiêng cử ăn uống: Cấm ăn gà, vịt, tôm, cua, trái cây thơm, Măng tre , đồ xanh và sống.
VI. CÁCH CHỬA TRỊ NGÓN TAY BỊ BONG GÂN TRẬT KHỚP:
NGUYÊN NHÂN:
Khi xử dụng trái đấm hay chém xỉa, sai kỹ thuật, hoặc bị đá trúng, cũng như bất cẩn trong lúc làm việc có thể xẩy ra trật khớp xương ngón tay.
CHỨNG TRẠNG:
Khớp xương (đốt) ngón tay bị trật, ngay chổ khớp trật thường biến dạng sưng phù, ứ huyết, cơ vận động, thần kinh cảm giác bị tê liệt, sự co duỗi khó khăn. Đó là trường hợp nhẹ, nặng hơn sẽ không cử động được, một sự va chạm thật nhẹ cũng làm cho nạn nhân đau buốt.
PHẦN THỰC HÀNH CÁCH LẤY LẠI KHỚP:
Để nạn nhân đứng hoặc ngồi đều được cả, nhưng phải đối diện với người chửa, tay trái nắm lấy bàn tay bị trật, ngón tay cái trên lưng của ngón trật còn 4 ngón để dưới, thí dụ trật khờp lưng của ngón tay út, thì bàn tay trái dùng ngón cái đặt trên, 4 ngón để ở dưới nắm giữ chặt trên khớp lưng của ngón út. Bàn tay phải dùng ngón tay cái và ngón trỏ làm thành gọng kềm, kẹp vào giữa ngón tay út ngay lóng trật. Sau 30 giây xoa bóp xung quanh vết thương làm cho kinh mạch bớt căng cơ, ứ huyết, 2 bàn tay lại đặt vào vị trí như trên, dùng ngay thủ pháp ấn đẩy, kéo giãn thẳng ngón tay, Nâng nhấc, kềm giữ và ghịt ngược lại đốt xương trật, thuận đà bẻ gập cho đốt khớp xương vào khớp khi nghe tiếng kêu khẻ của đốt xương lọt vào khớp thì không được ấn nữa, lại từ từ kéo nhẹ ngón tay duỗi ra. Sau đó dùng nẹp mỏng và nhỏ bằng ngón út, bó chặt vào chổ khớp trật (vết thương). Trong có dán thuốc trật đả.
VII. CÁCH CHỮA TRẬT KHỚP XƯƠNG ĐÙI:
Cổ xương đùi, khung chậu - (khớp háng) giáp khớp vào nhau, với chức năng của chúng là hoạt dộng co, giãn để có thể đi, đứng , chạy, nhảy, nằm ngồi. Nếu bị tai nạn làm xương đùi trật ra khớp háng thí dụ: Trật háng phải, trật ra trước: háng dang, xoay ngoài. Trật ra sau: háng áp, xoay trong.
Khi khám nạn nhân thấy chứng trạng đầu gối ngã dựa vào chân kia, bắp đùi thâu ngắn lại, là cổ xương đùi trật ra sau, ngay vị trí chổ trật khớp, cổ xương đùi và xương chậu sưng nhức, không ngồi và đi đứng được.
CÁCH LẤY LẠI KHỚP XƯƠNG ĐÙI:
Trước khi dùng thủ pháp để chữa, thấy chổ bị trật sưng to tụ máu bầm, ta mau dùng phương pháp xoa bóp xung quanh vết thương để cho kinh mạch và cơ gân bớt căng, giảm sự đau nhức cho nạn nhân, sau đó sờ nắn cổ xương đùi, định được vị trí để tìm cách đưa cổ xương đùi vào khớp. Sau đó:
Để nạn nhân nằm ngữa, nhờ một người phụ giúp đứng ở phía trước mặt nạn nhân, người khum xuống tay trái nắm cổ chân nạn nhân, bị trật khớp chân nào thì cầm cổ chân ấy, kế đến dùng chưởng tay phải áp đặt vào gót chân phải của nạn nhân, thí dụ đây là trường hợp nạn nhân bị trật khớp háng bên phải, còn trướng hợp bị trật khớp bên trái thì cầm ngược lại, trong tư thế chuẩn bị ấn đẩy tới trước sao cho chân của nạn nhân được co gập lại, đầu gối chạm vào ngực.
Người cứu chữa đứng về hông bên phải cuả nạn nhân, cúi khom lưng dùng tay phải ấn gối nạn nhân, trong khi đó người phụ giúp dùng sức mạnh ấn đẩy cho đầu gối của nạn nhân co gập lại, người cứu chữa dùng tay trái sờ nắn tìm đầu chóp xương cổ trên, lấy chưởng tay trái ấn đẩy mạnh xuống cho chỏm xương đùi cổ trên, lọt vào bao khớp. Thông thường thì cho rằng khớp đã vào, nhưng trong thực tế chỏm xương đùi chưa tiếp khớp với diện nguyệt của xương chậu, bởi vậy cần phải thực hiện như sau: Người cứu chữa dùng chưởng tay trái ấn mạnh một lần nữa, kế tiếp tay phải đang giữa đầu gối của nạn nhân, lập tức banh ngang khớp háng cứ từ từ mà ấn cho đến khi có tiếng kêu thật khẻ (rắc) thì ngưng ngay, sau đó lại nhắc từ từ lên cao cho gối khép lại, cùng lúc ấy người phụ giúp thấy ám hiệu bảo, kéo giãn thì lập tức kéo giãn thẳng chân và ghịt ngang cho chân của nạn nhân dang (hở) ra. Vì động tác này là động tác sau cùng lấy lại khớp háng, cũng là công việc hóa giải các lực: Như Lực chấn thương, lực co rút của các cơ , và trọng lực.
Trường hợp bị trật khớp háng bên trái: Trật ra trước, háng dang, chi dưới trái ngắn, xoay ngoài. Đau chói vùng trước háng (tam giác Scarpa) thì kỹ thuật lấy khớp pahỉ làm ngược trở lại, nếu trật về (ra) sau háng áp (khép) thì cách lấy lại khớp cũng tương tự giống như trường hợp trật khớp háng bên phải, trật ra sau háng áp, như phần trên đã trình bày, nhưng chỉ khác một chút là đổi vế, còn cách dùng thuốc điều trị cũng giống như các trường hợp bị trật khớp như trên.
VIII. CÁCH CHỮA: SỬA TRẬT KHỚP ĐẦU GỐI:
CHỨNG TRẠNG:
Đầu gối trật về phía trứơc, thì xương ống chân (xương chày, xương mác) đưa ra phía trước, còn xương đầu gối ngắn lại, còn trật khớp vế phía sau thì ngược lại, đầu dưới xương đùi và xương bánh chè đưa ra về phía trứơc đầu xương ống chân (chày, mác) trật ra khỏi khớp lòi ra phía sau.
Trong trường hợp nặng, nạn nhân vừa bị gãy xương. Đùi và khớp trật ra phía trước, chúng ta xử lý ra sao?
CÁCH CHỮA TRỊ:
Đầu tiên dùng thủ pháp (nắn xương) mằn mò xem xương đùi đầu dưới gãy ngang hay hãy chéo vát, nếu trường hợp xương gãy ngang, thì không nguy hiểm bằng gãy chéo vát, nhưng phải cẩn thận nắn nhẹ, mằn mò xương cũng như nâng nhắc ấn đẩy khi tiếp nối xương bị gãy lại sao cho ăn khớp, không nên bẻ vạn vì có thể mãnh xương gãy rất bén và nhọn đâm hay cứa đứt kinh mạch mà gây nguy hại cho nạn nhân.
Phần tiếp xương đã xong ta mau chóng dùng nẹp bó chặt trong đã có thuốc và băng lại.
Có 2 cách chữa trị lấy khớp:
Trường hợp thứ nhất: khớp trật về phía trước, dùng thủ pháp chữa như sau:
để nạn nhân gối hai tay chống về đằng sau có thể tỳ người ngã gnữa về sau đưa chân bị trật khớp ra phía trứơc, người chữa trị đứng bên hông phía chân sau, khum lưng tới trước, tay phải nắm chặt gót chân nạn nhân, tay trái đặt tên xương bánh chè, ấn tại khớp đầu gối với kỹ thuật vận sức ở chưởng tay động tác thật từ từ để đưa khớp vào cùng lúc đó tay phải nắm gót chân cũng từ từ ấn đẩy cho chân nạn nhân từ từ co gập lại, rồi nhẹ nhàng đặt chân nạn nhân xuống để trong tư thế co gập như vậy, người cứu dùng chân của mình đặt chồng lên bàn chân của nạn nhân rồi đạp giữ chặt, lấy đầu gối người cứu, chêm vào đầu trên xương ống (chày mác) nạn nhân, kế tiếp là dùng hai bàn tay đan vào nhau nhắc nâng từ từ ống xương đầu dưới của xương đùi, trong thủ pháp này người cứu phải thực hiện nhịp nhàng cùng lúc dùng đầu gối của mình làm thế tỳ ấn đẩy để đưa đầu trên của 2 ống chân (chày, mác) vào khớp. Khi nghe tiếng kêu khẻ (rắc) là biết 2 đầu xương đã vào khớp thì ngưng ngay. Sau cùng ta làm thêm một động tác nữa là ta phải nắm cổ chân, tay trái đặt trên xương bánh chè nắm gĩư ở đó, rời dùng sức từ từ kéo giãn cho khớp gối duỗi thẳng, đây là cách hóa giải lực cơ (cơ tứ đầu đùi) bọc lấy xương bánh chè hoàn về vị trí cũ (bình thường).
