-
nụ cười mãn nguyện
Dù học Phật trong bao nhiêu sách vở,tụng bao nhiêu kinh điển đi chăng nữa,cũng không thể nào thấu hiểu được đạo Phật,nếu không thấy rõ được là Phật tại tâm.Ngày xưa,tại một vương quốc nọ có một nhà vua về già mới bắt đầu đi tìm chân lý.Ông cho triệu tập tất cả các tăng ni trong nước,và ra lệnh cho họ đi tìm kiếm tất cả những sách vở,kinh điển giảng dậy về con đường giải thoát,mang trở về cung điện.Sau vài năm trời,các tăng ni đã thu thập được một kho sách lớn gồm hàng vạn cuốn viết bằng đủ thứ tiếng,tiếng Pali,tiếng Phạn,tiếng Trung Hoa,tiếng Nhật Bản,và ngay cả tiếng Việt Nam.Nhà vua không thể nào đọc được tất cả những cuốn sách đó,nên hạ lệnh cho những vị cao tăng đã thấu hiểu đạo lý lựa chọn cho ông một vài cuốn sách quan trọng,khả dĩ giúp cho ông tiến mau trên con đường đạo hạnh.Vài năm sau,các vị tăng dâng lên cho ông một số kinh căn bản do chính đức Phật giảng dậy,cùng với một vài bộ kinh Ðại Thừa,mà họ tin rằng là nồng cốt của đạo Phật.Hỡi ôi,lúc bấy giờ nhà vua đã già yếu lắm rồi,ông không còn đủ sức cầm lên một cuốn sách.Ông chỉ còn lại một yêu cầu,đúc kết lại những tinh hoa của đạo Phật thành một câu hay một chữ thôi,để may ra ông được cứu độ sang bên kia bờ giác.Sau khi hội ý khẩn trương bàn bạc,các vị cao tăng cùng nhau viết ra một chữ,và dâng lên cho nhà vua đang hấp hối.Nhà vua thều thào đọc.Tâm,và tắt thở với một nụ cười mãn nguyện
Thật ra,đây là một câu chuyện cổ tích quen thuộc mà tôi đã mạn phép tráo đổi chữ cuối cùng bằng chữ Tâm.Sự tráo đổi này dĩ nhiên mang một chủ ý.Chủ ý đó là,dù học Phật trong bao nhiêu sách vở,tụng bao nhiêu kinh điển đi chăng nữa,cũng không thể nào thấu hiểu được đạo Phật,nếu không thấy rõ được là Phật tại tâm.Ðối với tôi,Phật tại Tâm là một câu ngắn gọn chứa đựng được tinh hoa cốt tủy của đạo Phật,cần phải suy ngẫm lâu ngày hay ôm ấp trong lòng như một công án Thiền cho tới khi thông hiểu được rồi,thì bỗng thấy mọi việc đều sáng tỏ,cũng như mặt trời giữa ban ngày
Nhưng hiểu được như vậy cũng đừng vội cho rằng mình đã ngộ đạo.Chưa đâu,đó mới chỉ là sự hé mở một cánh cửa đưa vào thế giới mênh mông của Ðạo Pháp.Hiểu được Phật tại Tâm là một chuyện,thành tựu được Tâm Phật lại là chuyện khác,còn phải tu luyện cái tâm rất lâu đời,mà chưa chắc cuối cùng đã đạt được
Tâm là tất cả,tất cả tại Tâm,tất cả Từ tâm mà ra
Trong kinh Pháp Cú,thuộc vào Tam Tạng kinh điển Pali,là một quyển kinh phổ biến,sáng sủa,giản dị,được coi là phản ánh trung thành nhất của những lời đức Phật dậy,câu đầu đã nhấn mạnh ngay vào vai trò chính yếu của tâm,
Tâm dẫn đầu tất cả,tâm là chủ,tâm tạo tác tất cả.Kinh Lăng Già,thuộc vào kinh điển Ðại Thừa,cũng có câu.Phật nói Tâm là chủ,cửa Không là cửa pháp.Nhưng tâm là gì.Câu hỏi đó cũng không khác gì một câu hỏi trung tâm của triết học,một câu hỏi đã ám ảnh bao nhiêu con người và còn vang vọng mãi qua bao nhiêu thế hệ.Ta là ai.Tâm chính là mình,chứ không đâu xa lạ.Là cái ta tạm thời,cái ta bao trùm và phát sinh ra thân, khẩu, ý. Tâm tạo tác ra tất cả, cái nhân cũng như cái quả. Mỗi người do cái tâm tự tạo nên cái nghiệp,nên phải chịu trách nhiệm tất cả những gì mình đã làm.Kinh Pháp Cú cũng có câu
Chỉ có tự mình gây nên điều xấu, tự mình làm nhơ uế mình,
Tự mình hủy bỏ điều xấu, tự mình làm mình thanh tịnh.
Thanh tịnh hay nhơ uế đều tùy thuộc mình,
Không ai làm ai thanh tịnh được.Dh.165
Tâm bao gồm tất cả,ngay cả Khổ,tập,diệt,đạo cũng là ở tâm.Vì nếu không có tâm,thì làm gì có Khổ,hòn đá,mặt trăng đâu có khổ,làm gì có Tập,tức là tham sân si dấy lên chính trong tâm con người,chứ không nơi nào khác.Và dĩ nhiên nếu không có Khổ,thì đâu có cần tới Diệt mà cũng không cần tới Ðạo làm chi nữa.Tông phái Duy Thức,của Ðại Thừa còn đi xa hơn nữa,với quan niệm rằng tất cả mọi hiện tượng trên thế gian này là do tâm thức con người mà ra gồm có bảy thức và A lại da thức.Nhưng khác với thái độ thụ động của các triết lý duy tâm Tây phương,Duy Thức chủ trương một thái độ tích cực bằng cách tu luyện tâm thức bằng Yoga, bằng thiền định do đó còn được gọi là,để đi tới giác ngộ
Giáo lý của đức Phật có nhiều phương pháp tu luyện tâm linh,thích hợp với những nhu cầu,tâm tính và căn cơ của mỗi người.Nhưng cuối cùng tất cả đều hướng về một điểm trung tâm là niệm chú tâm,mà đức Phật gọi là con đường duy nhất.Người ta có thể nhìn con đường đó như là trái tim của giáo pháp,đập ở giữa tất cả những mạch máu trong cơ thể của giáo pháp.Trong "Bát chánh đạo,chánh niệm giữ một địa vị vô cùng quan trọng.Nhờ chánh niệm,con người mới làm chủ được cái tâm của mình,giữ cho cái tâm an tịnh và chống được phiền não,khổ đau.Trong Kinh Niệm Xứ,đức Phật đã trình bầy một cách rõ ràng phương pháp quán niệm theo 4 nhóm chủ đề là Thân,Thọ,Tâm và Pháp.Ðó là căn bản của thiền định,là phương pháp ngắn gọn,trực tiếp nhất để đi tới giải thoát.Sau này.Thiền Ðại Thừa cũng không khác gì trong bản chất,được thâu gọn trong câu kệ xuất hiện sau ngài Huệ Năng.Giáo ngoại biệt truyền,Bất lập văn tự,Trực chỉ nhân tâm,Kiến tánh thành Phật.Dậy ngoài truyền riêng,Không dựa văn tự,Chỉ thẳng vào tâm,Thấy tánh thành Phật
Nhưng nếu con đường là một,thì cũng có nhiều phương tiện chở đi,như những cỗ xe hay những chiếc bè khác nhau.Vì có nhiều tâm tính,căn cơ khác nhau,cho nên mới xuất hiện nhiều phương tiện khác nhau,tuy cùng đi trên một con đường.Trong suốt thời gian phát triển của đạo Phật,nhiều trường phái đã xuất hiện,và pha trộn ít nhiều với nền văn hóa bản xứ,cho nên đạo Phật đã trở thành phong phú và đa dạng,trong hình thức cũng như trong nội dung.Người ta có cảm tưởng có rất nhiều khác biệt giữa đạo Phật Nguyên Thủy,Thiền Tông,Tịnh Ðộ Tông,Mật Tông,Nhật Liên Tông,v.v.Ðến nỗi có khi tự hỏi còn gì chung giữa khung cảnh bình dị,yên lặng của một thiền đường Nhật Bản và khung cảnh mầu mè,náo nhiệt của một ngôi chùa Tây Tạng
Câu trả lời có thể rất là giản dị, nếu lấy cái tâm làm trung tâm điểm.Ai nấy đều đi tìm Phật,tìm giải thoát trong cái tâm của mình.Còn tất cả những hình thức chỉ là phương tiện,những phương tiện thiện xảo giúp con người định tâm giữa những xao động,cám dỗ,nghi vấn xuất hiện trên con đường tu tập.Những phương tiện đó là cảnh trí,y phục,chuông mõ,chiêng trống,ấn quyết,thần chú,đồ hình,tụng kinh,niệm Phật,lần tràng hạt v.v.Tất cả những phương tiện đó có khả năng ảnh hưởng rất mạnh trên tâm lý con người,và có thể giúp đỡ rất nhiều trong sự tu tập.Ngay cả trong Thiền tông cũng có khi dùng phương tiện,chẳng hạn như công án,hay tác động mạnh gây nên đốn ngộ trong phái Lâm Tế,hoặc là kinh kệ trong phái Tào Ðộng,tuy rằng thiền sư Dogen phái Soto chủ trương chỉ cần ngồi là đủ
Chọn lựa một phương tiện này hay một phương tiện khác là tùy tâm tính,căn cơ của mỗi người.Không có trường phái nào hay hơn hay cao hơn trường phái khác.Chỉ có thích hợp hay không với mỗi người,thế thôi.Nhìn như vậy,không còn lý do nào nữa để chỉ trích nhau giữa các môn phái Phật giáo.Nguyên Thủy,Ðại Thừa,Kim Cương Thừa,Thiền,Tịnh Ðộ,Mật tông.Cái tâm là cái hòa đồng tất cả, là nơi gặp gỡ của tất cả những ai đi tìm giác ngộ giải thoát, ở mọi chân trời và thời đại
Ðể kết luận,nếu chúng ta thấy đạo Phật có phần nào phức tạp,rườm rà và khó hiểu,thì nên đem ra soi sáng bởi câu "Phật tại tâm,thì mọi sự sẽ trở nên sáng sủa và giản dị
-
Ngày đầu một năm thật quan trọng.Tất cả mọi việc làm,cử chỉ phải thật nhẹ nhàng,thận trọng.Từng lời ăn,tiếng nói phải vui vẻ,hòa nhã.Tập quán đó để nói lên lòng ao ước một năm an vui,cát tường.Trong bối cảnh của ngày Xuân như thế,Đức Phật Di Lặc đến với chúng ta với nụ cười vui tươi thì thật đầy ý nghĩa.Trước hết,nụ cười của Ngài là bài học quý báu về đức hỷ,xả trong đạo Phật.Có hỷ,xả chúng ta mới nở nụ cười vui tươi chân thật,hạnh phúc.Có hạnh phúc thì cuộc sống mới có ý nghĩa và thật đáng sống
Hỷ tức là vui theo việc làm tốt của người,danh từ Phật học gọi là.Tùy hỷ công đức.Thông thường chúng ta hay có chứng bệnh trầm kha.Thấy ai hơn mình,như đẹp hơn,giàu hơn,học giỏi hơn,thì sinh tâm đố kỵ,ghen ghét,không vui.Chính chứng bệnh này đã làm cho nụ cười đầu.Xuân héo đi và thay vào đó khuôn mặt ủ rũ chiều thu.Muốn chữa căn bệnh đó chúng ta phải luôn luôn tâm niệm.Thí dụ trong xóm có một người bạn học giỏi hơn thì ta mong có thêm hai,ba,bốn,bạn học giỏi hơn ta.Như thế thì trình độ dân trí sẽ cao và cuộc sống cũng theo đó mà phát triển.Nếu ngược lại,nghĩa là chúng ta không vui theo,thì chúng ta không những tự hành hạ chúng ta,tự cô lập chúng ta mà vô hình trung chúng ta đã ngăn chận bước tiến của nhân loại.Một lỗi lầm thật to lớn.Nếu hiểu được như thế thì nụ cười tự nhiên vui tươi nở trên môi bạn và đó là mùa Xuân rồi đó.Không cần phải gỡ hết 365 tờ lịch mới là ngày Xuân
Xả tức là bỏ,bỏ tất cả những điều phiền muộn do người tạo ra cho ta.Nếu chúng ta không xả được những điều phiền muộn ấy thì cũng như chúng ta không tiêu hóa được cặn bã của thực phẩm trong cơ thể.Do đó chúng ta chỉ cứ than thân trách phận.Suy cho cùng,sở dĩ chúng ta ôm ấp những điều phiền não đó là vì chúng ta từ vô thủy kiếp đến nay cứ chấp có cái ta đáng yêu,cái ta chân thật,thường tồn cho nên nếu ai đụng đến,nói xấu thì chúng ta sinh ra buồn rồi ôm mối hận.Hình ảnh Đức Di Lặc với 6 em bé Lục tặc cho thấy rằng.Muốn chiến thắng ngoại cảnh,nhứt là nghịch cảnh,chúng ta phải thực hành pháp quán.Chư pháp vô ngã.Khi quán được các pháp đều vô ngã thì ta thấy không có ai gây ra hành động và cũng không có ai thọ lãnh hành động đó cả,cả bản thân của hành động đó cũng chỉ là hư ảo.Trong kinh Pháp Cú, Phật dạy.Người kia lăng mạ tôi,đánh đập tôi,phá hoại tôi và cướp đoạt của tôi.Ai còn ôm ấp tâm niệm ấy thì sự oán giận không thể nào dứt hết.Oán giận không dứt hết thì ngay đến cành mai tronh ngày Xuân cũng úa tàn chứ đừng nói gì đến nụ cười trên môi
Chính nhờ nụ cười hỷ xả này mà người phương Tây đã tặng Đức Di Lặc qua hình ảnh Bố Đại Hòa Thượng một từ ngữ khiêm tốn,giản dị.Người Trung Hoa hạnh phúc.Không phải cuộc sống trong đạo,mà ngay ngoài đời,nụ cười giữ một vị trí rất quan trọng,nên ông Fletcher đã nói.Nụ cười bồi dưỡng kẻ mệt nhọc,là hình ảnh bình minh cho kẻ ngã lòng,là nắng Xuân cho kẻ buồn rầu,và là thuốc mầu nhiệm nhất của tạo hóa để chữa lo âu
Ngày mồng một Tết là ngày mà chúng ta hoạch định chương trình cho một năm tới.Lễ Vía Phật Di Lặc trùng với ngày đầu tiên của một chương trình sống 365 ngày là để nhắc nhở chúng ta phải thực hành đức hỷ xả để hướng đến một đời sống an vui,hạnh phúc.Tương lai,chắc chắn chúng ta sẽ được gặp Phật Di Lặc trong Hội Long Hoa.Đó cũng là mùa Xuân mà Đức Phật đã tặng chúng ta trong ngày Xuân,ngày Xuân của bất sanh,bất diệt
-
Làm gì có Phật
Tuấn vẫn thích chủ đề này; đầu óc rối bù, càng đọc tụng, càng mờ mịt. Từ ngày vô tình tìm thấy cuốn sách "bước đầu học Phật" trên ngăn kệ sách trong tiệm bán sách cũ, như vớ được của quý, ngấu nghiến đọc.
- Bạn tu đến đâu rồi? Hoàng, bạn học cùng lớp giáo lý, hỏi.
Tuấn ngẩng đầu để xỏa mớ tóc phủ trán. Trên bàn ngổn ngang sách bút. Cặp mắt lừ đừ như thiếu ngủ, vài vệt chỉ đỏ trong lòng trắng con mắt làm cho khuôn mặt thất thần, dữ tợn hơn. Chống hai cùi chỏ lên mặt bàn, tựa cằm vào hai lòng bàn tay, Tuấn đáp:
- Tu hành gì mầy, những giáo lý quý thầy dạy, chỉ là lớp vở lòng, không đúng nhu cầu học Phật của tao.
- Thế bạn đọc được những gì ngoài giáo lý căn bản đó? - Hoàng hỏi
- Càng đọc, càng thấy phi lý và mâu thuẫn lẫn nhau. - Tuấn càu nhàu. Này nhé, kinh Pháp Hoa bảo đây là bộ kinh tối thượng, rồi Địa Tạng và những kinh khác cũng tự nhận mình là tối thượng; cái nào cũng tối thượng thì cái nào là không tối thượng? Niệm Phật là pháp tối thắng, Thiền cũng là pháp tối thắng, Kim cang thừa cũng là tối thắng... thế thì biết tu cái nào?
Hoàng im lặng để nghe Tuấn bộc lộ những bực dọc mà trước đây Tuấn từng phấn khởi khi bước vào Phật giáo. Tuấn uyên bác về lý luận giáo lý nhà Phật, kinh nào, luận nào Tuấn cũng nắm rõ yếu lý để rồi tự mình rối rắm trước rừng kiến thức, không biết cái nào là yếu lý để chọn.
- Sao, mầy thấy tao nói đúng không? Tuấn hỏi
- Bạn nói rất đúng, nhưng đúng đối với bạn thôi. Hoàng diễu cợt
- Thế nào, mầy nói sao? Đối với mầy là không đúng? Tuấn sừng sộ.
- Trong cuộc sống cũng thế thôi, bạn thấy đấy, optalidon, tiffy, tylenol, panadol... cái nào cũng nói là tốt, có loại thuốc nào bảo là xấu đâu, thế thì tại sao có người thích loại nầy mà không thích loại kia. Gạo là thực phẩm chính cũng đã có hàng trăm loại, có ai bảo gạo nầy là thực phẩm phụ, gạo kia là thực phẩm chính?
Hoàng phân tích. - Ừ, cũng tạm có lý, vậy trong kinh Kim Cang lý luận: Bố thí không phải bố thí mới gọi là bố thí. Bồ Tát thấy có chúng sanh được độ thì chưa phải độ. Tâm kinh Bát Nhã lại nói: Ngài Quán tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa trí Bát Nhã rốt ráo thì thấy năm uẩn đều không có... không có chứng đắc... không có gì ráo thì tu làm gì?
Đã không có gì ráo trọi thì Như Huyễn Thiền sư bảo - "Ta sẽ hòa tan với Pháp thân!
Viễn ly căn cảnh, viễn ly trần", đã không có thì lấy gì hòa tan vào pháp thân.
Đã có pháp thân và cái không phải pháp thân, thế là hai cái biệt lập làm sao hòa tan nhau được? "Viễn ly căn cảnh, viễn ly trần", căn cảnh nó là trần, viễn ly căn cảnh còn trần nào nữa để viễn ly thêm lần nữa??? Đấy, Phật giáo có nhiều cái mâu thuẫn, lẩm cẩm làm rối tung người tìm hiểu học hỏi. - Tuấn lại làu bàu khó chịu.
Hoàng mũm mĩm cười như trêu chọc đứa bé lên năm nhõng nhẽo. - Vậy thì thế nào? Bạn có tiếp tục con đường đã chọn về Phật giáo chứ?
- Ơ hay, không chọn thì chọn cái gì để cuộc sống bớt tẻ nhạt đây? Lỡ phóng lao phải theo lao, nhưng theo cách nào, hướng nào thì đang mù tịt. Tuấn phân bua.
- Tịnh độ niệm Phật, Mật tông, Thiền, trong ba chọn một chứ theo cách nào nữa. - Hoàng khích tướng.
- Nói thật với mầy, tao chả biết nói sao về tam tông đó. đầu óc tao luôn tìm tòi soi bói, không dễ ngồi yên chấp nhận niệm Phật chờ vãng sanh. Mật tông thì xin bye bye vì không thích hợp, vì có vẻ huyền thuật quá. Thiền ư? Khẩu đầu thiền, tham thoại đầu làm thần kinh căng thẳng quá, sổ tức quán hay Vipassana là cách tự kỷ ám thị để quên đi thực tại chung quanh; phản văn văn tự tánh có khác gì tham thoại đầu! Tóm lại, cả ba tông phái, thậm chí Hoa Nghiêm và Pháp Hoa tông cũng thế, chả có tông nào đề cập đến Từ Bi Trí tuệ, chả ăn nhập gì đến bát Thánh đạo, Tứ đế mà giáo lý nguyên thủy đức Phật đã dạy, hình như ngày càng xa rời chánh pháp do phương tiện chế pháp của chư Tổ muốn thích ứng với đối cơ. Phải chăng đó là ngoại đạo? - Tuấn mơ hồ tự hỏi.
- Bạn đã vướng quá nhiều về lý luận, bị lưới tri kiến vây chặt. Bạn phải tự cởi trói để mình được thong dong bước vào chân trời mới.
Hoàng ngưng, không nói thêm, vì càng nói, Tuấn càng bị vướng thêm về suy diễn.
Tiếng gõ cửa, - cứ vào - Tuấn đáp mà không buồn nhìn ra ngoài.
- Anh cho xin tiền rác 2 tháng. - người đổ rác lễ phép.
Tuấn loay hoay móc túi, biên lai báo tiền điện lòi ra, có vẻ lúng túng, nhìn người đổ rác như muốn khất nợ. Hoàng hiểu ý, chìa tấm giấy bạc xanh đưa cho Tuấn.
Như biết thẹn, Tuấn bào chữa - thú thật với mầy, bước vào đám rừng giáo lý, trí óc tao bị rối tung, lắm khi không phân biệt ngày đêm, mộng và thực, ngay cả đủ thứ nợ như thế nầy tao cũng hổng nhớ!
- Xem chừng bạn bị tẩu hỏa nhập ma đấy. - Hoàng nhắc nhở.
- Ma nào mà nhập tao được, tao có tu luyện gì mà tẩu hỏa. Thú thật với mầy, lý thuyết và thực tế xa nhau quá, giới luật và các sư như hai kẻ xa lạ, không từng quen biết nhau, tao chẳng biết bám víu vào đâu. - Tuấn phàn nàn.
- Ơ hay, Phật đã dạy, mình hãy tự nương chính mình, mình là hải đảo tự thân, lấy giới luật làm thầy, không nương tựa vào bất cứ ai thì làm sao rối loạn, thất vọng được. - Hoàng nhắc nhở.
****
Tiếng động mạnh từ nhà bếp, chiếc chảo rơi từ trên cao, con mèo vội nhảy ra vườn. Tuấn tỉnh giấc, dáo dác nhìn bóng đêm vây phủ ngoài sân. Biết là mình chìm trong giấc ngủ suốt buổi chiều, trên tay đang cầm cuốn sách "mộng và thực", trên ngực còn cuốn "vô lượng pháp môn tu" đọc dang dỡ. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Phật tánh đâu không thấy mà chỉ thấy ma tánh khủng bố cuộc sống, chung quanh đều chìm trong bể khổ.
Gió từ quạt máy bay phần phật tờ lịch, Tuấn nhìn lên, ngày rằm tháng 4 năm Bính Thân - 7 đóa sen hồng nâng gót ngọc, hình Phật đản sanh trên bảy đóa sen, Tuấn sực tỉnh, ừ, làm gì có Phật, từ ngày học Phật, mình từ bỏ cuộc vui nơi chốn sa đọa, đam mê lội bơi trong rừng giáo lý vẫn không thấy Phật.
Tiếng nói xa xôi vọng lại trong tai Tuấn: - Phật đâu mà tìm, chính ngươi là Phật từ vô lượng kiếp, tại sao mãi trôi lăn trong phàm tục, rồi lặn hụp trong ngôn ngữ của kiến giải mà đi tìm Phật?
Minh Mẫn (ngày 22/2/2016
-
Theo những phân tích về thập nhị nhân duyên căn cứ theo thời gian phân đoạn,nên có quá khứ hiện tại,và tương lai qua ba đời và hai lớp nhân quả theo hai cách quán thuận nghịch.Cũng trong cách quán thuận nghịch này,thì theo A tỳ đạt ma tạp tập luận 4,trong truyện Thế tôn thành đạo chứng quả giải thích,Ngài cũng nhờ hai cách quán này mà khai ngộ.Đã y cứ vào vô minh theo thứ tự thuận quán về sự sinh khởi của mê,gọi là tạp nhiễm thuận quán và ngược lại từ lão tử,theo thứ tự nghịch quán thiết lập khổ,tập,diệt,đạo của tứ đế mà nói về sự sinh khởi của mê,gọi là tạp nhiễm nghịch quán,để thiết lập hai cách quán thuận nghịch dành cho lưu chuyển quán.Và hoàn diệt quán thì lập ra hai cách quán thuận nghịch cho mười hai nhân duyên.Từ vô minh diệt thì hành diệt thuận xuống đến lão tử,gọi là thanh tịnh thuận quán và từ lão tử diệt thì sinh diệt và ngược lên đến vô minh diệt,gọi là thanh tịnh nghịch quán.Có lẽ trong A tỳ đạt ma tạp tập luận giải thích về hai cách quán thuận nghịch như trên,là căn cứ vào sự kiện từ thập nhị nhân duyên đức Phật giác ngộ và,sau đó Ngài triển khai ra giáo lý tứ đế để nhờ đó,không những giải thoát được khổ đau mà còn đạt được an vui Niết bàn qua tu tập bát chánh đạo.Thật ra giữa thập nhị nhân duyên và tứ đế chúng không phải là một,nhưng chúng cũng không phải khác.Do đó tuỳ theo pháp vị của chính chúng mà chúng ta đánh giá về tác dụng của chúng.Theo đức Phật thì Thập nhị nhân duyên là pháp tu dành cho các hàng Duyên Giác,còn tứ đế dành cho các hàng Thinh văn.Ở đây đức Phật cũng tuỳ theo căn cơ của hành giả mà có pháp vị để hoàn thành khế cơ khế lý cho mỗi chúng sanh trong việc trao truyền chánh pháp của Ngài.
Do đó,bây giờ việc sinh tử của chúng ta không còn là một bí mật không còn là bất khả tri nữa,mà việc từ đâu sinh ra? chết sẽ đi về đâu.Nó rõ ràng minh bạch hiện thực như bóng hiện trong gương.Ngay trong hiện tại,trong sắc thân này,trong gia đình này,trong xã hội này,trong châu lục này,trong cõi ta-bà này,trong hệ hành tinh này.Nếu chúng ta muốn biết sự hiện hữu của ta và mọi người ở nơi đâu,qua liên hệ nhân quả duyên khởi trong thọ quả hiện tại,thì chúng ta cũng có thể biết được kiếp trước chúng ta đã làm gì đã ở đâu,đã tạo những nghiệp nhân nào trong quá khứ qua sự thể hiện thọ quả trong hiện tại này.Và cũng từ đây,trong hiện tại chúng ta cũng có thể biết mình sau khi chết sẽ đi về đâu qua tác nhân hiện tại,mà chúng ta đã tạo ra,chúng sẽ quyết định.Vì vậy cho nên,nếu chúng ta muốn biết nhân đời trước của chúng ta ra sao thì cứ nhìn vào thọ quả trong hiện tại,và muốn biết quả báo trong tương lai như thế nào thì cứ nhìn vào việc làm hiện tại của chúng ta,thì chúng ta sẽ rõ.Việc sống và chết của chúng ta,vì chúng liên hệ nhân quả duyên khởi đến nghiệp nhân và nghiệp quả của biệt nghiệp cá nhân và cộng nghiệp xã hội,nên qua sự thể hiện sống chết này chúng ta có thể đánh giá được tác nhân xấu tốt của cá nhân đó,trong xã hội đó,mà không sợ sai lầm trong nhận thức phân biệt.Do đó việc tạo nhân trong hiện tại chúng sẽ quyết định cho thọ quả khổ đau hay an vui trong tương lai,chúng tuỳ thuộc vào tác nhân hiện tại của chúng ta tốt hay xấu.Chính vì tác nhân hiện tại chúng sẽ chuyển biệt nghiệp và cộng nghiệp theo nghiệp nhân thiện ác sinh khởi và hoàn diệt theo nghĩa nhân quả,nên việc làm chủ tác nhân cho mọi hành động của chính mình,chúng ta có thể kiểm soát được qua sự tu tập.Đó là việc chúng ta nên làm qua việc lựa chọn lánh ác làm lành trong hành động của mình.Vì tác nhân hiện tại của chúng ta,chúng sẽ trở thành thứ chủng tử di truyền làm nhân quá khứ cho thọ quả trong tương lai,và chúng sẽ di hại đến thọ quả trong tương lai, nếu tác nhân đó là bất thiện, nên chúng ta phải cẩn thận trong hành động trong việc lựa chọn thiện và bất thiện.Và nếu chúng ta muốn tiến xa hơn nữa trong việc muốn giải thoát khỏi khổ đau trong sống chết thì chúng ta không nên làm,tức là không tạo ra bất cứ tác nhân nào dù là tác nhân thiện đi nữa,thì chúng ta sẽ không chịu thọ quả.Đó chính là con đường vượt qua khỏi khổ đau trong sống chết của pháp hoàn diệt quán.Những quan điểm giải thích về thập nhị nhân duyên của các bộ phái Tát bà đa,Tuyết Sơn,Đa Văn,Hoá Địa thuộc Tiểu thừa về sự thực hữu của các pháp qua thập nhị nhân duyên,và dựa vào tam pháp ấn vô thường,khổ,vô ngã mà chủ trương nhơn không pháp hữu,tam thế thật hữu,pháp thể hằng hữu của họ,nên sự kiện giác ngộ qua thập nhị nhân duyên được họ giải thích theo những thủ đắc của họ có được qua những lời dạy của đức Phật như những giải thích ở trên
Nhưng đối với các nhà Kinh bộ cũng thuộc Tiểu thừa,thì họ không tán đồng thuyết của Hữu bộ về sự thật hữu của các pháp qua nhân quả hai lớp ba đời của thập nhị nhân duyên.Kinh bộ đã phủ nhận quan điểm này,và chỉ chấp nhận có tâm cùng tứ đại là thật tại,và chỉ có hiện tại mới là thật hữu,còn quá khứ thì đã đi qua,và tương lai thì chưa đến,và ngay đến hiện tại cũng chưa chắc đã tồn tại,mà ít nhất chỉ có sự tồn tại của một thứ chủng tử mà thôi.Và cũng từ đây chính là khởi nguyên của thuyết chủng tử của Duy thức,và cũng là cơ sở phát triển Trung quán và các nhà Đại thừa sau này bằng cách phủ định tất cả mọi sự hiện hữu các pháp được gọi thực hữu của các phái Tiểu thừa nói trên
Theo:28 Thành duy thức luận 8,thì Thập nhị nhân duyên được giải thích như sau
Từ vô minh cho đến hữu là 10 chi nhân.Sanh,lão tử là 2 chi quả,từ sự phân chia này thiết lập nhân quả nhất trùng.Nhưng vì nhân cùng quả không cùng ở trong hiện tại mà phải khác đời,nên thiết lập nhân quả nhất trùng hai đời.Vì hai chi vô minh và hành là nhân của năm chi từ thức cho đến thọ,nên hai chi vô minh,và hành là chi năng dẫn,còn năm chi kia là chi sở dẫn.Vì vậy nên bảy chi này gọi chung là nhân dẫn dắt.Vì ba chi ái,thủ,hữu là nhân có thể sinh ra hai chi sinh,lão tử đời vị lai,nên ba chi này gọi là chi năng sinh,hay là nhân sinh khởi,còn lão tử gọi là chi sở sinh hay là sở dẫn sinh.Tuy ở đây có phân chia ra chi năng dẫn và chi sở dẫn chi năng sinh và chi sở sinh,nhưng chúng vẫn không ngoài ý nghĩa duyên khởi,hay y tha khởi này.Cho nên sự hiện hữu của nhất trùng hai đời cũng chỉ là một sự hiện hữu giả danh trong ý nghĩa duyên khởi hiện khởi mà thôi
Theo các nhà Duy thức của Thành duy thức và nhập lăng già cho rằng các nhà Tiểu thừa nói chung và các nhà hữu bộ nói riêng chỉ biết nắm giữ hiển giáo của đức Phật chứ không biết gì về mật giáo họ chỉ chấp nhận sự sinh khởi về mặt hiện tượng về thập nhị nhân duyên của sự vật mà thôi,chứ không tìm hiểu tính bất sinh căn bản của sự vật,và với lập trường nhơn không,pháp hữu nên họ xem ba giới là thật có,có sự sai biệt giữa chủ thể và đối tượng,tự chấp nhận uẩn,xứ,giới,tâm,nhân duyên,sinh, trú,dị,diệt luôn hiện hữu.Trong khi đức Phật đã từng tuyên bố.Không bao giờ có thể có một sự vật gì phát sinh mà không có nhân duyên.Họ đã không để ý đến và bỏ quên,nên không biết đến pháp không,khi đức Phật dạy.Mọi vật đều vô thường,mọi vật đều vô ngã.Khi đề cập về lý duyên khởi cho rằng vì hiểu được muôn vật phát sinh do nhân và duyên,nên đoạn trừ được mọi vọng tưởng xem mọi sự vật không hiện hữu cho là hiện hữu,và xem sự phát sinh của chúng là từ từ hay đột khởi.Theo Laṅkāvatāra thì duyên khởi phát sinh do hai cách ngoại nhân,ngoại duyên như đồ gốm,bơ,cây con v.v và phát sinh do nội nhân,nội duyên như vô minh,ái,nghiệp v.v.Vì vậy nên các nhà duy thức cho lý duyên khởi thuộc về lãnh vực của vọng tưởng chứ không phải thực hữu
Theo các nhà Duy thức chỉ có ba sự thật mà thôi đó là.Biến kế sở chấp.Y tha khởi,và Viên thành thật.Theo ngài Vô Trước sự liên hệ của ba sự thật này được trình bày như sau.Sự thật về Viên thành thật là sự thật nói đến sự không thể hiện dưới hình thức và không phải không hiện hữu dưới hình thức.Sự thật này không khác,vì cả hai sự thật trước không khác với sự thật sau.Về sự thật thứ nhất là nói đến mọi sự vật hiện hữu được là nhờ vàotướng về hình sắc và tánh,khổ,lạc được gán vào cho sự vật ấy.Ngược lại nếu sự vật tướng và tánh của chúng không được gán vào thì chúng sẽ không hiện hữu.Vậy sự hiện hữu có được của sự vật là do con người tưởng tượng đặt lên cho chúng kể cả pháp của đức Phật.Do đó sự hiện hữu này chỉ là một sự hiện hữu trong tưởng tượng của con người,chúng không có liên hệ gì đến sự thật.Vì vậy chúng làbiến kế sở chấp.Đó là cách giải thích của các nhà Duy thức trong tập Thành duy thức.Cũng vậy tập thì cho mọi sự vật duyên khởi biết được là nhờ vào các tướng và tánh của chúng.Tướng và tánh chia ra làm hai loại một,sự vật chỉ nhờ vào khía cạnh tổng quát nội và ngoại của mà biết hai,sự vật phải nhờ vào đặc tướng và tánh nội ngoại cả hai phát sinh mà biết
Về sự thật thứ hai.Đứng về mặt sinh khởi,sự hiện hữu của mọi sự vật được hình thành nhờ vào óc tưởng tượng và chúng được y cứ vào một sự vật khác để sinh khởi.Do đó sự vật không còn là nguồn gốc chính chúng phát sinh như lúc ban đầu nữa.Vì vậy dù sự vật,thiện,ác,vô ký,hay ba giới,tâm,và tâm sở luôn luôn vẫn lệ thuộc vào tưởng tượng,và sự hiện hữu của chúng cũng khởi lên từ các nhân và duyên mà sinh khởi,có nghĩa là chúng y vào các pháp khác mà sinh khởi để hiện hữu,và vì vậy không thể gọi chúng là hiện hữu thật sự.Về sự thật thứ ba là sự thật tối cao thuộc về chân đế hay như thật tánh chúng liên hệ đến Niết bàn,tịnh lạc v.v mà tất cả phiền não và nghiệp chướng được diệt tận.Sự thật này thuần nhất không có phân biệt giữa chủ thể và vật thể như.Về phương diện sự tướng thì cũng có thể gọi là pháp nhĩ như thị,hay nói một cách khác là tối thượng tiềm tàng trong thế giới hiện tượng
