Chương 1: Thành Ca Tỳ La Vệ
THÀNH CA TỲ LA VỆ
(Kapilavatthu)
1. Khái lược kinh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) xưa và nay
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image002.jpg
Quanh cảnh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) ở Nepal (Ảnh: Tâm Bửu)
Vượt qua biên giới Nepal khoảng 70 km, chúng tôi đến vùng Tilaurakot nơi còn sót lại phế tích của kinh thành cổ xưa, Ca Tỳ La Vệ. Nhóm năm người chúng tôi tiến vào bên trong phía Tây cổng thành, tìm một bóng râm nơi khu vườn hoang sơ, có vài lối mòn nho nhỏ, dùng bữa cơm đạm bạc giữa đám quạ bay lượn qua lại kêu inh ỏi và những con chó hoang lạc loài ốm đói tìm kiếm thức ăn. Sau bữa ăn trưa, nhu cầu cần thiết nhất trong ngày, nhóm chúng tôi bắt đầu đi vòng quanh để tham quan và ghi lại một vài hình ảnh làm kỷ niệm.
Một nơi quen thuộc trong trí tưởng tượng của người con Phật mà khi nghĩ đến chúng ta cảm thấy bồi hồi xúc động, nôn nao khó tả, đó chính là kinh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), một kinh thành trù phú, xa hoa tráng lệ, nơi mà đông cung thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhāttha) sinh ra và lớn lên trong nhung gấm lụa là, trong tình yêu thương tuyệt đối của hoàng thân quốc thích, tràn ngập niềm hạnh phúc với vợ đẹp con xinh, sự kính trọng nể vì của toàn bộ tộc Thích Ca (Sakyā), sự hy vọng và ngưỡng mộ của toàn dân kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Để rồi, từ những thái cực của cuộc đời, nghèo giàu, khổ đau và hạnh phúc, sự sống mong manh, cái chết vô thường.... đã dẫn đến cuộc ra đi vĩ đại, cuộc ra đi vô tiền khoáng hậu, cuộc ra đi làm nên trang sử vàng, chính là sự có mặt của một đạo Phật cứu khổ ban vui, vì lợi ích cho vạn loại hữu tình trên hành tinh này.
Một kinh thành chứa đầy kỷ niệm, một kinh thành không thể tách rời Phật giáo, một kinh thành không chỉ là quê hương đức Phật mà còn là quê hương của người con Phật, quê hương của tất cả chúng ta. Càng hình dung trong trí tưởng tượng cho sự huy hoàng tráng lệ của một kinh thành cổ xưa thì chúng ta càng xót xa, buồn thảm và thất vọng, khi một lần dừng chân nơi ấy! Giờ đây, trước mắt chúng ta chỉ là một phế tích, nơi mà trải qua hàng bao thế kỷ đi vào quên lãng: những bức tường dài ngang dọc đổ nát rêu phong, những bụi cây hoang dại mọc um tùm, bao hầm hố gò nổng trên một lối đi mà không một bàn tay chăm sóc.... Ôi! thật ảm đạm buồn tênh trên quê hương Phật giáo, một nơi lịch sử huy hoàng, có sức ảnh hưởng khắp đông tây tưởng chừng như một huyền thoại, đã sản sinh ra một học thuyết vững vàng và có giá trị thực tiễn trong mỗi thời đại, lại suy tàn gần như là mất gốc. Phía Tây chỉ còn sót lại nền gạch cũ cùng với tấm bản xác định vị trí của các nhà khảo cổ. Đối mặt sau của cổng thành phía Tây khoảng hơn một cây số là cửa thành Đông, nơi mà nửa đêm rạng ngày mùng 8 tháng 2 âl, thái tử Sĩ Đạt Ta đã âm thầm rời bỏ kinh thành đi tìm đạo giải thoát. Bên ngoài cổng thành Đông là cánh đồng phì nhiêu, mọi người cùng với trâu bò làm việc trong nắng ấm thanh bình của mùa xuân. Xa xa cách cổng thành Đông khoảng 200 m, có một cái tháp nhỏ, được tương truyền rằng, nơi đó chính là chỗ mà con tuấn mã Kiền Trắc đã đứng và chết tại đó sau khi từ giã thái tử trở về lại kinh thành.
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image004.jpg
Cổng thành phía Đông (Ảnh: Tâm Bửu)
Ngài Pháp Hiển đến chiêm bái thành Ca Tỳ La Vệ vào năm 403 sau Tây lịch, đã nhìn thấy toàn vùng này là một rừng hoang cỏ dại, dân cư thưa thớt, và những di tích phế tàn. Một vài tu sĩ khổ hạnh tu tập tại đây và độ 30 gia đình dân chúng đang sinh sống. Ngài đến hỏi thăm các vị tu sĩ về thánh tích này, các vị ấy cho biết toàn vùng này chính là thành Ca Tỳ La Vệ thời xưa, và họ cố ở lại đây để giữ gìn Thánh tích này, nhưng không đủ phương tiện phục hưng, đành phải chịu thua, ngắm nhìn nó dưới sự tàn phá của thời gian.
Vào năm 636, Ngài Huyền Trang cũng đến thăm viếng ngôi thành cổ này và diễn tả một cách chi tiết. Ngài viết: "Thành Ca Tỳ La Vệ kiến trúc theo lối cổ kính, xây dựng toàn bằng gạch đá quí, bức tường thành vẫn còn, và kiến tạo rất kiên cố. Hiện tại chỉ còn 634 phố, nhà lơ thơ và một ít dân chúng đang sống ở đó. Chung quanh có độ 100 tịnh xá bị hư hỏng. Gần chỗ này có một ngôi tịnh xá vĩ đại, 30 tu sĩ tiểu thừa và hai ngôi đền của Ba La Môn giáo".
Hiện nay, chúng ta không thấy những gì giống như sự mô tả của quí Ngài, nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, chính kinh thành này là quê hương của Phật, là nơi mà Phật giáo ngự trị một cách tuyệt đối, thì sự có mặt của những tu viện cũng như tu sĩ thường lui tới tu hành là lẽ đương nhiên.
Căn cứ vào tài liệu khảo cổ, Ca Tỳ La Vệ có hai thành cũ và mới. Hiện nay thành cũ thuộc thị trấn Tilaurakot ở Nepal, cách Lâm Tỳ Ni (Lumbinī) khoảng 30 km đường vòng tráng nhựa, khoảng 15 – 20 km đường chim bay. Thành mới thuộc Ấn Độ cách Lâm Tỳ Ni khoảng 30 km, nơi được xây dựng sau khi vua Tỳ Lưu Ly (ViDūDabha) tàn phá Ca Tỳ La Vệ ở Nepal và giết hại dân chúng bộ tộc Thích Ca.
Giờ đây, chúng ta cùng tham quan thêm một số phế tích còn sót lại trong khuôn viên Ca Tỳ La Vệ được xem là tối quan trọng đối với Phật giáo như: ngôi mộ của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da; vườn Nigrodha thuộc làng Kudan; Sagarhava, nơi mà dòng tộc Thích Ca bị vua Tỳ Lưu Ly sát hại....
2. Ngôi mộ của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Māyā)
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image006.jpg
Hai ngôi mộ của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Māyā) (Ảnh: Tâm Bửu)
Từ cửa thành Đông, lần theo lối mòn hướng về phương Bắc khoảng 2 cây số chúng ta thấy có hai nền gạch một lớn một nhỏ nằm trong khu đất trũng dưới mặt đường khoảng 3m. Chúng ta không thể ngờ rằng, hai ngôi mộ được cho là của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Māyā) vẫn còn nguyên vẹn cho đến ngày nay, mặc dù điều này vẫn đang được nghiên cứu chứng minh về sự thật. Người dân cho biết rằng, ngôi mộ lớn là của Vua Tịnh Phạn và ngôi mộ nhỏ là của hoàng hậu Ma Da.
3. Làng Kudan
Cách Tilaurakot khoảng 1 km về hướng Tây Nam là vườn cây Nigrodha thuộc làng Kudan, nơi vua Tịnh Phạn hội ngộ với Đức Phật sau 13 năm trời xa cách với biết bao thương nhớ và hy vọng mà phụ hoàng đã dành cho thái tử. Vì vậy, đức vua đã yêu cầu Phật, sau này bất cứ ai muốn trở thành sa môn thì phải được sự chấp thuận của cha mẹ, nếu họ còn sống. Đức Phật chấp nhận lời đề nghị của vua cha. Tại nơi đây, vua Tịnh Phạn đã sắc lệnh cho xây dựng ngôi tịnh xá tên là Nigrodhamma, làm nơi tu hành của đức Phật và cháu đích tôn Ra Hầu La (Rāhula) khi trở về thăm bổn quốc . Tại ngôi tịnh xá này, Đức Phật đã trải qua mùa an cư thứ 15 và thuyết một số bài kinh tiêu biểu như: Tiểu Kinh Khổ Uẩn (số 14), kinh Mật Hoàn (số 18) … thuộc Trung Bộ kinh.
4. Sagarhavā, nơi dòng họ Thích Ca bị thảm sát
Cuộc thảm sát đẫm máu bạo tàn dòng họ Thích Ca (Sakyā) bởi lòng hiềm thù mê muội của vua Tỳ Lưu Ly (Vidūdabha), được ghi lại một cách chi tiết trong kinh Tăng Nhất A Hàm. Từ Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) đi về hướng Tây Bắc 10 km chúng ta sẽ đến một khu làng dân cư thưa thớt, nằm giữa khu làng là một cái bể hình chữ nhật dài 500m tên Lambu Sagar. Nơi này đã được ghi nhận là nơi xảy ra cuộc thảm sát do vua Tỳ Lưu Ly, người kế thừa vương vị của vua Ba Tư Nặc (Pasenadi), nước Kiều Tát La (Kosala), đã tàn sát dòng họ Thích Ca. Nơi đây người ta tìm thấy 17 ngọn tháp cổ và một vài di tích cổ còn sót lại. Những tảng đá mang hình hoa sen nở và các vũ khí thời xưa. Trong một ngôi tháp người ta phát hiện một cái rương bằng đất nung đựng xương xá lợi, vàng bạc, đá quý và nhiều đồ trang sức.