Muốn vết thương mau lành, dùng bài Tiếp Cốt Thông Mạch Thang, ngoài dùng thuốc đấp và bó chữa trị gân xương, nên giữ sao cho êm vết thương khoảng thời gian từ 3 đến 4 ngày thay băng rửa vết thương đấp thuốc mới và băng bó lại cho đến khi nào thấy vết thương lành hẳn thì mới được tháo băng. Kiêng ăn các thứ xanh, lạnh, thịt trâu, bò, gà, vịt, tôm, cua, trái cây có nhiều mắt, nhiều gai, khi vết thương lành hẳn cũng phải tập luyện để hồi phục Cơ Xương.
Trường hợp thứ hai: Khớp trật về phía sau, dùng thủ pháp tương tự như trường hợp thứ nhất, nhưng động tác lấy khớp thì ngược lại.
IX. CHỨNG TRẠNG THÔNG THƯỜNG TRẬT KHỚP CƯỜM CHÂN:
Căn cứ vào vị trí của khớp, khớp bị trật thường gặp các chứng trạng sau:
cườm chân bị trật khớp ra phía sau: Bàn chân phía trước thu ngắn lại, chõ gót chân phía sau dài lồi ra, biết khớp đưa ra phía sau.
Trường hợp khớp mắt cá (bên đưới): Khớp trật ra ngoài, tức bàn chân lật vào trong, hoặc khớp trật vào trong thì ngược lại.
Cườm chân bị trật, khớp đưa về phía trước: Bàn chân dài ra, gót chân lõm vào
Cườm chân trật khớp phía ngoài: Làm bàn chân lật ra sau.
Cườm chân trật khớp phía trong: bàn chân lật tới trước, ống chân thụt xuống cạm đất thâu ngắn lại.
Trường hợp bong gân khớp cườm chân: Là trường hợp nhẹ, tuy nhiên không thấy chứng trạng trật khớp, nhưng vẫn bị sưng, đau nhức.
Trường hợp không bị trật khớp cườm chân, hay bong gân như trên, nhưng bị thụng gân gót: vị trí rãnh gót và diện khớp sên sau cũng làm sưng nhức.
CÁCH CHỮA TRỊ:
Tất cả chứng trạng trên đều gây ra sưng nhức mạch máu không thông bị ứ đọng, từ cườm chân đến cả bàn chân hoàn toàn bị tê liệt. Bởi vậy việc đầu tiên phải dùng thủ pháp thoa bóp, bấm huyệt cho bớt đau nhức. Sau đó đặt nạn nhân vào tư thế thuận lợi nhất để dùng kỹ thuật lấy lại khớp. Công việc bắt đầu là nắn xương để biết khớp trật về phía nào. Sau đó tìm cách kéo giãn thẳng khớp cườm chân và xương ống chân,với một lực kéo giãn vừa phải để có thể ấn đẩy chổ xương trật (hay độ lệch thế xương) đưa về ngay khớp, với kỹ thuật nắn xương phải ngược lại tư thế trật khớp, thì khớp trở lại vị trí cũ (bình thường). Nếu bị trật khớp ở trường hợp nặng thì cũng phải bó cặp nẹp bằng loại nan tre trong có thuốc cho đến khi nào lành hẳn, cũng theo cách thức thay băng rửa vết thương làm thuốc giống như bong gân trật khớp khác, và cũng phải kiêng cữ.
KỸ THUẬT LẤY LẠI KHỚP CƯỜM CHÂN:
Để nạn nhân trong tư thế nằm sấp, hai chân duỗi thẳng,hai tay cặp bên hông, chân nào bị trật khớp co lên,. Người chữa khom lưng xuống dùng một chân đạp vào kheo chân của nạn nhân, và 2 tay nắm gót chân và bàn chân. Thí dụ: Trường hợp nầy nạn nhân bị trật khớp cườm chân trái: thì người chữa dùng chân trái đạp vào kheo chân trái nạn nhân, bàn tay trái nắm gót, bàn tay phải nắm bàn chân kế tiếp.
Động tác thứ nhất: Cùng một lúc, chân trái đạp kheo thì ghì giữ chặt hai tay nhấc bàn chân của nạn nhân lên, nhưng phải thật từ từ để thăm dò độ giãn chỉ vừa phải một lực tương đối để có thể nắn xương đưa xương bị trật về ngay khớp, như thế là cách hoá giải được lực cơ co lại.
Động tác thứ hai: Vẫn giữ nguyên động tác thứ nhất, hai bàn tay vẫn nắm gót và bàn chân của nạn nhân, tay trái nắm gót giữ làm trụ còn tay phải thì từ từ xoay bàn chân của nạn nhân theo chiều xoắn ốc, khi nghe tiếng kêu khẻ (rắc) thì ngưng ngay, đó là hiện tượng khớp đã vào. Sau đó thực hiện phần băng bó thuốc.
X. SỬA TRẬT KHỚP RÃNH GÓT:
NGUYÊN NHÂN:
Nhảy xuống độ cao khi rơi xuống dùng gót chịu lại, ảnh hưởng sự phản lực của mặt đất chấn động đến phần mềm lớp gân gập rãnh gót, nên xương của gót bị lỏm vào, chứng trạng sưng nhức phần gót đi không được.
CÁCH SỬA KHỚP:
Để nạn nhân nằm sấp 2 tay đặt xuôn 2 bên lườn 2 chân cũng duỗi thẳng.
NGƯỜI CHỮA TRỊ:
đứng về phía chân bị thương, người khom lưng phía trước, dùng tay trái nắm cổ chân, tay phải nắm mõm gót, chân trái đạp vào kheo chân nạn nhân để có thể tỳ kéo giãn, kế tiếp tay trái nắm giữ chặt lấy 5 đầu ngón chân ấn xuống cùng một lúc tay pahỉ nắm phần trên nhượng gót, lấy sức mạnh kéo nhấc lên sao cho xương củ gót trở về nguyên trạng, động tác này hai tay phải cùng một lúc thuận chiều nhau, tay ấn tay nhấc lên, khi nghe tiếng kêu khẻ (rắc) thì ngưng ngay tức lớp gân gập rãnh gót đã nhả ra và diện khớp sên sau được trả về vị trí cũ (bình thường). Cũng cần băng bó và điều trị giống như trên.
PHẦN THAM LUẬN
Khi dùng thủ pháp nắn xương để chữa bong gân sai khớp, động tác phải dùng đến: NÂNG, NHẤC, ẤN, ĐẨY, KÉO, GHÌ, XOAY, LAY, GIỰT, cho thật NHANH GỌN CHUẨN XÁC, nhẹ quá khớp không vào, mạnh quá KHỚP cũng không vào lại để dị tật về sau dễ trật lại, vẫn biết rằng độ tuổi nhi đồng thiếu niên Cơ khớp xương chóng lành, nhưng cơ khớp sai sẽ thành dị tật.
Do đó việc chữa thương, chúng ta phải hết sức cẩn trọng chỉ cần Một lực vừa đủ, Một kỹ thuật nhuần nhuyễn, một bí quyết chuẩn xác đó là phương cách tốt nhất, hiệu quả cao nhất trong việc cứu chữa.
Có những trường hợp bị bong gân không cần chữa vẩn lành đó là những trường hợp nhẹ, nhưng nếu biết BÍ QUYẾT lấy lại sẽ khỏi ngay tại chổ không phải một tuần lễ sau mới khỏi, kéo dài sự đau đớn mà lại để dị tật về sau, cho nên cách chữa cấp thời ở đây lại cần thiết cho HLV đang phụ trách LỚP VÕ THUẬT.
Chúng tôi trình bày tập tiêu luận này được xây dựng trên cơ sở học tập hướng dẫn do ân su truyền dạy, cộng thêm sự tham khảo một số tài liệu cùng sự góp ý của giáo sư bác sỉ.
Nhưng bất cứ công trình nào dù thật tuyệt vời, vẫn để lại sai sót, đó là định luật không bao giờ thay đổi, chúng tôi quyết tâm làm, cố gắng hết sức để hoàn thành tiểu luận này để đóng góp, để phục vụ xây dựng MÔN PHÁI cũng không tránh khỏi định luật sai sót, rất mong được sự đóng góp chung lòng phục vụ MÔN PHÁI đó là CÁI NGHĨA vào đời SỐNG VÕ ĐẠO thật sự.
Võ Sư : Nguyễn Văn Vang
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...i-Kh%E1%BB%9Ap
OM TARE TUTTARE TURE SARVA DUKTEN BIGHANEN BAM PHE SOHA
Oṃ_ Tāre tuttāre ture, mama sarva duṣṭan vighnān Hūṃ phaṭ svāhā
OṂ TĀRE TUTTĀRE TURE SARVA VIGANNA (?Vighnaṃ) VAṂ HŪṂ
PHAṬAḤ (?Phaṭ) SVĀHĀ
http://rywiki.tsadra.org/index.php/The_Twenty-one_Taras
Tất Bát (lá Lốt)
BÀI THUỐC “KỲ PHƯƠNG BÁ CHỨNG THẬP NHỊ LINH HOÀN” CỦA DÒNG HỌ TẠ.
- Cô Lan:
Con xin phép đại diện Cửu huyền Thất tổ của dòng họ Tạ, bên ông ngoại con là Tạ Tuyết, Đông Y Sĩ, người tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Từ tổ tiên, từ nguồn cội, ngày hôm nay muốn tiếp xúc với con có vấn đề gì dạy bảo? Con xin phép được nghe- Con chào người. Xin cho biết người là ai vậy?
- Thần Tổ nghiệp- đại diện Tổ nghiệp dòng họ Tạ đây Cô Hai.
- Cô Lan: Dạ, con kỉnh chào người. Thế người có điều gì dạy con? Con có thể giúp gì cho người, hoặc người có thể giúp gì cho con?
