-
天上聖母成道真言,其中
「稽首禮真師。全我還太虛。上乘開 路。黃婆育嬰兒。
大慈悲。救苦難。唵阿唎也。蘇唎哆。哆陀嘛娑婆訶。」、
「稽首禮法王。陰陽一氣藏。黍珠懸 大。
照徹八千場。大慈悲。救苦難。唵高 陀。蘇唎哆。菩提娑婆訶。」
唵阿唎也。蘇唎哆。陀密娑婆訶。即Om(歸命)ārya(神聖 Sūrya(日天)tatama(如是)svāhā(成 就)
唵高𠖎陀。蘇唎哆。菩提娑婆訶。即O m(歸命)Kubera(財寶神)Sūrya(日天)bo dhi(正覺)svāhā(成就)
http://avalokiteshvari.blogspot.com/...blog-post.html
-
Maju媽祖 is one of the highest god in Taiwan, who originally came from South-eastern coast of China, the province of 福建Fuzen.
Maju媽祖 of Luerhman鹿耳門
Believing something or someone is mostly the matter of psychology. Trust is obtained and supported by experience, knowledge, and common sense. Faith or belief among people is formed with personal relationship and experience either. If we see some similar and common phenomena in many other people, we might not say it's a sort of psychology.
Without study of anthropologists, we know religious belief and faith are real in people's mind. Sometimes it's rapid fashion, sometimes habit and culture inherited for many years. And they are inseparable. Therefore, religion, culture, habit, custom and social engagements are all not only mental but also material factor.
From 鹿耳門天后宮
Maju媽祖 is one of the highest god in Taiwan, who originally came from South-eastern coast of China, the province of 福建Fuzen. Since they had departed to cross the Taiwan strait 400 years ago, they have believed this female god would protect their sailing. Now it is honored and believed by many Taiwanese as their own god who not only cares ship sailing but also other matters of entire human life. It was just a simple god for safe sailing but now became a great god who manages life and health, economy, business. Some part of liturgy is still related to their first place. But it seems to be regarded as different god now.
There are many branch temples in Taiwan such as Anping, Kaohsiung, and Pingdong. The temples send their representing performance team at common ceremony day as this day. They wear different uniforms, caps, and prepared special ceremonies one another. For example, a team performed a Tzgong and monks dancing, one brought a sedan as the vehicle of their god, one came with women who wear Qing dynasty's costume, the other spreaded a lot of crackers on the ground and sky.
Drums, singing, chanting scripture, playing puppet show, declaring liturgy order, exploding fire crackers, burning paper money, offering incenses, praying, eating, smoking, talking, etc... So many people gathered from all across the country when I visited there. And I was excited too.
From 鹿耳門天后宮
This temple is another landmark of Taiwan to me. And faith of Maju is much interesting phenomena to think much more from now on. I hope I can visit there again.
Labels: culture, faith, festival, folk, history, Maju, people, religion, taiwan, Taoism, temple
no comments:
http://leonidastaiwan.blogspot.com/2...-luerhman.html
https://www.youtube.com/watch?v=Y6XY...ature=emb_logo
天上聖母大悲心
-
-
Tục vía bà “Ngũ Hành Nương Nương”
https://www.upsieutoc.com/images/2020/07/01/6.jpg
Tượng Ngũ Hành Nương Nương ở chùa Thiền Lâm , Quận 8 TPHCM
Từ thời Trung Hoa cổ đại, Ngũ Hành vốn là một khái niệm siêu hình học nền tảng trong các học thuyết về Âm Dương/Ngũ Hành của Khổng tử và Lão tử. Ngũ Hành là 5 loại vật chất căn bản, gồm: Kim (kim loại), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa ( lửa) và Thổ (đất). Như giải thích trong kinh Dịch và kinh Thư, 5 chất liệu ấy vận động, phát triển theo hướng “tương sinh” và “ tương khắc”, đồng thời biểu thị quy luật sinh thành/vận động của toàn vũ trụ, thế giới và cả trong cuộc sinh tồn của nhân loại. Xuất phát từ Trung Quốc, lần hồi thuyết Ngũ Hành được tín ngưỡng hóa thành sự thờ phượng “vạn vật linh thiêng”, rất phổ biến trong nhiều dân tộc Á Đông – trong đó có Việt Nam – cho đến ngày nay.
“NĂM CHẤT” ĐƯỢC TÍN NGƯỠNG THỜ “MẪU” BIẾN THÀNH “NĂM BÀ”
Tiếp nhận thuyết Ngũ Hành từ phương Bắc rồi hòa quyện vào những tín ngưỡng dân gian đã có trước, người Việt cổ đã đưa thuyết này vào thờ phượng với những nhận định thực tiễn, giản dị. Chẳng hạn như ở vùng nóng bức quanh năm, thường xảy ra hoả hoạn, thì hành Hỏa được lập miếu thờ; vùng duyên hải, sông rạch thì thờ Thủy thần; vùng rừng núi thì thờ Bà Chúa Thượng Ngàn; vùng trồng lúa, trồng màu thì thờ Thổ thần v.v… Mặt khác, tại nước Việt xưa, so với các tục thờ Thổ Địa, Tài Thần, Chúa Xứ Thánh mẫu v.v…, thì tục thờ Ngũ Hành Nương Nương – tức thờ Ngũ Hành (vật chất) như một nhóm năm vị nữ thần – đã xuất hiện muộn hơn.
