-
Trường Quyển Vật Thể
THUYẾT HẤP DẪN MỚI của Việt Nam
Một kiến trúc sư 75 tuổi, đã nghiên cứu lý thuyết vật lý và cho rằng hai bậc thầy vật lý thế giới là Newton, Einstein đã có sự ngộ nhận trong thuyết vạn vật hấp dẫn và thuyết tương đối. Ông đang đề nghị công bố công trình được coi là "Thuyết Hấp Dẫn Mới" của mình.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/9F/00/4F/hap.jpg
Ông Bùi Minh Trí (trái) và tiến sĩ Bùi Ngọc Oánh
Đó là kiến trúc sư Bùi Minh Trí, chuyên viên xây dựng cơ bản thuộc Công ty phát triển hàng hải, TP HCM. Công trình nghiên cứu của ông có tên gọi Trường quyển vật thể, nêu ra một ý tưởng mới về tự nhiên: "Giải thích cấu tạo vật chất theo kiểu vật thể và trường quyển không thể tách rời của nó, đồng thời chỉ ra sự ngộ nhận của Newton và Einstein về nhiều mâu thuẫn nghịch lý, nhiều khái niệm mơ hồ không nhất quán về tự nhiên".
Ông Trí đã gửi công trình này và được Viện Vật lý và Điện tử (thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) thành lập hội đồng đánh giá. Hội đồng kết luận là đánh giá cao công trình, nhưng đề nghị tác giả tự công bố cho cộng đồng khoa học quốc tế tranh luận, thừa nhận một cách dân chủ.
Tiến sĩ Bùi Ngọc Oánh, Viện trưởng Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam, nói: "Vấn đề ông Bùi Minh Trí đưa ra là có cơ sở, nghiên cứu nghiêm túc nên Viện chúng tôi quyết định hỗ trợ công bố rộng rãi cho các nhà khoa học trong nước (và sau đó là các nhà khoa học quốc tế) được biết học thuyết mới này".
Nhiều người có cơ hội tiếp xúc với tài liệu trên cũng đánh giá, lý luận của ông Trí là sự thách thức với hai cây đại thụ khoa học thế giới là Newton và Einstein.
(vnexpress)
-
THUYẾT TRƯỜNG QUYỂN VẬT THỂ
Học thuyết hấp dẫn mới của Việt Nam
Tác giả: Bùi Minh Trí
TP.HỒ CHÍ MINH
Tháng 08 năm 2005
Trường quyển hấp dẫn năng lượng không gian (Graviton) của vật thể viết lại có bổ sung hiệu ứng quay của trường quyển. Gồm các chương sau đây:
1. Lời nói đầu
2. Bảng ký hiệu và khái niệm mới
3. Nhận xét khái quát những mâu thuẫn, nghịch lý tồn tại trong các lý thuyết vật lý
4. Cấu trúc vật lý cơ bản
5. Thuyết hấp dẫn mới: Trường Quyển vật thể
6. Phần kiểm chứng
7. Nhận xét chung và kết luận .
8. Tài liệu tham khảo chính
9. Hình vẽ minh họa
1. LỜI NÓI ĐẦU
Tuy nghề nghiệp là Kiến trúc sư nhưng tôi rất thích thú tìm hiểu vật lý lý thuyết. Đầu năm 2002 tôic hợt nảy ra ý nghĩ phạm thượng là thử nghiên cứu tính đúng đắn (phản ánh đúng bản chất của tự nhiên) của các lý thuyết vật lý.
Về kiến thức tôi không phải là nhà vật lý hoặc triết gia nên chỉ có kiến thức hạn hẹp như những người bình thường không được đào tạo cơ bản về vật lý. Nhưng cũng chính vì vậy tôi lại có lợi thế về tư duy vì không phải tư duy theo đường mòn sách vở, không chịu sức ép về quan điểm hoặc uy tínc ủa các nhà khoa học lớn kể cả Newton và Einstein.
Newton và Einstein là 2 nhà bác học vĩ đại đã đem lại cho khoa học thế kỷ 20 những thành tựu phát triển vượt bậc. Tuy nhiên các lý thuyết đó vẫn còn tồn tại nhiều mâu thuẫn nghịch lý, nhiều khái niệm mơ hồ không nhất quán về tự nhiên, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu, lý giải để tìm ra chân lý của bản chất tự nhiên.
Trong lịch sử phát triển khoa học, con người đã khám phá ra biết bao quy luật phức tạp của tự nhiên nhưng cũng không thiếu những ngộ nhận nhiều khi sơ đẳng dẫn đến những kìm hãm phát triển.Thuyết địa tâm với các vòng tròn đồng luân là một ví dụ. Chỉ đến khi Copernic đưa ra thuyết nhật tâm thì việc lý giải quỹ đạo của các hành tinh mới trở nên thật đơn giản và hợp lý.
Với kiến thức hạn hẹp, thời gian nghiên cứu không nhiều, nhưng thật bất ngờ và may mắn, đến nay tôi đã phát hiện ra cấu trúc vật lý cơ bản của tự nhiên, tìm ra nguyên lý vàng để xác định tính đúng đắn của các lý thuyết vật lý.
Trên cơ sở nhận thức cấu trú cvật lý cơ bản và nguyên lý vàng, tôi trình bày thuyết hấp dẫn mới nhằm nêu ra một ý tưởng mới, nhận thức mới về tự nhiên, giải thích cấu tạo vật chất theo kiểu vật thể và trường quyển không thể tách rời của nó và chỉ ra sự ngộ nhận của Newton và Einstein.
Vì muốn có cơ sở tối thiểu làm căn cứ để có thể cảnh báo sớm đến các nhà khoa học, tôi trình bày thuyết hấp dẫn mới dưới dạng đơn gảin sơ khởi chưa hoàn chỉnh.
Thuyết hấp dẫn mới khẩn thiết cảnh báo :
Các lý thuyết vật lý có nghịch lý là do ngộ nhận, kể cả 2 lý thuyết được coi là nền tảng cơ bản đáng tin cậy nhất (Thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton và Thuyết tương đối của Einstein)
Tôi tin tưởng sâu sắc : Khi các nhà khoa học nhận ra sự ngộ nhận trong các lý thuyết vật lý, nhân loại sẽ chứng kiến một giai đoạn bùng nổ các phát minh mới, đưa nhận thức của con người về tự nhiên lên một tầm cao mới.
Tôi tha thiết mong các nhà khoa học nói chung, các nhà vật lý nói riêng quan tâm tới lời cảnh báo trên, xem xét đánh giá thuyết hấp dẫn mới và ứng dụng của nó vào thực tế.
-
2. BẢNG KÝ HIỆU VÀ KHÁI NIỆM MỚI (Hệ SI)
A: Gia tốc áp lực là áp lực của trường quyển lên một điểm trong trường quyển có khoảng cách tâm trường quyển bằng R. (Đơn vị : m/s2)
A = M.G/R^2
Giá trị A thay đổi xem phương trình chất điểm chuyển động trong trường quyển)
A > 0 Gia tốc áp lực hướng tâm trường quyển tăng dần.
A < 0 Gia tốc áp lực hướng tâm trường quyển giảm dần.
Chú ý: Gia tốc áp lực của trường quyển lên vật thể là áp lực của trường quyển tác động lên các hạt khối lượng của vật thể, nó khác áp suất là áp lực của môi trường tác động vuông góc lên một đơn vị diện tích bề mặt của vật thể.
A1 = M.G/R1^2 : Gia tốc áp lực tại một điểm trên bề mặt vật thể tâm trường
Ak = Mk.G/Rk^2 : Gia tốc áp lực tại một điểm trên bề mặt vật thể K
Aqd = M.G/Rqd^2 : Gia tốc áp lực của trường quyển lên một điểm trên quỹ đạo chuyển động của vật thể
Are = Mk.G/Rre^2 : Gia tốc áp lực tại một điểm trên biên trường quyển (mặt biên hấp dẫn) của vật thể K khi vật thể K chuyển động trong trường quyền đạt vật tốc năng lượng toàn phần (V=Cqt)
Atk = Mk.G/Rtk^2 : Gia tốc áp lực tại một điểm trên biên trường quyển (mặt biên hấp dẫn) của vật thể K
Atkqd = Mk.G/Rtkqd^2 : Gia tốc áp lực tại một điểm trên biên trường quyển (mặt biên hấp dẫn) của vật thể K khi vật thể K đứng yên trên quỹ đạo.
C : Vận tốc của phonton tại vùng trường quyển gần mặt đất. Vùng trường quyển đó có Vqt ≈ 7907m/s. C = 299.792.458m/s
Co : Vận tốc của photon tại vùng trường quyển có Vqt = 0 m/s. Co = 299.792.458,1 m/s
Cqt : Vận tốc của photon tại vùng trường quyển có trí số Vqt tương ứng. Cqt^2 = Co^2 - Vqt^2
Ghi chú: C Không phải là hằng số trong mọi vùng môi trường không gian (trường quyển) trong vũ trụ. Thuyết tương đối đã ngộ nhận môi trường không gian vũ trụ là chân không nên coi C là hằng số vật lý.
Vật lý hiện đại, thực nghiệm xác nhận môi trường không gian giữa các vật thể trong vũ trụ không phải là chân không mà là trường hấp dẫn, môi trường không gian bao quanh các vi hạt hoạt động rất sôi động.
Thuyết hấp dẫn mới phát hiện các vật thể chuyển động trong không gian vũ trụ đều có trường quyển riêng bao quanh. Vận tốc của photon thay đổi phụ thuộc vào trị số Vqt tại vùng trường quyển mà photon truyền qua
Hiện thực đã kiểm chứng phát hiện đó. Đối với photon môi trường không gian không chỉ là trường quyển của vật thể vĩ mô mà bao gồm cả trường quyển của vật thể vi mô.
Ánh sáng truyền trong trường quyển gần mặt đất, chiết suất là = 1
Không khí = 1,0029
Nước = 1,33
Aceton = 1,36
Thủy tinh = 1,52
Kim cương = 2,42
E : Năng lượng toàn phần của vật thể
E = MC^2 : Biểu thức năng lượng toàn phần tiềm ẩn của vật thể có khối lượng m2 do Einstein xác lập. Vì Einstein ngộ nhận môi trường không gian trong vũ trụ là chân không nên đã lập ra biểu thức trên.
Theo thuyết hấp dẫn mới môi trường không gian trong vũ trụ không phải là chân không mà là các trường quyển hấp dẫn của vật thể. Vận tốc ánh sáng biến đổi nhanh chậm phụ thuộc vào VQT tại miền trường quyển mà ánh sáng truyền qua do đó biểu thức tổng quát xác định năng lượng toàn phần tiềm ẩn của vật thể có khối lượng M trong mọi vùng trường quyển phải chỉnh sửa lại:
E = MCqt^2
E = hv : Biểu thức năng lượng toàn phần của photon xác định qua tần số sóng (vật lý hiện đại).