- Tổ nghiệp:
Mười hai vị thuốc có thể cứu được sinh mệnh một con người- bất kể là bệnh gì. Trần bì, bán hạ, chi tử, cao lương khương, tục đoạn... Mấy vị rồi? Kim ngân hoa, la hán quả, bột nếp… Mấy vị rồi? Đợi ta một chút. Câu kỷ tử, linh chi, hoài sơn… Mấy vị rồi? Xuyên bối mẫu. Đúng, mười hai vị- Bây giờ lấy giấy viết ra ghi lại đi:
- Trần bì, 12g
- Bán hạ,12g
- Chi tử, 12g
- Cao lương khương, 12g
- Tục đoạn, 12g
- Kim ngân hoa, 20g
- Bột nếp, 100g
- Linh chi, 20g
- Hoài sơn, 20g
- Xuyên bối mẫu, 12g
-La hán quả, loại đã làm thành viên: 6 viên.
-Câu kỷ tử, 12g
** Dẫn chất mật ong. Nhào thuốc bằng bột nếp. Câu kỉ tử để nguyên.
1- Trần bì, sao vàng tán nhuyễn.
2- Bán hạ, sao vàng tán nhuyễn.
3- Chi tử, sao vàng tán nhuyễn.
4- Cao lương khương, sao vàng tán nhuyễn.
5- Tục đoạn, sao vàng tán nhuyễn.
Có thể là tất cả... chỉ trừ Câu kỉ tử để nguyên, tất cả các vị còn lại sao vàng tán nhuyễn. Nhồi với bột nếp, vo viên tròn bằng ngón tay út. Mỗi một buổi ăn cơm uống mười viên với nước ấm.
Sức khỏe ngày càng tăng,
Tật bệnh tiêu trừ,
Bá chứng dần ổn,
Trường lực tĩnh tâm,
Lưu thông khí huyết,
Âm dương tương hợp,
Điều chỉnh mọi lệch lạc, bất ổn của cơ thể.
Hết.
Cô Hai- đại diện dòng họ Tạ, nghiệp tổ nghiệp tông tặng Cô Hai bài thuốc quí. Cô Hai mua về tự làm lấy mà uống đi. Sinh lực mỗi ngày một tăng. Sinh lực, cường lực, tâm lực, khí huyết lưu thông... Cơ thể ngày càng nhẹ nhàng, khỏe mạnh. Cô Hai làm trước đi để rồi thấy tác dụng của nó mà lưu truyền cho bá tánh. Đây là bài thuốc quí gia truyền của dòng họ Tạ, người Quảng Đông, Trung Quốc, tặng cho đứa cháu có tâm lực hành đạo độ đời. Đây là Kỳ Phương Bá Chứng, gọi là bài thuốc “Kỳ Phương Bá Chứng- Thập Nhị Linh Hoàn”.
Con ghi cái tên như vậy: “Kỳ Phương Bá Chứng- Thập Nhị Linh Hoàn”- Bảo truyền của gia tộc dòng họ Tạ, Quảng Đông, Trung Quốc. Kính tặng bá tánh thập phương, tự chứng nghiệm sau mười ngày dùng thuốc.
- Cô Lan:
Con xin cảm ơn. Con tạ ơn Tộc tổ dòng họ Tạ. Con xin người, người còn dạy con điều gì nữa không? Con có điều gì làm cho Tộc tổ chưa được hài lòng không? Tộc tổ tông đường có cần con hỗ trợ một chút gì hay không? Người dạy con điều gì con xin nghe. Con sức khỏe quá kém, chính vì vậy con sẽ ngay lập tức mua bài thuốc này và sử dụng bài thuốc này trong mười ngày như người nói.
- Tổ nghiệp:
Đúng vậy, Cô Hai. Làm thử đi rồi tác dụng nó như thế nào sẽ biết.
- Cô Lan:
Dạ thưa người, như vậy tức là người chỉ có thế thôi, người không có điều gì rầy con, dạy con cả có phải không?
- Tổ nghiệp:
Không có gì cả. Tộc tổ Tông đường chỉ muốn tặng cho Cô Hai một bảo bối gia truyền thế thôi. Tôi đi đây. Chào Cô Hai.
- Cô Lan:
Con tạ ơn người.
http://www.vilaiphap.org/thu-vien-sa...hap/chuong-24/
(神煞): hay Thần Sát Tinh (神煞星), là tên gọi những ngôi sao chiếu mạng quyết định việc tốt xấu của con người. Một số sao Thần Sát thường dùng như:
(1) Thiên Ất Quý Nhân (天乙貴人), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, với người lớn hơn mình, với người khác phái, thích xã giao.
(2) Thiên Y (天醫), người gặp sao này thì có năng lực rất mạnh như học tập, lý giải, quán sát, mô phỏng, tâm hiếu kỳ, tâm nghiên cứu, trực giác, v.v.
(3) Thiên Đức (天德), người gặp sao này thì có tài trí mưu lược xuất sắc, tâm vinh dự cao, năng lực lớn, phàm mọi việc gặp hung dữ hóa thành tốt, được quý nhân giúp đỡ.
(4) Nguyệt Đức (月德), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, xã giao, tâm cung kính, tâm trách nhiệm, năng lực thích ứng cao.
(5) Nguyệt Đức Hợp (月德合), người gặp sao này thì có năng lực quán sát, đối ứng, bàn chuyện kinh doanh rất mạnh.
(6) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì trong đời này có tiền tài dư dật, kinh tế không bao giờ gặp nguy cơ, có quý nhân giúp đỡ, thường có phước, có năng lực làm thân, kết duyên lành với mọi người.
(7) Văn Xương (文昌), người gặp sao này thì có năng lực viết lách, văn nghệ, học tập.
(8) Tam Kỳ Quý (三奇貴), người gặp sao này thì có năng lực học tập tinh chuyên, sức tập trung mạnh, đầu óc làm việc linh mẫn, cơ trí nhạy bén, dễ thành nhân tài có kỹ năng chuyên nghiệp, như công trình sư, nhà tư vấn, v.v.
(9) Lục Tú (六秀), là ngôi sao có năng lực viết văn trác việt, người gặp sao này thì có năng lực học tập, tư duy rất mạnh, thuộc nhà nghệ thuật ở trạng thái tĩnh như họa sĩ, nhà thư pháp, sáng tác khúc từ, v.v.
(10) Thập Linh Nhật (十靈日), là ngôi sao thuộc về tôn giáo, người gặp sao này thì có trực giác linh nhuệ, khéo quán sát lời nói, nhìn sắc mặt người, năng lực lãnh ngộ, khéo hiểu ý người, v.v.
(11) Khôi Cương (魁罡), người gặp sao này thì về ăn uống nên thận trọng, chớ ăn thịt bò, chó; duyên hôn nhân rắc rối, tai tiếng, có đủ tinh thần độc lập tự chủ, năng lực tổ chức mạnh.
(12) Học Đường (學堂), người gặp sao này thì có năng lực bắt chước, sáng tác, tưởng tượng, lý giải.
(13) Học Sĩ (學士), người gặp sao này thì có tâm nghiên cứu, lòng hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, có năng lực học thuộc lòng, nhớ dai.
(14) Kim Quỹ (金匱), người gặp sao này thì có đầy đủ năng lực sáng tác, lãnh ngộ, cầm quyền, quyết đoán, quy hoạch.
(15) Tấn Thần (進神), người gặp sao này thì có ý thức chủ quan rất mạnh, kiêu ngạo, tự phụ, không chịu phục tùng bất cứ ai, nóng nảy.
(16) Lộc Thần (祿神), người gặp sao này thì có thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang.
(17) Bối Lộc (背祿), đại diện cho những người xem thường tổ tiên, ly hương biệt xứ, không được hưởng phúc ấm của tổ tông.
(18) Kiến Lộc (建祿:代表建功立業白手自足,不得 視庇蔭,不宜合夥生意), đại diện cho những người tạo công lập nghiệp tay trắng một mình, không được phúc ấm của song thân.
(19) Chuyên Lộc (專祿), đại diện cho những người thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang.
(20) Quy Lộc (歸祿), đại diện cho những người giao tế rộng rãi, tài lộc đầy đủ, tránh chuyện vay mượn, có thể tránh kiện tụng.
(21) Hoa Cái (華蓋), người gặp sao này thì có tâm cầu học, tự động tìm tòi, tự ngộ để đạt đến kết quả cao, có thiên tánh về mỹ thuật, thiết kế, trang hoàng, âm nhạc; về phương diện văn học thì rất hứng thú và có thiên tài; đây là ngôi sao chỉ chuyên về nghệ thuật, tôn giáo, nên có tánh nghiên cứu, muốn tìm cầu, năng lực học tập, tính chất mẫn cảm.
(22) Cô Thần (孤辰), người gặp sao này thì có tánh cách cô đơn, trầm mặc, không nói nhiều, tâm trong sạch, ít ham muốn, thường an phận, không có tâm cầu tiến.
(23) Quả Tú (寡宿), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái rất ít, duyên hôn nhân cũng mong manh, chủ nghĩa độc thân.
(24) Nguyên Thần (元辰), là sao hao tổn, miệng tiếng.
(25) Kim Dư (金輿), là sao về tài của cùng với quan hệ phối ngẫu, được hỗ trợ về chuyện phối ngẫu, kỹ thuật.
(26) Kim Tinh (金星), người gặp sao này thì anh minh, trí tuệ, dũng cảm, quả quyết, kiên nhẫn, cương nhu đều có đủ, chú trọng vinh dự, quyền uy.
(27) Thiên Xá (天赦), người gặp sao này thì một đời bị kiện tụng cửa quan, lao ngục, tai hại ngoài ý muốn, một đời thường đều có thể gặp xấu hóa tốt, có kinh động nhưng không nguy hiểm.
