theo em biết thì có Tòa Thánh Tây Ninh ở Tây Ninh và Tòa Thánh Định Tượng ở Tiền Giang, 2 Tòa Thánh này đều là Đạo Cao Đài. Vậy cho em hỏi sao lại có 2 Tòa Thánh như vậy?
Printable View
theo em biết thì có Tòa Thánh Tây Ninh ở Tây Ninh và Tòa Thánh Định Tượng ở Tiền Giang, 2 Tòa Thánh này đều là Đạo Cao Đài. Vậy cho em hỏi sao lại có 2 Tòa Thánh như vậy?
Trong quá trình bị "cơ khảo thí" thì đạo Cao Đài bị chia ra nhiều chi phái (do mâu thuẫn nội bộ, tranh giành quyền lực...). Đến nay còn 12 phái chính thức. Tòa thánh ở Tây Ninh là tòa thánh "cội nguồn", còn tòa thánh Định Tường ở Tiền Giang là hội thánh Cao Đài Chơn Lý (Cao Đài Chơn Lý là 1 trong 12 chi phái, ở xã Mỹ Phong, Mỹ Tho Tiền Giang _ đi qua cầu Hùng Vương của đường Hùng Vương rồi rẽ phải).
Tuy nhiều chi phái khác nhau nhưng tôn chỉ hành đạo đa phần đều giống nhau. Có phái thì lo cơ phổ độ, có chi phái thì lo phần đại đạo tịnh luyện, có chi phái thì cả hai (tu theo từng bậc, hạ thừa thì phổ độ, trung thừa và thượng thừa thì tịnh luyện _ chẳng hạn như Cao Đài Ban Chỉnh ở Bến Tre)
Cao Đài Ban Chỉnh ở Bến Tre không chủ trương chia phái, và cũng không phải là 1 phái đạo riệng biệt. Cơ chỉnh đạo đã chấm dứt nhưng còn gọi tên như vậy là do quen và để dễ phân biệt với các phái khác.
Tòa Thánh Định Tường là trung ương của phái Minh Chơn Lý do Ngài Phối Sư Thái Ca Thanh tách khỏi Tòa Thánh Tây Ninh lập ra.
Tòa Thánh Cao Đài Tấy Ninh và Tòa Thánh Định Tường nay đổi thành Tòa Thánh Chơn Lý, đều là hai trong nhiều Tòa Thánh của Đạo Cao Đài.
Về nguyên nhân hình thành các Tòa Thánh, nó bắt đầu từ thời kỳ phân chia chi phái, một thời kỳ đen tối và đau thương nhất của Cao Đài Giáo, khi những người anh em lại rứt ruột nhau mà ra đi. Tuy nhiên đó cũng là sự tất yếu của lịch sử các tôn giáo trên thế giới. Rất hiếm có tôn giáo nào thoát khỏi quy luật này.
Thử xét tôn giáo lớn nhất hiện giờ ở VN là Phật giáo, trước đây cũng chia ra làm Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. rồi còn có Mật Tông, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông.
Như KI Tô giáo cũng phân chia ra làm Anh Giáo, chính thống giáo, và sau này có cả sự phân biệt của Tin Lành, Cơ Đốc Phục lâm, hội thánh nhân chứng Gia-hô-va....
Hồi giáo cũng trở thành su-ni và si-ai....Cao Đài cũng chung trong quy luật ấy, vấn đề là sớm hay muộn mà thôi. Trở lại vấn đề Đạo Cao Đài tại sao lại có 2 tòa thánh, thật sự là có rất nhiều tòa thánh Cao Đài, ít nhất hiện nay Đạo đệ biết là có 10 tòa thánh đạo đệ đã tận mắt nhìn thấy.
Vấn đề của huynh thegioivohinh111 hỏi về tòa thánh Tấy Ninh và Tòa Thánh Định Tường.
sau khi khai đạo Cao Đài và Thành Lập Thánh Tòa Tây Ninh với sự bề thế và trang nghiêm (Không phải là tòa thánh bây giờ. tòa thánh bây giờ vừa được xây dựng hoàn thành sau 1945) các chức sắc hành đạo tại tòa thánh Tây Ninh và khi ấy Cao Đài chỉ có 1 Tòa Thánh duy nhất với hai hình thức tu hành là ngoại giáo công truyền (Tây Ninh) và Nội giáo Tâm TRuyền (của Đức Ngô Đại Tiên Ngô Minh Chiêu). Tât cả tiền bối còn lại trừ đức Ngô đều hành đạo tại Tây Ninh và cố găng xây dựng trung ướng giáo tòa. Khi ấy, năm 1927, ông NGuyễn Văn Ca, là chức sắc đương nhiệm của chánh phủ Lang sa, là đọc phủ sứ Mỹ Tho Quận, Định Tường Tỉnh, nhập môn cầu đạo, đồng tử là ông Lê Văn Trung và các vị lãnh đạo cao cấp khác. Ngày ấy, cơ quở như vây: "Ca, sao con không chờ bị đọa luân hồi, còn đến đây làm gì" như có ý giận dỗi ông Nguyễn Văn Ca vì cầu đạo chậm, không theo ý thiêng liêng.
Nhưng rồi ông Ca cũng được đức Cao Đài thâu nhận là môn đệ và đắc phong Phối Sư Phái Thái vào nữa năm sau đó.