Còn muộn hơn là mãi đến năm Duy Tân thứ năm (tức năm 1911), triều đình nhà Nguyễn mới sắc phong chung cho năm Bà là các “Đức Thánh Nương, Trứ Phong Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần”, phân ra là: Thổ Đức Thánh Phi, Hỏa Đức Thánh Phi, Kim Đức Thánh Phi, Thủy Đức Thánh Phi và Mộc Đức Thánh Phi.
Nhưng tại sao biểu tượng cho “năm chất căn bản tạo nên trời đất” lại là các nữ thần mà không là nam thần?
Theo thiển ý (bởi chưa thấy có tài liệu, sách vở nào về khảo cổ học, nhân chủng học, tôn giáo học… đưa ra lý giải tương tự), là vào thời tiền sử, theo cái nhìn sơ khai của các dân tộc trồng lúa nước, sống phụ thuộc vào thiên nhiên – như người Việt cổ – thì, giới tự nhiên, hoang dã có tính chất tạm gọi là “âm sinh”, bởi ở đâu cũng thế, con người cổ đại nhìn thấy việc đẻ đái, trẻ con sơ sinh cũng như các thú vật sơ sinh khác được sinh ra duy nhất chỉ từ người đàn bà hay các con thú giống cái.
Có thể nói, dù chỉ là một kinh nghiệm hết sức hồn nhiên, thô thiển trước thế giới quanh mình nhưng kinh nghiệm trực quan nói trên đã mang tính chất vũ trụ quan nguyên thủy của con người bầy – đàn. Hơn thế, đây cũng là nguyên do có trước tiên trong số những nguyên do dẫn tới chế độ mẫu hệ cùng tín ngưỡng thờ Mẫu – biểu tượng thần linh nghiêng về “Mẹ”, “Mẹ Đất” rất phổ biến trong các chủng người cổ đại.
Riêng ở nước Việt xưa, tín ngưỡng thờ Mẫu trong dân gian (các thánh mẫu, bà chúa, như các đức Bà Thủy phủ, Thiên Phủ, Địa Phủ, Nhạc Phủ, Man Nương, Bà Chúa Thượng Ngàn.v.v…) đã có từ trước khi Phật giáo truyền vào đất Việt. Đến thời, đến lượt năm vị nữ thần Ngũ Hành được tôn thờ thì dân gian tin rằng các Bà có những quyền năng nhất định đối với các nghề liên quan đến đất đai, củi lửa, kim khí, nước nôi và cây gỗ, tức đây là nhóm thần linh có thể phù hộ cho đám nông dân, ngư dân, thợ thủ công…, nói chung là hầu hết tầng lớp thứ dân trong xã hội cổ xưa.
Trước kia, Ngũ Hành Nương Nương thường được thờ trong những am, miếu, điện…, phổ biến nhất là các ngôi miếu lớn, nhỏ mà người dân quen gọi ngắn gọn là “miếu Ngũ Hành” hay “miếu Bà” – hiếm khi nghe kiểu gọi “miếu năm Bà”. Tiến về phương Nam, đến vùng đất Gia định cũ, rồi TP HCM ngày nay (mở rộng từ đô thành Sài Gòn cũ), tục thờ Bà Ngũ Hành càng được quảng bá rộng rãi, những ngôi miếu Bà xuất hiện khắp nơi, nhất là ở các vùng nông thôn và vùng ven đô.
Ban đầu, người ta thờ Bà bằng bài vị chữ Nho, nhưng mấy mươi năm gần đây, bài vị lần hồi được thay bằng tượng tô, đúc bằng xi măng. Cần để ý là từ màu sơn thân tượng cho đến màu y áo, khăn choàng khoác ngoài, ở mỗi Đức Bà (tức mỗi Hành) đều có màu chủ đạo riêng biệt, đó là: Kim Bà màu trắng, Mộc Bà màu xanh, Hỏa Bà màu đỏ, Thủy Bà màu đen (hoặc tím) và Thổ Bà màu vàng
https://www.upsieutoc.com/images/2020/07/01/4.jpg
“BÀ” Ở TRONG ĐÌNH, CHÙA, CẢ TRONG KHU PHỐ, NGÕ HẺM
Ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định cũ, do phần lớn giới trung lưu và giới bình dân (tiểu thương, sản xuất tiểu/thủ công nghiệp, buôn gánh bán bưng, lao động chân tay…), thường cùng tin là Bà Ngũ Hành linh hiển, nên từ xa xưa, trước ngày 30/4/1975, miếu Bà được cất, dựng rải rác, liền kề nhau ở khắp các thôn ấp, đường phố. Như ở quận Gò Vấp (thuộc tỉnh Gia Định cũ, vùng đất có rất nhiều chùa, miếu), ở một đoạn đường Nguyễn Thái Sơn giáp đường Lê Lợi thuộc phường 3, chỉ nội trong hai khu phố kề nhau, đã có tới 4 chỗ thờ Bà Ngũ Hành, gồm một miếu ở mặt tiền đường và ba cái kia thì khuất trong ngõ hẻm, cách nhau chỉ chừng 500 – 600 mét.