(28) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì có quý nhân tương trợ, kinh tế phát triển, một đời tài lộc, ăn uống sung túc, có duyên xã giao, năng lực kết duyên lành.
(29) Tướng Tinh (將星), người gặp sao này thì hiển đạt về quan quyền, có thể nắm quyền bính trong tay, có năng lực quản lý, quyết đoán, cơ trí.
(30) Dịch Mã (驛馬), là sao đổi dời, đi xa, biến động.
(31) Âm Dương Sát (陰陽煞), người gặp sao này thì nên tiến hành duyên hôn nhân chậm, không nên sớm, mới có thể trừ được lo âu thay đổi chuyện hôn nhân, nên thận trọng trong việc giao tế với người khác phái, mới có thể tránh được chuyện thị phi, tranh giành.
(32) Kiếp Sát (劫煞), người gặp sao này thì có cơ trí linh mẫn, phản ứng nhạy bén, tâm háo thắng.
(33) Quải Kiếm Sát (掛劍煞), người gặp sao này thì dễ mắc phải các bệnh tật về gân cốt, đường ruột, cơ quan vận động, v.v., hằng ngày nên đề phòng các vật kim loại bén nhọn, vật nguy hiểm gây thương tích; dễ bị thương tích đánh đập, ngã quỵ, té xuống đất.
(34) Câu Giao (勾絞), là sao phiền phức về chuyện cảm tình, hôn nhân.
(35) Đào Hoa (桃花), đại diện cho sức hấp dẫn, thu hút, năng lực thưởng thức, trang sức, có duyên xã giao.
(36) Thiên Hỷ (天喜), là sao vui sướng, như ý, có cảm giác thâm sâu, năng lực hòa đồng, tình người.
(37) Hồng Diễm (紅艷), là sao nghệ thuật lãng mạn, có đủ năng lực thưởng thức, thiết kế trang phục, trang hoàng, có duyên với người khác phái.
(38) Hồng Loan (紅鸞), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái, tư tưởng lãng mạn, có năng lực phối hợp sắc màu nghệ thuật tranh tĩnh vật.
(39) Lưu Hà (流霞), người gặp sao này thì trong quá trình sinh sản dễ gặp nguy hiểm, lưu sản, dễ mắc bệnh tuần hoàn huyết dịch về tim mạch.
(40) Vong Thần (亡神), là sao ẩn tàng, không lộ hiện tung tích, người gặp sao này thì giỏi về mưu lược, vui, buồn, tức giận đều không thể hiện ra ngoài sắc mặt.
(41) Dương Nhận (羊刃), là sao về chức võ, chủ yếu người gặp sao này thì có tâm háo thắng, không chịu khuất phục, dõng mãnh, đảm đương, lanh lẹ.
(42) Huyết Nhận (血刃), là sao thương tích ngoài ý muốn, bất ngờ, người gặp sao này thì hằng ngày nên thận trọng về bỏng lửa, thương tích đánh đập, các vật kim loại, bén nhọn, chú ý về giao thông.
(43) Phi Nhận (飛刃), là sao gặp công kích bất ngờ, tranh tụng, thị phi.
(44) Cách Giác (隔角), là sao chủ về việc kiện tụng cửa quan, miệng tiếng, thị phi; nếu gặp Hình Xung (刑沖) thì ắt sẽ có tai họa về kiện tụng, lao ngục.
(45) Không Vong (空亡), kim loại rỗng thì kêu to, lửa trống thì sẽ phát lớn, cây rỗng thì mục, đất rỗng thì lỡ sụt; người gặp sao này thì vô duyên với thân thích, nên tinh tấn tu hành.
Ngoài ra, còn có 12 ngôi sao Thần Sát, được gọi là Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, gồm:
(1) Thái Tuế (太歲), có câu kệ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương (太歲當頭坐、諸神不敢當、自身無剋 、須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện.
(2) Thái Dương (太陽), có câu kệ rằng: “Thái Dương cát tinh chiếu, cầu tài ngộ trân bảo, âm dương hữu hòa hợp, định cảm phước lai bảo (太陽吉星照、求財遇珍寶、陰陽有和 、定感福來保, Thái Dương sao tốt chiếu, cầu tài gặp của báu, âm dương có hòa hợp, tất có phước đến nhà).” Người gặp sao này chủ yếu chiếu sáng hóa tốt, lấy lễ đãi người, thông minh cần mẫn, có chuyện vui giáng lâm.
(3) Tang Môn (喪門), câu kệ là: “Tang Môn tối vi hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phá tài tinh ngoại hiếu, nùng huyết kiến tai nghinh (喪門最爲凶、孝服重重逢、破財幷外 、濃血見災迎, Tang Môn thật rất hung, tang phục lại trùng phùng, phá tài thêm bất hiếu, máu chảy thấy tai ương).” Người gặp sao này chủ yếu có đám tang, khóc lóc, hiếu sự hay hung tai, bị trộm cướp, con nhỏ sợ bị mất mạng vì xe cộ.
(4) Thái Âm (太陰), câu kệ là: “Thái Âm nhập mạng lai, thiêm hỷ hựu tấn tài, quý nhân tương tiếp dẫn, canh tác ngộ tài phong (太陰入命來、添喜又進財、貴人相接 、耕作遇財豐, Thái Âm gặp mạng này, thêm vui lại có tài, quý nhân thường giúp đỡ, canh tác gặp của hay).” Sao này chủ yếu tích tụ tài của hoặc thuộc loại ngũ quỷ đem tài của đến, người gặp sao này kinh doanh rất tốt, mỗi ngày càng phát tài, rất hợp với người nữ.
(5) Quan Phù (官符), có câu kệ là: “Quan Phù nhập mạng hung, khẩu thiệt quan ty trùng, phá tài kiêm ngoại hiếu, tác phước đảo thương cùng (官符入命凶、口舌官司重、破財兼外 、作福禱蒼窮, Quan Phù gặp mạng hung, miệng tiếng chốn quan trường, phá tài thêm bất hiếu, làm phước cầu khắp cùng).” Người gặp sao này thường gặp kẻ tiểu nhân, tất gây ồn ào nơi cửa quan, chọn bạn nên cẩn thận, nên khuyên kẻ tiểu nhân làm phước.
(6) Tử Phù (死符), bài kệ rằng: “Tử Phù nhập mạng lai, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ mẫu thê nhi khắc, tác phước miễn tai ương (死符入命來、孝服重重逢、父母妻兒 、作福免災殃, Tử Phù gặp mạng đây, tang phục lại chất chồng, mẹ cha vợ con khắc, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu có tai họa đột xuất như hình phạt của quan ty, bệnh tật, tranh đấu, phá tài, v.v. Người gặp sao này nên thận trọng khi đi băng qua khe nước, nên tìn đường vòng mà đi.
(7) Tuế Phá (歲破), bài kệ rằng: “Tuế Phá nhập mạng lai, nhật nguyệt phá tiền tài, lục súc hữu tổn thất, hợp gia vĩnh vô tai (歲破入命來、日月破錢財、六畜有損 、合家永無災, Tuế Phá gặp mạng đây, trời trăng phá tiền tài, gia súc có tổn thất, cả nhà hết ương tai).” Tuế Phá có nghĩa là xung phá Thái Tuế, chủ yếu làm hao phá tài vật cũng như trong nhà nhiều tai họa kéo dài trong nữa năm.
(8) Nguyệt Đức (月德), bài kệ rằng: “Nguyệt Đức nhập mạng lai, tứ quý tấn hoành tài, tại gia dã vô sự, xuất lộ dã vô tai (月德入命來、四季進橫財、在家也無 、出路也無災, Nguyệt Đức gặp mạng đây, bốn mùa thêm tiền tài, trong nhà cũng vô sự, ra đường chẳng hung tai).” Sao này chủ yếu là đức của người lớn, được gọi là Long Đức (龍德), nhờ bố thí, làm việc thiện tạo lợi lạc, trăm việc gặp xấu hóa thành tốt.
(9) Bạch Hổ (白虎), bài kệ rằng: “Bạch Hổ khiếu nhai nhai, nhân đinh tổn huyết tài, ngưu sự tài quá khứ, mã sự hựu tấn lai (白虎叫涯涯、人丁損血財、牛事才過 、馬事又進來, Bạch Hổ kêu hoài hoài, người thêm tổn tiền tài, chuyện trâu về quá khứ, chuyện ngựa lại về đây).” Sao này chủ yếu có tai họa về tang lễ, phá tài, họa về xe cộ, thương tật; nếu có hóa giải thì sẽ nhẹ bớt; nếu không hóa giải thì quá xấu.
(10) Phước Đức (福德), bài kệ rằng: “Phước Đức nhập mạng du, niên nguyệt tấn tứ ngưu, thiêm hộ tinh tấn khẩu, tài hỷ lưỡng toàn chu (福德入命遊、年月進四牛、添戶並進 、財喜兩全週, Phước Đức đến mạng chơi, năm tháng tăng bò trâu, thêm nhà lại thêm người, tài vui cả hai tròn).” Sao này chủ yếu tốt đẹp, hanh thông, vui vẻ, có thiên tướng, được trời phù hộ, đến đâu gặp xấu hóa tốt, đại thành công.
(11) Điếu Khách (吊客), bài kệ rằng: “Điếu Khách nhập mạng hung, nội ngoại hiếu phục phùng, quan tai tinh nùng huyết, tiểu khẩu đa tao độn (吊客入命凶、內外孝服逢、官災並濃 、小口多遭迍, Điếu Khách đến mạng hung, trong ngoài tang phục chung, tai vạ máu loang chảy, thận trọng miệng tiếng tăm).” Sao này chủ yếu về tang phục, chuyện hung tai, bệnh tật, lo buồn khóc than, trộm cắp, tai nạn về cốt nhục.
