Kỳ 2: “Mằn” trầu cau chữa xương
Kỳ 2: “Mằn” trầu cau chữa xương
Mặc dù tôi thuyết phục mãi, nhưng mế Quyết vẫn khăng khăng không chịu “lên báo”. Giờ, nhà mế lúc nào cũng có khách từ các nơi về, có người do phải chữa bệnh, nên ở lại vài ngày, thậm chí có khi vài tuần. Mế không phải là người hành nghề y kiếm sống, nên việc thu xếp chỗ ăn, chỗ ở cho bệnh nhân khó lắm. Mế bảo, năm nay mế đã 75 tuổi rồi. Bây giờ mà lên báo, nhiều khách, mế mệt lắm
Mế Quyết đang “mằn” vào miếng trầu
Chữa bệnh bằng “mằn”
Căn nhà 3 gian của mế Quyết ở xóm Mỏ Ngô, xã Hợp Thành, huyện Kỳ Sơn rộng rãi nằm ngay giữa xóm. Tranh thủ lúc bệnh nhân vừa về, Mế Quyết trộn cám cho con lợn nái vừa mới đẻ. Cho lợn ăn xong, Mế lại mang ít ngô cho gà ăn . Năm na,y Mế đã 75 tuổi, nhưng làm mọi việc vẫn còn nhanh nhẹn. Mế cho rằng, mế còn khoẻ và minh mẫn đến ngày nay là nhờ các bài thuốc Nam. Mẹ chồng mế là cụ Bùi Thị È, cũng là người chữa bệnh bằng thuốc Nam nổi tiếng khắp vùng này. Mế kể: Ngày xưa ,chiến tranh, nhiều người thương binh bị mảnh đạn găm trong người mà mẹ chồng mế vẫn “thổi” ra được. Mế nhớ nhất có một anh thương binh ở Ba Vì (Hà Tây cũ) bị 1 mảnh đạn găm vào ngực mấy năm. Do gần tim, nên vết thương không thể mổ được. Khi người thương binh đó đến, họ cũng không tin là có thể chữa được. Rồi mẹ chồng mế kiên trì "thổi", vài tháng sau, viên đạn cũng ra được. Người thương binh đó mang ơn mẹ chồng mế nhiều lắm. Từ đó, bệnh nhân ngày càng đến đông và chưa bao giờ mẹ chồng mế lấy của họ một đồng xu nào. Người Mường quan niệm, chữa bệnh là để cứu người, chứ không lấy đó làm phương tiện để sống. Một lần, cụ gọi mế vào rồi bảo: Con là đứa con dâu ngoan hiền. Mẹ thấy con có tư chất hợp với nghề thuốc, nên mẹ truyền lại những bí kíp của bài thuốc cho con để cứu người. Học được một thời gian thì cụ mất. Trước khi mất, cụ dặn lại Mế: Mẹ thấy con hợp với nghề thuốc, hãy gắng mà học và đừng lấy đó là nghề kiếm sống. Căn dặn mế xong thì cụ mất.
Mẹ chồng mất, mế Quyết trở thành người trong nhà kế tục bài thuốc gia truyền này. Cùng với mế còn có 3 người chị chồng học được nghề của mẹ truyền lại. Tuy nhiên, mế là có “duyên” nhất. Khi hỏi cách chữa bệnh bằng thổi trầu, mế mang chiếc tráp nhỏ đựng trầu và cau ra. Mế bổ cau, têm trầu, rồi lấy vôi giống như ăn trầu, chỉ có khác là trước khi ăn, mế “mằn” (giống như niệm thần chú) vào miếng cau. Rồi mế nhai một lúc cho ngấm miếng trầu. Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của vết thương mà mế thổi. Theo mế, khi thổi, người mế như mất đi một nguồn năng lượng đáng kể. Hôm nào mà chữa cho nhiều người là mế cảm thấy mệt mỏi lắm. Người được thổi đang đau sẽ cảm thấy dịu ngay. Người bị nhẹ thì vài hôm, người bị nặng nhất cũng chỉ khoảng một tháng là đỡ.