Xưa nay, trong đất thổ cư, vườn tược của mình, nhiều nhà giàu đã cúc cung dựng miếu thờ Bà, như ở vùng quận 9 (gần Trường Bộ Binh Thủ Đức cũ) hiện nay, có những ngôi miếu Bà thật nhỏ, có khi chỉ bằng cái tủ áo, được cất ngay cạnh ao nuôi cá và chuồng gà vịt. Có nơi Bà được gia chủ thờ riêng một miếu, cũng có nơi thờ chung với Thổ Địa, Quan Công, Mẹ Thai Sanh…
Còn ở các nơi thờ phượng công cộng là các ngôi đình làng, kiểu thờ “quần tiên, chư thần” càng phồn tạp hơn. Mang danh nghĩa “đình” là dành thờ Thành Hoàng (vị nhân thần bảo hộ cho làng, xã), nhưng trong đình thì ngoài bệ thờ Thành Hoàng, luôn luôn có thêm bàn thờ, trang thờ Ngũ Hành Nương Nương, Quan Thánh, Thổ Địa, Tiền Hiền, Hậu Hiền, Linh Sơn Thánh Mẫu .v.v…
Ở những ngôi đình cổ, như đình Minh Hương Gia Thạnh (ở quận 5, xây năm 1797) , đình Phong Phú (ở quận 9, xây năm 1937), đình Phú Nhuận ( 150 năm tuổi), đình An Phú (ở quận 12, khoảng 250 năm tuổi) .v.v…, thì hằng năm, bá tánh cùng vía Bà cũng lớn không thua gì lễ vía Thành Hoàng địa phương.
Một điểm đặc biệt nữa là dù chỉ thuộc về tín ngưỡng dân gian chứ không thuộc hàng “chư Phật” trong Phật giáo, Bà Ngũ Hành vẫn được thờ trong chùa (chính danh là cửa Phật), có điều phải là những ngôi chùa cổ (theo Đại Thừa). Như trong khuôn viên một số ngôi cổ tự như chùa Phổ Đà Quan Âm (quận Gò Vấp), chùa Vạn Thọ (quận 1), chùa Bình An (quận Bình Tân), chùa Bửu Long sơn tự ở tận Dĩ An (Bình Dương).v.v…, những ngôi miễu Bà được bá tánh cúc cung quanh năm hương khói… Còn ở những ngôi chùa tạm gọi là ‘tân thời’, mới cất gần đây như trường hợp chùa Quảng Đức (mới xây dựng sau 30-4 ở quận 3), không thấy có những am, khám thờ các vị thần bên tín ngưỡng dân gian, như Bà Ngũ Hành, Quan Công, Linh Sơn Thánh Mẫu…
Được thờ cúng từ ở những ngôi miếu khang trang, lộng lẫy, cho đến những bàn thờ, trang thờ nhỏ bé, đơn sơ tại tư gia, có thể nói “Bà” là nhóm thần linh rất gần gũi với bá tánh. Thậm chí ở vài cái miếu trong ngõ hẻm – có khi nhỏ, hẹp đến nổi chỉ bằng chừng 2-3 chiếc chiếu đôi trải ra – miếu vẫn còn là “hộ khẩu 1 người” bởi người coi sóc miếu ăn ở, sinh hoạt luôn ở phía sau bàn thờ Bà
https://www.upsieutoc.com/images/2020/07/01/5.jpg
VÍA BÀ LUÔN CÓ BÓNG RỖI ĐẾN HÁT, TẾ…
Theo đúng tục lệ thì lễ vía Ngũ Hành Nương Nương là vào ngày 19 tháng Ba âm lịch hằng năm, nhưng có vài nơi cúng trễ hơn, như ở ngôi miếu Bà nằm ở đường Phan Văn Khỏe, gần chợ Bình Tây (cất năm 1970), lại cúng Bà vào ngày 23 tháng Ba.