(12) Bệnh Phù (病符), bài kệ rằng: “Bệnh Phù nhập mạng hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ phục hữu hình khắc, tác phước miễn tai ương (病符入命凶、孝服重重逢、父服有刑 、作福免災殃, Bệnh Phù đến mạng hung, tang phục lại trùng phùng, thân phụ mang hình phạt, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu bệnh kéo dài lâu, trong một năm hay vài tháng, kỵ thấy xe tang hoặc ăn các đồ tang lễ, nên cúng tế thì có thể giải được.
Tôi đã mất 40% trọng lượng cơ thể ra sao: lịch sử của người đàn ông đã mất 33 kg
Đây là câu chuyện của Hoàng Dương - người đàn ông nặng 97 kg ở tuổi 30 và đã gần đến ngưỡng tới bệnh nan y.
Dương nhận ra rằng anh chưa sẵn sàng để chấp nhân cuộc đời của một ông già béo phì và bị tiểu đường. Anh chọn cách khác.
Tôi biết tôi phải tìm đến những biện pháp quyết liệt hơn. Tôi phải khiến cân nặng của mình trở lại bình thường. Tôi thật đáng thương. Tôi kéo khóa quần cỡ XXXL trên vong eo 112-118cm của mình một cách khó khăn. Tôi thường xuyên thay cúc vì chúng không thể chịu được bị kéo căng.
Việc tìm một chiếc áo vừa vặn trở nên thật khó khăn. Áo phông cỡ XXL căng lên; áo sơ mi cài cúc bó sát cực kỳ chặt vào người tôi khi tôi ngồi xuống. Khi tôi nằm trên ghế bành hoặc trên giường, tôi cảm thấy mình giống cá voi mắc cạn.
Tôi dẫn đến tình trạng này vì vài lý do bắt nguồn từ tuổi thơ của tôi.
Tôi chưa bao giờ chạy đủ một km từ đầu đến cuối không cần nghỉ ngơi và đi bộ chậm, trong cuộc đời mình.
Vào 2015, tôi nặng 97 kg và gần như sắp bị tiểu đường.
Và tôi quyết định rằng tôi cần phải thay đổi cuộc đời mình. Tôi đã lo cho vợ tôi rất nhiều. Tôi không muốn cô ấy trở thành góa phụ.
Tôi bắt đầu với chế độ ăn, như mọi khi.
Tất cả các chế độ ăn đều hoạt động theo một quy tắc giống nhau: Nếu bạn tiêu thụ ít calories hơn mức bạn đốt đi, cân nặng của bạn sẽ giảm.
Nhưng vì một số lý do không rõ, bạn tăng cân và thậm chí là nhiều hơn về sau.
Sau vài tháng ăn kiêng, tôi nhận ra rằng giảm calories là chưa đủ. Tôi cần thứ khác. Có tác dụng hơn và hiệu quả hơn.
Nên tôi đến phòng gym. Nhưng tôi vẫn chưa có được kết quả mình mong muốn. Quá là tra tấn về thể xác và tinh thần. Quá nhiều thứ cấm cho những gì tôi thích - và không có thành quả gì dù chỉ một chút - tất cả đều là lý do cho sự trầm cảm của tôi.
Tôi bắt đầu uống nhiều hơn và tăng cân trở lại bù vào số tôi đã cố gắng giảm, và thêm 8kg.
Nó rất rõ ràng, điều này không thể kéo dài hơn và khi vợ tôi rời bỏ tôi, tôi nhận ra tôi phải chiến đấu vì chính bản thân mình.
Cuộc đời mới của tôi bắt đầu với một cuộc hẹn với nhà trị liệu tâm lý. Tôi có thể tưởng tượng mình đã thảm hại đến ra sao: một người mạnh mẽ nặng 97kg, đẫm nước mắt và mắt sưng lên. Anh ta lau nước mắt bằng khăn tay, than thở về việc anh ta thảm hại và nghèo như thế nào.
Tất nhiên, tất cả những vấn đề của tôi đã được chỉ ra. Không cần bác sĩ thì cũng rõ ràng là tôi đang phải chịu áp lực tâm lý từ sự thừa cân nhưng tôi cần một giải pháp cho vấn đề của mình.
Bác sĩ Hoàng Lan yêu quý của tôi đã đưa nó cho tôi. Không, đó không phải là khóa trị liệu tâm lý. Giải pháp cho mọi vấn đề của tôi là một hộp nhỏ Green Coffee
Khi tôi nhận món quà này, tôi thậm chí không thể tưởng tượng rằng mọi thứ có thể trở nên đơn giản đến vậy. .
Tất nhiên, tôi ngay lập tức hỏi Hoàng Lan về sản phẩm này. Một cách ngắn gọn: Green Coffee- là một sản phẩm mới trong lĩnh vực giảm cân hoặc, nói chính xác hơn, một chất giảm béo cấp tốc. Bạn nên dùng một cách nghiêm ngặt theo hướng dẫn. Trong cùng lúc đó, bạn không cần phải có chế độ ăn kiêng nào cả. (Bạn có thể tìm thêm thông tin trên website chính thức của nhà sản xuất)
TÌM HIỂU THÊM
Sau đó, tôi bắt đầu tìm thông tin về sản phẩm này và tìm thấy một bài báo khoa học ở đó có giải thích chi tiết. Tôi không còn nghi ngờ gì nữa.
Tôi chưa bảo giờ nghĩ rằng quá trình giảm cân có thể thật dễ dàng như vậy!
Do sự tăng tốc quá trình đốt mỡ và thải độc, bạn sẽ giảm cân rất dữ dội. Thực tế, đó là tất cả những gì tôi cần.
Bạn có thể mua Green Coffee chỉ trên mạng. Sản phẩm chưa được bán rộng rãi lắm.
Dù sao, tôi đã ghé qua trang web và đặt hàng một gói (thêm vào với gói mà bác sĩ đã đưa cho tôi) Green Coffee Rất tiện là nó không cần phải đặt cọc, nó khiến mọi thứ dễ dàng hơn.
Nhưng tôi muốn nói rằng tôi đã không mở hộp thứ hai. Hộp đầu tiên là đủ.
Tôi sẽ không giấu, tôi vẫn tiếp tục chơi thể thao một tuần một lần - để giữ sức khỏe (tôi không muốn có dấu hiệu của bệnh tiểu đường, vì với Green Coffee tôi có thể ăn bất cứ thứ gì tôi muốn)
Chỉ sau 2 tuần, tôi đã bị choáng vì thành quả - giảm 8.3 kg! Tôi đã không thể tin điều đang xảy ra với cơ thể mình. Tôi đang giảm cân , cơ thể tôi đang trở nên gọn hơn và thân hình của tôi đang thay đổi ngay trước mắt tối! Không còn thở gấp. Tôi trở nên nổi tiếng với phụ nữ Tôi sẽ bí mật nói với bạn rằng sức mạnh của dương vật cũng tăng lên vài lần! Cùng lúc đó, tôi chẳng từ chối bản thân mình điều gì!!!
Chỉ người lười mới không thể giảm cân bằng cách này!
Một hộp là đủ cho tôi suốt 3 tháng!
Tôi đã dành rất nhiều tiền cho quần áo. Tôi đổi cỡ áo mỗi 2 tuần. Tôi bắt đầu với áo cỡ XXL. Giờ đây tôi mặc cỡ M .
Ngày 12 tháng Tư, 2016 Tôi nặng 67 kg - giảm hơn 30 kg trước khi rơi vào trạng thái trầm cảm. Trong tất cả, nhờ Green Coffee tôi đã giảm 33kg .
Ấn tượng, đúng không?
Trải nghiệm giảm cân này đã dạy tôi rằng tôi có thể đạt được bất kỳ thứ gì. Tôi cảm thấy như mình đang đứng đầu thế giới. Tôi chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc và tốt hơn thế! Mục đích duy nhất trong đời tôi là để tăng cường sức khỏe của mình. Vâng, nó đã đạt được.
Phần còn lại là để quyết định xem vấn đề nào sẽ là vấn đề tiếp theo.
Tôi muốn nói với những người đọc bài viết của tôi rằng bạn không nên bỏ cuộc việc giảm cân vì bạn sẽ không chú ý rằng bạn sẽ tăng thêm 10kg một năm ra sao và nó sẽ là quá muộn để làm điều gì đó. Thêm vào đó, giảm cân với Green Coffee thật dễ dàng khi bạn thậm chí không để ý rằng mình đang bắt đầu "biến mất".
Bạn có thể đặt hàng chính hãng Green Coffee chỉ trên website của CHÍNH nhà sản xuất. Đây là đưỡng dẫn đến website của họ .
http://nowths.info/rndr/MC_male_hall...AAAAAAE9QO5TAA
KỲ DIỆU BÀI THUỐC CHỮA BỆNH VIÊM XOANG TỪ 7 LOẠI CỎ DẠI
Đăng ngày: 14/10/2016 15:15:05 bởi: Thaitran / Lượt xem: 1029 Cỡ chữ
Hàng chục năm nay, bà Hà Thị Ly ngụ tại xã Bắc Lãng, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn, đã chữa khỏi bệnh viêm xoang cho rất nhiều người bằng một bài thuốc đơn giản mà không ai ngờ tới. Bài thuốc được làm từ bảy loại cỏ dại. Bà Ly cho biết không cần lặn lội đến nơi để khám bệnh mà có thể tự làm tại nhà với công thức đơn giản dưới đây.
chữa bệnh viêm xoangBà Hà Thị Ly và bài thuốc chữa bệnh viêm xoang
Bài thuốc dân gian
Đặc biệt, bà Ly lại không tự nhận mình là “thần y” , bà cũng chưa từng đọc một quyển sách nào về y dược cả, cũng chưa một lần được đào tạo qua chữa bệnh.