Chỉ sau vài lần thổi trầu, ông Sơn đã đỡ đau
Đơn giản mà không đau
Mế Quyết đang kể dở câu chuyện về mẹ chồng mình thì bà Ký - người cùng xã sang. Bà Ký bị gẫy cổ tay trái cách đây mấy hôm. Gia đình đã đưa bà đến bệnh viện băng bó, nhưng các bác sĩ bảo, ở tuổi bà khó liền xương được. Tay đau nhức, khiến bà ăn ngủ không yên. Hôm đến đây lần đầu, cánh tay trái của bà Ký còn xưng to, vậy mà sau ba ngày nhờ mế Quyết thổi trầu, giờ nó đã đỡ hẳn. Mế Quyết xem qua vết thương rồi động viên bà Ký: “ Không sao! Vài ngày là đỡ thôi mà”. Bà Ký thấy nhẹ người.
Mế vừa chữa cho bà Ký xong thì có ông Sơn được người cháu chở đến. Ông Sơn đi chăn bò thì bị bò húc rạn xương sườn. Suốt cả tuần qua, ông chẳng ăn uống gì được, chỉ kêu la. Mế Quyết dùng trầu cau thổi vào vết thương thì ông thấy đỡ đau hẳn. Theo ông Sơn, gia đình ông vốn khó khăn, nên không có tiền để đưa ông đi chữa trị. May mà gặp được mế Quyết, vết thương của ông mới thuyên giảm. Dường như ngày nào mế cũng phải tiếp vài người đến nhờ chữa bệnh. Người thì gẫy tay, người gẫy chân, người bị bong gân, có người bị gẫy cả xương bả vai… Nói chung đủ các loại bệnh về xương.
Tiếng lành đồn xa. Người dân ở khắp nơi đổ dồn về nhờ mế Quyết chữa trị. Có những người mãi trong thành phố Hồ Chí Minh đi máy bay ra đây chữa. Và Mế cũng không nhớ được đã chữa cho bao nhiêu người bằng cách “mang ơn” như thế. Hầu như Mế chưa chịu bó tay trước trường hợp nào. Một trường hợp nặng nhất mà Mế nhớ là anh Thành ở Hà Đông (Hà Tây cũ) bị gẫy xương bả vai và gẫy xương đùi. Người nhà của bệnh nhân phải cáng anh đến nhà mế. Khi đến, anh Thành ở trong tình trạng hôn mê nặng. Mế xem qua rồi động viên gia đình: Cứ yên tâm ở với mế hết một tuần trăng. Bệnh tình của cháu sẽ đỡ. Hàng ngày, mế liên tục thổi trầu vào chỗ đau của nạn nhân. Sau 20 ngày thì chân và tay của anh Thành đã lành lặn. Khi khỏi bệnh, Thành sờ vào chân tay mình không tin nổi đó là sự thực. Anh quỳ sụp xuống lạy mế như tế sao: “Không có mế, chắc đời con không có được ngày hôm nay”.
Chữa bệnh không “kiếm lời”
Suốt mấy chục năm qua, mế Quyết cũng không nhớ là mình đã chữa khỏi bệnh cho bao nhiêu người nữa. Ai đến cũng được mế chữa tận tình. Nhiều lúc mệt quá, không sao mà làm được. Mế bảo: Cầu trời cho Mế được sức khoẻ để chữa thêm cho nhiều người. Và chưa bao giờ, mế yêu cầu bệnh nhân phải trả bao nhiêu tiền để được chữa bệnh. Ai quý mế thì biếu ít tiền để mế ăn trầu. Không ít trường hợp gia cảnh khó khăn, đến nhà mế còn phải lo chỗ ăn, chỗ ở cho họ. Nhà mế còn nghèo, nhưng chưa bao giờ con cháu trong nhà phải phàn làn về chuyện này. Triết lý sống của mế là: Cứu được ai là cứu. Người ta có bệnh nên mới tìm đến mình. Nhưng, mấy năm nay, mế yếu dần mà cách chữa bệnh của Mế thì dùng toàn trầu cau. Có lúc ra chợ không có cau mà mua. Có lúc bổ ra 1 thúng cau chỉ 2 ngày là hết. Làm nghề thầy lang phải mở rộng vòng tay cứu độ chúng sinh.
Nghe tiếng về tài năng và đức độ của mế, nhiều người đến đón mế đi nhiều nơi để chữa trị, nhưng mế chỉ đi đến 2 ngày là cùng. Mế bảo: “ Cuộc đời mế gắn với núi rừng. Nếu mế đi lâu quá, có bệnh nhân đến mà không chữa được cho họ thì tội lắm”. Càng nghe mế kể chuyện, chúng tôi càng thấm thía cái tình của mế. Nhiều trường hợp được chữa khỏi bệnh đã nhận mế làm con mày (con nuôi). Tết nhất, nhà mế đông như có hội. Những đứa con nuôi mà mế không thể nhớ hết tên và hết mặt đến nhà đều gọi mế là mẹ.