Cũng theo đúng lệ thì vào kỳ vía, các miếu Bà phải mời đám bóng rỗi – pêđê nam – đến hát, tế, múa dưng bông… thật tưng bừng, thu hút rất đông bá tánh xa, gần đến coi. Trước vía 1- 2 ngày, bà con bổn đạo thường cùng nhau “đấp y cho Mẹ”, là nghi thức lau chùi, sơn sửa, thay áo, mão mới cho các pho tượng Bà
Nguồn : https://cvdvn.net/2016/12/15/nhung-n...-gon-gia-dinh/
-
Đình Phong Phú
https://www.upsieutoc.com/images/2020/07/01/7.jpg
Mặt trước đình Phong Phú
I Sơ nét:
Đình Phong Phú tọa lạc tại số 46 đường Phong Phú, phường 12, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; tên đường Phong Phú được đặt từ thời Pháp thuộc đến nay. Đình Phong Phú được xây dựng sau khi thôn Phong Phú được thành lập.
https://www.upsieutoc.com/images/202...3b02ae325c.jpg
Trang trí trên mái đình
II. Lịch sử di tích:
Khi triều Nguyễn lập địa bàn tỉnh Gia Định (1836), Phong Phú là một thôn thuộc tổng Tân Phong Hạ, huyện Tân Long, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Thôn Phong Phú được thành lập khoảng thời gian từ năm 1816 – 1833. Đình Phong Phú cũng được xây dựng trong thời gian này để thực hiện chức năng là nhà việc và là nơi thờ phụng các vị thần linh theo tín ngưỡng của nhân dân trong vùng. Lúc đầu, đình tọa lạc bên bờ kênh Đôi, đến khoảng năm 1917, đình được dời đến vị trí hiện nay.
Các vị thần thánh được thờ trong đình:
- Thần thành hoàng bổn cảnh: vị Thần phù hộ cho dân thông Phong Phú.
- Tả ban Hữu ban: các vị phò tá của Thần thành hoàng bổn cảnh.
- Chú sinh nương nương: năm vị nữ thần tượng trương cho ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ).
- Quan thánh đế quân: ( Tên Thật : Quản Trường Sinh ) tức Quan vũ , Quan Công , Quan Nhị Ca hay Quan Vân trường , là biểu tượng các Đức Trí , Nhân , Dũng , Nghĩa
- Phúc đức chính thần: thần bảo hộ đất đai.
https://www.upsieutoc.com/images/202...b843e3b761.jpg
Bộ cột gỗ ở chính điện
https://www.upsieutoc.com/images/202...6d3b3cf6dc.jpg
Bàn Thờ Hữu Ban
III. Khảo tả di tích:
Đình Phong Phú thuộc loại di tích kiến trúc nghệ thuật, diện tích khoảng 600 m2 . Các thành phần kiến trúc võ ca, tiền điện, chính điện được xây dựng theo kiểu nhà năm gian, tiếp nối nhau trên một trục dọc, riêng nghĩa từ xây theo kiểu nhà ba gian, nằm bên trái chính điện. Võ ca và mỗi điện thờ đề có nóc mái riêng, lợp ngói ống, đỡ lấy lớp mái này là bộ cột, kèo, rui làm bằng gỗ.
Trước võ ca là khoảng sân nhỏ đặt bàn thờ Thiên phụ địa mẫu đối diện với bức phù điêu Thần Hổ tên vách mặt tiền. Bên trên phù điêu Thần Hổ có hàng chữ “Đình Phong Phú”.
Tiền điện bày ba hương án ở gian giữa và hai gian bên; hương án giữ thờ Thần hoàng, hai bên trái phải là án thờ Tả ban, Hữu ban.
Chính điện là nơi được bài trí trang trọng nhất trong đình. ở ba cửa võng trước chính điện trang trí ba bao lam chạm trổ các đề tài mẫu đơn –trĩ, mai – điểu… Trên các thân cột treo các cặp liễn đối chạm chìm chữ Hán, sơn son thếp vàng. Gần cuối chính điện có năm khám thờ bày thành một hàng ngang. Khám thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh được bày ở gian giữa. Khám thờ Tả ban và Hữu ban đặt ở hai bên trái phải gian thờ Thần. Hai bên ngoài sát vách tường bên trái là nơi thờ Chúa sinh nương nương đối xứng với gian thờ Ngũ hành nương nương ở sát vách tường bên phải.
Bên trái chính điện có cửa vào gian nghĩa từ, nơi thờ các vị có công với làng xã, đình miếu. Ở giữa nhà nghĩa từ là bàn thờ và tượng Địa tạng vương Bồ tát.
IV. Các hiện vật trong di tích:
Đình Phong Phú thuộc loại di tích kiến trúc nghệ thuật, diện tích khoảng 600 m2 . Các thành phần kiến trúc võ ca, tiền điện, chính điện được xây dựng theo kiểu nhà năm gian, tiếp nối nhau trên một trục dọc, riêng nghĩa từ xây theo kiểu nhà ba gian, nằm bên trái chính điện. Võ ca và mỗi điện thờ đề có nóc mái riêng, lợp ngói ống, đỡ lấy lớp mái này là bộ cột, kèo, rui làm bằng gỗ.
Trước võ ca là khoảng sân nhỏ đặt bàn thờ Thiên phụ địa mẫu đối diện với bức phù điêu Thần Hổ tên vách mặt tiền. Bên trên phù điêu Thần Hổ có hàng chữ “Đình Phong Phú”.