Ngày đắc phong Phối Sư Phái Thái, cơ giáng như vầy:
"Nay Thầy thấy Phái Thái còn kém đức nên phong cho ca làm Phối Sư Phái Thái. Ca , con coi đồ của Thơ mà mặc y như vậy.
Cư, Tăc, Trung, ba con lo dạy em Ca cho vững vì ngày sau nó cũng lãnh trách nhậm lớn lao như con vậy. Nó là Chơn Thánh" Nguyên nhân Phái thái bị phán là kém đức có thể liên quan đên việc ông hòa thượng như nhãn đòi chùa. bài cơ này Cơ quan Phổ thông giáo lý vẫn còn lưu trữ....
Đó là cơ duyên ông Ca vào Đạo Cao Đài và đắc phong Phối Sư Phái Thái.
Sau khi vào phái Thái, ông được anh lớn Thượng Trung Nhựt giao cho làm khâm sai tài chánh Tòa Thánh và biên soạn lại bộ Pháp Chánh Truyền theo ý của thiêng liêng và kết tập, sắp xếp theo thứ lớp và nội dung....
Công việc đương mỹ mãn thì nội bộ ông Ca và ông Tắt xảy ra mâu thuẫn, ông Ca bất đồng quan điểm hành đạo với ông Tắc và nhiều lâng nhờ ông Trung can ngăn. nhưng ông Trung không can ngăn được ông Tắc (về vấn đề ai đúng ai sai thì chúng ta không nên bàn ra đây, chỉ biết là nất đồng chính kiến), sau đó ông về lại quyê nhà ở làng Cầu Vỹ quận Mỹ Tho Tỉnh Định Tường, nơi có thánh thất mỹ tho để tu học.
Là người sáng đạo và hợp duyên với thiêng liêng, lại là trí thức, có tài ăn nói và giảng đạo, lại là chức sắc đứng vào hàng hiếm của Đạo (Tam Thập Lục Thánh), lại là khâm sai tài chánh của Đạo, có mối quan hệ rộng, là người đạo hạnh khiêm cung, làm gương anh cả nên chưa đầy 1 năm nữa, tức 1929, ông Ca đã liên kết được trên 30 thánh thất và hành đạo cùng chí hướng vơi mình, một số anh cả tòa thánh khi ấy như Trần Đạo Quang.. cũng tham gia và hình thành nên chương trình Minh Chơn Lý.
sau đó, đến 1930, bộ phận chức sắc đối lập với Tây Ninh này tổ chức luyện đồng tử và cầu cơ, ơn trên cho độ, và nhiều người nhập môn, Chơn Tâm và Tường Khánh là ca pj đồng tử của ông Phùng luyện tập lâu năm, thanh tịnh bội phần đã tiếp nhận được bài Chánh Tà Yếu Lý với lời kinh thâm thúy. Sau khi tiếp nhận bài này, ông Ca và ônng Phùng có gửi về Tòa Thánh Tây Ninh nhưng không được chấp nhận, do đó, hai ông cùng với một số chức sắc khác đã thành lập luôn 1 hội thánh gọi là Hội Thánh Trung Ương. năm ấy là năm Tân Vì 1931.
Từ năm 1931 đến 1937 là thời kỳ minh chơn lý của ông ca và ôg phùng, Vì hai vị này làm theo sơ bút và cách tân nhều đạo tướng như không thờ 1 ngọn đèn thái cực mà thờ 15 ngọn thập ngũ linh đăng, không thờ thiên nhãn không mà thờ thiên nhãn nằm trong trái tim.
Sự cách tân ấy là do Ông Phùng Chấp bút mà ra, sau khi hoàn thành sứ mệnh, ông Nguyễn Hữu Phùng viên tịch.
Đến năm 1938 có ông giáo sư Ngọc Được Thanh ra chấp bút và cấp chưỡng chưởng quản Hiệp Thiên Đài, ông Ca làm chưởng quản Cửu Trùng Đài thánh danh Bửu An Thiên.
Đến thời kỳ này, ông Được chấp bút và ơn trên đã dặy sửa hình con mắt cách điệu đi và thờ đến bây giờ. Đến năm 1948 ông Được đăng tiên, còn ông Ca đến năm 1956 mới đăng tiên.
Xét về Hội Thánh Cao Đài Chơn Ly, hiện đang là hội thánh gây tranh cãi nhiều nhât trong Đạo Cao Đài. Không xét về hình dáng Tòa Thánh, mỗi hội thánh đều có đặc điểm riêng của mình, như Ngọc Kinh Của Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý cũng không giống các tòa thánh khác, Tòa Thánh Định Tường cũng vậy. Nhưng trong khi tất cả các Hội Thánh đều thờ thiên nhãn và nó trở thành biểu tượng thiêng liêng của đạo cao đài thì Hội Thánh chơn lý lại thời trái tim lồng vào con mắt mà họ gọi là Tâm Thần Lẽ Thật. Điều này gây e ngại và dè xẻn đối với các Hội Thánh còn lại, có hội thánh tôn trọng nhưng cũng có hội thánh xủ vả và khiêu khích. Nhưng đó không phải là vấn đề ta nên bàn. Vì quan điểm hình thành các chi phái và hội thánh với một sự khác biệt nào dó đã được đông đảo cộng đồng Cao Đài chấp nhận rằng ĐÓ LÀ THIÊN Ý VÀ CHÚNG TA CHƯA THỂ NÀO HIỂU ĐƯỢC Ý TRỜI.
Cho nên, hiện Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý cũng đang gặp nhều luồng tư tưởng trái chiều.....
