Thức dậy sớm, mở mắt tuệ giác
Thích Nhật Từ
Tảo giác thức dậy sớm, thức lúc hừng đông. Trong bối cảnh tu học ở các tự viện tại Việt Nam, “thức sớm” được hiểu là thức lúc 03:30 đến 04:00, chuẩn bị cho thời khóa công phu khuya
Thùy miên Ngủ nghỉ, ngủ vùi. Tâm thức còn mê muội là “thùy”. Ý thức mờ mịt là “miên”. Không thấy được Phật pháp, con người ngủ vùi trong vô minh và bất hạnh. Người ngủ nhiều ngoài bị bệnh béo phì, dễ phát sinh tâm tham dục. Cần đánh thức tâm dậy, để khỏi bị u mê
Nguyện Chí nguyện, cầu nguyện, thệ nguyện, mong cho, cầu mong, ước nguyện. Nếu đối tượng của cầu nguyện là lợi ích cho chúng sinh thì nguyện đó là nguyện vị tha, nuôi lớn lòng từ bi. Nếu mục đích của nguyện là đạt được giác ngộ thì nguyện đó là chí nguyện ba-la-mật
Nguyện có hai loại.a) Tổng nguyện chỉ cho bốn thệ nguyện lớn của các Bồ-tát và những người tu theo hạnh Bồ-tát
b) Biệt nguyện là nguyện riêng của vị Phật hoặc Bồ-tát nào đó, vốn khác với các vị còn lại. Chẳng hạn, Phật A-di-đà có 48 nguyện, Phật Dược Sư có 12 nguyện, Bồ-tát Quan Âm có 12 nguyện
Đương nguyện chúng sinh Nguyện Cầu cho tất cả mọi loài có tình thức, bao gồm con người và loài vật. Đây là thực tập mở lòng đại bi, thể hiện sự quan tâm, cam kết mà người xuất gia cần nhập thế để cứu độ muôn loài.
Nhiết thức trí giác Còn gọi là “nhất thiết trí. Đây là trí tuệ có khả năng soi thấu mọi sự việc hiện tượng như chúng đang là. Theo Luận Đại trí độ, “nhất thiết trí” là một trong ba loại trí tuệ, thuộc trí tuệ của thánh Thanh Văn và thánh Duyên Giác. Hai loại trí tuệ còn lại là “Đạo chủng trí”, trí tuệ của Bồ-tát, và “nhất thiết chủng trí” trí tuệ của Phật
Chu cố Soi thấu, nhìn thấu suốt, nhìn thấy tất cả. Cái nhìn trọn vẹn. Nhờ có “nhất thiết trí” nên người tu có thể nhìn thấu suốt sự vật khắp mười phương
Thập phương Gồm đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, thượng và hạ.
Giải thích gợi ý
Mỗi buổi sáng, sau khoảng 6 tiếng ngủ ban đêm, với sự trợ giúp của dụng cụ báo thức hay tự nhẩm bằng chính niệm trước khi đi ngủ, chúng ta sẽ mở to mắt, tỉnh dậy và bắt đầu ngày mới vào buổi khuya.
Giờ khuya trong đạo Phật thường được tính từ 3:30 đến 5 giờ sáng. Đó là thời điểm mà các mộng đẹp về cuộc đời và các ác mộng xuất hiện trong bộ não của ta. Do vậy, đánh thức mình bằng nỗ lực chính niệm sẽ làm ta vượt qua khỏi ảo giác. Bằng sự chính niệm và tinh tấn, ta sẽ có giá trị tích cực trong ngày mới.
“Giác” là mở mắt, một động từ rất sâu sắc, kết thúc giấc ngủ của một đêm dài. Theo tâm lý học, trung bình chúng ta có khoảng vài chục các giấc mơ nhỏ, lớn, với độ dài trung bình hay dài trong một đêm ngủ. Vì khả năng ký ức của con người có giới hạn nên ta thường chỉ nhớ những giấc mơ cuối cùng vào đầu hôm hay buổi sớm khuya. Những giấc mơ đó có hai tác dụng, hoặc tạo ra ấn tượng hân hoan, phấn chấn hoặc để lại nỗi ám ảnh, lo sợ. Dù ác mộng hay thiện mộng đều làm ta đánh mất chính niệm ở hiện tại. Chỉ cần “mở mắt” thì nội dung của giấc mộng trong suốt đêm được kết thúc. Giống như cái công tắc, nếu bật vào nó, ánh sáng sẽ tỏa chiếu ra và không cần nỗ lực tiêu diệt, bóng tối cũng đến hồi kết thúc.