Trong số 6 người con của mế, chỉ có một mình cô con gái đầu là học được nghề. Việc truyền nghề cũng rất đặc biệt, hậu duệ của bài thuốc này chỉ toàn là phụ nữ, chưa có một người con trai nào học được. Con gái của mế là chị Hoà năm nay cũng đã gần năm mưới tuổi. Bài thuốc này chỉ học vào đêm giao thừa. Chị nằm bên mẹ rồi nghe mẹ giảng giải và truyền nghề. Giờ chị Hoà cũng có thể chữa được bệnh cho nhiều người. Cũng noi gương mẹ, chị chưa bao giờ đòi hỏi người bệnh phải trả bất kỳ một đồng xu nào.
Việt Lâm - Nguyễn Tuấn
Kỳ 4: Bác sĩ của người nghèo
Kỳ 4: Bác sĩ của người nghèo
Vườn cây nhà ông Hồng đều có tác dụng chữa bệnh
Những bệnh lặt vặt như dị ứng, hóc xương, nấc... và đến cả bệnh phong là bệnh mà nhiều người phải “bó tay”, nhưng ông cũng chữa được. Suốt bao nhiêu năm hành nghề, chưa bao giờ ông lấy người bệnh một đồng nào. Người dân ở vùng Đà Bắc vẫn coi ông Đinh Văn Hồng ở xóm Mè xã Tu Lý huyện Đà Bắc là bác sĩ của người nghèo. Ai có bệnh, tìm đến, đều được ông tận tình giúp đỡ.
Chữa được cả bệnh phong
Khi ánh hoàng hôn đã khuất sau đỉnh núi, ông Hồng giữ bằng được chúng tôi ở lại dùng cơm tối. Tuy đã ở cái tuổi bát thập, nhưng ông rất hay chuyện. Đời ông 2 lần lấy vợ. Vợ cả sinh hạ được mấy người con rồi mất. Một mình ông phải gà trống nuôi con. Thấy ông hiền lành, lại ăn ở đức độ bà Hoà mang lòng yêu thương ông rồi cùng ông xây dựng gia đình. Giờ, ông ở với con gái. Đang nhâm nhi chén rượu thì thằng cháu ngoại ông bị hóc xương cá. Mặt mày nó tái xanh, tái mét. Ông bình tĩnh cầm chén nước nguội rồi “mằn” (đọc thần chú) vào đó, đưa cho đứa cháu uống. Sau đó, ông dùng ngón trỏ miết ba cái vào cổ đứa cháu. Chỉ chờ có thế, thằng bé nhổ luôn được cái xương cá ra ngoài. Chưa kịp hỏi bí quyết nào mà ông làm được như vậy thì đến lượt người bạn đi cùng tôi bị nấc. Ông bảo, nín thở rồi ông quay ngược cái mâm cơm, tự nhiên bạn tôi hết nấc. Ông bảo: Chữa mẹo chỉ cần đơn giản thế thôi.
Hiện, ông còn giữ được rất nhiều bí quyết chữa bệnh bằng mẹo, như: Chữa dị ứng, hay bị côn trùng đốt… Ông bảo, những cách đó là có bài của các cụ truyền lại. Mỗi một loại bệnh lại có một bài “mằn” riêng. Năm nay, đã ở cái tuổi gần đất xa trời, ông biết mình sắp phải về trời. Do vậy, mấy năm gần đây ông đang truyền nghề lại cho cô con gái. Năm nay, mới gần ba mươi tuổi, nên con gái ông chưa thể chữa bệnh được. Ai học được những bài thuốc bí truyền này phải ngoài bốn mươi tuổi mới được hành nghề. Ông giải thích: Học được những bài “mằn” rất khó. Tất cả có khoảng 50 bài. Bài thuốc này rất kén người, chỉ những người ăn ở hiền lành, tốt tính và không có lòng tham mới học được. Người học tự ngẫm nghĩ và nghe truyền nhân giảng giải dần cho hiểu, cho thông mới được đưa ra dùng. Chữa bệnh cứu người cần phải chính xác, chỉ khi nào cái tâm của mình thật yên, mọi chuyện trong gia đình không còn vướng víu thì chữa mới hiệu quả.