Nguyên nhân của cuộc thảm sát này, bắt nguồn từ dòng họ Thích Ca những người đã miệt thị thái tử Tỳ Lưu Ly, con của vua Ba Tư Nặc. Khi vua Ba Tư Nặc gởi một sứ thần sang Ca Tỳ La Vệ để tìm bang giao với dòng họ Thích qua một cuộc hôn nhân, dòng họ Thích cho rằng nhà vua không phải thuộc người trong tộc nên đã gả cho nhà vua một đứa con gái tên là Vasabha Khattiya con của người thị nữ lai huyết thống của hai giai cấp giữa Sát Đế Lợi và Chiên Đà La đồng thời kèm theo của hồi môn rộng rãi. Vua Ba Tư Nặc đã phong bà làm hoàng hậu và phong con bà Tỳ Lưu Ly làm thái tử. Năm lên bảy tuổi, có một lần Tỳ Lưu Ly bị mặc cảm vì không được nhận quà từ bà ngoại trong khi các công tử khác đều có. Năm 16 tuổi hoàng tử thiếu niên Tỳ Lưu Ly về lại Ca Tỳ La Vệ thăm cậu để học hỏi với các hoàng tử họ Thích. Khi đến phía Nam của hoàng thành, chàng thấy một giảng đường rất mới, nên cho xe dừng lại để ngắm nhìn. Những người dòng họ Thích biết thế nên đã đuổi chàng bằng những lời đầy khinh thị: “Vô lễ kẻ hạ tiện kia! dám choáng chỗ của người dòng họ Thích, nơi để đón rước Đức Phật”. Vì bị sỉ nhục và biết rằng cha mình bị dòng họ Thích Ca lường gạt nên Tỳ Lưu Ly nuôi mối hận này và quyết lòng san bằng kinh thành Ca Tỳ La Vệ để rửa hận. Vì vậy, khi nhiếp chính thay vua Ba Tư Nặc, Tỳ Lưu Ly mang đoàn quân thiện chiến sát phạt toàn bộ dòng tộc Thích Ca.
Hồ này là di chứng của một dòng sông đẫm máu của bộ tộc Thích Ca thời xa xưa, nó đã chứa đựng biết bao vong hồn oan nghiệt, những tiếng kêu thảm thiết của những người vô tội. Và trong kinh chép lại rằng, cũng ngay trong đêm ấy, đoàn quân thiện chiến của vua Tỳ Lưu Ly cũng bị nước lũ cuốn trôi. Thật đúng câu “ác giả ác báo”. Nói đến đây tôi bỗng dưng nhớ đến câu nói của Hoà thượng Huyền Diệu, có biệt danh Người Làm Vườn, được khắc tại Việt Nam Phật Quốc Tự ở Lâm Tỳ Ni: “Nếu anh thật sự là một con người, không làm được điều gì lợi ích cho chúng sanh, thì anh cũng đừng làm đau khổ chúng sanh”.
5. Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) ở Ấn Độ
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image008.jpg
Thành Ca Tỳ La Vệ mới - Ấn Độ (Ảnh: Tâm Bửu)
Cách Lâm Tỳ Ni (Lumbinī) 25 km về phía Ấn Độ, địa phận Piprahwa, có một kinh thành của dòng họ Thích Ca. Người ta cho rằng, Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) này được xây dựng là do nhóm người Thích Ca sống sót di dời đến nơi này và lập nên một kinh thành Ca Tỳ La Vệ mới. Thành Ca Tỳ La Vệ tại Ấn Độ thuộc bang Uttar Pradesh cũng hoang tàn đổ nát không khác chi thành Ca Tỳ La Vệ ở Nepal.
Vào 8 giờ sáng chúng tôi đã đến nơi được xác định là thành Ca Tỳ La Vệ mới, nằm cách mặt lộ chính khoảng 100 m và cách biên giới khoảng hơn 30 km. Vì trời còn sớm nên sương mù vẫn còn lãng đãng bay và đọng đầy trên các ngọn cỏ. Cư dân quanh vùng thưa thớt, vài xóm nhà nghèo lác đác hai bên đường. Đây cũng chính là nét đặc trưng phản ảnh cuộc sống thôn quê hầu hết trên đất Ấn.
Đối diện với cổng chính khoảng 100 m, là nền tháp chính, chu vi khoảng 80 mét vuông, cũng chỉ là những nền gạch cũ rêu phong, vẫn còn ướt đẫm sương buổi sớm. Trong tháp chính này, người ta đã khai quật được xương xá lợi của Phật và chư tăng dòng họ Thích Ca. Dọc theo lối vào, phía bên tay phải, có một bờ tường chạy dài từ cổng chính đến nền tháp cao khoảng 2,5 m là khu tự viện được xây dựng bao bọc quanh tháp chính. Phía sau tháp chính khoảng 150 m hướng về phía Tây, gần khu vườn xoài của người dân, cũng có một nền gạch tu viện cũ, hình vuông, tường thành rất dày và có những nấc thang đi vào bên trong. Cảnh trí nơi Ca Tỳ La Vệ mới này cũng được chăm sóc khá chu đáo. Cỏ thảm được trồng gần như khắp khuôn viên, một vài khóm hoa đang nở vào dịp xuân, khí trời còn se sắt lạnh. Trong khuôn viên có ao nước khá to được người ta trồng hoa súng, trông ngây thơ và hiền lành giữa một bầu thiên nhiên êm ả mà thỉnh thoảng mới có bước chân người lui tới.
Sau một giờ tham quan và quay phim ghi hình lưu niệm, đoàn chúng tôi lên xe tiếp tục cuộc hành trình vượt biên giới Ấn Độ đến thánh địa Lâm Tỳ Ni thuộc địa phận Nepal.
Thích Phước Tiến
Chương 3: Bồ Đề Đạo Tràng
BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG
(Bodhgaya)
1. Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) khởi nguyên đạo Phật
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image002.jpg
Quang cảnh xung quanh tháp Đại Giác (Ảnh: Tâm Bửu)
Bồ đề đạo tràng được xem là khu thánh địa thiêng liêng bậc nhất trong các thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ và được sự quan tâm với lòng kính trọng đặc biệt đối với Phật tử và các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới. Bồ Đề Đạo Tràng nằm ở phía Nam thành Gaya, nước Ma Kiệt Đà (Magadha) thời Ấn Độ cổ đại, nay là vùng ngoại ô BodhGaya, cách thành phố Gaya khoảng 7 km về phía Nam bang Bihar, cạnh dòng sông Ni Liên Thiền (Niranjara).
Vào thế kỷ thứ VI trước kỷ nguyên tây lịch, chính nơi đây đã xảy ra sự kiện trọng đại và chỉ xảy ra một lần duy nhất trong Hiền Kiếp đó là sự giác ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Bồ Tát Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Siddhāttha) dòng họ Thích Ca (Sakyā), dưới cội cây Pippala, hay còn được gọi là cây Bồ Đề. Và từ một sự kiện trọng đại nhất mà trải qua nhiều đại kiếp mới xuất hiện trên thế gian, quý giá gấp trăm ngàn lần so với loài hoa linh thoại ngàn năm trổ hoa một lần, đó là người con Phật chúng ta có được diễm phúc tôn thờ đấng đại giác Thích Ca Mâu Ni nói riêng hay nhân loại thừa hưởng được một chân lý tuyệt vời, một niềm phúc lạc vô biên ngay tại cõi đời này nói chung.
Giá trị nhất trong khu thánh địa này chính là ngôi Đại Tháp và cội cây Bồ Đề thiêng, nơi đức Phật thành đạo vẫn còn tồn tại mãi theo dòng chảy thời gian. Cho dù cuộc đời có đổi thay bao lần, sự cố tình tàn phá của những kẻ đối nghịch, sự biến thiên thăng trầm trong vũ trụ, thì những gì liên quan đến cuộc đời đức Phật vẫn còn lý do để tồn tại, để được biết đến như một báu vật trong tiến trình phát triển văn minh và văn hoá nhân loại. Vì lẽ đó, vào ngày 27 - 6 - 2003, UNESCO, một tổ chức văn hoá, xã hội, giáo dục của liên hiệp quốc chính thức công nhận Bồ Đề Đạo Tràng trong danh sách di tích văn hoá thế giới. Mặc dù đó cũng là niềm vinh dự lớn lao nhưng không là vấn đề quan trọng mà quan trọng nhất là chân giá trị Phật giáo, đạo Phật đã đóng góp được gì cho thế giới cho nền văn minh nhân loại, cho hạnh phúc của con người thì sự công nhận muộn màng đó có nghĩa lý gì đối với bề dày lịch sử của Phật giáo chúng ta!
Hiện nay, khu Bồ Đề Đạo Tràng có diện tích khoảng 3 hecta đất, bao gồm nhiều thánh tích quan trọng như tháp Đại Giác, cội Bồ Đề, Bảo Toà Kim Cang, bảy nơi đức Phật ngự sau khi thành đạo, quần thể tháp cổ..... Và dường như Bồ Đề Đạo Tràng khu là thánh tích còn nguyên vẹn nhất so với tất cả những thánh tích khác liên quan đến Phật giáo.