Thuyết hấp dẫn mới đã tìm ra bản chất của biểu thức trên. Photon là các vi hạt có khối lượng thoát ra khỏi vi trường quyển của điện tử hoặc hạt nhân chuyển động xuyên qua các trường quyển vĩ mô (cụ thể là trường quyển trái đất ở gần mặt đất có Vqt ≈ 7909m/s), đạt vận tốc bằng C, với trạng thái và môi trường đó, trường quyển của photon quay quanh trục với tần số tương ứng.
Hằng số Planck là đơn vị năng lượng quy ước tương ứng cho một vòng quay của trường quyển hạt photon.
H = 6,63.10^(-34) Js = 4,15.10^(-15)eVs
E = Mk.Cqt^2 : Biểu thức năng lượng toàn phần tiềm ẩn của một vật thể có khối lượng m2K trong miền trường quyển xác định có Vqt tương ứng.
E = Mk.Vcqt^2 : Biểu thức của vật thể K chuyển động đạt vận tốc năng lượng toàn phần (V=Cqt) trong trường quyển xác định.
Thuyết hấp dẫn mới tìm ra bản chất hai biểu thức năng lượng toàn phần
E = MkC^2 và E = hv tương ứng bằng nhau.
Ta có thể viết : MkC^2 = hv.
Hai biểu thức trên là 2 cách xác định năng lượng toàn phần của cùng một quá trình chuyển động của một vật thể trong trường quyển trái đất. Cụ thể là các hạt photon chuyển động đạt vận tốc V=C, tương ứng với trạng thái đó trường quyển của hạt photon quay đạt tần số V = MkC^2/h
g = MG/R^2 : Gia tốc chuyển động hướng tâm trường quyển của vật thể (Đơn vị m/s2)
G : hằng số hấp dẫn G = 6,6726.10^(-11)m3.kg^(-1).s^(-2)
h : Hằng số Planck. h = 6,63.10^(-34) Js = 4,15.10^(-15)eVs
M : Khối lượng của vật thể tâm trường (Đơn vị kg)
Mk : Khối lượng của vật thể K chuyển động trong trường quyển (Đơn vị kg)
Khi ta khảo sát trái đất chuyển động trong trường quyển mặt trời: M2 = khối lượng mặt trời, MK = Khối lượng trái đất
Khi ta khảo sát mặt trăng chuyển động trong trường quyển trái đất: M2 = khối lượng trái đất, MK = Khối lượng mặt trăng
p : hằng số Pi = 3,141592654
R : Bán kính, khoảng cách tại 1 điểm tới tâm trường quyển hoặc tâm vật thể (Đơn vị m)
Rc = Mk.G/Vc^2 : Bán kính của vật thể khi V1 = Vc
Re : Bán kính trường quyển (bán kính hấp dẫn) của vật thể chuyển động trong trường quyển đạt vận tốc năng lượng toàn phần.
R1 : Bán kính của vật thể tâm trường
Rk : Bán kính của vật thể K chuyển động trong trường quyển
Rqd : Bán kính quỹ đạo
Rt : Bán kính trường quyển (bán kính hấp dẫn) của vật thể tâm trường.
Rtk : Bán kính trường quyển (bán kính hấp dẫn) của vật thể K chuyển động trong trường quyển.
Rtkqd : Bán kính trường quyển (bán kính hấp dẫn) của vật thể K giả định vật thể K đứng yên trên quỹ đạo trong trường quyển.
Rtkqd = Mk.g/Aqd
V : Vận tốc (Đơn vị m/s)
V1^2 = M.G/R1 : Vận tốc quán tính tại quỹ đạo R1 (bán kính vật thể tâm trường)
Vk^2 = Mk.G/Rk : Vận tốc quán tính tại quỹ đạo RK (Bán kính vật thể k)
Vqd : Vận tốc của vật thể trên quỹ đạo
Vqt^2 = M.G/Rqd : Vận tốc quán tính của vật thể trên quỹ đạo trong trường quyển.
Vq : Vận tốc quay quanh trục của vật thể K chuyển động trong trường quyển, vận tốc quay tính tại bán kính xích đạo.
Vo : Vận tốc quay quy đổi của vật thể K không quay quanh trục (Vq = 0) khi chuyển động trên quỹ đạo.
Ví dụ : Mặt trăng không quay quanh trục đối với tâm trường quyển trái đất khi chuyển động (Mặt trăng luôn hướng một mặt vào tâm trái đất).
Vo = Vk.Vtkqd / Vqd
Vqx : Vận tốc quay quy đổi suy ra từ vận tốc quay của vật thể nhằm xác định bán kính hấp dẫn Rtk của vật thể
Vqx = Vo + Vq.W
W = (Vk - Vo) / Vk
Vc : Vận tốc quay của trường quyển khi vật thể chuyển động đạt vận tốt ánh sáng, vận tốc năng lượng toàn phần tại vùng trường quyển gần mặt đất có Vqt ≈ 7909m/s
Vc = 299.792.458 m/s
Vco : Vận tốc ánh sáng. Vận tốc của vật thể chuyển động đạt vận tốc C0 tại vùng trường quyển có Vqt ≈ 0m/s. Vco = 299.792.458,1 m/s
Vcqt : Vận tốc vật thể chuyển động đạt vận tốc Cqt tại vùng trường quyển có Vqt tương ứng.
Vcqt^2 = Vco^2 - Vqt^2
V : Tần số quay của trường quyển hạt photon khi hạt photon chuyển động đạt vận tốc Vc.
Thuyết hấp dẫn mới mở rộng khái niệm đó cho cả vật thể vĩ mô. V là tần số quay của trường quyển vật thể khi vật thể chuyển động đạt vận tốc năng lượng toàn phần.
-
3. NHẬN XÉT KHÁI QUÁT NHỮNG MÂU THUẪN, NGHỊCH LÝ
TỒN TẠI TRONG CÁC LÝ TUYẾT VẬT LÝ
Những thành tựu mà các lý thuyết vật lý đã đạt được thật siêu việt đã mở rộng tầm nhận thức của con người về thế giới tự nhiên.
Tầm nhận thức đã vượt qua giới hạn cảm nhận thế giới thông thường, tiến sâu vào thế giới vi mô, vươn xa tới thế giới vĩ mô. Nhận thức càng mở rộng thế giới tự nhiên trình hiện ra càng huyền bí kỳ ảo. Tự nhiên như một nhà ảo thuật, càng khám phá tìm hiểu hiện tượng sự vật diễn ra càng bất ngờ kỳ lạ không cùng hầu như không thể kết thúc.
Nhiều bộ óc siêu việt của các thế hệ loài người đã tìm hiểu, khám phá, phỏng đoán giải thích nguyên nhân bản chất các quy luật vận động của tự nhiên.
Cho đến nay nhiều lý thuyết vật lý đã công bố. Các lý thuyết vượt trội được thừa nhận rộng rãi gồm có :
• Thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton với cơ học cổ điển.
• Trường điện từ
• Thuyết tương đối của Einstein
• Cơ học lượng tử
Một số lý thuyết nghiên cứu các tương tác cơ bản tìm kiếm hạt cơ bản, tuy nhiên độ tin cậy không cao vì chưa có phương cách kiểm chứng khả dĩ tin cậy gồm có :
• Sắc động lực lượng tử (tương tác manh
• Mô hình Weiberg-Salam (tương tác điện từ, tương tác yếu)
• Lý thuyết thống nhất lớn (3 tương tác phi hấp dẫn)
Ngoài ra có một lý thuyết với ý tưởng, hướng nghiên cứu khá mới lạ nhằm thống nhất 4 tương tác cơ bản đã biết. Đó là lý thuyết dây, một lý thuyết đang trong tiến trình nghiên cứu.
Ứng dụng các lý thuyết trên, khoa học kỹ thuật thế kỷ 20 đã có những bước tiến mà trong những năm đầu thế kỷ 20 chưa ai có thể tưởng tượng nổi.
Thậm chí đến nay một số nhà khoa học lạc quan đã bàn đến đề tài : Vũ trụ khởi thủy từ đâu ? Quá trình diễn biến phát triển của vũ trụ ? Thuyết Big bang - vũ trụ giãn nở đang được tán thưởng, song cơ sở của các lý thuyết đó còn nhiều nghi vấn không thể kiểm chứng.
Đánh giá các lý thuyết trên, khoa học kỹ thuật thế kỷ 20 đã có những bước tiến mà trong những năm đầu thế kỷ 20 chưa ai có thể tưởng tượng nổi.
Thậm chí đến nay một số nhà khoa học lạc quan đã bàn đến đề tài : Vũ trụ khởi thủy từ đâu ? Quá trình diễn biến phát triển của vũ trụ ? Thuyết Big bang - Vũ trụ giãn nở đang được tán thưởng, song cơ sở của các lý thuyết đó còn nhiều nghi vấn không thể kiểm chứng.
Đánh giá các lý thuyết vật lý, nếu chỉ nhìn nhận những thành tựu đã đạt được, ta thật sự kinh ngạc thán phục, dễ chủ quan cho rằng hầu như các quy luật cơ bản của tự nhiên đã được khám phá.
Tuy nhiên nếu ta nghiêm túc suy ngẫm về các vấn đề còn tồn tại dẫn đến sự hoài nghi về tính đúng đắn (phản ánh đúng bản chất của tự nhiên) của các lý thuyết vật lý :
• Tại sao các lý thuyết vật lý được coi là chuẩn mực thành công lại không tương thích với nhau ?
• Tại sao các lý thuyết vật lý đều tồn tại nghịch lý, thậm chí phi lý chưa được giải quyết ?
• Ngẫu nhiên là một quy luật của tự nhiên hay ngẫu nhiên là tín hiệu cảnh báo cái ta chưa biết ?
• Tại sao các vật thể vi mô lại có lưỡng tính sóng hạt ?
Theo cảm nhận của tôi, các vấn đề nghi vấn nêu trên thực sự thách thức tính đúng đắn (phản ánh đúng bản chất của tự nhiên) của các lý thuyết vật lý, chứ không dừng lại ở sự hoài nghi.
Giải đáp được các câu hỏi trên có thể giúp ta nhận ra thiếu sót cơ bản của các lý thuyết vật lý, giúp ta hướng nghiên cứu đúng đắn. Sau đây là giải đáp theo quan điểm, nhận thức của Thuyết hấp dẫn mới :
a. Tại sao các lý thuyết vật lý được coi là chuẩn mực thành công lại không tương thích với nhau ?
Trước hết là quan niệm, nhận thức về các đại dương vật lý cơ bản của các lý thuyết không thống nhất, có nhiều dị biệt, mô hồ, đặc biệt là khái niệm không gian và thời gian.
Cho đến nay chưa có một lý thuyết vật lý nào cho ta cơ sở diễn đạt khái niệm không gian thời gian rõ ràng thuyết phục. Đây thực sự là một thiếu sót rất cơ bản của vật lý lý thuyết chưa được giải quyết. Không gian và thời gian và hai thành tố vậtlý cơ bản phổ quát nhất của tự nhiên, ta không thể chủ quan đánh giá một lý thuyết vật lý nào đó là đúng hay sai (phản ánh đúng bản chất của tự nhiên) khi chính ta còn rất mơ hồ về khái niệm không gian và thời gian.
b. Tại sao các lý thuyết vật lý đều tồn tại nghịch lý thậm chí phi lý chưa được giải quyết ?
Để có thể trả lời câu hỏi này, xin ngược dòng lịch sử vật lý. Thuyết địa tâm đã dự báo nhật thực, nguyệt thực chính xác không thua kém thuyết nhật tâm. Nếu chỉ căn cứ vào kết quả dự báo chính xác nhật thực, nguyệt thực ta không thể bác bỏ thuyết địa tâm. Tuy nhiên thuyết địa tâm có nghịch lý là không thể giải thích hợp lý quỹ đạo của các hành tinh. Khi Copernic xây dựng thuyết nhật tâm, quỹ đạo các hành tinh chuyển động xung quanh mặt trời trở nên thật đơn giản và hợp lý.
Suy ngẫm từ sự kiện trên ta có thể rút ra nguyên lý vàng cho vật lý lý thuyết để khám phá bản chất thế giới tự nhiên.
Nguyên lý vàng : Một lý thuyết vật lý dù cho kết quả tính toán phù hợp với thực nghiệm, ta chưa thể kết luận lý thuyết vật lý đó là đúng đắn (phản ánh đúng bản chất của tự nhiên) nếu có nghịch lý. Nghịch lý là cảnh báo có sự ngộ nhận.
Ngộ nhận thường là sử dụng dữ liệu ảo tương đương. Vậy dữ liệu ảo tương đương do ngộ nhận là gì ? Để hiểu rõ hơn xin theo dõi cuộc tranh luận sau đây giữa A và B giải thích nguyên nhân hiện tượng một ngày đêm của trái đất.
Quan điểm của A : Có hiện tượng một ngày đêm là do mặt trời chuyển động trên quỹ đạo xung quanh trái đất được một vòng hết 24 giờ. Biết bán kính quỹ đạo trung bình là : 149.600.000km
Vận tốc trung bình của mặt trời trên quỹ đạo là :
2Pi x 149.600.000km / 24h = 39.165.188km/h
Quan điểm của B : Có hiện tượng một ngày đêm là do trái đất tự xoay quanh trục một vòng hết 24 giờ. Vận tốc góc tự xoay của trái đất là :
360º / 24h = 15º/h
Nếu chỉ dừng lại ở kết quả diễn giải như trên ta không thể kết luận A sai, thậm chí xét về mặt trực quan A có phần lợi thế hiển nhiên hơn B. Tuy nhiên B đưa ra câu hỏi thách thức :
Trên bầu trời có hàng ngàn vì sao có khoảng cách tới trái đất khác nhau, không lẽ các vì sao đó lại thông tin cho nhau để đồng thuận chuyển động từ đông sang tây ? Chưa hết một điều kỳ diệu nữa phải xảy ra là các vì sao phải biết tự điều chỉnh vận tốc riêng trên quỹ đạo của mình sao cho có cùng vận tốc góc đối với trái đất. A thừa nhận đây thực sự là một nghịch lý đối với quan điểm của mình. A nhận ra vận tốc trên quỹ đạo của mặt trời, các vì sao so với trái đất là vận tốc ảo không có thực do ngộ nhận.
c. Ngẫu nhiên là một quy luật của tự nhiên hay ngẫu nhiên là tín hiệu cảnh báo cái ta chưa biết ?
Qua giải đáp câu hỏi A và B ta dễ dàng giải đáp câu hỏi C :
Thiên nhiên vận động và biến đổi không ngừng theo quy luật nhân quả chính xác. Nhận thức của con người về tự nhiên còn quá khiêm tốn, còn nhiều ngộ nhận và mơ hồ. Ngẫu nhiên không phải là quy luật của tự nhiên. Ngẫu nhiên là thước đo, tín hiệu cảnh báo cái ta chưa biết hoặc biết nhưng chưa đầy đủ, chưa chuẩn xác.
d. Tại sao các vật thể vi mô có lưỡng tính sóng hạt ?
Thuyết hấp dẫn mới phát hiện ra thực thể vật lý là cấu trúc vật lý cơ bản của tự nhiên, cho ta cơ sở giải đáp câu hỏi này :
Photon cũng là một thực thể vật lý (vật thể - trường quyển) chuyển động trong trường quyển vĩ mô.
- Vận tốc của vật thể (hạt photon) chuyển động cho ta biết tính hạt.
- Tần số của trường quyển photon quay cho ta biết tính sóng.
-
Chương 3 (tiếp theo)
Nhận xét đánh giá tính đúng đắn (phản ánh đúng bản chất cấu trúc vật lý cơ bản của tự nhiên) của các lý thuyết vật lý.
1. Tiêu chí xác định tính đúng đắn (phản ánh đúng bản chất cấu trúc vật lý cơ bản của tự nhiên).
a. Cơ sở nềnt ảng của lý thuyết phải phù hợp, không mâu thuẫn với hiện thực. Đây là tiêu chí trọng tâm, có ý nghĩa quyết định.
b. Các đại lượng vật lý phải nhất quán tường minh
c. Kết quả tính toán phù hợp với khảo sát thực nghiệm (kiểm chứng tin cậy) trong phạm vi rộng, không tồn tại nghịch lý.
2. Nhận xét đánh giá về thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton
Thuyết vạn vật hấp dẫn xây dựng trên cơ sở :
- Không gian tuyệt đối : Không gian tĩnh lặng, trống rỗng tuyệt đối
- Thời gian tuyệt đối : Thời gian trôi đều đặn như nhau tại mọi lúc mọi nơi.
- Cơ chế hấp dẫn : Khối lượng hấp dẫn khối lượng (vạn vật có khối lượng hấp dẫn lẫn nhau). Khối lượng là đại lượng vật lý bất biến.
- Lực hấp dẫn truyền đi tức thời là vô hạn.
Thực nghiệm và vật lý hiện đại đã hầu như bác bỏ tính đúng đắn của cơ sở lý thuyết vạn vật hấp dẫn với các điểm sau :
- Không gian không phải là môi trường trống rỗng. Môi trường không gian là trường hấp dẫn, môi trường không gian bao quanh các vi hạt hoạt động rất sôi động (vật lý hiện đại)
- Trong tự nhiên không có vận tốc vô hạn, vận tốc ánh sáng là vận tốc giới hạn (thuyết tương đối đặc biệt).
Tóm lại : Cơ sở quan điểm của thuyết vạn vật hấp dẫn không phù hợp với cấu trúc vật lý cơ bản của tự nhiên. Chỉ cần phát hiện lực hấp dẫn truyền đi với vận tốc hữu hạn là thuyết hấp dẫn sụp đổ.
Newton đã ngộ nhận cơ thể hấp dẫn : khối lượng hấp dẫn khối lượng.
Ngộ nhận trên là nguyên nhân chính dẫn đến cơ sở cỷa lý thuyết vạn vật hấp dẫn mâu thuẫn với hiện thực. Ngộ nhận trên đã khiến ta hiểu sai lực hấp dẫn, một lực phổ quát mạnh nhất trong tự nhiên trở thành lực yếu nhất trong tự nhiên.
Sau đây là quan điểm của Thuyết hấp dẫn mới:
Khối lượng không hấp dẫn khối lượng.
Khối lượng (trong vật thể tâm trường) hấp dẫn các năng lượng không gian (hạt Graviton) trong trường quyển chuyển động hướng tâm với gia tốc g. Các vật thể có khối lượng hiện hữu trong trường quyển bị cuốn theo cùng gia tốc đó.
Với phát hiện đó, thuyết vạn vật hấp dẫn được thay bằng Thuyết hấp dẫn mới : trường quyển hấp dẫn năng lượng không gian của vật thể gọi tắt là trường quyển vật thể. Với thuyết trường quyển vật thể, mọi mâu thuẫn nghịch lý của thuyết vạn vật hấp dẫn được giải quyết suôn sẻ.
3. Nhận xét đánh giá về thuyết tương đối của Einstein
a) Thuyết tương đối đặc biệt và cơ học tương đối tính
Cơ sở của thuyết tương đối tính là cơ học cổ điển có xét đến ảnh hưởng của vận tốc lớn (gần vận tốc ánh sáng) tới các đại lượng vật lý.
Thuyết tương đối đặc biệt là một ý tưởng đặc sắc nâng cao tầm nhận thức của con người về tính tương đối của tự nhiên vận động không ngừng. Tuy nhiên hai tiêu đề trên chưa phải là nguyên lý của tự nhiên nên Einstein đã có hai ngộ nhận rất nghiêm trọng.
+ Ngộ nhận vận tốc làm thay đổi khối lượng của vật thể chuyển động. Thực ra vận tốc không làm thay đổi khối lượng của vật thể chuyển động mà làm thay đổi gia tốc áp lực (A) của trường quyển hấp dẫn lên vật thể chuyển động.
+ Ngộ nhận môi trường không gian là chân không dẫn tới ngộ nhận vận tốc ánh sáng trong môi trường không gian là hằng số vật lý, thực ra vận tốc, ánh sáng C không phải là hằng số vật lý trong mọi trường quyển vật thể. Vận tốc C biến đổi tùy thuộc vào trị số VQT của trường quyển vật thể mà ánh sáng truyền qua.
Cqt^2 = Co^2 - Vqt^2
C : Chỉ là hằng số vật lý địa phương riêng cho vùng trường quyển gần mặt đất có VQT ≈ 7909m/s
b) Thuyết tương đối tổng quát với phương trình trường hấp dẫn Einstein
Cơ sở của thuyết tương đối tổng quát là phương trình trường hấp dẫn Einstein nhằm xác định mô hình không gian của vũ trụ cùng tính chất vật lý đặc trưng cho không gian đó.
Trong thuyết tương đối tổng quát, Einstein đã thay thế khái niệm hấp dẫn của vật thể có khối lượng lớn bằng độ cong không gian bao quanh vật thể đó. Đối với vật thể có khối lượng nhỏ, Einstein quan niệm không gian bao quanh là phẳng (không gian Eculid).
Trái đất được coi là vật thể có khối lượng nhỏ.
Mặt trời được coi là vật thể có khối lượng lớn.
Phương trình trường hấp dẫn của Einstein rất phức tạp bởi phương trình trường là một tập hợp Tenxơ đặc trưng vật lý làm cong không thời gian. Giải phương trình trường của Einstein cần một lý thuyết toán đặc biệt để tìm độ cong không thời gian phi Euclid.
Einstein sử dụng lý thuyết toán tenxơ metric (khoảng cách) của Riemann, tenxơ độ cong Ricci, Levi Civita.
Thuyết tương đối tổng quát đã dự toán 3 hiệu ứng hấp dẫn :
- Góc lệch của tia sáng từ các vì sao đi sát đĩa mặt trời tới trái đất.
- Tiếng động khác thường của sao Thủy
- Sự biến nhỏ của tần số sóng điện từ trong trường hấp dẫn.
Các quan trắc đã kiểm nghiệm là khá phù hợp với dự đoán của lý thuyết, song các kết quả quan trắc kiểm nghiệm đó có đáng tin cậy hay không thì chưa có phương pháp kiểm hứng đảm bảo.
Không gian phi Euclid, một cơ sở của lý thuyết tương đối tổng quát có hiện thực hay không ? Cho đến nay chưa ai chứng minh được bởi hình học phi Euclid của Riemann, Gauss, Bolyai, Lobachevsky suy ngẫm cho cùng chỉ là hình học mặt phẳng chuyển sang càc mặt cong có độ cong không đổi trong không gian Euclid mà thôi. Đó không phải là hình học không gian phi Euclid.
Sau đây là quan điểm của thuyết hấp dẫn mới :
Cơ sở của thuyết tương đối tổng quát là cơ sở của thuyết vạn vật hấp dẫn có xét đến độ cong không thời gian phi Euclid bao quanh vật thể có khối lượng lớn.
Từ phát hiện Newton ngộ nhận về cơ chế hấp dẫn trong thuyết vạn vật hấp dẫn đến ngộ nhận của Einstein trong thuyết tương đối đặc biệt. Thuyết hấp dẫn mới có thể kết luận : Cơ sở của thuyết tương đối tổng quát không phù hợp với cấu trúc vật lý cơ bản của tự nhiên. Ý tưởng của thuyết tương đối tổng quát là hệ quả phát triển tư duy ngộ nhận từ hai lý thuyết vạn vật hấp dẫn và thuyết tương đối đặc biệt.
Cơ sở của thuyết tương đốit ổng quát càng xa rời hiện thực (khái niệm không gian phi Euclid, không thời gian cong)
Để chứng minh cho kết luận trên, Thuyết hấp dẫn mới đề xuất một khái niệm“Môi trường không - thời gian cong” có thể hình dung bằng trực giác. Đó chính là trường quyển của vật thể có hình dáng cong gần với khối cầu.
Einstein coi Trái đất là vật thể có khối lượng nhỏ nên không gian bao quanh là phẳng - không gian Euclid. Đây là một sai lầm của Einstein.
Einstein đã bỏ qua cái “cong” thực tế (quỹ đạo quán tính đồng tốc của vật thể chuyển động trong trường quyển) để tìm cái “cong” không thực tế trong không gian phi Euclid. Ta hãy xét trường hợp cụ thể vùng không gian bao quanh Trái đất, lần lượt ta thấy :
- Mặt nước biển cong.
- Khí quyển cong
- Trường quyển cong (có Mặt trăng chuyển động quán tính trong đó)
Thuyết hấp dẫn mới cho rằng : thuộc tính của không gian là Euclid, khoảng gián cách là bất biến, chỉ có môi trường không gian (trường quyển vật thể) là có hình dáng cong do lực hấp dẫn của khối lượng vật thể tâm trường tạo nên.
Để đo độ cong môi trường không gian trong trường quyển ta có thể sử dụng bán kính quỹ đạo quán tính đồng tốc (RQD) làm thước đo qui ước.
Có khái niệm thời gian cong ?
Ta có thể lấy vận tốc ánh sáng tại vùng trường quyển có vận tốc quán tính bằng không (Vqt = 0 m/s) làm chuẩn, Co = 299.792.458,1m/s
Độ cong thời gian qui ước là Cqt / Co
Ta liên kết bán kính quỹ đạo quán tính đồng tốc (môi trường không gian cong) với tỉ lệ vận tốc ánh sáng Cqt/Co (độ cong thời gian) tại vùng trường quyển ta khảo sát. Ta có khái niệm môi trường không - thời gian cong.
-
4. CẤU TRÚC VẬT LÝ CƠ BẢN
Muốn nghiên cứu tìm hiểu khám phá thế giới tự nhiên về mặt vật lý đi đúng hướng và khoa học, trước hết phải xác định cho được cấu trúc vật lý cơ bản, rồi từ đó nghiên cứu một số cấu trúc vật lý cơ bản điển hình làm cơ sở.
Xác định được cấu trúc vật lý cơ bản, có thể giúp ta cơ sở để dựng nên mô hình cấu tạo của tự nhiên (mô hình vũ trụ, và trả lời câu hỏi muôn thuở : Thế giới tự nhiên được tạo ra từ cái gì ? Cấu trúc ra sao ? Có giới hạn hay vô hạn ?
Theo thuyết hấp dẫn mới cấu trúc vật lý cơ bản là thực thể vật lý. Vậy thực thể vật lý là gì ?
THỰC THỂ VẬT LÝ = VẬT THỂ + TRƯỜNG QUYỂN
Thực vậy ta không thể tách vật thể độc lập khỏi trường quyển và ngược lại. Ta chỉ có thể phá vỡ thực thể vật lý này thành nhiều thực thể vật lý khác hoặc nhập nhiều thực thể vật lý khác nhau thành một thực thể vật lý mới. Tóm lại thế giới tự nhiên chỉ là những thực thể vật lý khác nhau mà thôi.
Sở dĩ trường quyển của vật thể chưa được phát hiện vì các vật thể thông thường trên mặt đất quanh ta lớp trường quyển riêng rất mỏng hầu như ẩn trong bề mặt của vật thể. Thực ra các vật thể trên mặt đất chỉ là những phần tử nhỏ thuộc trái đất có trường quyển chung với trái đất.
Trường quyển của vật thể vi mô, trường quyển của vật thể vĩ mô thể hiện khá rõ :
Ta nhận biết thực thể vi mô :
• Vận tốc vật thể chuyển động biểu hiện hạt.
• Trường quyển quay biểu hiện sóng.
Ta nhận biết thực thể vĩ mô :
Thái dương hệ là một thực thể vĩ mô :
• Vật thể là Mặt trời
• Trường quyển là vùng không gian thuộc thái dương hệ trong đó có các hành tinh chuyển động xung quanh mặt trời.
PHÁT HIỆN :
Thực thể vật lý là một cấu trúc vậtl ý cơ bản có ý nghĩa vật lý rất cơ bản và siêu việt. Phát hiện này có thể sánh với phát hiện vĩ đại của Copernic về thuyết nhật tâm.
-
5. THUYẾT HẤP DẪN MỚI - TRƯỜNG QUYỂN VẬT THỂ
Trường quyển hấp dẫn năng lượng không gian (Graviton) của vật thể
Thuyết hấp dẫn mới xây dựng trên cơ sở :
- Phát hiện thực thể vật lý là một cấu trúc vật lý cơ bản.
- Thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton là một ngộ nhận về cơ chế hấp dẫn.
Từ đó quan điểm nhận thức rõ ràng về các loại lượng vật lý cơ bản, đảm bảo là khái niệm không gian, thời gian. Thuyết hấp dẫn mới cũng xác định hai hạt cơ bản nguyên thủy và sử dụng hai hạt cơ bản nguyên thủy đó dựng nên mô hình vật lý của tự nhiên.
Sau đây là quan điểm nhận thức khái quát của Thuyết hấp dẫn mới về hai hạt cơ bản nguyên thủy và các đại lượng vật lý cơ bản.
5.1. HẠT CƠ BẢN NGUYÊN THỦY
Hạt cơ bản nguyên thủy là hạt cơ bản nhỏ nhất không thể phân chia được, bất biến trong mọi quá trình vật lý. Thuyết hấp dẫn mới : “trường quyển hấp dẫn năng lượng không gian Graviton của vật thể” xây dựng từ hai hạt cơ bản nguyên thủy sau
1. Hạt trường năng lượng không gian (hạt Graviton)
Về số lượng : Hạt Graviton có số lượng nhiều nhất trong tự nhiên lắp đầy không gian tạo thành môi trường không gian- Trường Graviton
Về tính chất : Hạt Graviton có hai tính chất đặc trưng
• Tính tự choán lấp đầy không gian, nơi nào có không gian nơi đó có hạt Graviton. Không gian vũ trụ thực chất là môi trường Graviton - trường Graviton. Tính tự choán lấp đầy không gian của trường Graviton và phản lực chống lại sức hút của hạt khối lượng.
• Chịu sức hút (với hằng số hấp dẫn G) của khối lượng chứa trong vật thể, các hạt Graviton (trong trường Graviton) chuyểnđộng hướng tâm vật thể với gia tốc (g). Vùng trường Graviton) chuyển động hướng tâm vật thể với gia tốc (g). Vùng trường Graviton chịu sức hấp dẫn của khối lượng vật thể có bán kính giới hạn tạo nên trường quyển Graviton của vật thể.
2. Hạt khối lượng: Hạt khối lượng có trong vật thể xác định lượng vật chất của vật thể đó.
Về số lượng : Hạt khối lượng trong tự nhiên có số lượng nhiều chỉ đứng sau hạt Graviton
Về kích thước : Hạt khối lượng là hạt nhỏ nhất trong tự nhiên có thể coi là siêu vi điểm
Về tính chất : Hạt khối lượng có tính chất đặc trưng sau :
• Tính định xứ trong trường Graviton, tạo nên tâm trường quyển Graviton riêng.
• Hạt khối lượng không tương tác hấp dẫn với nhau. Thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton là một sự ngộ nhận. Hạt khối lượng chỉ tương tác hấp dẫn các hạt Graviton trong trường Graviton tạo nên trường quyển Graviton riên ghình thành một thực thể vật lý.
5.2. CÁC ĐẠI LƯỢNG VẬT LÝ CƠ BẢN
Không gian
Không gian là một thành tố cấu trúc cơ bản của tự nhiên, một đại lượng vật lý, một khái niệm triết học có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau. Cho đến nay chưa có lý thuyết vật lý nào có cơ sở luận giải rõ ràng thuyết phục.
Thuyết hấp dẫn mới có quan điểm nhận thức về không gian như sau:
+ Không gian tuyệt đối :
Là khoảng không trống rỗng vô tận chưa hàm chứa một yếu tố vật lý nào trong đó. Tự tính của không gian tuyệt đối là đồng nhất, đẳng hướng, Euclid, khoảng gián cách là bất biến.
Với giác quan, con người không thể cảm nhận, xác định được không gian tuyệt đối. Tuy nhiên con người có thể cảm nhận được không gian vật lý - môi trường vật lý.
+ Không gian vật lý (trường Graviton) :
Không gian vật lý là không gian thực tại, không gian vũ trụ, là khoảng không gian đã chứa một thể môi trường vật lý đặc trưng cho cấu trúc không gian thực tại.
Vậy thể môi trường vật lý đặc trưng cho cấu trúc không gian thực tại là gì ? Trước thuyết tương đối đặc biệt các nhà vật lý cho là Ête.
Trong thuyết tương đối đặc biệt, Einstein cho là chân không.
Vật lý hiện đại cho là trường hấp dẫn.
Còn ête, chân không, trường hấp dẫn là gì ? Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm nhận thức rõ ràng vì thế khái niệm không gian vẫn còn rất mơ hồ.
Sau khi xác định được cấu trúc vật lý cơ bản và phát hiện thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton là ngộ nhận. Thuyết hấp dẫn mới có đủ cơ sở để xác định thể môi trường vật lý đặc trưng cho cấu trúc không gian thực tại là trường Graviton.
Trường Graviton là môi trường không gian động. Hạt Graviton chuyển động hướng tâm trường quyển. Trường quyển nhỏ chuyển động trong trường quyển lớn.
+ Trường quyển Graviton của vật thể (trường quyển vật thể) :
Trường quyển vật thể là vùng trường Graviton chịu sức hấp dẫn của khối lượng vật thể tâm trường. Bán kính hấp dẫn của vật thể là bán kính trường quyển của vật thể. Ký hiệu Rt.
Trường quyển vật thể có tâm. Tâm vật thể là tâm trường quyển của vật thể.
Phát hiện ra tâm trường quyển vật thể có một ý nghĩa vật lý sâu sắc để định vị chính xác các điểm trong không gian vật lý. Phát hiện này chấm dứt cách chọn điểm quy chiếu tùy tiện mơ hồ trong quan niệm không gian trước đây.
Phát hiện này xác định tâm vật thể là điểm quy chiếu tuyệt đối trong trường quyển vật thể. Vật thể A chuyển động trong trường quyển của vật thể B, điểm quy chiếu tuyệt đối của vậ thể A chuyển động là tâm của vật thể B.
Mặt trăng chuyển động trong trường quyển Trái đất. Tâm Trái đất là điểm quy chiếu tuyệt đối của Mặt trăng chuyển động.
Trái đất chuyển động trong trường quyển mặt trời. Tâm Mặt trời là điểm quy chiếu tuyệt đối của Trái đất chuyển động.
Điện tử chuyển động trong trường quyển hạt nhân. Tâm hạt nhân là điểm quy chiếu tuyệt đối của điện tử chuyển động.
Thời gian
Thời gian là một đại lượng vật lý, thước đo vận động, một khái niệm triết học có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau. Cũng như không gian, cho đến nay chưa có lý thuyết vật lý nào có cơ sở luận giải rõ ràng thuyết phục.
Bí ẩn của thời gian chính là khái niệm “Trôi” chưa được giải quyết.
Thuyết hấp dẫn mới có quan điểm nhận thức về thời gian như sau:
Thời gian tuyệt đối :
Thời gian tuyệt đối là khái niệm chỉ thời gian “Trôi” đều đặn như nhau tại mọi lúc mọi nơi trong tự nhiên, không phụ thuộc vào quá trình vật lý. Còn thời gian “Trôi” như thế nào ? con người không thể cảm nhận và xác định được. Tuy nhiên con người có thể cảm nhận xác định được thời gian qui ước (thời gian vật lý)
Thời gian qui ước (thời gian vật lý) :
Thời gian qui ước là khái niệm chỉ thời gian thực tại mà con người đã và đang sử dụng. Thời gian qui ước không dựa theo khái niệm “Trôi” của thời gian tuyệt đối.
Thời gian qui ước là căn cứ vào nhịp vận động có tính chu khách hàng nào đó của tự nhiên làm chuẩn.
Năm dương lịch : Chu kỳ trái đất chuyển động xung quanh mặt trời được một vòng.
Tháng âm lịch : Chu kỳ mặt trăng chuyển động xung quanh Trái đất được một vòng.
Ngày : Chu kỳ Trái đất xoay quanh trục được một vòng.
Bản chất của thời gian qui ước là nhịp vận động có tính chu kỳ của một quá trình vật lý tự nhiên nào đó, nên thời gian qui ước chỉ có một chiều (nhịp vận động trước sau nối tiếp). Khái niệm chiều thời gian khác hẳn chiều không gian (3 chiều), ta không thể đồng nhất khái niệm nhiều thời gian với chiều không gian.
Thời gian vật lý diễn biến nhanh chậm là tùy thuộc vào điều kiện vật lý (trạng thái và môi trường vật lý) mà ta chọn làm chuẩn thời gian qui ước.
Với điều kiện vật lý (trạng thái và môi trường vật lý) ổn định thì quá trình vật lý (nhịp vận động) là bất biến cho ta những khảong thời gian quy ước tuyệt đối như nhau không đổi. Điều đó có nghĩa là thời gian có tính đồng thời tuyệt đối,chỉ có thời gian vật lý (nhịp vận động nhanh chậm) tức quá trình vật lý biến đổi do trạng và môi trường vật lý không ổn định mà thôi.
Einstein đã ngộ nhận quá trình vật lý (dao động chu kỳ) biến đổi theo trạng thái và môi trường vật lý (nhịp đồng hồ chạy nhanh chậm) là thời gian “Trôi” nhanh chậm.
Nghịch lý sinh đôi là do ngộ nhận đó. Khoảng thời gian giữa hai lần gặp nhau của hai anh em sinh đôi là một khoảng thời gian như nhau đối với cả hai người, nhưng đồng hồ của hai người lại chỉ hai khoảng thời gian khác nhau. Đây rõ ràng là đồng hồ chạy nhanh chậm khác nhau trong cùng mộtkhoảng thời gian như nhau vì hai chiếc đồng hồ đã trải qua hai trạng thái và môi trường vật lý khác nhau.
Không gian - Thời gian (Quan hệ vật lý giữa không gian và thời gian)
Xây dựng thuyết tương đối tổng quát, Einstein đưa ra khái niệm Không - thời gian cong, một khái niệm không thể hình dung nhận thức theo tư duy thông thường cho đến nay chưa có ai giải thích được rõ ràng thuyết phục khái niệm không - thời gian cong.
Sau đây là quan điểm nhận thức của thuyết hấp dẫn mới về quan hệ giữa không gian và thời gian trong trường quyển vật thể.
Không gian vũ trụ thực chất là môi trường không gian vậtlý, không gian đã trở thành môi trường Graviton. Khi vật thể (tâm trường quyển) hấp dẫn các hạt Graviton trong trường quyển chuyển động hướng về tâm vật thể với gia tốc g. Gia tốc áp lực (A) của trường quyển giảm dần theo bình phương khoảng cách tính từ tâm vật thể (tâm trường quyển) điều đó có nghĩa một điểm càng gần tâm trường quyển vật thể gia tốc áp lực của trường quyển càng tăng làm các quá trình vật lý (kể cả vận tốc ánh sáng, nhịp vận hành của đồng hồ) diễn ra tại nơi trường quyển tương ứng chậm dần.
Vận tốc
Vận tốc là số đo sự dịch chuyển của vật thể đối với môi trường mà vật thể chuyển động đó. Đơn vị của vận tốc là m/s, km/h...
Con cá, tàu ngầm di chuyển trong môi trường nước (chính xác là quyển nước)
Con chim, máy bay... di chuyển trong môi trường không khí (quyển khí)
Các vật thể vũ trụ di chuyển trong trường quyển Graviton của vật thể.
Trường quyển Graviton của vật thể là môi trường không gian đặc biệt khác hẳn môi trường không khí và nước. Vật thể di chuyển trong môi trường (không khí, nước) tùy theo vận tốc nhanh hay chậm, áp lực của môi trường tác động lên bề mặt của vật thể tạo nên áp suất tăng hay giảm.
Vật thể di chuyển trong trường quyển Graviton của vật thể, tùy theo vận tốc nhanh hay chậm áp lực của vùng trường quyển tác động trực tiếp lên các điểm khối lượng trong vật thể tạo ra gia tốc áp lực tăng hay giảm.
+ Vận tốc quán tính (VQT)
Vận tốc quán tính là vận tốc chuyển động trên quỹ đạo trong trường quyển làm cân bằng gia tốc áp lực của trường quyển tại quỹ đạo đó. Trong tự nhiên không có vận tốc quán tính chung chung, mơ hồ không xác định như thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton. Theo Thuyết hấp dẫn mới trong tự nhiên chỉ có vận tốc quán tính xác định trên quỹ đạo trong trường quyển cụ thể.
Vqt^2 = MG / Rqd
Gia tốc
Gia tốc là mức độ thay đổi vận tốc trong một khoảng thời gian. Đơn vị : m/s2
Trong trường quyển có hai loại gia tốc :
- Gia tốc chuyển động hướng tâm (g)
- Gia tốc áp lực (A)
+ Gia tốc chuyển động hướng tâm trường quyển (ký hiệu g, đơn vị m/s2). Thuyết vạn vật hấp dẫn gọi là gia tốc rơi tự do, gia tốc trọng trường.
Bản chất gia tốc chuyển động hướng tâm trường quyển là mức độ thay đổi vận tốc trong một giây của các loại Graviton chuyển động về tâm trường quyển do sức hút (hấp dẫn) của khối lượng tâm trường. Ta nhận biết gia tốc đó qua quan sát hiện tượng các vật thể hiện hữu trong trường quyển trôi theo cùng gia tốc đó:
G = MG / Rqd^2
+ Gia tốc áp lực (kí hiệu A, đơn vị m/s2). Áp lực của trường quyển lên khối lượng của vật thể.
Một vật thể đứng yên cách tâm trường quyển một khoảng RQD. Vật thể đó chịu một gia tốc áp lực:
A = MG / Rqd^2
Nhận xét :
A là nguyên nhân của vật thể chuyển động hướng tâm trường quyển với gia tốc g. Trong quá trình vật thể chuyển động hướng tâm, gia tốc áp lực A của trường quyển lên vật thể bằng không.
A là nguyên nhân chuyển động hướng tâm, g là biểu hiện của chuyển động hướng tâm. Có hai nguyên nhân tạo ra gia tốc áp lực (A) trong trường quyển:
A = MG / Rqd^2
Gia tốc áp lực của trường quyển tác động lên vật thể do vật thể chuyển động trong trường quyển.
Einstein đã ngộ nhận vận tốc của vật thể chuyển động trong trường quyển làm biến đổi gia tốc áp lực của trường quyển lên vật thể ra biến đổi khối lượng.
Vận tốc với thời gian (mối quan hệ vật lý giữa vận tốc với thời gian)
Vận tốc của vật thể chuyển động trong trường quyển làm thay đổi gia tốc áp lực của trường quyển lên vật thể tác động tới các quá trình vật lý (kể cả nhịp vận hành của đồng hồ).
Vận tốc chuyển động của vật thể trong trường quyển tăng, dẫn tới gia tốc áp lực của trường quyển lên vật thể tăng. Gia tốc áp lực của trường quyển tăng làm nhịp vận hành của đồng hồ chậm lại (thời gian vật lí chậm lại). Hiện tượng trên phù hợp với quan điểm của Einstein là vận tốc tăng dẫn tới thời gian “trôi” chậm lại. Nhưng đây là một sự ngộ nhận khái niệm thời gian “trôi” với trạng thái và môi trường vật lí biến đổi dẫn tới quá trình vật lí (thời gian vật lý) biến đổi.
Khối lượng (M)
Khối lượng là hạt cơ bản nguyên thủy, đặc trưng cho lượng vật chất có trong vật thể. Ta không thể xác định, cảm nhận riêng lẻ từng hạt khối lượng vì trước hết hạt khối lượng là hạt nhỏ nhất (siêu chất điểm) trong tự nhiên, hơn nữa hạt khối lượng không tồn tại độc lập àm theo cấu trúc thực thể vật lý (vật thể + trường quyển vật thể). Tuy nhiên, qua cấu trúc thực thể vật lí (vật thể + trường quyển vật thể). Tuy nhiên, qua cấu trúc thực thể vật lý ta có thể xác định “khối lượng quy chuẩn” có trong từng vật thể thông qua hằng số hấp dẫn G.
Cấu trúc thực thể vật lý cho ta biết trong tự nhiên cũng như nhân tạo không thể nén ép các hạt khối lượng thành một cục khối lượng ròng. Ta chỉ có thể nén ép các thực thể vật lý vào một khoảng không gian nào đó mà thôi. Chính các trường quyển Graviton của các thực thể vậtlí chống lại sự nén ép đó tạo ra năng lượng.
Bán kính Rc của một vật thể là giới hạn nén ép vật thể đó có bán kính là vận tốc quán tính V1 = Vc
Rc = Mk.G / Vc^2
Bán kính Rc của một số vật thể :
- Photon: Mk = 3,566.10^(-36)kg (2eV) --> Rc = 2,647494241.10^(-63)m
- Mặt trăng: Mk = 4,4775.10^22kg --> Rc = 5,464261811.10^(-5)m
- Trái đất: Mk = 5,98.10^24kg --> Rc = 4,439712721.10^(-3)m
- Mặt trời: Mk = 1,99.10^30kg --> Rc = 1,477429484.10^3m
Khối lượng là một đại lượng đặc trưng cho lượng vật chất có trong vật thể tuyệt đối không biến đổi.
Trường quyển Graviton của vật thể không làm thay đổi khối lượng.
Trường quyển Graviton của vật thể chỉ làm thay đổi trọng lượng (qua gia tốc áp lực).
Vận tốc không làm thay đổi khối lượng của vật thể chuyển động.
Vận tốc chỉ làm thay đổi gia tốc áp lực của trường quyển lên vật thể chuyển động.
Nhận xét :
Einstein đã ngộ nhận vận tốc làm thay đổi gia tốc áp lực của trường quyển lên vật thể chuyển động ra thay đổi khối lượng. Đây là một ngộ nhận rất nghiêm trọng.
Năng lượng
Do tính tự choán không gian của hạt trường năng lượng không gian (hạt Graviton) là nguyên nhân sâu xa của năng lượng.
+ Năng lượng tiềm ẩn là chỉ lượng hạt Graviton bị “nhốt” trong một thể tích không gian (thể tích vật thể) do khối lượng của vật thể (MK) hấp dẫn
E = Mk.C^2
+ Năng lượng giải phóng toàn phần là chỉ sức mạnh của tất cả các hạt Graviton bị “nhốt” trong thể tích vật thể bung ra choán không gian để lặp lại mật độ bình quân trong vùng trường quyển đó.
Vật thể
Thực thể vật lí gồm hai phần : vật thể và trường quyển Graviton của vật thể.
Vật thể là hình thức biểu hiện cấu trúc của khối lượng trong một không gian nấht định ở vùng trung tâm thực thể vật lí. Ta nhận biết vật thể qua hình dáng kích thước và vận tốc, còn trường quyển Graviton của vật thể ta không thể nhận biết bằng quan sát.
Thuyết hấp dẫn mới đã phát hiện ra trường quyển Graviton của vật thể qua cấu trúc vật lí cơ bản.
Vật thể vi mô là các hạt cơ bản.
Vật thể siêu vi mô là các hạt dưới cơ bản.
Vật thể vĩ mô là các vệ tinh (như mặt trăng) các hành tinh như trái đất, các vì sao (như mặt trời, các thiên hà (như ngân hà) v.v...
Vật thể lớn nhất mà ta ý niệm là vũ trụ.
Vật thể lớn được cấu tạo từ nhiều thực thể vật lý nhỏ hơn.
Vật thể có muôn hình vạn trạng, tính chất khác nhau chính là do hình thức liên kết cực kỳ phong phú biến hóa giữa các thực thể vật lý với nhau. Vật thể càng lớn cấu trúc liên kết giữa các thực thể vật lí càng phức tạp, đa dạng, tầng tầng lớp lớp.
Vật thể càng nhỏ cấu trúc liên kết càng đơn giản.
Thực thể vật lí nhỏ nhất cho đến nay ta nhận biết được là Photon.
Ta nhận biết photon qua lưỡng tính sóng hạt :
Vật thể photon chuyển động biểu hiện tính hạt
Trường quyển photon quay biểu hiện tính sóng
-
Link download bản đầy đủ tại đây:
File MS Word, 1.2Mb
http://www.mediafire.com/download.php?ad0gz8cbnloxo81
-
Giới thiệu 'thuyết hấp dẫn mới'
Tuy "thuyết hấp dẫn mới" của ông Bùi Minh Trí không được sự đánh giá cao của Viện Vật lý và điện tử, nơi thẩm định công trình, nhưng Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng vẫn nhận giúp tác giả công bố. Việc này sẽ được làm một cách thận trọng.
Tiến sĩ Bùi Ngọc Oánh, Viện trưởng Viện khoa học phát triển nhân lực và tài năng cho biết, Viện chỉ là cơ quan hỗ trợ, phát triển tài năng chứ không có thẩm quyền hay chuyên môn khoa học gì để đánh giá công trình của ông Trí là đúng hay sai.
Ông cho rằng, một công trình nghiên cứu đưa ra có ý kiến khen chê là điều tất nhiên, nhất là công trình này lại "sửa lưng" các nhà khoa học lớn của nhân loại, tác giả của nó thì không có chuyên ngành, chuyên môn cao và rất có thể lý luận còn nhiều điều thiếu sót.
Ông cho biết, có nhiều nguyên do khiến Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam đồng ý giới thiệu công trình này. Trước hết, Viện trân trọng sự nhiệt tình, nghiêm túc nghiên cứu khoa học của tác giả. Tiến sĩ Oánh thừa nhận, ban đầu, khi nghe ông Trí nói đến thuyết hấp dẫn mới, ông nghĩ "hay bác này bị hoang tưởng?". Nhưng sau đó, khi lắng nghe vị kiến trúc sư 75 tuổi này và tiến hành nhiều trắc nghiệm trí tuệ, suy nghĩ này đã thay đổi.
Một lý do nữa khiến ông Oánh lưu tâm đến việc công bố "thuyết hấp dẫn mới" là theo ông, thực ra chính Newton và Einstein cũng còn hồ nghi về một số vấn đề họ đưa ra. Vì thế, việc nghiên cứu tiếp là cần thiết và tất yếu. Theo ông Oánh, biết đâu ông Bùi Minh Trí có thể tìm ra một cái gì đó bổ sung sâu thêm những điều Newton và Einstein đã nêu ra.
"Hơn nữa, chẳng phải khi Einstein đưa ra thuyết tương đối thì đều bị mọi người thời ấy đánh giá là điên rồ sao? Bao giờ những tư tưởng mới cũng bị phê phán mạnh nhưng rồi lịch sử sẽ hiểu ra" - tiến sĩ Oánh nói. Tuy nhiên, ông Oánh không thực sự tin lắm vào công trình của ông Trí.
Theo tiến sĩ Oánh, thuyết của ông Trí nếu sai thì cũng tạo ra được dư luận rộng rãi về một vấn đề khoa học, có thể thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học ở Việt Nam: "Rất có thể ông Trí này sai lại sinh ra nhiều 'ông Trí khác' đúng hơn. Và trong quá trình phê phán ấy, biết đâu lại phát hiện ra nhiều vấn đề khoa học mới". Thực tế, sau khi đưa ra công chúng "thuyết hấp dẫn mới", đã có nhiều công trình nghiên cứu khác gửi đến viện.
Tiến sĩ Bùi Ngọc Oánh cho biết, ngày 25/11/2006, Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam tổ chức giới thiệu công trình trên dưới dạng phát miễn phí gần 1.000 bản in cho những người quan tâm để họ xem và góp ý. Việc công bố trên các tạp chí khoa học uy tín của thế giới sẽ cần có thời gian, vì đây là cả quá trình.
Theo ông Oánh, nếu ý kiến tranh luận trong nước cho rằng công trình này đúng đắn, được đa số ủng hộ thì mới nghĩ đến chuyện đưa ra thế giới được: "Cần thận trọng. Trước khi dịch sang tiếng Anh, chúng tôi phải xin ý kiến của nhiều cơ quan trong nước và sẽ phải có hội đồng thẩm định cẩn thận, chứ không phải muốn đăng ở đâu thì đăng".
Còn tác giả, ông Bùi Minh Trí, rất tự tin về công trình nghiên cứu của mình dù nó bị nhiều người chê bai. Ông Trí cho rằng công trình này là cực lớn ở Việt Nam, và ở trong nước chẳng cơ quan nào đủ thẩm quyền đánh giá nó. Viện Vật lý điện tử cũng chỉ là nơi có lĩnh vực nghiên cứu gần nhất với những gì "thuyết hấp dẫn mới" đề cập mà thôi.
Tác giả khẳng định, các nhà khoa học có nhiều ý kiến trái chiều và phản đối công trình của ông vì từ xưa đến giờ họ sùng bái cá nhân quá mức: "Họ chỉ quan tâm đến cái đúng chứ không ai tìm hiểu cái sai. Còn tôi, tôi chỉ đi tìm cái sai và người ta lại nghĩ tôi là thằng tâm thần. Mấy hôm nữa tôi sẽ chỉ ra cho mọi người thấy cái sai của hai nhà khoa học vĩ đại thế giới Newton và Einstein".
Không chỉ thế, ông Trí còn tin rằng, sau khi "thuyết hấp dẫn mới" được dịch và đưa tới viện hàn lâm các nước thì các nhà khoa học thế giới cũng phải nghiền ngẫm vài năm mới thấu được. Ông tỏ ra bất bình trước việc nhiều người chưa đọc hoặc đọc lớt phớt mà đã dám nhận xét về "đứa con" của mình.