Câu chuyện của chúng tôi với ông bị ngắt quãng khi cậu Kiên – hàng xóm của ông đi vào. Vừa gặp ông, cậu Kiên hớn hở khoe: “Ông ơi! Tay cháu đã đỡ ngứa rồi”. Ông cầm ngón tay băng bó của Kiên lên xem và ngật ngù: “ Đắp thuốc vài buổi nữa thì khỏi thôi mà”. Kiên làm nghề đi hái thuốc thuê ở mấy xã vùng cao của huyện Đà Bắc. Mấy tháng trước, Kiên mắc căn bệnh lạ, ngón tay trỏ trái bị ngứa và ăn dần vào xương. Kiên đã đi chạy chữa khắp nơi mà không khỏi. Hôm về nhà chơi, Kiên mới đến nhà ông Hồng, nhờ xem giúp. Ông Hồng bảo, Kiên bị bệnh cùi. Nếu không chữa sớm nó sẽ ăn mất ngón tay và lan sang cả ngón khác. Ông lại ra vườn hái thuốc đắp vào chỗ đau cho Kiên. Đắp thuốc mới được có một tuần mà ngón tay của Kiên đã đỡ ngứa hẳn và đang mọc lại da non.
Cách nhà Kiên không xa là nhà ông Xa Văn Thắng – Bí thư xóm Mè cũng coi ông Hồng là ân nhân của gia đình. Chẳng là cháu Thiệu con trai ông, cách đây 2 năm nó tự nhiên bị ngứa ở bàn tay. Thiệu bị bệnh này khổ lắm, đứng ngồi không yên. Tay lúc nào cũng ngứa, nhiều lúc không chịu được Thiệu đấm tay thùm thụp vào tường làm cho rách da, chảy máu. Căn bệnh này hành hạ Thiệu hơn một năm trời. Một hôm Thiệu lên nhà ông Hồng chơi. Ông thấy Thiệu cứ gãi liên tục. Ông xem tay Thiệu và bảo để ông chữa cho. Và chỉ sau thời gian ngắn, bài thuốc nam của ông phát huy tác dụng. Cháu đã đỡ ngứa, rồi khỏi hẳn. Giờ Thiệu đang là sinh viên của trường Cao đẳng Thuỷ sản.
Ngoài những ca trên, ông Hồng còn chữa được cho nhiều ca khác. Như ông Tân ở xóm Tôm, xã Tu Lý bị bệnh phong ăn cùn cả đôi bàn chân và đôi bàn tay. Các con ông phải cáng ông đến nhà ông Hồng. Chỉ vài bài thuốc nam, ông đã cứu được ông Tân thoát khỏi căn bệnh phong. Nhờ những bài thuốc hiệu nghiệm này mà ông đã giúp nhiều người nơi đây thoát khỏi căn bệnh phong quái ác.
Biết thuốc là để cứu người
Năm nay, ông Hồng đã ngoài tám mươi tuổi, nhưng trông ông còn phong độ lắm. Nước da vẫn đỏ au. Ông được thừa hưởng tài nghệ từ ông cụ thân sinh của ông rất nhiều. Nhà ông trước đây là ở xã Tiền Phong, Đà Bắc. Khi xây dựng thuỷ điện Hoà Bình, nên nhà ông phải di dân về xóm Mè thuộc xã Tu Lý (Đà Bắc). Lên tám tuổi, ông đã nghe bố truyền lại cho những bài thuốc quý của những lá cây ngoài bìa rừng. Khi chiến tranh nổ ra, ông cũng tham gia hoạt động cách mạng, rồi tham gia chính quyền xã. Mãi đến những năm sau này, khi gia đình khó khăn quá, ông mới về nhà giúp vợ con làm nương, làm rẫy. Từ đó, cái biệt tài chữa bệnh của ông mới đưa ra sử dụng.