2. Tháp Đại Giác
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image004.jpg
Mặt chính tháp Đại Giác (Ảnh: Tâm Bửu)
Đại Tháp hay còn gọi là Tháp Đại Giác (Mahabodhi) nằm giữa khu đất trũng thấp hơn so với mặt đường khoảng 10m. Tuy vậy, từ xa chúng ta vẫn thấy ngọn tháp cao sừng sững, vươn lên khỏi các ngọn cây cổ thụ. Cho nên nếu nền tháp ngang bằng mặt đường thì chiều cao của tháp còn cao hơn nhiều so với chiều cao hiện tại. Với sự trũng xuống tại ngọn Tháp Chính (Main Stupa) người ta mới nói lên được ý nghĩa giác ngộ của Phật tại cõi đời này như hoa sen trong bùn hôi tanh mà vẫn ngoi lên khỏi mặt nước những đoá sen tinh khiết, thơm tho làm đẹp cuộc đời cả hương và sắc.Theo các nguồn tài liệu sử học, Bảo Tháp được vua A Dục xây dựng vào khoảng hơn 2 thế kỷ sau khi Phật nhập Niết Bàn, tức khoảng thế kỷ thứ III trước Tây Lịch để tưởng niệm nơi Thành Đạo của Phật Thích Ca. Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về lịch sử của ngôi Bảo Tháp này. Theo lịch sử Phật giáo thì khoảng 218 năm sau ngày đức Phật nhập diệt, vua A Dục đã đến đây chiêm bái và đảnh lễ. Sau đó Ông đã cho xây tháp để tưởng niệm nơi Đức Thế Tôn thành đạo.
Căn cứ theo niên đại của những đồng tiền vàng trong số những di vật được chôn trước Kim Cang Tòa, chúng ta được biết ngôi đại tháp ngày này được xây dựng lại vào thế kỷ thứ II sau Tây Lịch, được tái tạo ngay trên nền tháp cũ do vua A Dục xây dựng và đặc biệt là ngôi tháp lẫn Kim Cang Tòa và cây Bồ Đề vẫn giữ nguyên vị trí cũ không thay đổi. Tháp này được quốc vương Bengal cho trùng tu vào thế kỷ VII, nhưng đến thế kỷ XII lại bị quân Hồi giáo phá hủy. Mãi đến thế kỷ XIV, các vương triều của xứ Miến Điện cho trùng tu lại, nhưng sau đó thì thiên tai, lũ lụt đã nhận chìm và kể từ đó khu thánh tích này bị chìm vào quên lãng. Vào năm 1861 ngôi đại tháp được nhà khảo cổ người Anh tên Alexander Cunningham phát hiện và đã tu sửa một lần. Đến năm 1875 vua Mindoon Min đã chịu toàn bộ kinh phí tiếp tục cho việc trùng tu đại tháp này. Hiện nay ngôi đại tháp có kiến trúc tương tợ hình kim tự tháp, vuông bốn cạnh và nhọn dần lên đỉnh, mỗi cạnh tại chân tháp có độ dài khoảng 15m, chiều cao là 52m. Bốn gốc đại tháp có bốn ngọn tháp nhỏ, kiểu dáng thu gọn từ đại tháp. Xung quanh thân tháp có nhiều hoa văn và mỗi hốc tường từ chân tháp lên đỉnh đều có tôn trí tượng đức Bổn Sư và chư vị Bồ Tát, đặc biệt là hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm theo truyền thống Kim Cang Thừa Tây Tạng.
Tháp có nhiều tầng, riêng tầng trệt chu vi khoảng 5 mét vuông, phía trước chỉ có duy nhất một cửa ra vào, xung quanh không có cửa sổ hay lỗ thoát khí, tường thành rất dày gần một mét. Bên trong có tượng Bổn Sư ngồi kiết già trang nghiêm với tư thế xúc địa ấn, mặt quay về phía cửa ra vào. Hàng ngày có hàng ngàn người từ khắp nơi trên thế giới trở về thăm viếng, đảnh lễ và cúng dường. Ngoài sự cúng dường tài vật hoa quả, những người Phật tử thuần tín còn cúng dường những bộ kim y để đắp lên tượng Phật. Vì nội điện chật hẹp lại có quá nhiều người chờ đợi nên ít khi nào chúng ta được ngồi lâu làm lễ tưởng niệm và ngắm nhìn chân dung của Phật. Từ bên trong cho đến bên ngoài khu đại tháp lúc nào cũng có những đoàn thể hoặc cá nhân tham quan, tụng kinh, lễ bái, tọa thiền hoặc đi kinh hành xung quanh đại tháp và cây Bồ Đề trong không khí trầm ấm, thanh tịnh, thiêng liêng với lời kinh nguyện cầu, tiếng lâm râm tụng chú ... mà không bị loãng bởi bất cứ một tạp âm nào. Một điều kỳ diệu đối với bất cứ ai được một lần dừng chân nơi đây, hoặc lễ bái, hoặc tụng kinh hoặc kinh hành, hoặc khởi lòng chánh tín đối với đức Phật chúng ta đều có chung một cảm giác an lành, một niềm hoan hỷ trào dâng, đó chính là sự gia trì của đức Phật cho hàng đệ tử của Ngài hay bất cứ những ai có một chút nghĩ tưởng đến ân đức của Phật.
Vì vậy trong kinh Pháp Hoa đức Phật đã thọ ký cho mọi người có duyên với Ngài sẽ thành Phật cho dù đó là đứa trẻ ngịch cát hay những người lòng tán loạn cũng biết nghĩ tưởng đến Ngài: “ Nhược nhơn tán loạn tâm, nhập ư tháp miếu trung, nhất xưng nam mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo. Du chí đồng tử hí, tụ sa vi Phật Tháp, giai dĩ thành Phật đạo”. Nghĩa là: Nếu người lòng tán loạn, vào trong tháp miếu thờ Phật, chỉ cần xướng lên một câu niệm Phật, (họ) đều đã (có nhân tố) thành Phật. Cho đến trẻ con đùa giỡn, gom cát xây tháp Phật, đều đã (có nhân tố) thành Phật.
Một dịp may hiếm có đối với chúng tôi chính là đến Bồ Đề Đạo Tràng vào dịp chư tăng ở các nước Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan.... trở về đây tụng đọc tam tạng thánh điển trong mười ngày, kể từ ngày 12/02 – 23/02/2008. Chính vì điều này nên Bồ Đề Đạo Tràng đã đẹp lại càng thêm rực rỡ bởi đèn trang trí khắp nơi, hoa kiểng được trưng bày thật trang nhã từ góc tường cho đến những nơi thờ cúng trong thánh tích, trông thật tuyệt vời và hoành tráng. Nhất là về đêm nơi Bồ Đề Đạo Tràng càng thêm lộng lẫy, thiền vị gây cho con người một niềm say mê, yêu thích, trút được bao nỗi niềm sầu muộn, khổ đau, dứt tất cả ưu tư và hoài nghi khi một lần được đảnh lễ hay ngắm nhìn kim thân của đấng cha lành, một trong những đấng cứu thế có mặt sớm nhất trong lịch sử tôn giáo thế giới.
3. Linh thọ Bồ Đề
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image006.jpg
Linh Thọ Bồ Đề phía sau tháp Đại Giác (Ảnh: Tâm Bửu)
Chúng ta được biết đức Phật thành đạo dưới cội cây Pippala, loại cây linh thiêng trong tín ngưỡng truyền thống Ấn Độ bởi họ tin tưởng rằng loài cây này có nhiều thần linh trú ngụ. Vì đức Phật giác ngộ dưới cội cây Pippala nên chúng ta lấy sự kiện đó đặt tên cho loài cây này là Bồ Đề, nghĩa là cây giác ngộ. Chính tại dưới gốc cây này, đức Phật đã phát lời thệ nguyện: “Nếu không đạt thành chánh giác, dù cho thịt nát xương tan, ta quyết không đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi này”.
Hình dáng của loại cây này rất dễ nhận diện nhờ vào chiếc lá hình quả tim. Loài cây này rất phổ biến, chúng ta đi khắp nơi trên đất Ấn chỗ nào cũng thấy bóng dáng của nó. Ngày nay loại cây này không còn lạ gì trong mắt người Việt Nam, nhất là người Phật tử, cây Bồ Đề luôn ẩn hiện trong lòng một cảm giác thiêng liêng, không phải bị ảnh hưởng bởi tín ngưỡng Ấn Độ mà vì nó liên quan đến từ ngữ đặc trưng trong Phật giáo: Bồ Đề - Giác Ngộ. Mặc dù vậy nhưng không có một cây Bồ Đề nào trên đất Ấn hay trên mọi miền thế giới có giá trị từ tâm linh đến lịch sử như linh thọ Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng, vì nó chính là hậu thân nhiều đời từ cây thủy tổ, cây đã từng che mưa đỡ nắng trong suốt bốn mươi chín ngày đêm trước khi đức Phật giác ngộ.
Cội cây Bồ Đề này cũng chịu đựng biết bao sóng gió để tồn tại, như chính con người chúng ta cũng phải chống chọi với biết bao gian khổ để tìm sự sống cho mình. Dù là một loài cây nhưng phải hội đủ những yếu tố cần thiết mà trong đó không thể thiếu được tình cảm của con người dành cho nó. Nếu không có bàn tay yêu thương chăm sóc của con người thì làm gì có cây Bồ Đề hôm nay để có một giá trị tín ngưỡng thiêng liêng và sức lôi cuốn mãnh liệt đối với người con Phật hay hàng triệu người từ khắp nơi trên thế giới đổ xô về Bồ Đề Đạo Tràng để chiêm ngưỡng cội cây đặc biệt này.
Để thấy được tầm quan trọng của cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về lịch sử cây Bồ Đề này.
Cội Bồ Đề cách nay hơn 2500 năm che mưa nắng cho đức Thế Tôn ngày nào không còn nữa. Giờ đây chỉ là cây kế thừa ít nhất là 5 đời được tính từ cây thủy tổ theo tài liệu của tiến sĩ Schumann và khoảng 7 - 11 đời theo một số tài liệu nghiên cứu khác. Do đó có nhiều giả thuyết khác nhau về lịch sử cây Bồ Đề, nhưng chúng ta biết chắc chắn một điều là cội cây này vẫn là cháu chắt nhiều đời từ thủy tổ của nó. Cây Bồ Đề nguyên thủy vẫn còn sống đến thời của vua A Dục (Asoka) và được nhà vua xây rào bảo vệ. Bên cạnh đó Ông đã nhân rộng cây quý này bằng cách chiếc nhánh của nó gửi tặng cho vua Tích Lan (Devanampiya Tissa), trồng tại thành phố cổ Anuradhapura vào năm 242 trước kỷ nguyên Tây lịch.
Vua A Dục chăm sóc cây Bồ Đề này rất cẩn thận. Hàng ngày vua đến thăm cây Bồ Đề với cả lòng ưu ái và kính trọng xem như một báu vật quốc gia vì quá sùng kính đức Thế Tôn. Do lòng ghen tỵ, quý phi diễm lệ của A Dục tên là Tisyaraksita, đã hạ lệnh lén chặt cây Bồ Đề và thiêu hủy nó, bởi bà tưởng rằng trong cây ấy có loại tiên nữ nào đã làm mê muội nhà vua mà Ông phải dành nhiều thời giờ quan tâm đến cây ấy hơn bà.
Vua A Dục đã trồng lại cây Bồ Đề từ nhánh cây được chiết ở Tích Lan đem về. Lần này nhà vua chăm sóc cây rất cẩn thận, Ông cho xây bức tường thành cao 3m để bảo vệ.
Việc phá hủy cây Bồ Đề lần hai do vua Sasanka xứ Ganda (Bengal), trị vì khoảng năm 600 – 620, vì lý do tôn giáo. Vua Sasanka theo ngoại đạo nên không thích Phật giáo. Ông đã truyền lệnh đốn cây thiêng này đồng thời đem đốt toàn bộ gốc rễ làm cho tuyệt giống cây này.
Đến cuối thế kỷ VIII vua Purnaverma của Maghada, người nối dõi cuối cùng dòng vua Asoka, Ông đã trồng lại cội Bồ Đề. Vua thành khẩn cầu nguyện và chăm sóc cây Bồ Đề cẩn thận, mong nó được tốt tươi và phát triển nhanh. Ngoài ra, Ông còn cho xây bức tường cao khoảng 7,5m để bảo vệ, tránh đi sự phá hủy của kẻ xấu.
Sự phát triển và tươi tốt của cội cây thiêng này đến khi quân đội Hồi giáo xâm chiếm Ấn Độ vào năm 1201 thì bị phá huỷ. Chính vì chiến tranh tôn giáo của kẻ cuồng tín và cực đoan trong nhận thức, nên họ đã phá hủy toàn bộ thánh tích Phật giáo, trong đó ngôi Đại Tháp và cây Bồ Đề cũng chịu chung số phận hoại diệt dưới tay của kẻ xâm lăng bạo tàn. Mặc dù vậy, chân lý vô thường sinh diệt của đạo Phật đã được minh chứng qua sự kiện hồi sinh của cây Bồ Đề. Ngay nơi gốc cây đã bị tàn phá, một chồi non đã nhú lên và phát triển nhanh chóng, cành lá sum suê, như báo hiệu một niềm hạnh phúc đã trở về trên quê hương Phật giáo. Nạn kiếp trôi qua, vạn vật cũng như con người trở lại sống trong chuỗi ngày thanh bình, như chính thuở nào họ đã thừa hưởng được cuộc sống hạnh phúc, an lành trong ánh đạo từ bi của Phật giáo.
Đến năm 1875, cây Bồ Đề bị khô chết và trong một cơn bão sau đó, cội Bồ Đề đã bị cuốn phăng đi, kết thúc một giai đoạn cho sự tồn tại và phát triển của cây này. Về sau cũng chính nơi đó chồi non lại tiếp tục nảy nở và phát triển, sự sống vẫn được liên tục kế thừa từ mạch sống của cây Bồ Đề tổ tiên. Cội Bồ Đề này đã lớn lên và phát triển đến ngày nay, được tính trên 130 tuổi, cách tháp chính khoảng 5m. Mặc dù trải qua nhiều lần sinh diệt, nhưng vị trí ngày hôm nay so với gốc cây ban đầu vẫn không có sự thay đổi chuyển dịch, vẫn định vị như gốc cây nguyên thủy mà hơn 2500 năm về trước nơi mà nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta đã giác ngộ thành Phật.
Theo định nghĩa thực vật học, cây Bồ Đề là "ficus religiosa" nghĩa là biểu tượng cho trí tuệ và sự giác ngộ của Đức Phật, nên gọi là "cây giác ngộ," hoặc thường được gọi là "cây Bồ Đề." Thực ra, các nhà thực vật học xác tính tuổi thọ của loại cây này chỉ trên dưới 300 năm. Do đó, nếu không có sự hủy hoại của những thế lực ngoại đạo hay lòng hiềm thù cá nhân của một ai đó thì tự thân của loại cây này cũng phải tự diệt tự sinh theo một quy luật của nó mà thôi. Cần biết thêm một điều, cây Bồ Đề là cây có khả năng ký sinh, nghĩa là có thể sống và phát triển trên một hốc cây mục nào đó, hoặc ngay nơi thân cũ của nó. Hầu như quá trình kéo dài hàng ngàn năm cho sự tồn tại và phát triển, thì các chồi non của chính nó, sẽ lấy dưỡng chất từ thân cây mẹ nuôi dưỡng cây mới và cây cũ sẽ chết trong một hình thái bị bao bọc và che kín dần của cây mới tức cây con của nó. Đó là quy trình sống của loài cây đặc biệt này, loài cây có khả năng sống mãnh liệt và dễ thích nghi dù bất cứ môi trường khắc nghiệt nào. Nơi nào có sự sống thì nơi đó cây Bồ Đề có khả năng tồn tại, cũng giống như nơi nào có chúng sanh nơi đó có mặt đạo Phật, nơi đó cần được cứu khổ.
4. Bảo Tòa Kim Cang (Vajrasana)
Bảo tòa Kim Cang là vị trí đức Phật ngồi nhập định 49 ngày đêm dưới cội cây Bồ Đề, khoảng cách nằm giữa Đại Tháp và cội Bồ Đề. Theo lịch sử Phật giáo thì tòa này được vua A Dục xây vào khoảng thế kỷ thứ III trước Tây Lịch. Ngày nay tòa Kim Cang được bảo vệ trong một hàng rào xi măng có lối kiến trúc cổ và thêm một hàng rào có trụ bằng kim loại mạ vàng do Tích Lan xây dựng bao quanh rất trang nghiêm.
Thật ra, ngày xưa đức Phật không phải ngồi tịnh tu trên một bảo tòa sang trọng và uy nghiêm như chúng ta được nhìn thấy từ các bức tượng mà Ngài ngồi trên một bó cỏ khô được trải trên đất. Vị trí này đã làm sáng ngời lên một chân lý từ một con người khổ hạnh vĩ đại trở thành một vị Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Sākyamuni), giống như lời huyền ký của quá khứ Phật Tỳ Bà Thi từ 91 kiếp về trước. Bằng sự nỗ lực thiền định trong 49 ngày đêm, vào đêm cuối, khoảng canh đầu, tuệ giác được sáng ngời lên trong tâm trí từ sự quán chiếu về lý duyên khởi, Ngài chứng được Túc Mạng Minh, thấy rõ luân hồi tái sanh của chính mình và chúng sinh từ vô lượng kiếp về trước đã từng sanh đi tử lại như thế nào, đã từng làm loại chúng sanh nào trong quá khứ... Sang canh giữa, Ngài chứng được Thiên Nhãn Minh, thấy rõ con đường tái sanh của chính mình và tất cả chúng sanh trong tương lai nên còn gọi là sanh tử minh. Đến canh cuối Ngài chứng được lậu tận minh, đoạn tận vô minh, chấm dứt mọi nhân tố tái sinh, thấy rõ khổ nguyên nhân đưa đến đau khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau. Khi sao mai vừa ló dạng, Ngài thấu triệt toàn thể vũ trụ, giác ngộ hoàn toàn, chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức thành Phật, đã khởi nguồn cho một đạo Phật xuất hiện trên thế gian. Bài kệ xướng lễ tóm tắt trọn vẹn sự kiện đặc biệt này trong bốn câu: “Bồ đề thọ hạ, hàng phục ma quân, nhất đổ minh tinh, đạo thành chánh giác”. Nghĩa là: dưới cội Bồ Đề, nhiếp phục ma quân, thấy ánh sao mai, giác ngộ thành Phật. Lúc đó vào ngày rằm tháng 12 âl, Ngài vừa tròn 30 tuổi theo Bắc Truyền và Nam Truyền vào ngày trăng tròn Vesak, tức khoảng rằm tháng tư âl, Ngài được 35 tuổi.
5. Bảy nơi đức Phật ngự sau khi thành đạo
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image008.jpg
Nơi Phật thiền hành vào tuần thứ ba sau khi giác ngộ
Xung quanh khu đại tháp có những tấm bảng xác định vị trí bảy nơi mà đức Phật đã ngồi để suy tưởng chánh pháp và chuẩn bị cho con đường hoằng pháp của mình.
Tuần đầu tiên sau khi giác ngộ, Ngài vẫn ngồi yên tịnh tại vị trí cũ để thọ hưởng sự tịch tịnh giải thoát mà Ngài đã khổ công tìm kiếm, chút nữa là phải bỏ mình để trả giá cho cuộc tìm cầu chân lý vĩ đại này.
Tuần thứ hai Ngài rời khỏi cội Bồ Đề di chuyển đến hướng Đông Bắc cách cội Bồ Đề không xa để ngắm nhìn lại nó suốt cả tuần không hề chớp mắt nhằm tỏ lòng tri ân cội cây này đã che mưa đỡ nắng cho Ngài suốt thời gian qua.
Tuần thứ ba, Ngài thiền hành tại dãy Chankramenar, dọc theo hành lang phía Bắc của đại tháp. Trên hành lang này có khối đá dài khắc biểu tượng hoa sen, chính là những đóa hoa kỳ diệu hiện ra đỡ chân đức Phật khi Ngài kinh hành lui tới trong phạm vi này.
Tuần thứ tư, tại đền Ratnagraha, đức Phật đã ngồi thiền để suy tưởng về những pháp cao thượng. Lúc đó toàn thân Ngài phóng ra những luồn hào quang năm màu rực rỡ: xanh, vàng, đỏ, trắng, cam. Từ sự kiện đặc biệt này, ông Henry Steel Olcott đã lấy năm màu này phối hợp cho lá cờ Phật giáo, trở thành màu đặc trưng tiêu biểu cho lá cờ Phật giáo quốc tế.
Tuần thứ năm, sau đó đức Phật đã đến ngồi dưới tàng cây Nigrodha. Ngày nay vị trí này đối diện với đại tháp gần cổng ra vào. Trong lúc đang ngồi thiền định có một vị Bà La Môn đến hỏi Phật: “Này tôn giả Cồ Đàm, làm thế nào để trở thành một Phạm thiên và những điều kiện nào để trở thành Phạm Thiên?”. Đức Phật đáp: “Này Bà La Môn, người nào đã xa lánh mọi điều xấu xa tội lỗi, không còn ngã mạn, đã thanh lọc mọi ô nhiễm, thu thúc lục căn, thông suốt các pháp học, sống đời phạm hạnh thiêng liêng, người ấy được coi là Phạm Thiên. Đối với người ấy không còn có sự bồng bột, dầu vẫn đang ở bất cứ nơi nào trên thế gian”.
Tuần thứ sáu đức Phật ngồi thiền tại bờ hồ Mucalinda thuộc hướng Nam của đại tháp. Lúc ấy mưa to sấm chớp nổi lên, rồng chúa Mucalinda hiện ra lấy thân quấn xung quanh thân Phật và dùng đầu làm tàng lọng che cho Phật khỏi bị mưa gió làm ướt.
Tuần thứ bảy, đức Phật ngồi thiền định dưới cội cây Rajayatana. Lúc đó có hai vị thương gia Tapussa và Bhallika người Miến Điện đi ngang qua thấy đức tướng trang nghiêm của Phật, hai vị này khởi tâm cung kính nên dâng bánh bột gạo và mật cúng dường Ngài. Đức Phật đã ban tặng cho hai vị thí chủ này những lời cầu chúc an lành cùng với một nhúm tóc của Ngài để làm kỷ niệm. Hai vị này được xem là hai vị cư sĩ đầu tiên cúng dường đức Phật sau ngày thành đạo.
Sau tuần thất thứ bảy này đức Thế Tôn tư duy về pháp mà Ngài vừa chứng ngộ, đồng thời quan sát căn tánh chúng sinh để chuẩn bị cho cuộc chuyển bánh xe chánh pháp, vì lợi lạc cho chư thiên và loài người.
Thích Phước Tiến
Chương 3: Bồ Đề Đạo Tràng (tt)
6. Sông Ni Liên Thiền (Niranjara)
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image010.jpg
Lòng sông Ni Liên Thiền (Niranjara) (Ảnh: Tâm Bửu)
Cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 200 m về hướng Đông có một con sông cạn chạy dài dọc theo hướng Đông Bắc - Tây Nam hiện nay được người dân địa phương gọi là sông Lilajan, tức là sông Ni Liên Thiền (Niranjara), nơi mà có vài sự kiện trọng đại liên quan đến cuộc đời của đức Thế Tôn được diễn ra trước khi đắc đạo. Trải qua sáu năm khổ hạnh tại rừng Uruvela, thân thể đã kiệt quệ chỉ còn da bọc xương nhưng Ngài vẫn chưa nhận ra được đạo giải thoát. Đức Phật đã diễn tả lại cảm giác của mình và cả sự thất vọng cũng như nghi ngờ trong đường lối tu khổ hạnh được nhắc đến trong kinh Trung Bộ: “Bất cứ Sa Môn, Bà La Môn nào từng có những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, khủng khiếp cũng không thể vượt qua khổ thọ này của ta. Tuy thế, với khổ hạnh vô cùng khắc nghiệt này, ta vẫn không đạt được tối thượng cứu cánh của nỗ lực trượng phu, đó là tri kiến thù thắng, trí tuệ của bậc thánh. Vậy có thể có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ hay chăng!?”
Sau khi sức cùng lực kiệt, không còn có thể đứng vững hay dời bước chân của mình được nữa, Ngài được nàng Su Dà Ta dâng cúng bát cháo sữa rất kịp lúc. Sau khi dùng bát cháo sữa xong, cảm thấy cơ thể khỏe mạnh trở lại, Ngài đã nhận ra đạo lộ của bậc thánh chính là con đường trung đạo và Ngài đến bờ sông Ni Liên Thiền ném bát sữa xống dòng nước với lời khấn nguyện rằng: “Nếu ta sẽ đạt được giác ngộ rốt ráo thì cái bát này hãy trôi ngược dòng sông”. Quả nhiên, khi cái bát vừa chạm mặt nước thì nó liền trôi ngược dòng. Lúc ấy Ngài khẳng định rằng con đường mình chọn là đúng đắn và quyết chắc rằng sẽ thành Phật. Ngài bước xuống dòng sông này tắm rửa sạch sẽ và vượt qua bên kia bờ tìm chỗ hạ thủ công phu theo con đường mà mình vừa nhận ra. Trên đường đến nơi quyết định chọn làm chỗ công phu bằng cả bầu nhiệt huyết cuối cùng, Ngài có nhận bó cỏ Kusa do chàng thanh niên chăn bò dâng cúng để làm tòa ngồi tu dưới cội cây Tất Bát La (Pippala), tức linh thọ tại Bồ Đề Đạo Tràng hôm nay. Cũng từ việc nhận bát cháo sữa của nàng Sujāta và tắm rửa, đức Phật đã bị năm người bạn đồng tu khổ hạnh xem thường và họ đã bỏ đi đến vườn Lộc Uyển xứ Ba La Nại tiếp tục con đường khổ hạnh, cách Khổ Hạnh Lâm (Uruvela) khoảng 200 km.
Trước mắt chúng ta dòng sông Ni Liên Thiền không có nhiều nước, lòng sông bằng phẳng, rất nhiều cát và độ sâu khoảng 5 tấc nước từ đáy sông. Vào những mùa khô dòng sông này có những đoạn không còn một chút nước nào. Và chúng ta có thể đoán chắc rằng, lòng sông này cạn không phải qua thời gian bị đất cát lắp bồi mà từ mấy nghìn năm về trước nó vẫn như thế, bởi vì đức Phật đã vượt bộ ngang con sông này để đến Bồ Đề Đạo Tràng.
Hiện nay, Chính phủ Ấn Độ bắt ngang sông này một cây cầu, nên chúng ta rất dễ dàng qua lại các khu thánh địa xung quanh vùng Bồ Đề Đạo Tràng. Từ trên cầu chúng ta có thể nhìn thấy được một số thánh tích như, chót tháp tại Bồ Đề Đạo Tràng, núi tượng đầu nơi đức Phật từng tu khổ hạnh.... và cuộc sống cũng như nếp sinh hoạt của toàn thể cư dân quanh vùng, đâu đó cũng phản ánh được thực tại của đời sống người dân nông thôn trên toàn lãnh thổ Ấn Độ.
7. Nơi kỷ niệm nàng Su Già Ta (Sujāta)
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image012.jpg
Nơi kỷ niệm mục nữ Su Già Ta (Sujāta) (Ảnh: Tâm Bửu)
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image014.jpg
Đoàn chúng tôi có ghé thăm một ngôi làng tên là Su Già Ta (Sujāta), cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 5km. Tại nơi này có một ngôi trường làng dành cho học sinh nghèo cũng tên là Su Già Ta thuộc đạo Hindu. Bên cạnh trường học có một ngôi mộ cổ bằng gạch nung rất lớn, đường kính khoảng 20m, cao khoảng 10m, được rào bảo vệ xung quanh, hình dáng giống như tháp Trà Tỳ của Phật, được các nhà khảo cổ khai quật vào năm 2002. Người ta cho rằng, ngôi mộ này là tháp tưởng niệm nàng Su Già Ta, do vua A Dục xây dựng trên ngôi nhà cũ của nàng. Từ địa điểm này, đi bộ ngang qua một cánh đồng nhỏ khoảng 1, 5 km, chúng tôi đến một ngôi đền nhỏ thờ nàng Su Già Ta, người thôn nữ năm xưa đã dâng bát sữa cúng dường đức Thế Tôn trước ngày thành đạo, một trong hai bữa ăn được đức Phật cho là công đức lớn nhất trong suốt cuộc đời hoằng hóa của Ngài. Ngôi đền này do Phật giáo Miến Điện xây dựng để tưởng niệm người thôn nữ ấy vào năm 1983. Bên trong, trên bệ thờ chỉ có hình tượng đức Phật và tượng người con gái đang quỳ dâng sữa cho đức Thế Tôn, đây là hình ảnh mà chúng ta được biết qua các tranh ảnh nghệ thuật Phật giáo ở Việt Nam. Chuyện được kể rằng: Tại ngôi làng nhỏ sát cạnh khu rừng có gia đình một anh chăn bò, cô vợ tên Tu Già Ta (Sujāta). Nàng rất sung sướng vừa mới sinh được cháu trai đầu lòng. Cô dùng sữa thơm ngon nhất vắt từ những con bò của anh chồng chuẩn bị nấu một bữa ăn thịnh soạn để mang vào rừng dâng cúng đền ơn cho những vị thần đã giúp cho cô sinh được một đứa con khỏe mạnh.
Khi vào trong rừng, cô thấy sa môn Tất Ðạt Ða đang ngồi ở đó. Thân hình của đạo sĩ trông ốm gầy và yếu đuối, nhưng nét mặt của Ngài vẫn trong sáng và dung nghi toát lên vẻ phi thường. Nàng Su Già Ta nhìn sa môn với sự ngạc nhiên, cô thầm bảo: “Xưa nay ta chưa bao giờ thấy nhân vật nào phước tướng như thế, có thể Ngài chính là vua của các thần cây ở đây!” Và nàng mang thức ăn đặc biệt ấy đến dâng cúng cho Người. Từ sự kiện này người ta tạc hình tượng một người thôn nữ đang quỳ dâng sữa cúng dường đức Thế Tôn.
Hướng ngược lại sau lưng ngôi đền này, cũng có bệ thờ hình một người con gái dáng vẻ quý phái với một người hầu gái dang quỳ dâng sữa cho đức Phật. Hình ảnh thứ hai này được giải thích như sau: Nàng là con gái của một điền chủ tại làng Senānī, gần Uruvelā. Nàng vốn từng cầu nguyện với một vị thần cây rằng nếu sinh được con trai nàng sẽ dâng cúng cháo sữa cho vị thần ấy. Khi nguyện ước được thành tựu nàng bèn sai một tỳ nữ có tên là Punna sửa soạn nơi dâng cúng. Người hầu gái của nàng Su Già Ta ngang qua khu rừng, nhìn thấy dung nghi lạ thường của nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta, nghĩ rằng đó là vị trời hay các bậc thánh, nên chạy về nhà báo cho chủ hay để chuẩn bị bữa ăn cúng dường. Vì thế sau khi chuẩn bị xong nàng Su Già Ta cùng với người hầu của mình đến tận nơi để dâng cúng đức Phật. Dựa vào sự ghi chép này nghệ nhân đã tạc tượng hai người con gái quỳ dâng sữa cúng dường đức Phật.
Dù sao, sự kiện người thôn nữ tên Su Già Ta dâng cháo sữa cúng dường nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta trước khi thành đạo là một sự thật lịch sử mà không ai có thể phủ nhận, là những điều mà chúng ta lấy làm tiền đề cho phước đức của phương pháp bố thí, là nền tảng cho lòng nhân ái và đại từ bi, được thể hiện cao đẹp trong đời sống nhân đức của người Phật tử, là phép tu đầu tiên trong lục độ vạn hạnh, Bố Thí Ba La Mật của chư Bồ Tát muốn phát đại thệ nguyện để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh trên cõi đời này.
8. Núi Tượng Đầu và Khổ Hạnh Lâm
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image016.jpg
Núi tượng đầu nhìn từ xa (Ảnh: Tâm Bửu)
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image018.jpg
Khu khổ hạnh lâm (Ảnh: Tâm Bửu)
Núi tượng đầu cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 8 km bằng lộ xe, nơi mà xưa kia đức Phật với nhóm năm anh em Kiều Trần Như (Kondañña) cùng tu khổ hạnh trong rừng Uruvela, nên khu rừng này còn có tên là khổ hạnh lâm, tức khu rừng của những người tu khổ hạnh. Từ xa quan sát, chúng ta thấy trên đỉnh núi này có những mô đá nối dài giống như hình hai con voi đang nằm đâu đầu với nhau, nên người ta gọi tên núi này là núi tượng đầu (núi đầu voi).
Đức Phật đã trải qua sáu năm trường gian khổ tại khu rừng này. Sự tinh tấn miệt mài thực hiện con đường khổ hạnh được những người bạn đồng tu đương thời phải thán phục và thần tượng một hình ảnh vĩ đại đáng để noi gương. Ngài nghĩ có thể đạt đến sự giác ngộ bằng cách khổ luyện, chế ngự mọi cảm thọ, kìm hãm mọi nhu cầu của thân xác, với niềm hy vọng rằng một khi đã làm chủ được ham cầu của thân xác thì tâm sẽ được giải phóng khỏi sự thống trị của vật chất để đạt đến mức độ giải thoát cao siêu. Quá trình tu khổ hạnh đưa đến cho ngài một kết quả thật thê thảm, một thân xác tiều tụy, héo mòn gần như không còn chút sức lực để có thể duy trì được mạng sống lâu hơn nữa.
Đức Phật đã mô tả lại điều này trong kinh Trung Bộ: “Vì ta ăn quá ít mỗi ngày, nên cơ thể ta hết sức gầy yếu. Tay chân ta như các lóng tre khô đầy khúc khuỷu. Hai bàn tọa của ta trở thành giống như mống trâu, xương sống với cột tủy lồi ra trông giống chuỗi hạt. Xương sườn ta lộ rõ như rui cột của một ngôi nhà đổ nát. Đồng tử của ta nằm sâu trong hố mắt thăm thẳm long lanh giống như ánh nước long lanh từ đáy giếng sâu. Da đầu ta khô héo nhăn nheo như trái mướp đắng được cắt đem phơi nắng khô héo. Nếu ta muốn sờ da bụng thì ta đụng nhằm xương sống vì hai thứ đã dính sát vào nhau. Nếu ta muốn đi đại tiện hay tiểu tiện thì ta ngã úp mặt xuống đất. Nếu ta chà xát tay chân thì đám lông hư mục rụng xuống trong tay ta”. Giờ đây chúng ta không thể hình dung được rằng xưa kia đức Thế Tôn vẫn duy trì mạng sống với một thân thể da bọc xương như thế. Khi đọc qua đoạn kinh trên, chúng ta cứ ngỡ rằng đó là một bộ xương khô biết di động mà thôi!
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image020.jpg
Tượng Phật khổ hạnh thờ trong hóc đá, kỷ niệm nơi Ngài ngồi tu.
Ảnh: Tâm Bửu
Chúng tôi đến thạch động, nơi mà nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta đã ẩn cư sáu năm tu hành. Thạch động nằm lưng chừng núi, không cao lắm, cách mặt đất khoảng 120 mét. Bên ngoài thạch động có khoảng trống rộng, có thể dung chứa được vài chục người, mọi người có thể tập trung để hành lễ. Muốn vào bên trong chúng ta phải chui qua một cái cửa bằng đá khoảng 1,2 m chiều cao, ngang khoảng 7 tấc. Bên trong rất tối chu vi nhỏ hẹp, khoảng 3m chiều ngang, 5m chiều dài, cao khoảng 2m, trong đó có một bệ đá, trên bệ đá thờ tượng Phật khổ hạnh, thân xác ốm gầy chỉ còn da bọc xương. Nhìn hình ảnh này chúng ta rất cảm động khi nhớ lại những tháng ngày gian khổ của đức Thế Tôn, Người đã vì đạo, vì muốn tìm đường cứu khổ chúng sanh mà phải quên mình. Nhiều người òa khóc thành tiếng, hoặc trào lệ từng giọt lăn dài trên má, thì thầm trong miệng những lời xót xa hoặc chắt lưỡi, hít hà khi quỳ lạy trước tôn dung của Ngài. Thật là một hình ảnh đầy ấn tượng không chỉ đối với người con Phật mà đối với bất cứ những ai biết suy nghĩ yêu thương đồng loại, biết nghĩ đến nỗi buồn nhân thế.
Ngày hôm nay cuộc sống mọi người nơi đây cũng phản ánh được phần nào đời sống khổ hạnh của Phật, bởi có quá nhiều người nghèo đói đang sinh sống, phần lớn họ nhờ vào những đồng tiền van xin nơi lòng thương hại của khách hành hương ban bố. Và có thể nói, chưa có nơi nào trên suốt đoạn đường đi tham quan có số lượng người nghèo khổ và ăn xin nhiều như khu Khổ Hạnh Lâm này. Chúng tôi có cảm giác mảnh đất lịch sử đầy kỷ niệm này, không chỉ làm nao lòng chúng ta bởi sáu năm trường khổ tu của Phật, mà cả một quãng thời gian dài hàng mấy nghìn năm sau đó chỉ để chứng kiến từng hơi thở mệt mỏi và giọt nước mắt khổ đau, những mảnh đời bất hạnh, làm cho ai cũng phải chạnh lòng buông tiếng thở dài khi tận mắt chứng kiến: thế kỷ XXI vẫn còn tồn tại một cuộc sống thiếu văn minh, thiếu vật chất, thiếu những điều kiện tối thiểu, và thiếu cả tình thương, sự quan tâm chia sẻ của mọi người. Chúng tôi thiết nghĩ bao giờ có trái tim từ bi như đức Phật mới thật sự dung chứa và san sẻ hết bi kịch này.
Thích Phước Tiến
Chương 9: Trường Đại Học Na Lan Đà
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NA LAN ĐÀ
(Nālandā)
1. Khái quát về Na Lan Đà
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image002.jpg
Lối vào khu phế tích Na Lan Đà (Nālandā) (Ảnh: Tâm Bửu)
Na Lan Đà (Nālandā) là một di tích quan trọng trong lịch sử phát triển Phật giáo tại Ấn Độ nói riêng và trên toàn thế giới nói chung, vì đây là trường Đại học Phật giáo đầu tiên trên thế giới, nơi có một quy cách giáo dục gương mẫu, có tầm vóc rất lớn, tiếng tăm lừng lẫy, lưu danh cho đến ngày nay. Mặc dù trường đại học Na Lan Đà không phải là khu thánh địa tâm linh quan trọng như những thánh tích liên quan đến cuộc đời đức Phật, nhưng nơi đây cũng là khu đất thiêng đã sản sinh ra các bậc thánh tăng tiêu biểu từ thời đức Phật như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và các bậc cao tăng làu thông tam tạng truyền bá Phật giáo sau này như Ngài Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Trần Na, Giới Hiền.... và đặc biệt nhất là danh nhân Phật giáo mà ai cũng từng biết đến với lòng kính trọng và khâm phục một cách chân thành đó là đại học giả thông bát kinh luật tam tạng pháp sư Trần Huyền Trang, một bậc cao tăng Trung Quốc thời thịnh Đường. Với tầm vóc lớn lao và trung tâm giáo dục không chỉ dành cho Phật giáo mà còn là nơi đào tạo cả thế học như văn học, nghệ thuật, y dược, ngôn ngữ, tôn giáo, triết học.... trong một quy củ vô cùng nghiêm túc và đáng tin cậy nhất thời bấy giờ. Na Lan Đà xứng đáng là nơi ngưỡng mộ của hầu hết các học giả Đông Tây. Trong quyển Đường Về Xứ Phật, Hòa thượng Minh Châu có sánh ví Na Lan Đà bằng một lòng tôn trọng: Nếu Bồ Đề Ðạo tràng là nơi đức Phật viên thành Chánh pháp thì Na Lan Đà là đất thiêng đã truyền chiếu ánh sáng ấy đến với vô số người, ở khắp nơi trên thế giới.
Nếu Lộc Uyển là thánh địa, bởi ở đó đức Phật đã Chuyển pháp luân lần đầu tiên thì Na Lan Đà là đất thiêng đã hoằng truyền chánh pháp, trong một thời gian dài hơn ngàn năm.
Nếu Câu Thi Na là Thánh địa, bởi ở đó đức Phật đã nhập Niết Bàn thì Na Lan Đà là đất thiêng đã chứng kiến sự viên tịch của Tôn giả Xá Lợi Phất ...
Giờ đây chúng ta cùng tìm hiểu một vài sự kiện trọng đại liên quan đến Na Lan Đà, nơi được xem như là một trong những khu thánh tích quan trọng của Phật giáo.
2. Trường đại học Na Lan Đà xưa và nay
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image004.jpg
Một phần khu phế tích Na Lan Đà (Ảnh: Tâm Bửu)
Hôm nay vì trời mưa nên đoàn chúng tôi không được thoải mái lắm trong lúc làm việc. Hình ảnh không được rõ so với trời nắng và màu sắc các bức tường gạch cũng biến đổi ít nhiều so với màu nguyên thuỷ. Tuy vậy lượng khách tham quan trong nước cũng như ngoài nước đến viếng rất đông. Lối vào khu Na Lan Đà (Nālandā) rất đẹp, dù trời có nắng thì khách tham quan vẫn cảm thấy mát mẻ bởi những hàng cây thẳng tắp, tàng dang rộng che phủ cả lối đi. Trước khi vào bên trong khu thánh tích giữa bùng binh lối đi, có tấm bảng bằng bê tông nằm ngang tương đối thấp, mặt trước ghi là: công trình khảo sát khảo cổ học Ấn Độ (Archaeological servey of India), mặt sau từ bên trong nhìn ra ghi là: hãy cùng nhau bảo vệ di sản văn hoá (Come forward to preserve heritage). Hoa kiểng xung quanh cũng được bàn tay con người chăm sóc khá chu đáo.
Trường đại học Na Lan Đà cách Vương Xá, nay là Rajgir, khoảng 15 km, và cách thủ phủ Patna, hướng Đông Nam, khoảng 95 km, là một thị trấn thịnh vượng, cư dân đông đúc thuở xưa. Vì là trường đại học Phật giáo nên tên nguyên thuỷ của nó là Mahavihara Nālandā, nghĩa là Đại Tinh Xá Na Lan Đà, gọi tắt là Nālandā. Na Lan Đà được thành lập khoảng thế kỷ thứ II và phát triển mạnh khoảng từ thế kỷ thứ IV Tây lịch. Với quy mô đầu tiên cũng giống như các trường đại học khác nhưng dần dần được phát triển trở thành tầm vóc quốc tế, và quy củ rất đặc trưng mà khoảng thế kỷ thứ VII Ngài Huyền Trang đến tham học đã tán thán rằng: “Số Tăng sĩ đông đến vài ngàn đều là những bậc tài năng xuất chúng. Những bậc này phần nhiều là những vị kỳ tài, danh tiếng vang đến cả nước ngoài. Ðức hạnh của những vị này hoàn toàn thanh tịnh, không thể chê trách gì. Họ theo giới luật một cách chơn thành.
Qui luật của tu viện rất nghiêm khắc và tất cả Tăng sĩ đều phải tuân theo. Cả nước Ấn Ðộ đều kính phục và tuân theo những lời chỉ dạy của những vị này”. Chư vị Viện trưởng tiền bối ngôi trường này là những bậc cao tăng lỗi lạc, tài đức vẹn toàn, là những bậc tên tuổi được biết đến ngày nay như: Long Thọ (Nagarjuna), vị Viện trưởng đầu tiên giải thích giáo lý Ðại thừa; Thánh Thiên Đề Bà (Arya Deva), Ngài Vô Trước (Asanga), Thế Thân (Vasubandhu).... là những vị Viện trưởng kế tiếp lãnh đạo Na Lan Đà. Rồi đến Ngài Trần Na (Dinnaga), Ngài Pháp Hộ (Dharmapala) và Ngài Giới Hiền (Silabhadra), là vị Viện trưởng 120 tuổi, một vị đại học giả cũng là một bậc thạc đức vào thời Ngài Huyền Trang đang du học tại trường đại học này.
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image006.jpg
Tường thành và cầu thang phế tích Na Lan Đà (Ảnh: Tâm Bửu)
Theo các nguồn tài liệu, đương thời Na Lan Đà có khoảng 3000 giáo sư, trên dưới 10.000 sinh viên lưu trú tu học thường xuyên. Mặc dù số lượng đông như thế nhưng không phải ai cũng có thể được vào học tự nhiên mà phải trải qua chế độ tuyển sinh nơi đây cực kỳ khó khăn, phải được khảo hạch kinh luật một cách gắt gao, sinh viên ngoại quốc phải được gạn hỏi qua nhiều cuộc trắc nghiệm, biện luận trôi chảy và đặc biệt là phải chứng tỏ được biệt tài của mình, vì vậy số lượng trúng tuyển chỉ đạt một cách hạn chế khoảng 2/10. Do đó, Na Lan Đà trở thành niềm mơ ước của hầu hết các sinh viên trong cũng như ngoài nước. Vì đào tạo theo đường lối Phật giáo, nên những sinh viên trúng tuyển được học miễn phí mà không cần phải trả bất cứ một loại chi phí nào, nhờ có sự bảo hộ chính của các đời vua chúa sùng tín Phật giáo và sự phát tâm cúng dường của dân chúng trên 200 làng gần xa.
Ngoài những danh tăng bản địa xuất thân từ trường này, còn có nhiều danh tăng ngoại quốc, tài ba xuất chúng phải được nhắc đến như: Ngài Huyền Trang, Nghĩa Tịnh, Thi Hộ, Pháp Thiên ...Và các bản kinh, luật, luận Trung Quốc mà chúng ta ảnh hưởng hiện nay, phần lớn là bản dịch do các vị cao tăng xuất thân từ trường này mang về.
Kể từ sau những cuộc xâm lăng và tiêu diệt dị giáo của quân Hồi do tướng Mohammad Bin Bakhtiyar Khalji chỉ huy, trường đại học Na Lan Đà cùng chung một số phận. Số giáo sư và sinh viên tăng sĩ bị sát hại khoảng 10.000 người. Một số nhà sư sống sót còn lại phải chạy sang Nepal và Tây Tạng để lánh nạn. Thư viện Na Lan Đà là kho chứa kinh thư tập hợp trên 9 triệu bản kinh văn của các nền văn minh, triết học, văn hoá, tôn giáo cổ kim trên thế giới và cả các bản sớ giải của Phật giáo ....được xem như là Đại dương báu vật, đã bị bọn vô lại hiếu sát Hồi giáo thiêu trụi. Như vậy, nhân loại chúng ta vĩnh viễn mất đi cơ hội quý hiếm để đọc những tác phẩm vô giá được lưu giữ tại thư viện của trường đại học này. Sự điêu tàn và đổ máu của trường đại học cũng có phần trùng hợp với điềm báo trước như lời huyền ký được ghi trong Đại Đường Tây Vực Ký của Ngài Huyền Trang như sau: “Từ thành Vương Xá đi về phía Bắc độ 30 lý là Tăng già lam Na Lan Đà.
Theo truyền thuyết thì về phía Nam của tu viện này là một cái hồ nước. Nơi đó có một con rồng tên Na Lan Đà. Người ta đã xây một ngôi chùa bên bờ hồ và lấy tên con rồng đặt cho tên cho tự viện. Chỗ này ngày xưa là vườn xoài do 500 vị thương gia đã mua đến mười triệu tiền vàng để cúng dường cho một vị Bồ Tát. Sau khi Bồ Tát nhập diệt, một vị vua thời xa xưa của nơi này tên là Sakraditya đã cho xây dựng một ngôi già lam. Tuy nhiên, trong khi khởi công Ông đã vô tình làm bị thương một con rắn chúa. Lúc đó một nhà tiên tri Ni Kiền Tử đã tiên đoán rằng khoảng 1.000 năm sau, nơi này sẽ là một địa điểm phát triển cùng cực. Những hàng Tăng sinh tại đây sẽ thành đạt vẻ vang, tuy nhiên, vì lời thề của con rắn chúa mà máu của nhiều người sẽ đổ ra tại đây”. Như vậy sự suy tàn của Na lan Đà đã được dự đoán trước của các nhà tiên tri, hay đó là một quy luật mà đức Phật dạy, mọi vật ở đời không có cái gì bền chắc mãi mãi, hết thạnh rồi suy, sanh trụ dị diệt, không có một bàn tay thần thánh nào có thể chống lại được với quy luật ấy.
Mặc dù đã bị sự phá huỷ của đoàn quân Hồi giáo, và hằng bao thế kỷ bị vùi lấp trong sự lãng quên nhưng những bức tường gạch đổ nát ở Na Lan Đà vẫn còn toát lên được vẻ hùng tráng nguy nga của thời vàng son Phật giáo, vẫn thể hiện được tính bất hủ của chân lý không bị phai mờ theo năm tháng, dù hiện tại chỉ còn vang trong ký ức và sự nuối tiếc của hàng trí giả và những người có thiện chí đối với Phật giáo nói riêng và văn hoá nhân loại nói chung.