Thực tập chính niệm của các hành giả đạo Phật không tạo ra cưỡng lực hay ức chế trong hành vi, không đè nén và gắng gượng, vì làm như vậy, sau một thời gian ta cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi, đừ đẫn, dẫn đến cảm giác chán nản.
Khi mở mắt tỉnh thức, ta thưởng thức không khí trong lành của ngày mới, tâm ta trở nên khoan khoái. Nhân đó, hãy quyết tâm “đánh thức” đức Phật bị ngủ quên trong tâm chúng ta. Việc đánh thức đó đòi hỏi đến những kỹ năng thực tập, bắt đầu bằng việc tin mình có năng lực tuệ giác. Khi ta sở hữu được tuệ giác, an lạc hạnh phúc sẽ có mặt khắp nơi. Nhân động tác mở mắt vào đầu một ngày mới, ta cam kết chuyển hóa tất cả mộng tưởng trong một đêm, đồng thời, ta cầu cho tất cả chúng sinh có được tầm nhìn tuệ giác, thấu soi khắp cả mười phương.
“Tầm nhìn tuệ giác” ngược lại với tâm vô minh, vốn là bản năng mê mờ, tồn tại qua các kiếp sống sinh tử, luân hồi. Tâm vô minh này làm ta rơi vào mê tín dị đoan, tin vào Thượng đế là đấng sáng tạo, tin các thần linh chưởng quản các chức nghiệp và ngành nghề, tin số phận của mình được an bày, tin mọi thứ diễn ra trên cuộc đời là định mệnh. Do vô minh, nhiều người lầm tin rằng ta có nỗ lực cách mấy cũng không qua được “phận Trời đã định”. Tất cả những niềm tin đó được gọi là mê tín, trái hoàn toàn với niềm tin tuệ giác.
Khi mong cầu tất cả chúng sinh, trong đó có mình, mở mắt được tuệ giác, ta sẽ nhìn thế giới và con người bằng học thuyết tương tác, tức là duyên khởi. Tương tác trong vũ trụ diễn ra theo cách thức: “Cái này có tạo điều kiện cho cái khác có. Cái này sinh dẫn đến tình trạng sinh của cái khác. Cái này không dẫn đến cái không của cái kia. Cái này tiêu diệt dẫn đến tình trạng bị tiêu diệt của những cái liên hệ”.
Khi hiểu được bản chất tương tác đa chiều trong mọi sự vật, ta sống có tự tin, tin vào nhân quả, tin đạo đức, tin phước quả, tin kiếp sau, tin chuyển nghiệp và tin rằng nỗ lực chân chính sẽ dẫn đến an vui, hạnh phúc trong cuộc đời. Tất cả những niềm tin đó sẽ giúp ta đạt được tri kiến chân chính (chính tri kiến), bước đầu của đời sống tuệ giác.