Tiền điện bày ba hương án ở gian giữa và hai gian bên; hương án giữ thờ Thần hoàng, hai bên trái phải là án thờ Tả ban, Hữu ban.
Chính điện là nơi được bài trí trang trọng nhất trong đình. ở ba cửa võng trước chính điện trang trí ba bao lam chạm trổ các đề tài mẫu đơn –trĩ, mai – điểu… Trên các thân cột treo các cặp liễn đối chạm chìm chữ Hán, sơn son thếp vàng. Gần cuối chính điện có năm khám thờ bày thành một hàng ngang. Khám thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh được bày ở gian giữa. Khám thờ Tả ban và Hữu ban đặt ở hai bên trái phải gian thờ Thần. Hai bên ngoài sát vách tường bên trái là nơi thờ Chúa sinh nương nương đối xứng với gian thờ Ngũ hành nương nương ở sát vách tường bên phải.
Bên trái chính điện có cửa vào gian nghĩa từ, nơi thờ các vị có công với làng xã, đình miếu. Ở giữa nhà nghĩa từ là bàn thờ và tượng Địa tạng vương Bồ tát.
IV. Các hiện vật trong di tích:
- Khám thờ, bài vị, long vị, tượng thần (gỗ - thạch cao).
- Khám thờ, bài vị thờ tả ban, hữu ban (gỗ).
- Khám thờ, bộ tượng Chúa sinh nương nương (gỗ, thạch cao)
- Bộ tượng 12 Mụ bà (thạch cao).
- Khám thờ, tượng thờ Ngũ hành nương nương (gỗ).
- Binh khí, bát bủu, đỉnh trầm, lư hương – liễn đối, hoành phi, phù điêu (gỗ).
https://www.upsieutoc.com/images/202...9397932d2b.jpg
Bàn Thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh
https://www.upsieutoc.com/images/202...cd502a53b1.jpg
Chạm khắc trên bài vị thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh
Hàng năm, đình có 15 lễ hội, cúng tế nhưng lễ Kỳ Yên (ngày 17 tháng giêng) được tổ chức long trọng nhất.
V. Giá trị của di tích:
Đình Phong Phú được xây dựng cách nay đã gần hai trăm năm, mang nhiều giá trị lịch sử - văn hóa, nổi bật nhất là giá trị kiến trúc nghệ thuật.
https://www.upsieutoc.com/images/202...c63c603dad.jpg
Đỉnh trầm mắt tre
Tuy được dời đến vị trí hiện đại vào đầu thế kỷ XX, đình Phong Phú vẫn giữ được kiến trúc nhà gỗ năm gian, mái ngói và kết cấu mặt bằng truyền thống của đình làng Nam Bộ. Nội thất đình được bài trí trang nghiêm, hài hòa với các khám thờ, bao lam, hoành phi, liễn đối,… sơn son thiếp vàng, chạm khắc tinh xảo với các đề tài mẫu đơn – trĩ, mai – điểu, trúc – hạc và các câu đối mang nội dung ca ngợi thần thánh, cầu mong làng xã bình yên, thịnh vượng,… Các hiện vật bằng đồng như đỉnh trầm hình trái đào, đỉnh trầm mắt tre, bộ binh khí, bộ bát bửu thể hiện nghệ thuật đúc đồng đầu thế kỷ XX.
Việc thờ cúng ở đình Phong Phú thể hiện sự hiện diện của người Hoa trong cộng đồng dân cư tại khu vực. Các vị thần thánh như Quan thánh đế quân, Chúa sinh nương nương được thờ ở chính diện thể hiện sự biến chuyển giao lưu tín ngưỡng của cư dân.
Ngoài Ban trị sự quản lý đình Phong Phú, còn có Hội Bảo thọ để giúp đỡ việc ma chay, tang chế khi những người cao tuổi họ qua đời. Hoạt động này mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.
Vì lịch sử đình Phong Phú gắn liền với lịch sử thôn Phong Phú, nên việc nghiên cứu những biến chuyển đổi thay của đình Phong Phú cũng giúp hiểu thêm về những thay đổi về hành chính, địa lý của thôn Phong Phú xưa.
VI. Cơ sở pháp lý bảo vệ di tích:
Để bảo vệ và phát huy giá trị di tích đình Phong Phú, ngày 27/4/2009 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 1766/QĐ-UBND về xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh thành phố. Đình Phong Phú được khoanh vùng bảo vệ theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam.
VII. Những tư liệu bổ sung – tham khảo:
Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc văn – NXB Giáo dục 1998.
Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Gia Định, NXB thành phố Hồ Chí Minh 1994.