Cho đến nay, ông cũng không nhớ mình đã chữa bệnh cho bao nhiêu người nữa. Ông chỉ biết rằng, ai có bệnh đến nhờ ông chữa là ông giúp. Mặc dù nhà ông rất nghèo, nhưng chưa bao giờ ông yêu cầu người bệnh phải trả tiền công. Đang tiếp khách ông giật mình sực nhớ còn mẹt thuốc phơi dưới sân chưa đưa vào. Ông chạy vội xuống sân rồi đưa mẻ thuốc vào trong nhà. “ Bài thuốc nam rất đơn giản, nhưng nó cũng khá cầu kỳ. Các công đoạn hái và phơi sấy phải tuân theo những quy luật rất nghiệm ngặt. Ông dẫn chúng tôi ra vườn vừa giảng giải về tầm quan trọng của từng cây thuốc. Đây là cây hương nhu, cây xương xông… Nói chung, cây gì cũng có tác dụng của nó. Quan trọng ở người bốc thuốc hiểu được vị và pha trộn như thế nào cho hợp lý để nó thành thuốc. Có những cây phải đi hái từ nửa đêm hoặc sáng sớm, chiều tối. Tổ tiên truyền lại rằng, đúng thời khắc đó, vị thuốc ở cây mới có hiệu nghiệm.
Ông bảo, làm thầy thuốc phải biết trị bệnh cứu người. Cứ nghĩ đến danh lợi thì khó thành công lắm. Đôi chân ông đã đi khắp núi rừng Hoà Bình để hái lá thuốc cứu người. Ngày xưa rừng còn nhiều, nên cây thuốc rất sẵn. Giờ đây, người ta chặt phá, đốt nương rẫy liên tục, nên những cây thuốc quý cứ mất dần đi. Và đôi chân ông ngày một phải đi xa hơn để tìm thuốc. Rừng là kho thuốc vô giá. Ông cũng là một “ kho thuốc” của người Mường nơi đây.
Việt Lâm - Nguyễn Tuấn
Kỳ 5: Chữa bệnh để làm phúc
Kỳ 5: Chữa bệnh để làm phúc
Bà Liên đang trị bệnh cho chị Triền ở xã Cuối Hạ.
Chỉ với bài thuốc chữa bỏng bằng cao lá cây rừng lương y Triệu Thị Liên ở phố Bưởi, xã Hạ Bì, huyện Kim Bôi đã chữa khỏi cho nhiều người. Có bệnh nhân bị bỏng nặng tưởng chừng không cứu được, cũng đã được bà cứu sống. Ngoài ra, bà còn đang lưu giữ được bài thuốc bí truyền, chữa được bệnh trĩ nội, trĩ ngoại và chữa rắn cắn rất công hiệu, không gây đau đớn cho bệnh nhân.
Cứu người từ cõi chết
Khi chúng tôi hỏi đến nhà anh Bùi Văn Hiệu ở xóm Nội Xung, xã Hạ Bì huyện Kim Bôi ai cũng biết. Không phải anh là người giàu có hay có “thành tích” gì, mà họ biết anh vì anh đã “nhìn thấy” Diêm Vương rồi lại trở về. Cách đây vài năm, thấy cắt điện, anh trèo lên cột điện 35kv để bắt sáo. Không ngờ lại trèo “nhầm” lên cột có điện. Vừa lên đến nơi, thì anh bị điện giật dính luôn trên cột. May sao, gần đó có mấy người thợ điện đang sửa đường dây. Họ thấy vậy, liền báo cắt cầu dao.
Lúc đưa anh xuống, toàn bộ cơ thể anh đã bị điện giật cháy xám. Anh kể: Lúc đó, tôi cảm tưởng đã chết 9/10 phần cơ thể, chỉ còn mỗi chỗ bụng là không bị cháy xám. Mọi người đưa tôi đi cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Thấy bệnh nặng quá, bệnh viện không có điều kiện chữa, nên các bác sĩ khuyên gia đình tôi chuyển tôi đi Hà Nội. Sau 1 tháng 2 ngày, mặc dù bác sĩ đã hết sức chữa trị, nhưng do vết thương quá nặng, nên đã bị nhiễm trùng. Các bác sĩ bảo không thể chữa trị được, gia đình tôi đã đưa tôi về nhà. Lúc này, chi phí tiền thuốc chữa trị cho tôi trên 30 triệu đồng. Khoản tiền này bố mẹ tôi đã phải bán đất, vay mượn anh em. Khi về nhà, biết khó qua khỏi, gia đình cũng đã chuẩn bị hậu sự cho tôi.