Về Tòa Thánh Cao Đài Chơn Lý
Trước đây mang tên định tường nhưng từ năm 2000 thì đổi thành Tòa Thánh Chơn Lý.
Tòa Thánh hiện nay được khánh thành vào năm 1956. còn tòa thánh nguyên thủy trước kia nằm ở Vạn Linh Đài bây giờ, cách cầu Vỹ 200 mét.
Hồi đó là thánh thất Mỹ Tho, còn gọi là thánh thất Cầu Vỹ. Sau đổi thành Tòa Thánh Trung Ương, nhưng hình như là có cháy hai lần hay sao đó. rồi mới dời về bên Mỹ An bây giờ và xây cất.
Tòa Thánh hiện tại đang được tái thiết trang nghiêm trở lại chứ trước đây, 1972 đã bị bom mỹ đánh gân như nghiêng cả Châu Thiêng Đài.
Đó là sơ lược sự hình thành Tòa Thánh Định Tường.
Em xin mạn phép được viết tiếp phần khảo luận về Tòa Thánh Định Tường, ý nghĩa Đạo Pháp... (Hiện đag giữ 1 cuốn bí cấp của ông Chánh Phối Sư - Tứ Bửu Thái Thinh Thanh nói rất rõ về Cao Đài Chơn Lý, em sẽ cố gắng post lên liền để quý anh chị em cũng nhau khảo cứu nét đặc thù của Cao Đài Chơn Lý)
Website của Cao Đài Chơn Lý, Tòa Thánh Định Tường:
http://hoithanhcaodaichonly.org/index.vip
(còn nữa)
Kính chào toàn thể các hiền huynh, hiền đệ. Cảm ơn tất cả những ý kiến đóng góp trên về Cao Đài Giáo. Trong quá trình tìm hiểu về đạo Cao Đài của Trời khai tại miền Nam nước Việt, để phổ độ tất cả các con của Thầy, thật là mầu nhiệm, quý báu vô cùng. Về lịch sử hình thành và nội dung kinh sách rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu và đúng với các lời tiên tri trước đó, chỉ có Cao đài Chơn Lý - Định Tường là đúng và chính xác nhất. Hiền đệ văn chương còn thấp, nhưng cũng muốn đem hết lời ngay lẽ thiệt mục đích để dìu dắt nhau qua sông mê bể khổ, ai đọc được những lời này cũng là có duyên có phước. Trước hiền đệ xin cuối đầu Lạy Thầy Chúa Tể Kiền Khôn, Lạy Mẹ Đại Từ Đại Bi. Hiền đệ có đôi lời để tóm tắt về nguồn gốc và lịch sử hình thành, quý vị nào tin hay không thì là do duyên số:
1. Lúc Thầy khai Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Tây Ninh (1926) xưng là A Ă Â. Đó là sự nhiệm mầu mà khó ai có thể biết được Tam Kỳ Phổ Độ có 3 tiểu thời kỳ ẩn trong: Khai Đạo, Chuyển Đạo và Thành Đạo. Thời kỳ khai đạo gọi là Nhứt Tiểu thời kỳ của Tam Kỳ Phổ Độ, Thầy mở lòng Đại Từ Đại Bi mà thâu dụng nhiều người, chủ yếu dạy về Lễ nghi, chưa ban hành nhiều kinh sách, có mượn một số bài bên Phật giáo.
2. Qua đến Nhị tiểu thời kỳ của Tam Kỳ Phổ Độ, theo Thiên ý là phải đợi đúng ngày giờ là năm 1932 (6 năm) mới chuyển Đạo để lừa gạn lại. Nhưng một số Anh Lớn chưa làm tròn bổn phận, còn dụng phàm tâm, ỷ quyền, ỷ thế theo phần Đời, nên Thầy phải chuyển Đạo về Kiên giang Rạch Giá (1929), nhưng Thầy phải đợi đúng ngày giờ là để chờ nhiều người hồi tâm. Đến năm 1931 - 1932, Đức Lý Thái Bạch mới cho bài giảng phân tà chánh trong bài Chánh Tà Yếu Lý.
3. Đến năm 1938, Thầy mới chuyển Đạo lần nữa để lừa lọc một lần nữa, cho nên nhiều vị đã gọi là Nhứt Tâm trong nhứt tiểu thời kỳ qua nhị tiểu thời kỳ cũng còn bị gạn lại để đem qua Tam Tiểu Thời kỳ, lập nên Toà Thánh Trung Ương và đổi hiệu Định Tường. Đó là đủ 3 thời kỳ của Tam Kỳ Phổ Độ.
Trong quá trình Đức Chí Tôn dạy Đạo tại Định Tường là 10 năm từ năm 1938 - 1948, có cho Phật Hàng Long và Phật Bửu An Thiên La Hán giáng thế. Dạy kinh sách bằng tiếp điển Vô - Vi (không dùng cầu cơ hay đồng tử nữa) vì Thầy không muốn giao chánh giáo cho tay phàm. Mười năm dạy Đạo này, dạy không thiếu một điều gì hết, mỗi bài đều có để là Vô Vi Hiệp Thiên Đài ngày....tháng.... năm (...giờ). Quý Đạo Tâm hãy tìm hiểu về kinh sách sẽ hiểu rõ.
Mình đem hết lòng thành thật và sự hiểu biết nông cạn của mình mà viết ra những lời này có Trời Đất chứng giám, mong muốn quý Đạo Tâm muốn tầm chơn lý thì định tâm mà suy xét. Thầy Mẹ có dạy: "Giảng Chơn Lý một lời chẳng dị. Đạo quang minh, ích kỹ phải hư".