Hiện trạng của Na Lan Đà là những bức tường thành nghiêng đổ liên kết nhau rất dầy trong một chu vi đã được khai quật khoảng 10 hecta đất. Chúng ta vào bên trong bằng một cổng tương đối rộng khoảng 4m và được xác định là cổng chính của trường đại học ngày xưa. Các tài liệu khảo cổ cho rằng, các dãy phòng tu viện trung bình khoảng 4 tầng, bởi bị vùi lấp sâu trong lòng đất và bị phá hủy nên chúng ta chỉ nhìn thấy khoảng 1 – 2 tầng, mỗi tầng đều có cống rãnh và lỗ thoát nước rất tốt nên không khi nào bị đọng nước cả. Tổng cộng khu đại học Na Lan Đà có 11 tu viện nối tiếp nhau và 5 chánh điện đủ để cho toàn thể sinh viên lưu trú và mọi thứ sinh hoạt lễ nghi khác...Mỗi tu viện có chiều dài khoảng 500 m, chiều ngang khoảng 250m, hầu hết có kiến trúc giống nhau: phòng dành cho giáo thọ sư, phòng thọ trai, khu nhà trù, giếng nước, phòng đôi cho tân sinh viên, phòng đơn dành cho cựu sinh viên, khu nhà vệ sinh, chính giữa là giảng đường.... Nhìn chung, mọi tiện nghi cho việc sinh hoạt tại khu Na Lan Đà rất tốt, chủ yếu nhằm đáp ứng cho một mục đích duy nhất là giáo dục mà thôi. Trong khuôn viên phế tích Na Lan Đà chúng ta thấy những cái hốc nhỏ thờ Phật đôi khi có những bức tượng chỉ còn bàn tọa, hoặc chỉ là dáng dấp đức Phật tọa thiền được kết nối từ những miếng gạch nung cũ mục in trên vách. Bên cạnh đó chúng ta còn thấy kiến trúc hoa văn bằng những hình tượng Phật nho nhỏ trông rất xinh xắn và dễ thương còn sót lại trên một vài bức tường hay đầu cột cũ. Có những bức tường đang bị xói mòn và sụt lở, ban bảo vệ cũng xây thêm những bức tường phụ để chống đỡ.
Càng đi tham quan nhiều nơi trong khu phế tích này, chúng ta càng ngưỡng mộ và tiếc nuối cho một trường đại học quy mô từ cơ sở vật chất đến nội dung đào tạo, mà không dễ gì tìm thấy ở bất cứ một quốc gia nào trên thế giới trong thời trung cổ. Mặc dù đại học Na Lan Đà được chính phủ xây dựng lại vào tháng 11 năm 1951, do Ngài J. Kashyap đề xướng, cách khu phế tích Na Lan Đà khoảng 2 km, là viện nghiên cứu ngữ học Pāli và Phật học cho các sinh viên từ khắp nơi trên thế giới, nhưng nó chỉ là danh nghĩa, không phản ánh được uy thế và uy mô của Na Lan Đà ngày xưa. Tuy nhiên, chính nơi đây đã đào tạo ra một số danh Tăng Việt Nam thời cận đại như Hoà thượng Minh Châu, người được chính phủ Ấn Độ mời dạy về Pāli và đạo Phật, Hoà thượng Huyền Vi, Hoà thượng Thiện Châu ....
3. Tháp tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta)
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image008.jpg
Tháp tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta) (Ảnh: Tâm Bửu)
Từ cổng chính đi vào phía tay trái, chúng ta thấy có một nền tháp rất cao lớn đó là tháp của tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta), một vị thánh đệ tử trí tuệ đệ nhất trong mười đệ tử đặc trưng của Phật, được Unesco liệt vào di sản thế giới. Tương truyền rằng, tháp này xây dựng ngay trên nền nhà của Ngài, để kỷ niệm nơi Ngài đã sanh ra và từ giã cõi đời. Kiến trúc ngôi tháp này rất đặc biệt, hầu như không giống với bất cứ một kiến trúc nào trong các thánh tích Phật giáo. Xung quanh có nhiều ngôi tháp nhỏ tạo nên một quần thể tháp rất kỳ đặc trong khu Na Lan Đà (Nālandā). Tháp này được trùng tu ít nhất là bảy lần, bắt đầu từ thời vua A Dục (Asoka). Hiện nay chúng ta chỉ thấy nhiều đường ngang kẻ dọc, nhiều chỗ lồi lõm, thật khó xác định được kiểu dáng hình vuông hay tròn, một số vị nghiên cứu thì cho là hình tròn, trên thực tế thì chân nền tháp là nền gạch vuông. Xung quanh đại tháp có nhiều bức ảnh phù điêu mô tả các sự kiện trọng đại trong đời đức Phật. Dù thế nào chúng ta cũng còn có một chút kỷ niệm về bậc thánh giả, một bậc đại trí đã một thời lừng lẫy và uy nghiêm trong giáo đoàn 1250 vị A La Hán vẫn còn được nhắc đến với lòng kính trọng và ngưỡng mộ của người con Phật chúng ta và với những ai nghiên cứu Phật giáo.
4. Huyền Trang kỷ niệm đường
http://www.buddhismtoday.com/viet/pg...s/image010.jpg
Cổng ngoài khu tưởng niệm Ngài Huyền Trang (Ảnh: Tâm Bửu)
Trên đường đến Linh Thứu sơn thuộc thành Vương Xá, nay là Rajgir, cách trường đại học Na Lan Đà khoảng 1500 m, đoàn chúng tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm Ngài Huyền Trang (Huyền Trang Kỷ Niệm Đường) mặc dù ngoài trời mưa vẫn còn nặng hạt. Huyền Trang là tên của một vị cao tăng Trung Quốc: Trần Huyền Trang, thuộc triều đại nhà Đường. Với tài năng xuất chúng, thông minh đỉnh ngộ, vì không thỏa mãn sự nhận thức của mình trong kho tàng kinh sách nội quốc mà nhất là kiến thức Phật giáo nên Ngài quyết định sang Thiên Trúc tức Ấn Độ, để tham học kinh luật. Vào thế kỷ thứ VII, năm 629, Ngài Huyền Trang khởi hành qua Ấn Độ để tham học tam tạng kinh điển. Trải qua 16 năm du học trên xứ Ấn, Ngài đã từng tham học tại Na Lan Đà (Nālandā) và được mời giảng dạy khoảng 5 năm. Ngài được học Duy Thức với đại sư Giới Hiền (Silabhabra), hiệu trưởng trường này thời bấy giờ đã 120 tuổi. Chính vì niềm đam mê Duy Thức nên sau khi hồi hương Ngài đã thành lập Tông Pháp Tướng để xiển dương tinh thần “tùng tướng nhập tánh” của Duy Thức, và được xem như là sơ tổ tông Pháp Tướng tại Trung Hoa.
Ngài đã để lại trong lòng vua chúa cũng như chư tăng Thiên Trúc một ấn tượng về một nhân cách đặc thù và trí tuệ siêu việt, một đức hạnh sáng ngời không chỉ đương thời mà còn lưu danh mãi cho đến ngàn sau. Do đó, chính phủ Ấn Độ đã chấp thuận xây dựng nhà tưởng niệm Ngài theo kiến trúc Trung Hoa. Mặc dù chỉ với danh xưng khiêm tốn Kỷ Niệm Đường nhưng thực tế được thiết kế hết sức trang nhã, hoành tráng, mới nghe qua chúng ta không thể nào hình dung được hết vẻ uy nghi của nó, cho nên chúng ta có thể gọi là Huyền Trang Kỷ Niệm Đền thì mới tương xứng với tầm vóc của nó. Sau khi qua cổng chính nhìn vào chu vi khoảng 2 hecta đất, chúng ta thấy một lối đi thẳng tắp, khoảng giữa lối đi có tạc tượng của một vị hành cước Trung Hoa trên vai mang hành lý, kinh thư, tay cầm phất trần, đầu đội nón rộng vành, chân di hài cỏ, phía dưới có tấm bia giới thiệu tóm tắt tiểu sử của Ngài Huyền Trang. Xung quanh hoa cỏ được chăm sóc, cắt tỉa đẹp đẽ. Bên tay phải cách 50 m có một tấm bia tưởng niệm Ngài Huyền Trang rất lớn bằng đá quý, tay trái đối xứng cũng có ngôi tháp tương xứng, giữa tháp có đặt một đại hồng chung rất to theo kiểu dáng Trung Hoa. Khi vừa bước vào bên trong cổng chính được nghe một tiếng chuông ngân dài do người trực ở đó đóng, làm chúng tôi có cảm giác như mình vừa đến một ngôi đại tự của Việt Nam hay Trung Hoa.
Trước khi vào ngôi nhà chính tôn thờ Ngài Huyền Trang chúng ta phải đi qua một cái sân rộng. Ngôi nhà chính được kiến trúc theo mái cong nối dài nằm ngang hình chữ nhật, giống như các ngôi chùa cổ Việt Nam, có hoa văn uốn lượn theo chót mái và các chỗ cần thiết. Chính diện ngôi nhà có thờ tượng cốt của Ngài Huyền Trang. Phía trước có trang hoàng đủ phương tiện nghi lễ như: chuông, mõ, khánh và một quyển kinh Diệu Pháp Liên Hoa chữ Hán. Xung quanh tường có rất nhiều hoa văn và những bức phù điêu, đặc biệt hầu hết các bức phù điêu được khắc chạm mô tả về cuộc đời của Ngài Huyền Trang từ Trung Quốc đến Ấn Độ, diễn tả lại quá trình Ngài tu học với ai, từng làm gì và công đức đóng góp cho Phật giáo của Ngài ra sao...
Quỳ trước dung nghi của bậc cao tăng chúng ta thấy mình quá nhỏ bé, còn nhiều dở tệ, mình chưa đóng góp được gì cho Phật pháp, lòng cảm thấy ngậm ngùi cho tâm trí của hạng phàm phu thời Mạt không thể bì với các bậc cao tăng thạc đức tiền bối. Đó cũng chính là động lực để khích lệ mình phải phấn đấu nhiều hơn nữa, phải phát tâm dõng mãnh, phải hết lòng vì đạo, vì chúng sanh thì mới sánh được công đức của quý ngài trong muôn một.
Rời Huyền Trang Kỷ Niệm Đường, trong lòng vẫn thầm phục một bậc cao tăng siêu phàm thoát tục, một cái tên nghe sao mà thánh thoát, êm dịu, chan hoà trong tình đạo tình đời. Tôi mỉm cười vì trong cõi lòng bỗng vọng lên hai chữ Huyền Trang, Huyền Trang với bao niềm xúc động trào dâng!
Thích Phước Tiến
2008