Thế rồi, nghe mọi người mách có bà Liên chữa bỏng bằng thuốc Nam rất giỏi. Mẹ tôi tìm đến với hi vọng mong manh chữa được bệnh. Rồi bà Liên nhận lời chữa. Khi mang anh đến nhà bà Liên, nhiều người hoảng sợ vì nước mủ từ vết nhiễm trùng chảy dầm dề. Chiếc chăn quấn lên người cũng ướt sũng. Sau khi sát trùng, bà Liên bôi thuốc lên người. Mỗi ngày bôi 2 lần. Sau 1 tháng thì da anh Hiệu dần liền và về nhà điều trị. Một thời gian sau khỏi hẳn. Mẹ anh Hiệu bảo chúng tôi: Thuốc bà Liên tốt thật. Lúc đưa cháu về nhà thì gia đình là cháu không qua nổi.chú Bây giờ trên cơ thể Hiệu chỉ là những vết sẹo. Tuy chữa được như vậy, nhưng tiền thuốc bà Liên chỉ lấy 1 triệu đồng. Hiện, tôi vẫn còn nợ lại 400 nghìn đồng chưa trả được.
Trước khi chúng tôi đến nhà bà Triệu Thị Liên thì chị Đặng Thị Nga ở số nhà 21, ngõ 183, phố Phúc Tân, Hà Nội đến trước một lúc. Chị kể với tôi mấy năm trước chị bị ngộ độc khi ăn rau muống. Chất độc nhiễm vào cơ thể, chạy vào dạ dày, thận, gan... Nói chung là ngũ tạng cũng đều bị nhiễm độc. Lúc nặng, tôi đã bị chết lâm sàng hai ngày. Gia đình cũng đã chuẩn bị đến tình huống xấu nhất. Lúc đó, tôi chỉ còn 33 kg. Để dưỡng bệnh, tôi thuê nhà ở khu suối khoáng Kim Bôi tắm. Hàng ngày, phải đi bằng xe lăn, rồi thuê người bế đi sinh hoạt cá nhân. Nghe mọi người mách, tôi đến nhà bà Liên. Bà Liên chữa cho tôi từng bệnh. Sau vài tháng, tôi khỏe hẳn trở lại. Giờ tôi coi bà Liên là ân nhân đã cứu sinh tôi.
Chữa bệnh là làm phúc
Năm ngoái, chị Vũ Thị Bình ở xóm Mớ Đá, xã Hạ Bì, huyện Kim Bôi bị 10 lít nước phở đổ vào chân. Chân chị bị lột hết da, sưng to. Nghe mọi người nói, chị đến nhà bà Liên chữa bằng thuốc lá. Mỗi ngày bôi 2 lần, sau 15 ngày thì mọc da cũ. Chị Bình kể với chúng tôi: Sau khi tôi chữa khỏi thì chẳng may cháu ngoại tôi 9 tháng tuổi ở xã Hợp Kim cũng bị phích nước đổ vào chân. Chân cháu phồng rộp. Tôi đưa cháu đến chữa, cũng chỉ khoảng nửa tháng là mọc da non. Gia đình tôi mang ơn bà Liên lắm.
Qua tìm hiểu thì thấy cách chữa bệnh bỏng của bà Liên cũng đơn giản. Sau khi rửa sạch vết thương bằng thuốc sát trùng và làm mát thì dùng thuốc cao lá cây rừng bôi lên vết thương. Nếu vết bỏng đã nhiễm trùng nặng, thì dùng thuốc bột lá cây hút hết mủ. Bà Liên bảo, đây là bài thuốc của mẹ truyền lại. Tất cả cây lá thuốc nấu cao đều được lấy trên rừng. Ngoài bài thuốc chữa bỏng, Bà Liên còn được mẹ truyền cho bài thuốc chữa bệnh trĩ nội, trĩ ngoại và chữa rắn cắn. Với bệnh trĩ thì chữa bằng thuốc tây y có khi gây đau đớn cho người bệnh. Với cách chữa của bà thì khoảng 30 thang thuốc nam sắc trị được tận gốc của bệnh.
Nhà bà có 4 anh chị em, nhưng chỉ bà là người hợp với nghề thuốc. Bà có 3 người con và đang truyền lại bài thuốc này cho người con út là Nguyễn Hải Chi. Bà kể: Một lần Giáo sư tiến sĩ khoa học Lê Quốc Trung- Chủ tịch Hội bỏng Việt Nam cũng đề nghị Hội Đông Y tỉnh mời bà về về chữa bệnh một thời gian ở viện bỏng Trung ương. Ông muốn thử nghiệm cách chữa của bà và của Viện. Nhưng bà Liên không đi. Nếu đi thì bệnh nhân ở nhà chẳng ai chữa trị. Bà bảo: Ở đây là mảnh đất đã sinh ra bà, gắn bó với những bệnh nhân nơi đây. Bà không muốn đi, nếu đi thì chẳng ai chữa bệnh cho họ.