-
Đình Bình Đông
https://i.imgur.com/GCbOKvj.jpg
Chính diện đình Bình Đông
I. Sơ nét:
Từ cầu Bà Tàng vào khoảng 300 mét, theo con rạch cùng tên là rạch Bà Tàng, ta thấy một cù lao nhỏ, rộng khoảng 2 héc ta. Trên cù lao có một ngôi đình kiến trúc rộng rãi, uy nghi, cổ kính. Tại đây, vào ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng, dân chúng ở các nơi trong thành phố và ở các tỉnh bạn đến cúng bái đông đảo. Đó là đình Bình Đông mà ngày trước nhân dân thường gọi là "Bình Đông Hội Quán".
II. Lịch sử xây dựng đình Bình Đông
Đình Bình Đông được xây dựng trên cù lao ngay nhánh rẽ của dòng Kinh Đôi, thuộc phường 7 quận 8 thành phố Hồ Chí Minh. Theo “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, thôn Bình Đông thuộc tổng Tân Phong, huyện Tân Long, phủ Tân Bình (1818). Đình có sắc phong Tự Đức ngũ niên (1853). Như vậy đình Bình Đông phải được xây dựng trước năm 1853, tức trước năm nhận được sắc. Sắc phong cho Thần "Thành hoàng bổn cảnh" của thôn Bình Đông, huyện Tân Long ghi ngày 29 tháng 11 âm lịch năm Nhâm Tý (08/01/1853).
Theo các bô lão thì đình Bình Đông có từ xưa. Lúc đầu, kiến trúc của đình chỉ là ngôi nhà lá, dùng làm nhà làng cho dân cư quanh vùng tới hội họp và cúng bái. Đến năm 1922 được trùng tu bằng mái ngói, vách ván, cột kèo gỗ theo dạng đình Nam Bộ với võ ca và chánh điện nằm giữa, hai bên có Đông và Tây lang, bên cạnh lại có nhà Nghĩa Từ. Đến năm 1930, đình xuống cấp nên được sửa chữa lớn, mái ngói được thay bằng ngói đại ống 2 lớp, vách trét ô dước, nền gạch tàu.
Năm 1968, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, đình bị bom đánh sập một phần võ ca, chánh điện và nghĩa từ. Mãi đến năm 1991, đình được xây dựng lại với kết cấu bằng nguyên vật liệu nặng (bêtông - cốt sắt) nhưng kiến trúc tổng thể vẫn giữ nguyên. Lần xây dựng này có thêm nhà Truyền Thống.
III. Khảo tả di tích:
Tuy toàn bộ cảnh quan không thay đổi nhưng kết cấu không còn nét xưa. Nổi bật còn lại vẫn là các hiện vật bên trong chánh điện như toàn bộ khám thờ thần, Tả Hữu ban, Hội đồng đều chạm thủng viền quanh với rồng vờn châu, từng lộc, tứ linh rất nghệ thuật. Trên bàn thờ Thần có khánh đựng mão thần, bộ bát bửu bằng đồng, lư hương bình hoa bằng gốm quí. Trước bàn thờ bố trí bộ lỗ bộ đầu bịt đồng rất quí. Cặp liễng treo hai bên bàn thờ Thần.
Chung quanh cặp liễn có chạm các hoa văn rất nghệ thuật. Ngoài ra còn có 4 cặp liễn khác cùng kích cỡ, cùng mang tính nghệ thuật chạm trổ với nội dung ca ngợi công đức Thần được treo tuần tự theo cung cách thờ cúng. Trong chánh điện còn phải kể đến bao lam chạm trổ hình dáng: mai, lan, cúc, trúc, mẫu đơn, sóc, giác trên các loại gỗ quí. Các hoành phi đáng kể như Bình Đông Đình có ghi niên đại 1870 treo trên cửa chánh điện và bức "Diệu - Diệu anh linh" niên đại 1850.
Trong nhà nghĩa từ bài trí hai bàn Tiền và Hậu hiền với đầy đủ hiện vật thờ cúng. Cạnh có bàn Tiên - Sư cũng được chưng dọn rất nghiêm túc. Riêng nhà Truyền Thống nằm cạnh là nơi trưng bày một số hình ảnh minh họa thời gian cụ Tôn Đức Thắng hoạt động tại Sài Gòn và tại đình Bình Đông. Nhìn tổng thể còn có miếu Ngũ Hành, bàn thờ Thần Nông, miếu Ông Tà bố trí theo tục lệ trước mặt võ ca (gần cổng Tam quan). Sân khấu thiết kế nằm trong võ ca nhằm phục vụ hát xướng ngày đại lễ.
IV. Các hình thức sinh hoạt lễ hội:
Hàng năm lễ Kỳ Yên tuần tự diễn ra theo nghi thức được truyền tụng như đầu lễ là Túc yết, chính lễ là Đoàn (Đàn) cả diễn ra trịnh trọng có tế thần gọi là lễ Thỉnh Sanh. Trong lễ có chánh bái, bồi bái, học trò lễ, đào thài theo chiêng trống, kèn của nhạc mà hành lễ. Tiếp có lệ "hát bội", trước là để hầu thần, sau phục vụ bà con đến chiêm bái. Lệ này diễn ra hàng năm vào ngày 12 và 13 tháng 2 âm lịch.
V. Giá trị lịch sử:
ình Bình Đông không chỉ nổi tiếng là đình cổ, linh thiêng mà nơi đây còn mang ý nghĩa quan trọng của sự kiện lịch sử cách mạng. Năm 1920, Tôn Đức Thắng (nguyên Chủ tịch nước) từ hải ngoại trở về Sài Gòn và bí mật thành lập Công hội đỏ phát triển mạnh trong đội ngũ công nhân nhằm đoàn kết chống tư bản đế quốc. Lúc này ông Ka Hiêm là hội viên đình Bình Đông nên biến đình thành cơ sở của Công hội đỏ. Năm 1925, là lãnh đạo tổ Công hội đỏ thuộc Nhà đèn Chợ Quán, ông Ka Hiêm tổ chức nhiều cuộc họp tại đình và các tài liệu đều được cất giấu dưới khám thờ.
Theo ông Dương Quang Đông (Nguyên thường vụ Xứ ủy Nam kỳ) - Chủ tịch câu lạc bộ hưu trí TP. Hồ Chí Minh và ông Ka Hiêm thì Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã đến dự nhiều lần những cuộc họp quan trọng tại đình Bình Đông trong khoảng thời gian từ 1925 - 1928. Những lần đó Bác Tôn đã thuyết giảng về chủ nghĩa Mác, lòng yêu nước cho các công nhân nòng cốt của Hội. Thời gian hoạt động của Công hội đỏ diễn ra từ 1925 - 1928, không hề bị lộ bí mật. Chính tại chánh điện, các mật thư của Nguyễn Ái Quốc được chuyển từ nước ngoài về cũng như các sách báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Mác đều được cất giấu cẩn thận và an toàn tại đình Bình Đông. Thời kỳ chống Mỹ, đình Bình Đông là nơi liên lạc, chuyển vũ khí vào nội thành và cũng là nơi bộ đội miền Nam đặt súng bắn vào Tòa hành chánh quận 7 của chế độ cũ năm 1968.
Ngày nay, để tưởng niệm thời kỳ hoạt động của Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại thành phố Sài Gòn xưa, một số hình ảnh và kỷ vật được trưng bày tại nhà truyền thống nằm trong khuôn viên đình Bình Đông. Đến viếng đình Bình Đông không thể quên nhà truyền thống nằm cạnh nghĩa từ. Ở đó, những ấn tượng một thời đấu tranh của nhân dân ta là những bài học vô giá và đích thực nâng cao giá trị của đình Bình Đông hiện nay. Đình Bình Đông được Bộ Văn hóa cấp bằng công nhận di tích theo quyết định số 2890 - VH/QĐ ký ngày 27/09/1997.
VI. Cơ sở pháp lý bảo vệ di tích:
Đình Bình Đông là một di tích văn hóa và lịch sử, được Bộ Văn hóa cấp bằng công nhận di tích theo quyết định số 2890 - VH/QĐ ký ngày 27/09/1997.
VII. Tài liệu tham khảo:
- Gia Định thành thông chí “Trịnh Hoài đức”.
- Địa chí văn hóa thành phố, tập 1.
- Lịch sử truyền thống đấu tranh Cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Quận 8.
- Những địa danh lịch sử ở Quận 8.
- Các nhân chứng lịch sử: Dương Quang đông, Ka Him…
https://www.upsieutoc.com/images/202...b84f07ed52.jpg
https://i.imgur.com/sB8bCs9.jpg
https://i.imgur.com/PvzZ2bV.jpg
https://i.imgur.com/0UQVxdP.jpg
https://i.imgur.com/ZdnMLLj.jpg
Nguồn :http://www.quan8.hochiminhcity.gov.v...emID=59&Mode=1
TIN MỚI HƠN
Chùa Sắc Tứ Huệ Lâm (01/12/2010)
Đình Phong Phú (01/12/2010)
Đình Hưng Phú (01/12/2010)
Đình Vĩnh Hội (01/12/2010)
TIN ĐÃ ĐƯA
Chùa Thiên Phước (01/12/2010)
Chùa Pháp Quang (01/12/2010)
Lò gốm cổ Hưng Lợi, phường 16, quận 8, TPHCM (01/12/2010
Cầu Chà Và (JaVa) (29/11/2010)
Rạch Cát (29/05/2009)
Hố Bần (29/03/2009)
Bến Bình Đông (Bình Đông Hội Quán) (29/03/2009)
Kinh Tàu Hủ (29/03/2009)
Cầu Chữ Y (29/03/2009)
Cầu Nhị Thiên Đường (29/03/2009)
Chánh Hưng (29/03/2009)
Xóm Củi (29/07/2008)
Phú Định (29/06/2008)
Mễ Cốc (29/04/2008)
Rạch Ông (29/03/2008)
Hưng Phú (29/02/2008)
-
Nam mô đức mẹ Chúa Xứ Nguyên Nhung Tổ Mẫu Từ Tôn Vô Lượng Đại Từ Tôn.