Khái niệm “con mắt tuệ giác” được hiểu trong đạo Phật là tầm nhìn không bị chi phối bởi tham, sân, si, phiền não, nghiệp chướng, trần ô, nhờ đó, ta sống hân hoan, an lạc, hạnh phúc. Có được tầm nhìn tuệ giác như mắt Phật, ta nhìn đâu cũng thấy rõ quy luật nhân quả và duyên khởi, nhờ đó, tìm ra được các giải pháp thích hợp cho các vấn nạn mình đang gặp phải. Khi có được con mắt tuệ giác, ta không lo gì cuộc đời này không có được hòa bình, an vui, hạnh phúc, phát triển bền vững. Con mắt tuệ giác giúp ta sống với nhau bằng tinh thần hòa hợp, đoàn kết, thương yêu và giúp đỡ nhau khi gặp các hoạn nạn trọng đời. Chỗ nào có tầm nhìn tuệ giác, chỗ đó có niềm an vui và hạnh phúc. Thực tập “tỉnh thức” trong đầu ngày mới giúp ta nêu quyết tâm để có được tuệ giác trong mọi hành vi và lối sống
Năng lực thần chú Lăng Nghiêm
Đức Phật dạy Anan,thầy hỏi cách nhiếp trì tâm niệm thì tôi đã nói rằng.Người muốn vào tam ma đề,tu học pháp môn nhiệm mầu,cầu đạo Bồ tát,trước nhất cần giữ bốn thứ luật nghi đó trong sáng như giá,như sương,tự không thể sinh ra được tất cả nhành lá ba ý nghiệp,bốn khẩu nghiệp ác chắc chắn không còn có nhân mà sinh được.A nan nếu giữ bốn việc như vậy không thiếu xót,thì tâm còn không duyên với sắc,hương,vị,xúc,tất cả ma sự làm sao mà phát sanh được.Nếu có tập khí cũ không thể diệt trừ,thầy dạy người đó nhất tâm tụng thần chú vô thượng.Phật Đỉnh Quang Minh Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra của tôi,đó là cái tâm chú do vô vi tâm Phật của vô kiến đỉnh tướng Như lai,từ nơi đỉnh hiện ra,ngồi trên hoa sen báu mà nói
Vả lại,thầy cùng nàng Ma đăng già do nhân duyên nhiều kiếp trước thành tập khí ái ân,không phải một đời hay một kiếp song một phen tôi tuyên dương thần chú,nàng Ma đăng già thoát hẳn khỏi lòng yêu,thành quả A la hán.Nàng kia còn là dâm nữ,không có tâm tu hành do sức thần chú giúp,cũng mau chứng quả vô học thế thì các thầy,những hàng Thanh Văn trong hội này,cầu tối thượng thừa thì quyết định sẽ thành Phật,cũng ví như bụi bay gặp gió thuận,có khó khăn gì
Ðốn ngộ tuy bằng Phật
Nhiều đời tập khí vây
Gió dừng, còn sóng dữ
Lý hiện, niệm còn đầy
Hiệu lực của thần chú Thủ Lăng Nghiêm rất lớn
Thần chú Thủ Lăng Nghiêm còn gọi là Phật Đỉnh Quang Minh Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra hay.Bạch Tán Cái tức chỉ cho cái thể dụng rộng lớn của bản lai tự tánh.Bạch là trí tuệ.Tán cái là lòng từ bao la rộng lớn.Như vậy chú Lăng Nghiêm là biểu hiện toàn thể toàn dụng của tự tâm nên gọi là tâm chú.Tâm chú này có khả năng và hiệu quả rất lớn,có khả năng tiêu trừ tập khí sát,đạo,dâm,vọng,đặc biệt là tập khí của lòng ái dục.Chính thần chú này đã cứu A nan và nàng Ma đăng già ra khỏi đám mây ái dục.Và khi người trì tụng phát tâm cân xứng với thần chú này nghĩa là cân xứng với bản lai tự tánh.Thần chú này thuộc mật giáo.Có năm đệ phần chia ra 427 câu và không giải nghĩa được.Còn các phần khác trong kinh Thủ Lăng Nghiêm đều thuộc hiển giáo vì Đức Phật có giải thích từng phần,từng câu rõ ràng.Thần chú này tùy mỗi nước phiên âm có sai khác đôi chút, nhưng nếu có lòng tin bất động đúng đắn, nhiếp tâm thọ trì miên mật thì sẽ có hiệu nghiệm
Trong chốn thiền môn thời Lăng Nghiêm được gọi là thời công phu khuya tức công phu tu tập mới sớm tinh mơ khoảng 5 giờ hay 6 giờ sáng,tùy từng chùa.Ngoài năm đệ Lăng Nghiêm còn kèm theo chú Đại bi và thập chú như chú Như ý bảo luân vương,Tiêu tai kiết tường,Công đức bảo sơn,Phật mẫu chuẩn đề,Thánh vô lượng thọ quyết định quang minh vương,Dược sư quán đảnh,Quán âm linh cảm,Thất Phật diệt tội,Vãng sanh tịnh độ và Thiện thiên nữ chú
Đây là thời công phu rất thanh tịnh vì sau một đêm nghỉ ngơi,ngủ dậy,tâm trí rất trong sáng,nhẹ nhàng,những công việc hàng ngày nặng nhọc,bận rộn đã lắng xuống,nên thần chú dễ thấm nhuần thân tâm.Thêm vào đó,buổi sáng tinh mơ không khí yên tĩnh,trong lành,thần kinh êm dịu,việc tụng kinh trì chú dễ dàng tăng thêm nhiều năng lượng tâm linh cảm ứng