Việt Lâm
Kỳ 6: Bài thuốc nam vẫn là những bí ẩn
Kỳ 6: Bài thuốc nam vẫn là những bí ẩn
Có thể nói, việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách khoa học những bài thuốc Nam của người Mường từ trước đến nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Theo ông Lê Xuân Sản - Phó Chủ tịch Hội đông y tỉnh thì chỉ có bài thuốc của bà Đinh Thị Phiển chữa u bướu được nghiên cứu bài bản. Đến nay, cách dùng thuốc nam và cách chữa bệnh bằng mẹo của người Mường vẫn là một điều bí ẩn, nhiều lúc, khoa học chưa thể minh chứng được.
“Toọc moong” – đoán lá cây rừng
Theo sử sách ghi lại, người Mường sống ở gần rừng núi, nên mọi mặt trong cuộc sống đều có sự gắn bó với rừng. Trong rất nhiều phong tục, tập quán liên quan đến rừng, người Mường có tục ngày xuân đoán lá cây rừng. Cứ vào khoảng 27 tháng 12 âm lịch hàng năm là bà con người Mường coi đây là ngày “đóng cửa rừng”. Từ ngày đóng cửa rừng cho đến ngày mở cửa rừng (quãng từ mồng 7 đến 15 tháng Giêng), tuỳ theo thầy mo chọn được ngày tốt thì làm lễ mở cửa rừng, còn gọi là lễ “Toọc moong”. Trong ngày lễ mở cửa rừng, bà con trong mường tụ tập lại một khu đất trong rừng để làm lễ. Khi thầy mo làm lễ xong, trai tráng khỏe mạnh thúc chó vào rừng săn thú; đàn ông, đàn bà luống tuổi cùng các cô gái tỏa đi hái rau, hái nấm. Trong khi hái rau hái nấm, người già sẽ hái thêm nhiều loại lá cây bỏ vào giỏ mang về (chủ yếu là lá cây gỗ quý, lá thuốc và lá rau rừng).
Ban đêm khi tiệc đã tàn, bà con cùng vui múa hát, nghe kể sử thi “Mo Mường”, trong đó có cả trò đoán lá cây. Lá cây được ông trưởng họ, trưởng bản hoặc ông mo mường xếp kín trong chiếc giỏ to. Người đoán lá chỉ là trai gái chưa vợ chưa chồng, còn trọng tài là các vị trưởng lão. Mỗi lá cây được đưa ra đố, trai gái thi nhau trả lời. Ai đoán được nhiều loại lá nhất, có khi được mường thưởng cho cả một chiếc vòng tay bằng bạc.
Thú vị nhất là khi đoán đúng tên lá cây, các cụ thường hỏi: Cây này dùng để làm gì? Nếu trả lời: “Để làm cột nhà ạ!”, các cụ sẽ bảo cho cách chọn mùa đốn gỗ, cách ngâm và chỉ cho biết áng rừng nào nhiều loại gỗ này. Trong trường hợp đoán được lá cây thuốc thì các cụ lại hỏi: Thuốc chữa bệnh gì? Thanh niên trả lời đúng thì các cụ lại phân tích cho biết thêm cách phối hợp với các loại dược liệu khác để tạo nên nhiều bài thuốc hay. Nếu đoán những loại lá có tác dụng làm thức ăn, các cụ sẽ phân tích, hướng dẫn cách chế biến và cho biết trường hợp nào thì kiêng không được ăn hoặc kiêng nấu với thứ gì sẽ gây thành độc tố... Mỗi đêm như thế, có thể đoán tới hàng trăm loại lá khác nhau và mùa xuân, có thể tổ chức nhiều lần đoán lá. Có nhiều loại lá con trẻ không biết, các cụ già sẽ chỉ bảo tận tình để con cháu “biết nhận mặt lá”. Có lẽ, vì tục đoán lá này mà người Mường đời này qua đời khác rất giỏi về ẩm thực khi khai thác rau quả tự nhiên, giỏi về các bài thuốc Nam, giỏi tìm kiếm các loại gỗ quý.
