Trích dẫn:
34. Vị Sứ quân đảnh lễ rồi nói: “Hòa thượng thuyết pháp quả thực bất khả tư nghị, đệ tử có ít điều còn hoài nghi, muốn hỏi Hòa thượng, cúi xin Hòa thượng rủ lòng đại từ đại bi, giải thích cho đệ tử”.
Đại sư nói: “Có điều nghi ngờ thì cứ hỏi, không cần phải úp mở làm gì”.
Sứ quân hỏi: “Giáo pháp của Đại sư, phải chăng là tông chỉ của Đệ nhất Tổ Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma?”.
Đại sư nói: “Phải”.
Sứ quân nói:: “Đệ tử nghe nói lúc Đạt Ma Đại sư khai hóa Lương Võ đế, Võ đế hỏi Đạt Ma: “Trẫm cả đời xây chùa, bố thí, cúng dường, có công đức hay không”. Ngài Đạt Ma trả lời: “Chẳng có công đức gì cả”. Võ đế không vui, bèn đuổi Đạt Ma ra khỏi bờ cõi. Đệ tử chưa hiểu chuyện này, xin Hòa thượng giải thích cho”.
Lục Tổ nói: “Quả thực chẳng có công đức gì cả. Sứ quân đừng nghi ngờ lời Đạt Ma Đại sư. Võ đế chấp trước tà kiến, không hiểu chánh pháp”.
Sứ quân hỏi: “Tại sao lại không có công đức gì cả?”.
Hòa thượng nói: “Xây chùa, bố thí, cúng dường chỉ là tu phước, không thể lấy phước làm công đức được. Công đức ở tại Pháp thân, không phải ở phước điền. Tự trong pháp tánh đã có công đức. Kiến tánh là công, bình đẳng là đức. Bên trong thấy Phật tánh, bên ngoài tu hành cung kính. Nếu như khinh tất cả mọi người, không cắt đứt được sự chấp ngã, thì tự mình không thể có công đức được. Nếu như tự tánh mình hư vọng, Pháp thân không còn có đức nữa. Nếu trong niệm niệm liên tục có tu hành phước đức và bình đẳng chơn tâm, thì công đức sẽ không nhỏ và hành vi luôn luôn cung kính. Tự tu thân là công, tự tu tâm là đức. Công đức là do tự tâm mà ra, phước và công đức là khác nhau. Võ đế không hiểu chánh lý, chứ không phải là Tổ Đạt Ma Đại sư lầm lẫn đâu”.
35. Sứ quân đảnh lễ rồi lại nói: “Đệ tử thấy Tăng chúng, đạo, tục, thường niệm A Di Đà Phật và nguyện vãng sanh Tây phương. Xin Hòa thượng giải thích rõ cho đệ tử xem người ta có thực sự vãng sanh ở đó được không, ngõ hầu để dẹp tan mối nghi của đệ tử”.
Đại sư nói: “Sứ quân lắng nghe, Huệ Năng tôi sẽ giải thích cho ông. Thế Tôn lúc ở Xá Vệ quốc, thuyết giảng về Tây phương để dẫn hóa chúng sanh. Kinh văn nói rõ ràng rằng: “Tây phương cách đây không xa. Chỉ vì muốn dạy những người có căn cơ thấp mới nói là xa, còn nói gần là để dạy người có trí tuệ cao. Tuy con người có hai loại, pháp chẳng hề có bất “đồng”. Giữa mê và ngộ có sự dị biệt, cũng như kiến giải có mau có chậm. Kẻ mê niệm Phật hy vọng vãng sanh Tây phương, người ngộ chỉ thanh tịnh tâm mình. Cho nên Phật nói: “Tùy tâm mình tịnh, là Phật độ tịnh”.
Sứ quân, người ở phương Đông nếu chỉ cần tịnh tâm là lập tức hết tội chướng, người ở Tây phương Tịnh độ tâm mà không tịnh là lập tức có lỗi lầm. Kẻ mê nguyện vãng sanh Đông phương hay Tây phương, còn người ngộ thì ở bất cứ đâu cũng là một cả. Chỉ cần tâm không có bất tịnh, là Tây phương chẳng cách xa đây. Còn như tâm mà khởi bất tịnh, thì dù có niệm Phật để cầu vãng sanh cũng khó mà đạt được. Trừ được mười điều ác tức là đi được mười vạn sặm, không có tám điều tà tức là đã vượt qua được tám ngàn dặm. Song nếu tu hành chơn tâm, mình sẽ đến Tây phương trong nháy mắt.
Sứ quân, chỉ nên lo tu thập thiện, cần gì phải nguyện vãng sanh. Nếu như ông không đoạn cái tâm làm mười điều ác, Phật nào đến đón ông đây? Nếu giác ngộ được giáo pháp đốn ngộ vô sanh, chỉ trong sát na là ông thấy Tây phương. Nếu như không ngộ giáo lý đốn ngộ của Đại thừa, con đường niệm Phật để mong vãng sanh quá xa vời, làm sao mà đạt đến được?”.
Lục Tổ nói: “Để Huệ Năng tôi trong một sát na dời Tây phương đến ngay trước mắt cho Sứ quân thấy, Sứ quân có muốn thấy chăng?”.
Sứ quân cúi lạy nói: “Nếu như đệ tử có thể thấy Tây phương ở đây, còn cần gì phải vãng sanh nữa. Xin Hòa thượng từ bi làm cho Tây phương hiển hiện trước mắt đệ tử thì tốt lắm thay”.
Đại sư nói: “Có thể thấy Tây phương ngay từ con đường đi này, không có gì đáng ngờ cả. Bây giờ chúng ta giải tán thôi”.
Đại chúng đều ngạc nhiên, không ai hiểu chuyện gì cả.
Đại sư nói: “Đại chúng, xin hãy cẩn thận lắng nghe. Sắc thân của người đời là một thành phố. Mắt, mũi, tai, lưỡi là cửa thành. Bên ngoài có năm cửa, bên trong có cửa của ý thức. Tâm tức là đất, tánh tức là vua. Tánh còn thì vua còn, tánh đi thì vua không còn. Tánh còn thì thân tâm còn, tánh đi thì thân tâm hoại. Phật là do tự tánh mà ra, chớ nên hướng ra ngoài thân mà cầu. Mê mờ tự tánh thì Phật là chúng sanh, giác ngộ tự tánh thì chúng sanh tức là Phật. Từ bi là Quán Thế Âm, hỷ xả là Đại Thế Chí, năng tịnh là Thích Ca, bình đẳng chơn thực là Di Lặc, nhân ngã chấp là núi Tu Di, tà tâm là biển lớn, phiền não là sóng, tâm độc là rồng dữ, trần lao là cá rùa, hư vọng là thần quỷ, tam độc là địa ngục, ngu si là súc sanh, thập thiện là thiên đường. Nếu không chấp nhân ngã, núi Tu Di tự lở; trừ tà tâm, nước biển lập tức cạn; không có phiền não, sóng tự nhiên hết; trừ độc hại, cá rồng sẽ hết. Hãy để giác tánh Như Lai trên tâm địa của mình, phóng ánh sáng trí tuệ lớn, chiếu sáng sáu cửa, và bằng ánh sáng thanh tịnh ấy chiếu phá sáu cõi trời của Dục giới. Nếu bên trong tự tánh chiếu sáng, tam độc sẽ bị trừ và địa ngục sẽ lập tức tiêu diệt. Nếu trong ngoài gì đều trong sáng thấu suốt thì đây cũng chẳng khác gì Tây phương. Nếu như không tu hành pháp môn này, làm thế nào có thể đến bên ấy được?”.
Những người lắng nghe dưới tòa, tán thán đến tận trời cao, và tất cả những người mê mờ cũng hiểu rõ ràng. Sứ quân cúi lạy, tán thán: “Lành thay, lành thay! Nguyện rằng tất cả chúng sanh trong pháp giới nghe thấy đều lập tức giác ngộ”.