Bí quyết ở đây chỉ là công thức chữa bệnh viêm xoang đã được người xưa truyền lại từ rất lâu. Rất giản dị bà nói “ bao đời nay các cụ đã dùng có hiệu quả thì nay con cháu cứ thế mà làm theo”.
Theo lời vị “lang y chân đất” này cho biết muốn trị được bệnh thì phải biết nguyên nhân gây bệnh trước. Ví dụ như mũi bị viêm nhiễm làm cho sự lưu thông không khí giữa các xoang không được thực hiện, chất nhầy ở niêm mạc xoang tiết ra nhiều nhưng không lưu thông được, là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có hai phát triển. Do cơ địa từng người mà có thể bị dị ứng với hóa chất, phấn hoa, hay đang bị dị ứng về mũi. Một số nguyên nhân khác như viêm da dị ứng , tình trạng viêm mũi kéo dài; hay mắc bệnh hô hấp như viêm phế quản, giãn phế quản, hen phê quản, do mỗi trường khói bụi, ô nhiễm, hoặc mất vệ sinh răng miệng,… đều là những nguyên nhân có thể dẫn đến căn bệnh viêm xoang này.
Sau hàng chục năm tiếp xúc và khám chữa bệnh cho hàng ngàn bệnh nhân, bà đã đúc kết ra những dấu hiệu để nhận biết căn bệnh này như sau:
+ Đau nhức vùng má, nhức vùng gáy, nhức ở giữa hai măt, hai lông mày vào tầm 10h sáng.
+ Dịch chảy qua mũi và họng, dịch có thể loãng hoặc đặc, dịch màu trắng đục hay màu xanh xanh, vàng và có mùi hôi.
+ Mũi bị nghẹt một bên hoặc cả 2.
+ Điếc mũi: giai đoạn nặng, phù nhiều khiến cho mùi không thể len lỏi vào khứu giác, đặc biệt nếu không chữa được thì sẽ ăn lên mũi hoặc xuống cổ.
Bài thuốc đơn giản:
Công thức của bài thuốc chữa bệnh viêm xoang của bà rất đơn giản chỉ từ 7 cây cỏ dại. Bà Ly không biết tên phổ thông hay tên khoa học của những loại cây này mà chỉ liệt kê theo tên người dân địa phương hay gọi sau:
Cây chà là
Cây hang dẻo
Cây cứt lợn
Cây mạy đúc phi
Cây càng cật
Cây giàng giàng
Cây khâu mấu
Những cây này khi được lấy về cần thái nhỏ, đem phơi khô trong khoảng 2 tuần nắng. Sau đó, cho vào nồi đem đun sôi trong 4 tiếng đồng hồ rồi bắc xuống. Người bệnh múc một bát thuốc để uống, rồi xông khi nước còn nóng. Khi xông cần trùm khăn lên đầu để thuốc lan tỏa khắp vùng xoang, bài thuốc có tác dụng thông mũi, làm tan dịch nhầy và diệt xoang.
chữa bệnh viêm xoang
Xông hơi chữa bệnh viêm xoang từ 7 loại cỏ dại
Cuối cùng lấy nước ấm khoảng 35- 40 độ và bỏ vào vài lát tỏi cùng 1 chút muối, dùng này để rửa mặt , vùng mũi để khử trùng.
Để trị bệnh hiệu quả hơn thì bà còn một bài thuốc phụ nữa gồm 2 loại cây là mạy nát phi và cò kèng. Mỗi lần lấy nửa cân để đun sôi nước cho 3 lần tắm.
Và cần lưu ý là thời gian uống thuốc phải đúng theo bà chỉ và kiêng tuyệt đối với những chất phá thuốc” Tuyệt đối kiêng chất tanh từ tôm, cua, cá,… không ăn thịt trâu, thịt lợn sề, không hút thuốc, uống rượu bia.
Đã hơn 70 tuổi, nhưng trông bà vẫn rất khỏe mạnh, ngày ngày bà vẫn vào rừng để hái thuốc dù vất vả nhưng bà nói: “ Giúp người là chính, tiền đó chỉ là tiền công tôi đi tìm thuốc. Ai không có tiền thì tôi biếu luôn”.
Bài thuốc của bà cũng được ông Lã Văn Lợi ( Hội trưởng hội Đông y xã Bắc Lãng ) xác nhận về hiệu quả của bài thuốc chữa bệnh viêm xoang của bà Ly . Ông Lợi nói: “ Việc bà Ly chữa được bệnh viêm xoang là có thật, những bài thuốc đã được chúng tôi lưu lại cho đời sau”.
Bài viết nên xem:
https://dongduocgiatruyen.com/ky-die...-7-loai-co-dai
Mẹo cực hay và đơn giản giúp bạn đuổi sạch kiến
http://www.lamthenao.vn/gia-dinh/meo...sach-kien.html
LONG VƯƠNG THỦY CUNG LINH ỨNG QUẺ XÂM
( 100 QUẺ XÂM )
http://thatsonthanquyen.net/forum/in...g-que-xam.208/
TUYỂN TẬP THẦN BÍ VÀ ĐẠO
http://upanh.ucoz.com/_ld/0/45_Tuyen_Tap_Than_.pdf
Kinh Sách Nghi Thức Đại Toàn Lời Chỉ Dẫn
Lời Chỉ Dẫn
In bài này Email
Normal 0 MicrosoftInternetExplorer4 /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman";}
Lời Chỉ Dẫn
Đây là những nghi thức tụng niệm thuần bằng quốc ngữ với văn pháp Việt ngữ. Nghi thức nào cũng bắt đầu bằng thiền hành và thiền tọa để giúp ta thực hiện được sự tĩnh tâm và an lạc trước khi tụng kinh và niệm Bụt. Mục thiền hành chỉ nên giảm bớt khi bên ngoài có mưa gió hoặc không có địa điểm thuận lợi.
Sử Dụng Chuông Mõ
Đây là nghi thức khai chuông mõ đơn giản nhất. Ba tiếng chuông đầu được thỉnh cách xa nhau đủ để mọi người có thì giờ thở ba hơi (vào, ra) sau mỗi tiếng chuông. Ký hiệu | chỉ cho việc thức chuông (thức có khi gọi là nhắp, có nghĩa là đặt dùi chuông vào vành chuông và dí mạnh vào để báo hiệu rằng sẽ có một tiếng chuông vọng lên, nhằm chuẩn bị cho mọi người phát khởi chánh niệm). Khi nghe chuông, lập tức trở về với hơi thở và thở thật êm dịu theo bài kệ "Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười".
Ký hiệu C chỉ cho chuông, ký hiệu M chỉ cho mõ. Ký hiệu m chỉ cho tiếng mõ nhỏ.
| C C C | m m m mm m m C M C M C M M MM M |
Sau tiếng nhắp | là Duy na bắt đầu xướng để tụng. Tiếng mõ thứ nhất đi với tiếng kinh thứ hai, tiếng mõ thứ hai đi với tiếng kinh thứ tư, và từ đó cứ mỗi tiếng kinh là một tiếng mõ. Đầu câu cuối của bài kinh thì có tiếng chuông. Tiếng kinh áp chót được đặt giữa hai tiếng mõ, và tiếng kinh chót đi với tiếng mõ chót. Ví dụ:
Phép Bụt cao siêu mầu nhiệm
m m m m m
Cơ duyên may được thọ trì
m m m m m m m
Xin nguyện đi vào biển tuệ
m m m m m m m
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi.
C m m m m mm m C
Khi trì tụng Tâm Kinh và các bài đà la ni (chú), tiếng mõ nên thỉnh mau hơn, dồn dập hơn, trong khi giọng tụng chỉ nên theo một nhịp trầm. Các bài tụng khác như khai kinh, quy nguyện, hồi hướng v.v... đều nên tụng chậm rãi, vừa trầm vừa bổng để có đủ nhạc tính.
Các câu xướng và tán như dâng hương, tán dương hay lễ Bụt đều có thể đi theo với lễ nhạc cổ truyền. Các bạn nào chưa quen, xin thỉnh một cuộn băng để nghe mà học.
Các Buổi Công Phu ở Chùa
Cùng với sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn này, Lá Bối đã cống hiến sách Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2000 để sử dụng tại các chùa. Sách này có tới mười bốn buổi công phu khác nhau. Ngoài ra, sách còn có nghi Chúc Tán Rằm và Mồng Một, nghi Chúc Tán Tổ Sư, nghi Cúng Ngọ, nghi Thọ Trai, nghi Truyền Giới Sa Di, nghi Tụng Giới Sa Di, một phần phụ lục có Kệ Tán, Thi Kệ Nhật Dụng, và những chỉ dẫn về sự thực tập ba cái lạy.
Nghi Thức Công Phu Tại Gia
Nghi thức này có thể được sử dụng hàng ngày tại gia đình, vào buổi khuya trước khi đi ngủ, hoặc buổi sáng khi thức dậy. Ít nhất người tu tại gia cũng nên sử dụng nghi thức này mỗi tuần một lần vào thứ bảy hay chủ nhật. Nghi thức này không bắt đầu bằng thiền hành; nhưng nếu ta có thể bắt đầu nghi thức bằng ba mươi phút thiền hành thì rất quý. Đã có nhiều gia đình biết thực tập thiền hành chung mỗi ngày, và rất được an lạc nhờ pháp môn này. Ít nhất mỗi tuần gia đình bạn nên thực tập thiền hành chung một lần, vào dịp cuối tuần. Nếu chưa biết cách thiền hành, xin đọc cuốn Thiền Hành Yếu Chỉ.