Người giỏi thuốc Nam luôn được trọng nể trong cộng đồng người Mường. Thầy lang người Mường xưa chữa bệnh không lấy tiền. Khi ai đó nhờ chữa mà khỏi bệnh thì lễ vật trả thế nào tuỳ tâm. Người bệnh trọng mà chữa khỏi thường nhận thầy lang là cha mẹ nuôi hoặc anh em kết nghĩa “sống tết, chết giỗ”. Điều hạnh phúc nhất với họ chính là uy tín cá nhân trong việc làm phúc cho cộng đồng.
Bảo tồn như thế nào?
Khác với cách chữa bệnh bằng thuốc tây việc sử dụng thuốc Nam để chữa bệnh sẽ ít có tác dụng phụ, tiết kiệm được rất nhiều chi phí bởi nguồn thuốc sẵn có trong thiên nhiên. Tuy nhiên, các thầy thuốc Nam ở Hoà Bình còn hoạt động tự phát. Nhiều khi không có sự quản lý của chính quyền và ngành y tế địa phương. Có khi họ chỉ là những nông dân thuần tuý khi có bệnh nhân đến nhờ chữa thì chữa. Phần lớn, họ không dùng nghề thuốc là nghề kiếm sống. Và cách học các bài thuốc này là cách “truyền tay”. Bố, mẹ truyền cho con, con truyền cho cháu. Do không xác định là nghề “kiếm cơm” nên nhiều người ngại học. Do vậy, các bài thuốc của người Mường đang có nguy cơ bị mất mát, thất truyền . Các cây thuốc quý ngày càng khan hiếm do bị khai thác rừng ngày càng mạnh mẽ.
Theo ông, Lê Xuân Sản - Phó Chủ tịch Hội Đông y tỉnh thì hiện tại Hội Đông y có 2062 hội viên với 208 chi hội xã, phường. Hội cũng đã sưu tập trên 300 bài thuốc Nam. Nhiều bài thuốc là thuốc quý chữa được các bệnh nan y như gan, thận, dạ dày, khối u… Mỗi thầy thuốc đều có vườn thuốc tại gia đình mình. Để bảo tồn và lưu giữ các bài thuốc này hàng năm Hội thường xuyên tập huấn cho các hội viên, tổ chức hội thảo chuyên đề, in thành sách, tạp chí… Tuy nhiên, do nguồn kinh phí hạn hẹp nên hội chỉ làm được ở mức độ nào đó. Các bài thuốc này chủ yếu là thuốc gia truyền từ đời này sang đời khác. Nhiều bài thuốc chưa được cơ sở khoa học thẩm định. Một bài thuốc muốn được thẩm định khoa học phải mất khoảng hơn 100 triệu đồng. Riêng việc đi thẩm định thuốc đó có độc hay không cũng mất tới trên 50 triệu đồng. Tuy nhiên, nhiều năm nay, các bài thuốc này vẫn được các thầy lang sử dụng cứu người. Có khi cùng một bệnh mà mỗi người thầy thuốc có một cách chữa riêng. Nhiều bài thuốc công hiệu rất tốt đối với bệnh nhân.
Cũng theo ông Sản, cần khuyến khích các hoạt động bảo tồn các cây thuốc và bài thuốc quý từ cấp ở các Hội Đông y của huyện. Cần tổ chức nhiều các chương trình hội thảo, trao đổi học tập kinh nghiệm chữa bệnh của những thấy lang. Ngoài Hội Đông y tỉnh xuất bản cuốn sách những bài thuốc kinh nghiệm chữa bệnh của các lương y dân tộc tỉnh Hoà Bình thì hiện Bảo tàng tư nhân Không gian văn hoá Mường của anh Nguyễn Đức Hiếu ở thành phố Hoà Bình đã bắt đầu đi sâu bảo tồn, giới thiệu các loài cây thuốc Nam. Đầu năm 2008, Bảo tàng đã phối hợp với nhóm sinh viên tình nguyện trường Đại học Dược Hà Nội xây dựng một vườn thuốc nam theo đặc trưng văn hoá dân tộc Mường với diện tích 500 m2, gồm trên 600 cá thể của 200 loài thực vật mọc trên đất Hoà Bình. Xây dựng một vườn ươm giống cây thuốc hoàn thành bộ tiêu bản khô với đầy đủ thông tin về 10 cây thuốc đặc trưng; bộ tiêu bản ảnh giới thiệu về hệ thống sử dụng cây thuốc theo các nhóm bệnh khác nhau của người Mường.
Việt Lâm - Nguyễn Tuấn
Có thể ...còn nữa .:icon_rolleyes::77: