-
Tát-ca phái
Tát-ca phái (zh. 薩迦派, bo. sakyapa) Một trường phái của Phật giáo Tây Tạng, mang tên ngôi chùa Tát-ca—Tát-ca nghĩa là “Đất xám”. Theo lời khải thị của A-đề-sa, chùa Tát-ca được xây dựng năm 1073 và các cao tăng chùa này tập trung truyền pháp Kim cương thừa với tên là Đạo quả (道果, bo. lam-dre).
Trường phái này tập trung công sức tu tập và tổ chức lại các kinh sách của giáo pháp Tantra, nhưng cũng có nhiều đóng góp cho Nhân minh học Phật giáo và có ảnh hưởng lên nền chính trị Tây Tạng giữa thế kỉ 13 và 14.
Phái này được trở thành độc lập là nhờ công của năm vị Lạt-ma sống từ 1092 đến 1280. Đó là: Sa-chen Khánh Hỉ Tạng (sa. ānandagarbha, bo. sa chen kun dga´ snying po, 1092-1158), hai người con trai là So-nam Tse-mo (bo. bsod nams rtse mo,1142-1182) và Drakpa Gyaltsen (bo. drags pa rgyal mtshan, 1147-1216), người cháu Tát-ca Ban-thiền (bo. sa skya pan chen, 1182-1251) và Chog-yal Phag-pa (bo. chos rgyal `phags pa, 1235-1280). Tất cả năm vị này đều được xem là hoá thân của Văn-thù-sư-lợi (sa. mañjuśrī) và thuộc gia đình Khon. Trong năm vị thì Tát-ca Ban-thiền là có ảnh hưởng lớn nhất, giáo pháp của ông bao trùm nhiều ngành khoa học khác nhau. Khả năng về Phạn ngữ vang đến Ấn Độ và Mông Cổ và sau đó ông được mời đi Mông Cổ thuyết pháp và trường phái Tát-ca lan rộng tại Trung Tây Tạng năm 1249. Trong các thế kỉ sau, phái Tát-ca đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo Tây Tạng và gây cả ảnh hưởng đến Tông-khách-ba và tông của Sư là Cách-lỗ.
Mười tám bộ kinh, luận quan trọng được giảng dạy trong trường phái này (sa. aṣṭadaśa-mahākīrtigrantha):
1. Ba-la-đề-mộc-xoa kinh (sa. prātimokṣa-sūtra);
2. Tì-nại-da kinh (sa. vinaya-sūtra);
3. Hiện quán trang nghiêm luận (sa. abhisamayālaṅkāra-śāstra), được xem là của Di-lặc;
4. Đại thừa kinh trang nghiêm luận tụng (sa. mahāyāna-sūtralaṅkāra-kārikā), Di-lặc;
5. Đại thừa tối thượng luận (sa. mahāyānottaratantra-śāstra), Di-lặc (= Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận, sa. ratnagotravibhāga)
6. Biện trung biên luận tụng (sa. madhyānta-vibhāga-kārikā), Di-lặc;
7. Pháp pháp tính phân biệt luận (sa. dharma-dharmatā-vibhāga), Di-lặc;
8. Nhập bồ-đề hành luận (sa. bodhicāryāvatāra), Tịch Thiên (sa. śāntideva);
9. Căn bản trung quán luận tụng (sa. mūlamadhyamaka-śāstra), Long Thụ (sa. nāgārjuna) tạo;
10. Tứ bách luận (sa. catuḥśataka), Thánh Thiên (sa. āryadeva) tạo;
11. Nhập trung luận (sa. madhyamāvatāra), Nguyệt Xứng (sa. candrakīrti) tạo;
12. Đại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (sa. abhidharma-samuccaya), Vô Trước (sa. asaṅga) tạo;
13. A-tì-đạt-ma-câu-xá luận (sa. abhidharmakośa), Thế Thân (sa. vasubandhu) tạo;
14. Tập lượng luận (sa. pramāṇasamuccaya), Trần-na (sa. dignāga) tạo;
15. Lượng thích luận (sa. pramāṇavarttika-kārikā), Pháp Xứng (sa. dharmakīrti) tạo;
16. Lượng quyết định luận (sa. pramāṇaviniścaya), Pháp Xứng tạo;
17. Pramāṇayuktinīti;
18. Trisaṃvarapravedha.
( theo Wikipedia )
Saigon42
-
Sakyapa
Phái nầy bắt nguồn từ Tu Viện Sakya, tiếng Tây Tạng có nghĩa là đất xám, được xây vào năm 1073, ở miền nam Tây Tạng. Những vị trụ trì đều thuộc một gia đình họ Khön. Giáo lý của phái này nằm trọn trong bộ Lamdré (Con đường và Ðạo quả). Năm vị Tổ đầu tiên của phái nầy là Sachen Kunga Nyingpo, hai người con trai là Sonam Tsemo, Dragpa Gyatsen, cháu là Sakya Pandita, chắt là Chögyal Phagpa. Cả năm vị này đều được xem là hoá thân của Văn Thù Sư Lợi. Trong năm vị nầy, nổi tiếng hơn hết là Sakya Pandita. Ông ta thông thạo tất cả các bộ môn đời cũng như Ðạo. Các trước tác và dịch thuật từ tiếng Sanskrit của ông vang tận Ấn Ðộ và Mông Cổ. Vua Mông Cổ lúc bấy giờ là Kubilai (cháu của Thành Cát Tư Hãn) mến phục và mời ông sang làm Quốc sư. Nhờ đặc ân của Vương triều Mông Cổ nên phái Sakyapa đã có một ảnh hưởng rất lớn về tôn giáo lẫn chính trị trên toàn quốc trong hai thế kỷ 13 và 14. Sau này chính Tsongkhapa Sáng Tổ của phái Guélugpa cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều của phái này.
Phái này hiện nay ở Âu Mỹ không được bành trướng lắm.
Nguồn : http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-daogi/daogi-2.htm
phapvan