(vnexpress)
-
Tường thuật buổi sinh hoạt giới thiệu "Thuyết Trường quyển vật thể"
Cách đây 6 năm, vào lúc 9h ngày thứ bảy 25/11/2006, tại Hội trường Báo Thanh Niên (lầu 4, số 248 Cống Quỳnh, Quận 1, TP.HCM), Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng đã tổ chức buổi sinh hoạt khoa học giới thiệu đề tài "Thuyết Trường quyển vật thể" do kiến trúc sư Bùi Minh Trí (tác giả đề tài) trình bày.
http://www.thanhnien.com.vn/Uploaded...anhvatly-2.gif
Đến dự buổi giới thiệu đề tài có: PGS.TS Bùi Ngọc Oánh - Viện trưởng Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam, KTS Bùi Minh Trí - Tác giả đề tài, TS Mai Ngọc Luông - Trưởng phòng Nghiên cứu Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng, PGS.TS Nguyễn Văn Lộc - Giảng viên ĐH Sư phạm TP.HCM, TS Nguyễn Trần Trác - Giảng viên ĐH Sư phạm TP.HCM và nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứu Vật lý, học sinh các trường trung học phổ thông năng khiếu, THPT chuyên Trần Đại Nghĩa...
http://www.thanhnien.com.vn/Uploaded...anhvatly-3.gif
Mở đầu buổi giới thiệu đề tài Trường quyền vật thể, PGS.TS Bùi Ngọc Oánh - Viện trưởng Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam có bài phát biểu:
"Hôm nay, Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam và Báo Thanh Niên cùng tổ chức buổi sinh hoạt khoa học để chính thức giới thiệu đề tài "Thuyết Trường quyển vật thể" của KTS Bùi Minh Trí. Đây là một đề tài khoa học khá đặc biệt, vì tác giả muốn tìm hiểu và giải quyết một số vấn đề mà ông cho rằng đó là những điểm mâu thuẫn, những nghịch lý trong Thuyết Hấp dẫn của Newton và Thuyết tương đối của Einstein, những nhà bác học vĩ đại của của nhân loại. Chúng tôi cho rằng đây là một vấn đề lớn, rất phức tạp và khó khăn, vì vậy chúng tôi rất mong được sự góp ý của quý vị về giá trị của đề tài này.
Newton và Einstein là các nhà bác học vĩ đại, những công trình nghiên cứu của hai ông là những cống hiến vô giá cho nhân loại. Rất nhiều công trình, trong đó có Thuyết hấp dẫn và Thuyết tương đối đã được thể nghiệm, được vận dụng thành công trong thực tiễn, góp phần lớn lao vào việc thúc đẩy sự phát triển khoa học, văn hóa và đời sống của xã hội loài người trong hàng trăm năm qua. Tuy nhiên, một số khía cạnh, một số vấn đề trong hai học thuyết trên vẫn còn đặt ra cho chúng ta những câu hỏi, những suy nghĩ về tính rõ ràng và cụ thể của nó.
Công trình nghiên cứu của KTS Bùi Minh Trí là một trong nhiều công trình đi vào nghiên cứu những khía cạnh trên.
Chúng tôi đánh giá cao tinh thần say mê, nhiệt tình nghiên cứu, năng lực tư duy sáng tạo và mạnh dạn, cũng như sự làm việc nghiêm túc và công phu của tác giả. Nhưng chúng tôi chưa dám có ý kiến gì về nội dung của Thuyết Trường quyển vật thể. Đây là những vấn đề rất lớn, rất phức tạp, vượt quá khả năng của Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam. Chúng tôi đã xin ý kiến của nhiều nhà khoa học, đặc biệt là dựa vào bản nhận xét, đánh giá của Viện Vật lý và điện tử, và thấy rằng, việc giới thiệu rộng rãi đề tài này trong các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu để thẩm định giá trị của nó là rất cần thiết. Với phương châm cơ bản của Viện là trân trọng công sức lao động trí tuệ và tư duy sáng tạo của tất cả mọi người, chúng tôi mạnh dạn giới
Cuộc họp hôm nay chỉ là một sinh hoạt khoa học bình thường, với mục đích giới thiệu một đề tài nghiên cứu để xin ý kiến góp ý của mọi người. Đây chưa phải là hội thảo khoa học hay nghiệm thu đề tài, càng không phải là công bố một phát minh gì lớn. Viện muốn xin ý kiến của mọi người trước khi có kế hoạch hỗ trợ tiếp theo. Bản thân tác giả cũng muốn mọi người nhận xét, đánh giá đề tài của mình.
Với tư cách là một cơ quan nghiên cứu khoa học phát triển nhân lực và tài năng của Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam, chúng tôi mong được sự giúp đỡ của quý vị trong các công trình nghiên cứu khác sau này, trong các hoạt động hỗ trợ cho các tài năng phát triển".
Sau phát biểu mở đầu của PGS.TS Bùi Ngọc Oánh - Viện trưởng Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam, kiến trúc sư Bùi Minh Trí bắt đầu trình bày đề tài của mình. Trong lúc kiến trúc sư Bùi Minh Trí đang trình bày, một số đại biểu tham dự đã có những ý kiến tranh luận khá gay gắt về đề tài. Ban tổ chức chân thành cảm ơn các đại biểu đã có những ý kiến khác nhau, đặc biệt là ý kiến của những nhà nghiên cứu Vật lý, và đề nghị các đại biểu dành thời gian nghe kiến trúc sư Bùi Minh Trí trình bày đề tài của mình, sau đó sẽ tranh luận. Nhiều đại biểu tham dự đã vỗ tay đồng tình với đề nghị của Ban tổ chức.
http://www.thanhnien.com.vn/Uploaded...anhvatly-5.gif
Tác giả đang trình bày đề tài
Sau phần trình bày của kiến trúc sư Bùi Minh Trí, không trí tranh luận trong hội trường lại bùng lên. Rất nhiệt tình và cũng đầy nhiệt huyết, một học sinh đã nêu thắc mắc của mình với tác giả đề tài. Tiếp theo là nhiều ý kiến khác của các đại biểu là những nhà chuyên môn và cả những người "ngoại đạo". Các đại biểu tranh luận rất sôi nổi, nhiều ý kiến khá gay gắt. Kiến trúc sư Bùi Minh Trí phải nhiều lần bày tỏ mong muốn: Các đại biểu đọc kỹ đề tài trước khi đưa ra thắc mắc.
Các đại biểu tiếp tục tranh luận sôi nổi về đề tài. Trả lời một số ý kiến về việc tại sao đề tài này không được gửi đến Viện Vật lý và Điện tử, TS Mai Ngọc Luông - Trưởng phòng Nghiên cứu Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng đã đọc công văn của Viện Vật lý và Điện tử gửi kiến trúc sư Bùi Minh Trí, do Chủ tịch hội đồng GS.TS Trần Đức Thiệp và Viện trưởng, TS.TSKH Nguyễn Ái Việt ký. Xin giới thiệu công văn này:
"Kính gửi: Ông Bùi Minh Trí - Công ty cổ phần Phát triển Hàng hải, TP.HCM - tác giả của công trình "Thuyết hấp dẫn mới, Trường quyển vật thể"
Thưa ông,
Theo đề nghị của Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hội đồng đánh giá công trình "Thuyết hấp dẫn mới, Trường quyển vật thể" đã được thành lập theo Quyết định số 220/QĐ-VVLĐT ngày 15/9/2005 do Viện trưởng Việt Vật lý và Điện tử ký, với các thành phần gồm: các cán bộ nghiên cứu về vật lý lý thuyết có chuyên môn sâu gần nhất với nội dung của công trình, Thường vụ Hội đồng khoa học Viện Vật lý và Điện tử, Ban lãnh đạo Viện Vật lý và điện tử, Chi ủy chi bộ Viện Vật lý và điện tử.
Ngày 22/9/2005, Hội đồng đã họp dưới sự chủ tọa của GS.TS Trần Đức Thiệp - Chủ tịch Hội đồng (đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Vật lý và điện tử).
Theo kết luận, hội đồng xin có một số ý kiến với ông - tác giả của công trình như sau:
1. Hội đồng trân trọng, đánh giá cao và rất cám ơn lòng say mê nghiên cứu vật lý của tác giả. Công trình sẽ có giá trị khoa học rất cao, là bước đột phá mới trong tư duy của loài người, nếu tính đúng đắn của nó được công nhận và kiểm chứng.
2. Tính đúng đắn của một học thuyết khoa học (theo thông lệ quốc tế và theo lịch sử khoa học) phải do số đông cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận một cách dân chủ và tự nguyện, và phải có quá trình kiểm nghiệm thực tiễn, chứ không phải do cơ quan khoa học nào hoặc hội đồng khoa học nào ra quyết định và công nhận được. Tác giả phải tự công bố lấy công trình của mình như các nhà nghiên cứu khác đã và đang làm. Tác giả có thể gửi công trình đến các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín cao như: Nature, Science, Physical Review Letters, Physical Review D... để cộng đồng khoa học quốc tế cùng nghiên cứu, thảo luận và đánh giá.
3. Xin gửi đến tác giả 2 bản nhận xét của GS.TS Hoàng Ngọc Long và TS Nguyễn Anh Kỳ là các cán bộ nghiên cứu của Viện Vật lý và điện tử có chuyên môn sâu gần nhất với nội dung của công trình, và bản copy bài báo về Einstein của TS Phạm Văn Tình đăng trên Diễn đàn của các nhà khoa học, Báo Văn nghệ số 39 ra ngày 24/9/2005, trang 15, trong đó có đoạn nói về Einstein đã công bố Thuyết tương đối của mình như thế nào? Và sau đó đã được cộng đồng khoa học thừa nhận ra sao? để tác giả tham khảo.
Xin gửi tới ông lời chào trân trọng và kính chúc ông sức khỏe.
---------------------------------------------------------------------
Tiếp đó, các đại biểu tiếp tục tranh luận với rất nhiều ý kiến.
http://www.thanhnien.com.vn/Uploaded...anhvatly-9.gif
http://www.thanhnien.com.vn/Uploaded...anhvatly-6.gif
Các đại biểu nghiên cứu đề tài
Kết thúc buổi sinh hoạt, kiến trúc sư Bùi Minh Trí cho biết ông đã nghĩ là có rất nhiều ý kiến phản lại ông, tuy nhiên tại buổi sinh hoạt đã có một số ý kiến ủng hộ. Ông cảm ơn tất cả các ý kiến. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh ông vẫn tin ý kiến của mình là đúng.
PGS.TS Bùi Ngọc Oánh - Viện trưởng Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam - cảm ơn các đại biểu đến dự buổi sinh hoạt đề tài này. Viện Khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việt Nam mong tiếp tục nhận được những ý kiến khác nhau đóng góp cho đề tài.
Sau khi tham gia buổi tọa đàm, kiến trúc sư Bùi Minh Trí đã dành một ít thời gian tham gia trả lời trực tuyến một số thắc mắc của bạn đọc xung quanh "Thuyết Trường quyển vật thể".
* Thưa bác Trí, nếu thuyết "trường quyển" của bác đúng thì nó được ứng dụng vào khoa học thế nào? Từ trước tới nay ngành không gian (tàu vũ trụ, phóng vệ tinh vào không gian ...) vẫn ứng dụng thuyết vạn vật hấp dẫn của Niutơn. Bác nhĩ gì về điều này? (Trương van Tiến, 31 tuổi, Nam, HCM, Điện công nghiệp)
- KTS Bùi Minh Trí: Nếu thuyết Trường quyển của tôi đúng, thì có thể ứng dụng lý thuyết này để nghiên cứu việc phóng vệ tinh vào không gian vì lý thuyết của tôi và của Newton về lĩnh vực này không sai khác nhau nhiều lắm.