https://biblebooks.home.blog/2020/06...-muon-cuu-doi/
-
-
Thổ Đức Thánh phi chi thần
Hỏa Đức Thánh phi chi thần
https://anbangnews.com/lang-an-bang-...-ban-quoc-ngu/
-
-
-
243 Thiên Hậu, còn được gọi là Thiên Phi, Mỵ Châu Nương Nương, Thiên Phi Nương
Nương, Thiên Hậu Nương Nương, Thiên Thượng Thánh Mẫu, Ma Tổ (thường bị đọc trại
thành Mã Tổ) v.v... là một vị nữ thần được dân cư vùng Đông Nam Trung Quốc sùng bái,
nhất là ngư dân. Theo ngọc phổ, bà có tên thật là Lâm Mặc, không rõ sanh và mất năm
nào, chỉ biết bà đã được phong thần từ thời Tống, quê quán tại đảo Mỵ Châu, huyện Bồ
Điền, tỉnh Phước Kiến. Tương truyền, bà lúc còn sống có tài tiên tri, dự đoán họa phước
nên được dân chúng tôn sùng, lập miếu thờ sau khi mất. Bà được tôn lên thành vị thần
bảo hộ cho hàng hải sau khi có chuyện Cấp Sự Trung Lộ Doãn Địch đi sứ Cao Ly vào
năm Nguyên Hòa thứ 5 (1123) đời Tống Huy Tông, chìm thuyền, được bà che chở. Ông
Lộ thoát nạn, bèn trùng tu miếu thờ, triều đình ban tặng biển đề Thuận Tế. Các triều đại
kế tiếp liên tiếp sắc phong như năm 1156, Tống Cao Tông sắc phong bà là Linh Huệ Phu
Nhân, Tống Quang Tông phong cho bà hiệu Linh Huệ Phi, năm Chí Nguyên 15 (1278),
nhà Nguyên sắc phong cho bà hiệu Hộ Quốc Minh Trước Linh Huệ Hiệp Chánh Thiện
Khánh Hiển Tế Thiên Phi. Danh xưng Thiên Hậu bắt đầu từ đời Thanh khi vua Khang Hy
gia phong cho bà mỹ hiệu Hộ Quốc Tỳ Dân Diệu Linh Chiêu Ứng Nhân Từ Thiên Hậu.
Lần sắc phong cuối cùng là do vua Hàm Phong ban chiếu vào năm Hàm Phong thứ 7
(1857) và cũng là mỹ hiệu dài nhất Hộ Quốc Tỳ Dân Diệu Linh Chiêu Ứng Hoằng Nhân
Phổ Tế Phước Hựu Quần Sanh Thành Cảm Hàm Phù Hiển Thần Tán Thuận Thùy Từ
Đốc Hựu An Lan Lợi Vận Trạch Đàm Hải Ninh Điềm Ba Tuyên Huệ Đạo Lưu Diễn
Khánh Tĩnh Dương Tích Chỉ Ân Châu Đức Phổ Vệ Tào Bảo Thái Chấn Vũ Tuy Cương
Thiên Hậu Chi Thần, nhằm ca tụng nữ thần linh ứng, oai linh, nhân từ, dẹp yên sóng gió,
tạo phước lợi, che chở nhân dân, giữ yên bờ cõi. Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu theo chân
người Hoa phổ biến khắp vùng Đông Nam Á. Các nơi được gọi là “chùa Bà” ở Việt Nam
chính là miếu thờ Thiên Hậu.
244 Mỵ Dự là tên gọi khác của đảo Mỵ Châu, quê hương của Thiên Hậu.
https://www.niemphat.vn/downloads/th...u-hoa-dich.pdf
-
Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu
Nguyên Nhung Châu Đốc
-
-
Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu Châu Đốc
-
-
-
-
-
Chúa Xứ Thánh mẫu hay Chúa Xứ Nguyên Nhung là thần phù hộ nông dân trong một ấp. Nguồn gốc là vị thần này là Ũma – tức nữ thần Bảo Tồn của đạo Bà La môn tại Ấn Độ. Nữ thần Ũma được dân tộc Chăm biến thành Pô nagar - bà Mẹ xứ sở; được người Việt biến thành Ngung Mang nương - là nữ thần phù hộ người đi khai hoang. Từ miền Trung, Po Nagar được đồng nhất thành Thiên Y A na - bà Chúa Ngọc Thánh phi, tục gọi là bà Chúa Ngọc, bà Chúa Xứ hoặc Chúa Xứ Thánh mẫu. Nhà Nguyễn xếp Thiên Y A na Diễn Ngọc phi vào bậc thượng đẳng thần...Từ đó, khi khai hoang lập xong một ấp thì lưu dân xây dựng ngôi miếu thờ Chúa Xứ Thánh mẫu. Do vậy, ở Tiền Giang có hàng trăm ngôi miếu thờ, đa số tập trung ở vùng Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo...[10]
https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thiên_Y_A_Na