Hy vọng sẽ được trao đổi nhiều hơn về đường đạo học. Những hiền huynh, hiền đệ nào muốn trao đổi về kinh sách thì liên lạc với Tùng Linh qua email: tunglinh270689@gmail.com hoặc điện thoại: 0978867022. Có thể gặp trực tiếp mình tại một trong các địa chỉ sau vào các tối trong tuần và thứ 7, chủ nhật:
a) 225/18, đường Thoại Ngọc Hầu, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, TPHCM
b) 48/10, đường Lê Cảnh Tuân, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, TPHCM
c) số 12 Nguyễn Văn Bảo, phường 4 quận Gò Vấp, TPHCM
d) Trường Chinh, phường Tân Thới Nhất, quận 12, TPHCM.
Xin chân thành cảm ơn và mong muốn được trao đổi lời kinh tiếng kệ của Thầy Mẹ dạy. Đề cùng nhau làm rạng danh Cao Đài, không phụ lòng của Cha Mẹ thiêng liêng.
Đạo Thầy Chánh Đại lại quang minh
Đâu phải tuồng như kẻ thế tình
Khuyên khắp chúng sanh mau tỉnh giấc
Đài Cao cửa rộng mở thinh thinh
Tặng anh chị em nhà mình một bài Tham Luận của Viện Nghiên Cứu Phát Triển Bền Vững Việt Nam, bài viết này mang tính khoa học tôn giáo dưới sự tư duy của những người theo Mác Lê Nin nen nó không mang màu sắc duy tâm, nếu có đụng chạm đến đức tin cao cả của anh chị em thì cho tệ đệ xin lỗi trước. Bài viết này nói về 1 nhân vật đã có công xây nên Tòa Thánh Định Tường, nếu có thời gian, tệ đệ xin đưa những bài viết về Tòa Thánh Định Tường vừa mới kiếm được.
Ông Nguyễn Văn Ca (1876 - 1956).
Nghề nghiệp: Tu sĩ Cao Đài Giáo
Chức vụ cao nhất: Chưởng Quản Cửu Trùng Đài Tòa Thánh Định Tường (cũ).
1. Thân thế: Ông Nguyễn Văn Ca sinh năm 1876 tại xã Đái Nhựt, huyện Tân Trụ, tỉnh Tân An trong một gia đình trí thức thuộc hàng trung lưu, sống bằng địa tô, nhưng ông lớn lên và gắn cả cuộc đời của mình cho tỉnh Mỹ Tho (sau đổi thành Tỉnh Định Tường, là một phần lớn trong diện tích của Tỉnh Tiền Giang ngày nay). Cha của ông Nguyễn Văn Ca là ông Nguyễn Văn Đối, mẹ là bà Đặng Thị Lợi. Gia đình ông có đông anh em trai nhưng tất cả đều là những người có học thức, và ông Ca được xem là người có địa vị cao nhất trong gia đình, vượt xa cả những người anh và em của ông, ông từng làm đến chức Đốc Phủ Sứ, tương đương với chức Tỉnh trưởng hay chủ tịch tỉnh, nhưng một phủ sứ trước năm 1945 ở miền Nam Việt Nam là một khu địa chính rất rộng, có thể bao gồm nhiều tỉnh ngày nay, cho nên, đứng vào hàng đốc phủ sứ như ông Ca cũng là hiếm.
Danh sách thành viên gia đình ông Nguyễn Văn Ca:
ĐỐI ĐÁP sao không kể đến Thầy
Cha vì thương trẻ đến nơi đây
CA ngâm thi PHÚ làm chi vậy?
PHẤN đấu chi thêm hại cả bầy...
Gia đình ông Ca có tất cả là 15 người con, nhưng đến cuối cuộc đời chỉ còn lại 2 người đứng vào hàng thọ là ông Ca và người anh trai Nguyễn Văn Ngàn - người từng được Đức Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tat Maha Tat phong phẩm Ngọc Đầu Sư (Theo cách gọi của tín đồ Cao Đài Chơn Lý là Đầu Sư Ngọc Nhàn Tinh, là người có nhiều đóng góp và tác động không nhỏ đến việc giúp đỡ ông Nguyễn Văn Ca trong công cuộc biến đổi, chia tách với Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh để thành lập nên Cao Đài Minh Chơn Lý ( và đến năm 1938 - Mậu Dần đổi thành Cao Đài Chơn Lý)
1. Sự nghiệp: Ông Nguyễn Văn Ca đi học trường Tây, và về sau kết hôn cùng với bà Vương Thị Giàu, bà Giàu sau này cũng là chức sắc cao cấp của Đạo Cao Đài. Sau đó ông làm quan cho chính quyền thuộc địa, quản hạt vùng Mỹ Tho, đến năm 1926, Đạo Cao Đài được hình thành tại chùa Từ Lâm, Tây Ninh đã nhanh chóng truyền khắp các tỉnh vùng Lục Tỉnh Nam Kỳ, nhưng ông Ca không thuộc chương trình phổ độ của Cao Đài Tây Ninh, ông biết đến đạo Cao Đài là vào những năm Giáp Tý (1924) vì ông có một người bạn ở Phủ Cần Thơ là ông Tư Huỳnh cũng đã từng manh nha theo Đạo Cao Đài Nội Giáo Tâm Truyền của ông Ngô Văn Chiêu (Ngô Minh Chiêu) về sau đổi thành Cao Đài Chiếu Minh (gọi chung cho cả Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi và Cao Đài Chiếu Minh Long Châu ngày nay). Cũng vào năm 1926, ông Chiêu bỏ Tây Ninh để giữ vững Nội Giáo Tâm truyền của mình và khước từ (có tài liệu của Tòa Thánh Tây Ninh nói là bị phế truất) ngôi vị Giáo Tông và về lại vùng Hậu Giang, Cần Thơ để phổ độ Đạo Cao Đài theo quan điểm của ông Chiêu. Ông Tư Huỳnh là bạn của Ông Ca cũng thuộc nhóm này, năm 1926 này, ông Nguyễn Văn Ca dưới sự dẫn dắt tận tình của ông Tư Huỳnh đã gia nhập vào Đạo Cao Đài tại Phủ Cần Thơ, và theo các nhà nghiên cứu Tôn giáo, thật ra ông Ca đã từng chịu ảnh hưởng của Cao Đài Chiếu Minh trước Cao Đài Tây Ninh. Khoảng gần 1 năm nhập môn vào Đạo Cao Đài, ông Nguyễn Văn Ca đã tích cực hành đạo, truyền bá giáo lý Cao Đài khắp vùng ông sinh sống là Tỉnh Mỹ Tho. Lịch sử Đạo Cao Đài ngày ấy chưa thật sự chia năm sẻ bảy như sau này, mặc dù đã có sự manh mún chia tách khi ông Chiêu rời bỏ Tòa Thánh Tây Ninh, nhưng đó chỉ là một khía cạnh nhỏ, bởi vì ông Chiêu xưa nay không có tham vọng lập thành chi phái Cao Đài, Cao Đài Chiếu Minh được hình thành là bởi tính tất yếu, khách quan của lịch sử. Và mặc dù ông Chiêu không tham gia vào nội bộ nhóm ông Phạm Công Tắc, ông Lê Văn Trung nữa nhưng các ông vẫn giữ được mối quan hệ yêu thương mà ở một chừng mực nào đó, các ông Tắc, Trung phải nể ông Chiêu và gọi ông là Anh Cả như lời của Cao Đài Tiên Ông bắt buộc, cho nên, cơ phổ độ Cao Đài trước năm 1930 thật ra rất hòa hợp, chính vì thế mà Đạo Cao Đài nhanh chóng phát triển, đặc biệt là khu vực 3 tỉnh Miền Đông. Tại khu Mỹ Tho - Định Tường, có thể coi ông Ca là một nhân vật có công trong việc truyền đạo Cao Đài đi khắp xóm ấp, và phổ độ được nhiều người. Thấy được vai trò của ông Ca, các ông Cư, Tắc, Trung đã lập đàn cơ phong cho ông Ca chức Phối Sư Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh vào năm 1929. Chức Phối Sư thuộc hàng Đại Thiên Phong, hơn nữa ông Ca là người học thức nên nhanh chóng được triệu về Tòa Thánh Tây Ninh vào trung tuần tháng 4 năm 1929. Tại Tòa Thánh Tây Ninh, sự nghiệp tôn giáo của ông Ca trở nên thuận lợi hơn. Chức sắc Phối Sư phái Thái Tòa Thánh Tây Ninh, Thánh Danh là Phối Sư Thái Ca Thanh, chức việc là thành viên Ban Cai Quản Tòa Thánh (năm 1929, Tòa Thánh Tây Ninh chưa hình thành giáo hội, Hội Thánh hay Hội Đồng Chưỡng Quản như ngày nay mà chỉ có ban cai quản), đặc trách tài vụ Tòa Thánh Tây Ninh, được gọi là Thiên Khâm Thủ Bổn Tòa Thánh, quản lý toàn bộ tài sản của Tòa Thánh, bao gồm tiền bạc, vật chất và hơn 100 mẫu cao su đang được trồng. Đứng trên vị trí này, có thể nhìn thấy ông Ca có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp xúc với các chức sắc cao cấp khác như ông Trung, ông Tắc, ông Cư, ông Thơ... và được phép bàn về nội bộ, đường hướng chiến lược của Đạo. Nhưng cũng trong điều kiện một nền tôn giáo vừa mới ra đời, mà tổ chức được vạch ra hết sức chặc chẽ khi hệ thống quản lý đúng bản chất của một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền mà quyền lực thật sự thuộc về người đứng đầu, thì hiển nhiên mâu thuẫn xảy ra là tất yếu. Ông Ca không đồng ý với quan điểm hành đạo của ông Phạm Công Tắc nên dần dần lánh mặt, không thường lui tới tòa thánh như trước nữa, thay vào đó, ông trở về tự mình phổ độ bà con thân bằng, họ hàng lối xóm là chính. Năm 1930, ông Nguyễn Văn Ca chính thức rời Tòa Thánh Tây Ninh để về quê tự mình phổ độ, đây chính là sự khởi đầu mạnh mẽ nhất và có căn cứ khoa học nhất cho việc minh chứng "Ông Nguyễn Văn Ca rời đi là sự khởi đầu cho việc chia chi tách phái trong lịch sử không mấy huy hoàng của Đạo Cao Đài" đồng thời nó cũng giáng một đòn đau đớn vào nội bộ Toà Thánh Tây Ninh, và sau đó, từ 1931 - 1938 các chi phái Cao Đài hình thành một cách rầm rộ mà tiêu