Khi nào muốn rút ngắn bớt nghi thức, ta có thể không tụng Tâm Kinh. Bài tụng Quay Về Nương Tựa cũng là một bài lễ nhạc có thể hát được.
Nghi Thức Sám Hối
Nghi thức sám hối có thể trì tụng mỗi tháng một lần. Bài Sám Nguyện là một tấm gương để chúng ta tự soi, và kết quả của sự tự soi này là ta thấy được những vụng về do nếp sống thiếu chánh niệm hàng ngày của ta tạo ra, do đó ta có thể chuyển đổi cách nhìn và cách tiếp xử của ta trong đời sống hàng ngày để phẩm chất an lạc và hạnh phúc được nâng cao.
Nghi Thức Chúc Tán
Nghi thức chúc tán được thực tập mỗi tháng hai lần vào các ngày rằm và mồng một trong giờ công phu sáng và vào sáng mồng một Tết. Bắt đầu nghi thức, vị chủ lễ xướng bài dâng hương hoặc cử bài ấy lên để đại chúng cùng hòa theo trong điệu tán truyền thống của thiền môn. Rồi vị chủ lễ quỳ xuống trước Tam Bảo thay đại chúng xướng bài chúc tán theo điệu xướng truyền thống. Tiếp theo là công phu hàng ngày của thiền môn.
Sau mục Quán Nguyện, tất cả mọi người đứng dậy lạy thù ân. Đây là một phần đặc biệt của nghi thức chúc tán. Chúng ta lạy để biểu lộ niềm biết ơn của chúng ta với Bụt, Tổ, cha mẹ, Thầy, bạn và mọi loài. Nghi thức này đem lại cho ta nhiều niềm vui và tưới tẩm được những hạt giống ân nghĩa và thương yêu trong ta.
Nghi Thức Chúc Tán Tổ Sư
Nghi Thức Chúc Tán này được sử dụng trong những ngày kỵ giỗ các vị tổ sư khai sáng môn phái, hoặc các vị tổ sư khai sơn và thừa kế truyền đăng của đạo tràng mình đang cư trú và hành đạo.
Mỗi đạo tràng nên đưa vào nghi thức pháp hiệu của các vị tổ sư liên hệ trực tiếp đến công trình khai sơn và hoằng hóa tại chùa mình.
Nghi Thức Gia Trì Nước Tịnh
Nghi thức này được sử dụng trong các dịp xuống tóc, thiết lập bàn thờ, đàn tràng, cúng nhà mới, cúng đất đai, khai trương cửa hàng, văn phòng, v.v... Ý nghĩa của nghi thức là nương vào tâm đại bi của Bồ Tát Quan Thế Âm để làm lưu xuất nước tịnh cam lộ mà rảy lên và làm cho thanh tịnh, tươi mát, sống dậy và trị liệu tất cả những gì được nước cam lộ rưới xuống. Một bát nước trong và một nhành liễu cần được chuẩn bị trước khi hành lễ. Nước trong tượng trưng cho định lực, nhành liễu linh động tượng trưng cho trí tuệ.
Nghi Thức Tẩy Tịnh và Nhập Liệm
Nghi thức này được sử dụng để rưới nước cam lộ lên nhục thân người quá cố và trên quan tài để đem lại sự tươi mát và thanh tịnh. Xin xem những lời chỉ dẫn trong Nghi Thức Gia Trì Nước Tịnh. Một bát nước trong và một nhành dương liễu cần được chuẩn bị trước khi hành lễ. Nước trong tượng trưng cho định lực, nhành liễu linh động tượng trưng cho trí tuệ.
Nghi Thức Thành Phục (Thọ Tang)
Nghi thức này được sử dụng để những phần tử trong tang gia tiếp nhận tang phục.
Nghi Thức Thọ Trai
Nghi thức này thường được sử dụng trong mùa an cư vào giờ ngọ trai tại các thiền viện và tại các chùa, nhưng các vị đã thọ Năm Giới và Giới Tiếp Hiện Tại Gia cũng được thực tập trong các khóa thiền tập hoặc trong các ngày hành trì Bát Quan Trai Giới.
Nghi Thức Ăn Cơm Yên Lặng
Nghi thức này có thể được thực tập tại tư gia trong những ngày quán niệm, có hay không có sự tham dự của các bạn trong tăng thân. Mỗi tuần ít nhất nên thực tập nghi thức này một lần vào dịp cuối tuần với những người sống chung với mình.
Nghi Thức Cúng Thất
Theo tín ngưỡng Thân Trung Ấm, người quá cố có thể vãng sinh hoặc đi đầu thai ngay sau khi qua đời, hoặc có thể trải qua thời gian từ một tuần lễ đến tối đa là bảy tuần lễ trước khi đi tái sinh hoặc vãng sinh. Trong thời gian này Thân Trung Ấm trải qua bảy lần chuyển hóa. Sự thực tập chánh niệm, trì tụng kinh điển, trai tăng, bố thí, tạo tác công đức của thân nhân và bạn bè người quá cố có thể làm phát sinh ra rất nhiều năng lượng hộ niệm và yểm trợ cho sự chuyển hóa ấy một cách tích cực. Vì vậy mỗi bảy ngày lại có một lần trì tụng, cầu nguyện, phóng sanh và cúng dường gọi là cúng thất. Lần cúng thất cuối cùng gọi là Chung Thất, được tổ chức long trọng hơn cả. Nghi thức Cúng Thất có thể được bổ túc bằng một trong những kinh điển chọn ở phần kinh văn, như Kinh Thương Yêu, Kinh Phước Đức, Kinh A Nậu La Độ, Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Các Bậc Đại Nhân, Kinh Kim Cương, Kinh Người Áo Trắng, v.v... Trì tụng các kinh này rất bổ ích cho người quá cố và cho những người trì tụng.
Nghi Thức Cúng Ngọ
Nghi thức này được sử dụng tại thiền viện để dâng cơm cúng Bụt vào giờ trưa trước khi khai bảng báo giờ ngọ trai của đại chúng. Tại tư gia, vào những ngày rằm hay mồng một hoặc vào những dịp đặc biệt như Nguyên Đán, Trung Nguyên, Cúng Nhà Mới, v.v... ta cũng có thể sử dụng nghi thức này để cúng dường.
Nghi Thức Thí Thực
Nghi thức này là để thí thực cho các giới cô hồn, được sử dụng tại các chùa trong buổi công phu chiều. Trên bàn thờ cô hồn có cháo, gạo, muối và nước trong. Tại tư gia vào chiều ngày rằm tháng bảy, ta cũng có thể tổ chức cúng cô hồn và sử dụng nghi thức này. Trong nghi thức có bài kệ kinh Hoa Nghiêm rất nổi tiếng: "Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo" và rất nhiều bài chân ngôn. Nghi thức này có mầu sắc Mật Tông. Cần có nhiều định lực và tụng không vấp váp thì sự trì tụng và cúng dường mới thành công. Nên tụng thong thả để đừng vấp váp.
Các Nghi Thức Tụng Giới
Nghi thức tụng giới cho thiếu nhi gồm có ba phép Quay Về Nương Tựa và Hai Lời Hứa, có thể được cử hành riêng hoặc với Nghi Thức Tụng Năm Giới. Thiếu nhi từ mười tuổi trở lên, nếu muốn, có thể ở lại để tham dự lễ tụng Năm Giới. Riêng về Nghi Thức Tụng Giới Tiếp Hiện thì các em không nên tham dự, vì nghi thức khá dài. Ta có thể tổ chức tụng Giới Tiếp Hiện vào một ngày giờ khác để các buổi tụng giới đừng kéo ra dài quá. Ví dụ tuần này tụng Năm Giới thì tuần sau tụng Giới Tiếp Hiện. Nghi thức Tụng Năm Giới cần được một vị có đạo đức hướng dẫn làm chủ lễ. Vị này có thể là một vị đang hành trì Giới Lớn, Giới Sa Di, Giới Bồ Tát hoặc Giới Tiếp Hiện. Nếu không có một trong những vị nói trên thì vị chủ lễ phải là một người đang hành trì Năm Giới và có giới thể thanh tịnh. Các nghi thức tụng giới của người xuất gia không được in trong sách này. Các thiền viện và tăng thân xuất gia nếu muốn có nghi thức ấy xin viết thư về Làng Mai, chúng tôi sẽ vui lòng kính gởi. Tất cả các nghi thức đều có phần thực tập Yết Ma theo truyền thống để hợp thức hóa lễ tụng giới.
Nghi Thức Truyền Thọ Năm Giới
Người chủ lễ nghi thức này là một người có đạo đức được đại chúng kính nể, đang hành trì Giới Khất Sĩ, Giới Nữ Khất Sĩ, Giới Bồ Tát Xuất Gia hay Giới Tiếp Hiện Xuất Gia đã được truyền đăng làm Giáo Thọ hoặc đã được đặc biệt cho phép trao truyền Năm Giới.
Nghi Thức Truyền Thọ Giới Tiếp Hiện
Thầy truyền giới Tiếp Hiện hướng dẫn nghi thức này ít nhất phải là một vị Giáo Thọ trong giáo đoàn Tiếp Hiện, được phụ tá ít nhất là bởi ba thành viên Tiếp Hiện thuộc chúng Chủ Trì dòng Tiếp Hiện. Các thành viên của chúng Đồng Sự dòng Tiếp Hiện và các bạn hữu đều được mời tham dự để hộ niệm.
Thi Kệ Nhật Dụng
Đây là những bài thi kệ cần được học thuộc lòng để thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày. Gốc rễ của các bài thi kệ nhật dụng này có thể tìm thấy trong nhiều kinh điển, nhất là kinh Hoa Nghiêm. Trong thiền môn, ta có tập Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu của thiền sư Độc Thể, gồm có những bài thi kệ để thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày dành cho các giới xuất gia. Những bài thi kệ mà bạn thấy trong phần này của nghi thức đều bằng quốc ngữ, dễ nhớ, dễ tập, có thể áp dụng cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
Kệ Chuông
Trong phần này có nhiều bài kệ thỉnh chuông, nghe chuông và ngồi thiền. Các bài kệ ngồi thiền này được xướng hoặc tán theo điệu truyền thống (điệu Nhất Canh Dĩ Đáo, Ngũ Canh Dĩ Đáo và Lôi Cổ Tùng Xao) đi theo ba hồi chuông bảo chúng. Các bài kệ này được xướng hoặc tán khoảng mười phút sau tiếng chuông báo hiệu giờ thiền tọa đã thỉnh, lúc ấy mọi người đã có mặt và đã ngồi sẵn ở thiền đường. Đại chúng đáp ứng lại lời niệm Bụt ba lần trước khi đi vào thiền tập.
Phần Kinh Văn
Những kinh văn được in ở phần sau của Nghi Thức đã được trích dịch trong hai Tạng Hán và Pali. Người dịch là thiền sư Nhất Hạnh. Đó là những kinh tiêu biểu cho giáo lý đạo Bụt, hiệu quả của sự tụng đọc không thể đo lường được. Ta có thể đọc một trong những kinh này trong Nghi Thức Công Phu Hàng Ngày, sau khi tụng Tâm Kinh Bát Nhã. Người đọc có thể là vị Duy Na, vị Duyệt Chúng, hay bất cứ người nào có mặt trong buổi tụng kinh có giọng đọc rõ ràng, trong sáng, có thể diễn tả được ý kinh. Tuy những kinh này có thể trì tụng theo tiếng mõ, nhưng thỉnh thoảng cũng nên để một người đọc thôi, đọc tự nhiên không theo tiếng mõ, trong khi mọi người ngồi ngay ngắn lắng nghe lời Bụt. Như thế ta chú tâm được hoàn toàn vào nghĩa lý của lời kinh. Những lời quán nguyện về các đức Bồ Tát Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền và Địa Tạng cũng có thể đọc theo cách này.
Vào những dịp đặc biệt như đầu năm, ta có thể chọn Kinh Phước Đức; khi phóng sanh và làm việc phước thiện, chúng ta chọn Kinh Thương Yêu; cầu siêu độ ta có thể chọn Kinh A Nậu La Độ, Kinh Giáo Hóa Người Bệnh hay Kinh Trung Đạo Nhân Duyên... Thật ra kinh nào tụng trong dịp nào cũng có lợi lạc cả. Những kinh này nên được thỉnh thoảng đem ra học hỏi và đàm luận, nếu có thể thì với sự có mặt của một vị giáo thọ, bởi vì nghĩa lý của các kinh ấy rất thâm diệu tuy lời kinh rất đơn giản. Các kinh này đều rất thiết thực cho sự học hỏi và tu tập hàng ngày của chúng ta.
Phần Phụ Lục
Bài Sám Quy Mạng là do thiền sư Liễu Nhiên, núi Di Sơn, sáng tác, được trích từ sách Thiền Môn Nhật Tụng, phần công phu sáng. Nguyên văn chữ Hán, do thiền sư Nhất Hạnh dịch năm 1956.
Các bài Thi Kệ Nhật Dụng có hiệu lực giúp ta sống đời sống hàng ngày trong chánh niệm. Giới cư sĩ bây giờ cũng có thể thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày như người xuất gia, vì vậy các bài thi kệ đã được in vào Nghi Thức.
Các bài Kệ Chuông, Thiên Long Hộ Pháp và Kệ Vô Thường cần được sử dụng trong các buổi công phu tại chùa. Một số trong các bài ấy cũng có thể được sử dụng trong các buổi công phu tại gia nữa.
Nghi Thức Ăn Cơm Im Lặng cũng có thể được áp dụng ít ra là vài lần trong tuần, trong nếp sống tại gia. Thực tập nghi thức này, ta có thể thiết lập được sự an tĩnh và sự hòa đồng trong gia đình, do đó nếp sống tỉnh thức được thực hiện dần dần trong đời sống hàng ngày.
Bài Phòng Hộ Chuyển Hóa (Đệ tử chúng con từ vô thỉ) in ở phần phụ lục vốn đã được thiền sư Nhất Hạnh biên tập từ năm 1951, in ở sách Gia Đình Tin Phật năm 1952 và tái bản năm 1953 với đầu đề là Phát Nguyện Tu Trì. Văn bản được in trong sách này đã được chính tác giả nhuận sắc vào năm 1993.
Tóm lại cuốn Nghi Thức Tụng Niệm này sẽ tác động trực tiếp đến đời sống gia đình một cách tốt đẹp. Giới trẻ sẽ thấy lời kinh gần gũi, dễ hiểu, có thể đem áp dụng vào đời sống. Thực tập tụng niệm theo nghi thức này một thời gian, giới trẻ sẽ tiếp nhận nhiều hạt giống tốt của Phật pháp làm vốn liếng tâm linh cho hiện tại và tương lai.
Về Danh Từ Bụt
Đạo Bụt truyền qua nước ta từ thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây Lịch. Chúng ta đã gọi Buddha là Bụt ngay từ đầu. Trong văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích) cho tới ngày nay ta vẫn tiếp tục gọi Buddha là Bụt. Trong thiền môn và trong giới học giả, chúng ta đã tiếp tục gọi Buddha là Bụt cho tới thế kỷ thứ 15, khi nước ta bị quân nhà Minh xâm chiếm. Tướng nhà Minh là Trương Phụ cho thu lượm hết các trước tác cũ mới của Đại Việt và chở về Kim Lăng. Hai nhà cán bộ văn hóa của nhà Minh là Hạ Thanh và Hạ Thì được chỉ thị thi hành triệt để chính sách này tại Đại Việt. Thư tịch đạo Bụt của nước Minh được chở sang cho người Đại Việt sử dụng. Chúng ta đã bắt đầu theo người Minh gọi Buddha là Phật từ lúc ấy.
Các tác phẩm chữ Nôm của vua Trần Nhân Tông (như Cư Trần Lạc Đạo Phú, Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca ...) và của thiền sư Huyền Quang (Vịnh Hoa Yên Tự Phú), những tác phẩm tiêu biểu cho nền văn chương bác học của ta ở thế kỷ 14, vẫn còn gọi Buddha là Bụt.
Vậy học sử dụng trở lại danh từ Bụt không phải là một hành động lập dị mà chỉ là một hành động trở về với truyền thống văn hóa của dân tộc.
Về Phương Pháp Tụng Kinh, Niệm Bụt Và Đi Kinh Hành
Niệm Bụt, dù là Bụt Thích Ca hay Bụt A Di Đà, bồ tát Quán Âm hay bồ tát Địa Tạng, ta không nên chỉ niệm bằng miệng mà không niệm bằng Tâm. Nếu chỉ niệm bằng miệng, ta sẽ mau chóng trở thành một cái máy niệm, chỉ phát được âm thanh mà không phát ra được năng lượng chánh niệm. Niệm bằng Tâm, ta sẽ tiếp nhận được năng lượng của Bụt vốn có sẵn trong ta dưới hình thức hạt giống Phật tính và chánh niệm; năng lượng ấy cũng có mặt trong vũ trụ. Và chỉ khi nào năng lượng trong tâm ta phát sinh thì ta mới tiếp xúc được với năng lượng trong vũ trụ. Trong khi niệm Bụt, ta không thoát ra ngoài khung cảnh bây giờ và ở đây, trái lại, ta thực sự có mặt. Với năng lượng Bụt trong tâm ta, những gì ta đang thấy và đang nghe đều là những gì Bụt đang thấy và đang nghe đồng thời. Vì thế, niệm giúp cho ta an trú trong định, và định làm biểu hiện cõi Bụt trong khung cảnh hiện tiền. Ta sẽ tiếp xúc được với thế giới của bản môn và của tịnh độ ngay trong khi niệm Bụt, và ta có an lạc và vững chãi cũng ngay trong khi niệm Bụt. Niệm Bụt ở đây không còn là một lời cầu khẩn hay kêu gọi mà là một sự thực tập làm cho Bụt và thế giới của Bụt có mặt trong ta và quanh ta ngay trong giờ phút thực tập.
Khi thực tập kinh hành, nên chú tâm tới sự xúc chạm giữa bàn chân và sàn chánh điện, đi từng bước an lạc và thảnh thơi như bước trong Tịnh độ không khác, mỗi bước đi đều có giá trị nuôi dưỡng và trị liệu, mỗi bước đi đều đem lại thêm chất liệu chánh niệm, vững chãi và thảnh thơi vào cơ thể và vào tâm thức. Bước đi như in xuống dấu vết niềm an lạc của mình trên mặt đất.
Thay Đổi Kinh Văn, Sám Nguyện Và Kệ Tán
Phần lớn các nghi thức đều có phần trì tụng kinh văn, và Tâm Kinh Bát Nhã thường được đưa ra làm Kinh văn trì tụng. Tuy nhiên hành giả có thể chọn một kinh văn thích hợp trong số các kinh văn có mặt trong sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn này để thay thế cho Tâm Kinh, và thay thế những bài Sám nguyện và Kệ Tán trong nghi thức bằng những bài Sám Nguyện và Kệ Tán thích hợp mà mình ưa thích. Những bài này có thể tìm trong phần Phụ Lục.
http://www.thuvien-thichnhathanh.org...n/309-li-ch-dn