Đó là ba sự thật của các nhà Duy thức,qua ba sự thật này thì thập nhị nhân duyên chúng thuộc về hai sự thật trên và chúng được coi như là một sự hiện hữu không thật có chúng có được là do nhân và duyên mà hiện hữu.Bởi vậy sự hiện hữu của chúng cũng là một thứ vọng tưởng do sự tưởng tượng của con người đặt ra cho chúng,chúng thuộc về tục đế,chỉ có sự thật thứ ba mới là chân đế
Cũng như các nhà Duy thức,các nhà Đại thừa nhất là Trung quán rất tán thán công thức thập nhị nhân duyên này,nhưng họ không mấy chú tâm về ý nghĩa của những vòng chuyền công thức này,vì ở đây họ chỉ chú tâm vào giáo lý chính đó là pháp không trong đó có cả nhơn không.Nhờ hai pháp này xứng hợp với quan điểm về sự thật của họ,do đó các nhà Đại thừa và Trung quán đã xem đức Phật có hai hình thức giáo lý để dạy người một là tục đế,và một là chơn đế. Ở đây thập nhị nhân duyên được các Ngài liệt vào hàng tục đế chứ không phải chân đế như các nhà Tiểu thừa và Hữu bộ đã chủ trương.Ngài Long Thọ chủ trương mọi vật đều không như đức Phật đã từng dạy/Mọi vật đều vô thường,mọi vật đều vô ngã,không có tự tính,nên các pháp hiện hữu có được là do duyên sinh,ngay cả thập nhị nhân duyên cũng chỉ là một hiện hữu do duyên,nên chúng cũng không thật hữu,chỉ là sự hiện hữu giả danh. Như hai bài kệ mở đầu trong chương quán nhân duyên Trung luận của ngài Nāgārjūnā, Phạm chí Thanh Mục thích như sau.Như trong kinh Bát nhã ba la mật,Phật bảo ngài Tu bồ đề Bồ tát khi ngồi ở đạo tràng,quán thập nhị nhân duyên cũng như hư không,không cùng tận.Sau đức Phật diệt độ 500 năm,trong thời kỳ tượng pháp,căn tánh con người trở thành ám độn,đắm sâu các pháp tìm tướng quyết định nơi mười hai nhân duyên,5 ấm,12 nhập,18 giới. Không hiểu thâm ý của Phật mà chỉ chấp vào văn tự.Nghe trong Đại thừa nói.Rốt ráo Không chẳng biết vì lý do gì nói Không,liền phát sinh kiến chấp nghi ngờ rằng Nếu tất cả rốt ráo là Không,làm thế nào phân biệt báo ứng tội phước v.v…Và như vậy,thì không có thế đế và đệ nhất nghĩa đế.Chấp thủ tướng Không ấy,khởi lên sự tham đắm,ở trong lý rốt ráo Không phát sinh vô số sai lầm.Vì những lý do đó,nên Ngài Long Thọ làm bộ luận này.Theo giải thích của Phạm chí Thanh Mục,thì ở đây Bồ tát Long Thọ muốn chúng ta nhận thức rõ ràng và hiểu biết thêm về lý nhân duyên sanh một cách hữu lý qua mười hai nhân duyên cũng như các pháp khác, mà không rơi vào thiên kiến, mê chấp, cố định.Vì Phật Pháp là pháp bất định,nên chúng phải được thích ứng và thể hiện qua mọi thời gian,mọi không gian,tùy căn cơ của mọi từng lớp chúng sinh,trình độ trí thức hay kém trí thức.Do đó,chúng không phải là pháp cố định độc lập,và hiện hữu thật sự,mà chỉ là một hiện hữu giả tạm.Chính vì sự hiện hữu giả tạm nên chúng không có tự tánh riêng của chính nó, chúng mang bộ mặt không tánh vì vậy sự hiện hữu có được của chúng là do nhân do duyên mà có. Do đó chúng được gọi là.Bịnh trầm trọng của chúng sanh là bịnh thiên kiến, cố chấp cho rằng các pháp thường tồn,đoạn diệt,hay là do Thượng đế,Phạm Thiên sáng tạo v.v….chính những nguyên nhân cố chấp này làm trở ngại con đường khai phóng tự tại giải thoát.Cố chấp là không có tinh thần uyển chuyển,mở tầm mắt,tâm hồn khoáng đại,để nhận lãnh và quan sát cùng tận chân lý phổ quát tòan diện.Sự thật ngày nay không ai còn nghĩ rằng sự vật trong vũ trụ này là từ vô nhân hay ngẫu nhiên có,mà không phải từ nhiều nhân tố,phương tiện điều kiện hợp thành,như cái bàn,cái ghế.Ngay bản thân chúng ta,cũng do nhiều nhân tố hợp thành.Nhưng chúng ta đừng khẳng định rằng tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh mà cố chấp vào nhân duyên,vì nhân duyên cũng không ngoài các pháp
Qua hai bài tụng mở đầu trong chương quán nhân duyên,Bồ tát Long Thọ đã nói lên sự sai lầm không những của các phái ngoại đạo vào lúc bấy giờ, mà ngay trong nội giáo cũng có quan niệm sai lầm về các vấn đề: Sinh, diệt, thường đoạn một,khác,đến,đi trong nhận thức của họ.Và 14 bài tụng tiếp theo,Bồ tát Long Thọ tuần tự chỉ ra những nhận thức sai lầm của họ trước hết ngài khẳng định rằng