biểu Tiên Thiên, Ban Chỉnh Đạo. Về phần ông Ca, năm 1930, ông rời Tòa Thánh Tây Ninh, và cũng như những tín đồ cao cấp khác, ông tự mình tổ chức cầu cơ, liên kết với các cặp đồng tử để xây đàn riêng. Năm Nhâm Thân 1932, ông đã liên kết được với một số ông như ông An, ông Nguyễn Hữu Phùng với cặp đồng tử Chơn Tâm và Tường Khánh ở Thiên Gấm Sơn (An Giang). Nhóm các ông đã lập các đàn phổ độ và nhanh chóng nhận được sự ủng hồ của các chức sắc cũng rời bỏ Tây Ninh về Hậu Giang như ông Trần Đạo Quang, ông Trần Văn Quế (sau này)..và cơ bút đã phong cho ông làm Đầu Sư Thái Ca Nhựt, sau đó phong tiếp làm Chưởng Quản Cửu Trùng Đài nắm toàn bộ quyền lực hữu hình.... Ông Nguyễn Hữu Phùng làm Thiên Sư nắm toàn bộ quyền lực tinh thần. Giai đoạn này lịch sử Cao Đài Chơn Lý gọi là Cao Đài Minh Chơn Lý. Từ 1935 -1937, ông Nguyễn Văn Ca tích cực hoạt động nhiều hơn nhằm đổi mới Đạo Cao Đài, hàng loạt các cuộc cải cách do ông Nguyễn Hữu Phùng khởi xướng để ông Nguyễn Văn Ca thi hành làm cho ông Trần Đạo Quang và một số chức sắc khác không đồng ý, nên đường ai lại nấy đi. Ông Phùng qua đời năm 1939. ông Trần Đạo Quang về Hậu Giang, ông Ca tiếp tục liên kết với ông Lê Văn Được năm Mậu Dần 1938. Đến giai đoạn 1938 trở về sau có thể nói là giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử Cao Đài Chơn Lý vì:
- Với tiền thân đã được hình thành và sửa đổi bổ sung của ông Nguyễn Hữu Phùng, bắt buộc ông Được phải tiếp nối và phát triển nhiều hơn nữa.
- Những phát triển cãi cách từ thời điểm ông Lê Văn Được lên thay thế ông Phùng càng làm cho hình ảnh của Cao Đài Minh Chơn Lý bị các chi phái khác kiêng dè không muốn tiếp xúc bởi thể tướng của Cao Đài Chơn Lý khác xa hoàn toàn với các phái Cao Đài còn lại: Không thờ Thiên Nhãn mà thờ Thần Tâm, thờ 15 ngọn đèn chứ không phải một ngọn thái cực, lễ cụ cũng thay đổi, hệ thống kinh luật không sao y, đạo kỳ đảo ngược thứ tự, không tuân Tân Lật, Pháp Chánh Truyền và kinh Thiên Đạo - Thế Đạo) chính những điều đó mà nhìn vẻ bên ngoài có nhiều học giả sai lầm trầm trọng khi đưa ra kết luật Đạo Chơn Lý chứ không phải Đạo Cao Đài, chúng ta cần nghiên cứu bản chất của vấn đề mà mục đích, tôn chỉ của Cao Đài Chơn Lý hướng tới, đức tin, giáo lý, giáo luật và giáo luận của Cao Đài Chơn Lý có khác với các chi phái hay không để đi đến kết luận, đến ngày nay câu trả lời đã có. Từ sau năm 1938, với sự khác biệt nhiều, gần như thay đổi hoàn toàn, sự kiêng dè và bất hợp tác giao lưu của các phái như Minh Chơn Đạo, Tiên Thiên, Ban Chỉnh Đạo và Bạch Y mà Cao Đài Chơn Lý trở nên cô thương độc mã, cộng vào đó là thái độ hằn học của Cao Đài Tây Ninh đối với người khởi xướng làm phân lập nội bộ dẫn đến sự suy yếu của Tòa Thánh Tây Ninh mà việc phổ độ của Cao Đài Chơn Lý chỉ mang tính bề rộng mà không mang tính bề sâu. Cùng trong giai đoạn từ 1938 -1947, ông Ca được phong là La Hán An Thiên, Tức Bửu An Thiên.... Mặc dù đã cố gắng nhưng thật ra tín đồ của Cao Đài Chơn Lý từ sau 1947 càng ngày càng ít đi để nhường chổ cho sự lớn mạnh của Cao Đài Ban Chỉnh Đạo ở Bến Tre và Cao Đài Truyền Giáo ở Đà Nẵng. Năm 1948, ông Lê Văn Được qua đời, ông Ca một mình chèo chống chi phái này để cố gắng tránh khỏi họa đồng hóa từ các phái khác. Năm 1956, ông Nguyễn Văn Ca qua đời để lại toàn bộ cơ ngơi tài sản của mình cho đạo và dặn dò Hội Đồng Thập Ngũ Linh Đăng cố gắng hoằng pháp cho trọn. Từ đó đến nay, mặc dù không tăng nhanh và mạnh về số lượng tín đồ cũng như cơ cấu tổ chức, nhưng phái Cao Đài do ông Ca sáng lập đã có mặt trên 32 tỉnh và thành phố khắp cả nước. Tôn giáo là một hiện tượng văn hóa mà chúng ta khó có thể đồng hóa nhiều nhất, và hơn 80 năm qua, Cao Đài Minh Chơn Lý rồi đến Cao Đài Chơn Lý mang hoài bão của ông Ca vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển.
2. Nhận định: Mặc dù chức sắc được phong tại Tòa Thánh Tây Ninh không phải là lớn lắm, cũng không quan trọng nhưng những đóng góp của ông Ca thật sự quan trọng, đặc biệt là tác động khi ông là người cầm lá cờ đầu khuyến khích những người bất đầu chính kiến với Hộ Pháp Phạm Công Tắc và Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung rời bỏ Tòa Thánh Tây Ninh để xây dựng cát cứ riêng. Cho nên, có thể coi ông Ca là người đi đầu trong một giai đoạn phân ly độc lập của lịch sử Cao Đài, do đó tầm quan trọng của nhân vật Lịch sử - Tôn Giáo này cần nên được nghiên cứu lại. - Ông Ca có thể coi là lãnh đạo lâu nhất và có công đóng góp nhiều nhất đối với phái Cao Đài Chơn Lý với hơn 30 năm xây dựng, lãnh đạo và phát triển...đến khi ông đăng tiên ông vẫn mong muốn sự tồn tại, phát triển của nó và dặn dò hậu nhân cố gắng giữ vững quan điểm. Trãi qua hơn 80 năm, năm 2000, nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Ngĩa Việt Nam đã công nhận phái Đạo Cao Đài Chơn Lý mà ngày nay có tổ đình là Tòa Thánh Chơn Lý năm ở ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, Thành phố Mỹ Tho.
Kính mời Quí Đạo Tâm vào xem trang mạng của Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý: http://hoithanhcaodaichonly.org
Tổng thể của Tòa-Thánh Định-Tường _ Hội-Thánh Cao-Đài Chơn-Lý
(Tọa lạc ở số 193, Đường Nguyễn Trung Trực, Xã Mỹ Phong, Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang)
1. Từ cổng chánh vào, trước tiên là cột Phướn cao 12m. Vào các ngày Đại Lễ và Đàn Sóc Vọng, đây là nơi treo Lá Phướn dài 9m, dọc theo Lá Phướn có hàng chữ:
奉承玉敕以德化人仝歸於一
(PHỤNG THỪA NGỌC SẮC, DĨ ĐỨC HÓA NHƠN, ĐỒNG QUI Ư NHỨT)
2. Tiếp đến là Bát Quái Đài với tám cửa:
Bát quái này là bát quái Hậu Thiên theo thứ tự: Càn Khảm Cấn Chấn, Tốn Ly Khôn Đoài. Theo đó có bốn phương, tám hướng và ngũ hành đầy đủ với các màu sắc và ô số của Lạc Thơ.
2.1. Cửa LY離 hướng chánh Nam, có đặc điểm như sau:
Có cây vọng phong, lá vọng phong màu đỏ. (Hành hỏa, hướng Nam)
Dưới cây vọng phong có tấm bảng viết chữ LẬP HẠ 立夏
Số Lạc Thơ thì 9: 4 số trắng, 4 số đỏ, 1 số đen.
Hình Lạc Thơ (Ly trung hư): ba hào toàn màu đỏ.
Phía ngoài viết hai chữ BÍNH丙 - ĐINH丁 (chữ đỏ lót xanh).
Có ngọn đèn mặt kiếng đỏ day ra ngoài.
Bề trong viết chữ NGỌ 午 (chữ đỏ lót xanh).
2.2. Cửa TỐN巽 hướng Đông Nam, có đặc điểm như sau:
Có cây vọng phong, lá vọng phong trên màu xanh dưới màu dỏ.
Dưới cây vọng phong có tấm bảng viết chữ XUÂN PHÂN 春分
Số Lạc Thơ thì 4: 2 số xanh, 2 số đỏ.
Hình Lạc Thơ (Tốn hạ đoạn): hào giữa màu vàng, hai hào còn lại màu đỏ.
Bề trong viết hai chữ THÌN 辰 (chữ vàng lót đỏ) -- chữ TỴ巳 (chữ đỏ lót xanh).
2.3. Cửa CHẤN 震 hướng chánh Đông, có đặc điểm như sau:
Có cây vọng phong, lá vọng phong màu xanh.
Dưới cây vọng phong có tấm bảng viết chữ LẬP XUÂN 立春
Số Lạc Thơ thì 3: 2 số xanh, 1 số trắng ở giữa.
Hình Lạc Thơ (Chấn ngưỡng bồn): hào giữa màu xanh, hai hào còn lại màu đỏ.
Phía ngoài viết hai chữ GIÁP甲 - ẤT乙 (chữ màu xanh lót đen).
Có ngọn đèn mặt kiếng xanh day ra ngoài.
Bề trong viết chữ MẸO卯 (chữ xanh lót đen).
2.4. Cửa CẤN艮 hướng Đông Bắc, có đặc điểm như sau:
Có cây vọng phong, lá vọng phong trên màu đen, dưới màu xanh.
Dưới cây vọng phong có tấm bảng viết chữ ĐÔNG CHÍ冬至
Số Lạc Thơ thì 8: 4 số trắng, 4 số đen.
Hình Lạc Thơ (Cấn phúc quảng): hào giữa màu tím, hai hào còn lại màu đỏ.
Bề trong viết hai chữ SỬU 丑 (màu vàng lót đỏ) -- DẦN 寅 (màu xanh lót đen).
2.5. Cửa KHẢM 坎 hướng chánh Bắc, có đặc điểm như sau:
Có cây vọng phong, lá vọng phong màu đen.
Dưới cây vọng phong có tấm bảng viết chữ LẬP ĐÔNG 立冬
Số Lạc Thơ thì 1 số màu xanh.
Hình Lạc Thơ (Khảm trung mãn): hào giữa màu đen, hai hào còn lại màu đỏ.
Phía ngoài viết hai chữ NHÂM 壬 -- QUÝ 癸 (chữ đen lót trắng).
Có ngọn đèn mặt kiếng đen day ra ngoài.
Bề trong viết chữ TÝ 子 (chữ đen lót trắng).
2.6. Cửa CÀN 乾 hướng Tây Bắc, có đặc điểm như sau:
Có cây vọng phong, lá vọng phong trên màu trắng, dưới màu đen.
Dưới cây vọng phong có tấm bảng viết chữ THU PHÂN 秋分
Số Lạc Thơ thì 6 số màu đỏ.
Hình Lạc Thơ (Càn tam liên) : hào giữa màu trắng, hai hào còn lại màu đỏ.
Bề trong viết hai chữ TUẤT 戌 (màu vàng lót đỏ) -- HỢI 亥 (màu đen lót trắng).
2.7. Cửa ĐOÀI 兌 hướng chánh Tây, có đặc điểm như sau:
Có cây vọng phong, lá vọng phong màu trắng.
Dưới cây vọng phong có tấm bảng viết chữ LẬP THU 立秋
Số Lạc Thơ thì 7: 3 số màu đỏ, 3 số màu xanh, 1 số màu trắng ở giữa.
Hình Lạc Thơ (Đoài thượng khuyết): ba hào toàn màu vàng.
Phía ngoài viết hai chữ CANH 庚 -- TÂN 辛 (màu trắng lót vàng).
Có ngọn đèn mặt kiếng trắng day ra ngoài.
Bề trong viết chữ DẬU 酉 (chữ trắng lót vàng).
2.8. Cửa KHÔN 坤 hướng Tây Nam, có đặc điểm như sau:
Có cây vọng phong, lá vọng phong trên màu đỏ, dưới màu trắng.
Dưới cây vọng phong có tấm bảng viết chữ HẠ CHÍ 夏至
Số Lạc Thơ thì 2: 1 số màu đỏ, 1 số màu xanh.
Hình Lạc Thơ (Khôn lục đoạn): hào màu trắng ở giữa, hai hào còn lại màu đỏ.
Bề trong viết hai chữ MÙI未 (màu vàng lót đỏ) -- THÂN 申 (màu trắng lót vàng).
3. Tiếp sau Bát Quái Đài là Hiệp Thiên Đài. Hiệp Thiên Đài có tầng lầu bên trên thờ Đức Chưởng Giáo Thiên Tôn, tầng trệt ở dưới là nơi bố trí Lôi Âm Cổ (trống) và Bạch Ngọc Chung (chuông).
4. Nối tiếp Hiệp Thiên Đài là Cửu Trùng Đài. Cửu Trùng Đài là nơi hành Lễ của chín bậc tu tiến của tín đồ, chín phẩm tính từ thấp lên cao, gồm: Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Chánh Phối Sư, Ngũ Hành Thiên Sư, Tứ Bửu, Đầu Sư và trên hết là Chưởng Quản. Cửu Trùng Đài phân biệt ra hai bên: nam phái và nữ phái, còn chính giữa là đường Huỳnh Đạo. Về mặt hữu hình, đường Huỳnh Đạo là con đường thông suốt từ Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, lên đến Châu Thiên Đài.
5. Châu Thiên Đài là tượng trưng cho Bạch Ngọc Kinh tại thế. Trong Châu Thiên Đài, tại Thiên Bàn có thờ Thánh Tượng “Tâm Thần – Lẽ Thiệt”, ngay phía dưới có bốn Bài vị thờ Tứ Đại Thánh Nhơn: Phật Tổ Như Lai, Thái Thượng Đạo Quân, Khổng Thánh Văn Tuyên, Gia-Tô Giáo Chủ. Dưới nữa có mười lăm ngọn đèn Thiêng Liêng (gọi là “Thập Ngũ Linh Đăng”) được đặt trên giá đèn Ngũ cấp.
6. Tại Tòa Thánh còn một số Đền Thờ khác như Phổ Đà Cảnh (thờ Đức Diêu Trì Kim Mẫu), Đền Thờ Cửu Cung (thờ Đức Cửu Cung Phổ Hóa Nương Nương), Đền Thờ Tứ Thánh (thờ Tứ Đại Thánh Nhơn là: Phật Tổ Như Lai, Đạo Tổ Lão Quân, Khổng Thánh Văn Tuyên, Gia-Tô Giáo Chủ), …
Hiện tại, Tòa Thánh Cao Đài Chơn Lý đã trùng tu lại rất huy hoàng và trang nghiêm sau nhiều năm xuống cấp, theo nguồn của website Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý, Tòa Thánh vừa tái thiết dãy Đông Lang. Màu sắc chủ đạo của Tòa Thánh hiện nay là màu trắng, ngoài ra còn có các màu đỏ, vàng, xanh, đen, trắng, tím. (số liệu chiều cao, rộng dài của các công trình, ý nghĩa, màu sắc và các câu đối bên trong đại điện Châu Thiên, Phổ Đà Cảnh, Cửu Cung và Tứ Thánh xin phép được cập nhật và dân nguồn sau)