* Chào chú Trí, cháu đã có đọc về đề tài "Thuyết trường quyển vật thể" của chú và cháu có câu hỏi thế này: - Làm sao chú có thể không tư duy theo lối mòn khi trải qua 12 năm phổ thông cùng 4 năm Đại Học chỉ có chấp nhận 2 lý thuyết ấy và lấy đó làm nền tảng nghiên cứu? - Chú có đủ tự tin đưa đề tài "Thuyết Trường quyển vật thể" ra hội đồng khoa học thế giới? - Chú có lời khuyên nào cho giới khoa học trẻ việt nam trong việc đổi mới tư duy trong nghiên cứu khoa học?. xin cảm ơn chú ạ (Tien Giap, 23 tuổi, Nam, Tan Huong, Tan Quy, Tan Phu HCM, Lap Trinh Vien)
- KTS Bùi Minh Trí: Thuyết Hấp dẫn mới Trường quyển vật thể tư duy để đưa ra cấu trúc vật lý cơ bản của tự nhiên. Cấu trúc đó là thực thể vật lý = vật thể + trường quyển của vật thể. Thuyết Trường quyển vật thể không đi theo lối mòn của các nhà vật lý học hiện nay là nghiên cứu vật lý bất chấp nghịch lý miễn sao có kết quả phù hợp với thực nghiệm. Thuyết Trường quyển vật thể đã giải thích được nhiều khái niệm mơ hồ của các lý thuyết khác, ví dụ: Hạt vi mô có lưỡng tính sóng, hạt; tìm ra bản chất lượng tử năng lượng (hằng số Planck) v.v...
Các nhà khoa học trẻ đừng sợ những lý thuyết khoa học có nghịch lý dù đó là của các vĩ nhân, các bạn hãy tìm cách tư duy để loại những nghịch lý đó
Do thời gian có hạn nên kiến trúc sư Bùi Minh Trí chỉ trả lời được một số câu hỏi chung nhất. Ông Bùi Minh Trí cũng gửi lời cảm ơn tới tất cả các nhà khoa học, bạn đọc... đã quan tâm đến đề tài "Thuyết trường quyền" của ông và đã gửi câu hỏi về cho chương trình.
Link nguồn tại đây:
http://www.thanhnien.com.vn/news/pag...47/171063.aspx
-
Bài phản biện của TS Nguyễn Anh Kỳ
Viện Vật lý và Điện tử
http://www.iop.vast.ac.vn/theor/file...os/photo15.jpg
Tôi là một trong những người được đề nghị viết phản biện bài viết của tác giả Bùi Minh Trí. Trong phản biện của mình, tôi đánh giá cao tinh thần ham tìm tòi nghiên cứu của tác giả; nhưng tôi cũng nhấn mạnh những hạn chế của công trình và cho rằng, tác giả cần tìm hiểu thêm để nắm vững các kiến thức cơ bản trước khi làm cuộc "lật đổ" Newton hay Einstein.
Tôi khẳng định là trong cuộc họp thẩm định, các thành viên hội đồng thẩm định của Viện Vật lý và điện tử đều chưa thừa nhận công trình này là một phát kiến khoa học mới.
Ông Trí không hiểu thế nào là lý thuyết tương đối, thế nào là hình học phi Euclid… nhưng vẫn bình luận, phán xét về các đề tài đó. Nhiều ý tưởng có vẻ như là của ông nhưng thực tế là sao chép (mà không hề có một trích dẫn tài liệu tham khảo nào) rồi được "lắp ghép" lại ở dạng thô sơ, lộn xộn và không chính xác. Nhiều khẳng định của ông chỉ là nói “khơi khơi” mà chẳng có cơ sở hay chứng minh gì cả.
Tôi không biết ông Trí tìm ở đâu ra “định nghĩa” sau đây của thuyết tương đối tổng quát: "Cơ sở của thuyết tương đối tổng quát là cơ sở của thuyết vạn vật hấp dẫn có xét đến độ cong không thời gian phi Euclid bao quanh vật thể có khối lượng lớn".
Liệu ông Trí có biết hình học phi Euclid là gì và Lý thuyết tương đối tổng quát dùng loại hình học nào không khi viết: “Cho đến nay, chưa ai chứng minh được bởi hình học phi Euclid của Riemann, Gauss, Bolyai, Lobachevsky suy ngẫm cho cùng chỉ là hình học mặt phẳng chuyển sang các mặt cong có độ cong không đổi trong không gian Euclid mà thôi. Đó không phải là hình học không gian phi Euclid”.
Nếu các không gian này không phải là không gian phi Euclid thì là không gian gì và chúng có liên quan như thế nào với Lý thuyết tương đối tổng quát để được ông Trí nêu ra ở đây? Động chạm đến toán học là phải chặt chẽ chứ không phải chỉ khẳng định cảm tính kiểu như trên. Chưa kể là ông Trí còn có nhiều bình luận nhảm nhí như bình luận về công thức E=mc2, về vận tốc ánh sáng...
Tóm lại, “công trình” của ông Trí chứa đầy những nhận định chủ quan và thiếu hiểu biết. Tôi có thể chỉ ra ngay lập tức cho ông thấy những sai lầm hết sức ấu trĩ của ông cũng như sự cóp nhặt và “xào nấu” lộn xộn các ý tưởng của người khác, trong đó có của Einstein, để quay lại “đánh” Einstein là "ngộ nhận”, là “sai lầm”. Kết luận của tôi là ông Trí thực sự không hiểu bản chất của các lý thuyết tương đối cũng như nhiều vấn đề liên quan được đề cập.
Tôi thật sự áy náy khi phải viết những dòng quyết liệt như thế này về một người lớn tuổi mà vẫn ham mê tìm hiểu khoa học như ông Bùi Minh Trí, nhưng rất tiếc là tôi chưa tìm thấy một lựa chọn thích hợp hơn để nói ý kiến của mình.
Ông Trí nên gửi công trình đến ấn phẩm khoa học
Mặc dù chưa thừa nhận công trình của ông Bùi Minh Trí là một phát kiến khoa học mới nhưng hội đồng thẩm định cũng đã tính tới tình huống ông Bùi Minh Trí có thể sẽ không dễ dàng nhận ra sai lầm. Do đó, chúng tôi đã gợi ý tác giả gửi bài viết của mình tới các ấn phẩm (sách, tạp chí…) khoa học theo như thông lệ khoa học.
Các bài gửi đăng sẽ phải chịu sự xem xét (của ban biên tập và hệ thống phản biện chuyên nghiệp) trước khi nhận được quyết định được công bố hay không. Nếu được công bố, chúng sẽ còn tiếp tục chịu thử thách trước cộng động khoa học và thực tế. Ông Bùi Minh Trí và những người như ông cần học cách làm này đối với bất cứ công trình nào của mình.
Theo thông lệ quốc tế, quyết định công bố một bản thảo khoa học không phụ thuộc vào ý chí của một cơ quan nào, mà tùy thuộc vào việc nhà xuất bản có chấp nhận công bố hay không. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, gửi công bố không có nghĩa là chắc chắn được công bố.
Nếu tác giả rất muốn giới thiệu “công trình” của mình, tôi có thể mách một cách làm nhẹ nhàng hơn: Hãy lập một website riêng để đăng nghiên cứu của mình rồi tự chịu trách nhiệm về nó.
TS. Nguyễn Anh Kỳ
-
Trích dẫn ý kiến trên Diễn Đàn Vật Lý
newtoneinsteinvn
Đúng là bác Trí hơi ảo tưởng; nhưng tớ thấy chúng ta (những người có lẽ còn kém xa tuổi con cái bác Trí) không nên "mỉa mai" bác ấy quá. "Kính lão đắc thọ" mờ. Bác ấy sai vì bác ấy hoàn toàn không biết được những khó khăn mà một nhà vật lý thực sự phải đối mặt khi làm vật lý. Cổ nhân có câu "Người không biết không có tội", chúng ta không nên "chấp" bác í làm gì.
Bác Trí với cả một số bác khác sai, nhưng họ không phải không có lý khi cho rằng Einstein "sai", nhưng do trình độ hạn chế nên các bác đó không thực sự "nắm" được "yết hầu" của bác Einstein (yết hầu của Sir Newton thì trước đây đã bị ngài Einstein tóm rùi). Theo tớ, khiếm khuyết lớn nhất trong Thuyết tương đối tổng quát của bác Einstein là thừa nhận sự tồn tại của các hằng số vũ trụ, trong đó có giá trị vận tốc ánh sáng. Bác Trí với mấy bác kia không biết tí gì về tensor, invariance... thì đương nhiên không hiểu ra vấn đề rùi.
Hiện tại, tớ đã có đầy đủ các tiên đề cho một lý thuyết mới. Việc còn lại là đi tìm một mô hình toán học phù hợp để phát triển nó thành một lý thuyết hoàn chỉnh; chỉ tiếc là khả năng toán của tớ quá hạn chế!
Thú thật, tớ cảm thấy "lạnh xương sống" khi nghĩ đến cái viễn cảnh bị các bác "bắn phá" khi tớ công bố lý thuyết của mình.
fairydream
1/Người nghiên cứu khoa học không trừ bất cứ ai, miễn là người đó có đam mê, cho dù làm trái nghề cũng chả sao (đọc cái này liên tưởng đến cả IT ).
2/Thành công đầu tiên của ông Bùi Minh Trí (ông đã 75 tuổi - thật đáng khâm phục) chính là dám nhận định cái sai của những gì lâu nay được rất rất nhiều người cho là đúng. Cho dù những gì ông đưa đúng hay sai, thì đó cũng là thành công đầu tiên, và tui cho là rất quan trọng. Cái này có lẽ cũng là cái mà tui cảm nhận được khi đọc phần đầu của cuốn lược sử thời gian (A Brief History of Time - Stephen Hawking). Nghĩ khác, làm khác
3/Thái độ của Viện Vật lý và Điện tử. Tại sao đã "dám" đánh giá cao mà lại không "dám" cùng tác giả công bố rộng rãi công trình mới này? Họ sợ nếu công trình này có vấn đề thì viện sẽ mất danh tiếng, bị cho là không "giỏi"? Nếu thực sự họ không "giỏi" thì tốt nhất, hoặc là giải tán, hoặc đi học thêm nữa, chứ đừng ở đó "đánh giá cao" không thôi. Đó liệu có được cho là một hành động "dấu dốt"?
Theo tui nghĩ, nếu thực sự cho chắc chắn về kiến thức của mình, hay ít nhất là những nhà khoa học đích thực, nếu họ cho là họ có đủ khả năng đánh giá công trình này, "đánh giá cao" công trình này thì họ nên cũng tác giả công bố trong nước, thế giới, cũng như cùng chứng minh tính đúng đắn của công trình. Như thế, cho dù nó có đúng hay sai, họ cũng nghiệm ra được nhiều điều, kể cả lỗ hổng trong kiến thức của họ, nếu có. Cuối cùng, tui cực kỳ ủng hộ hàng động của ông Tiến sĩ Bùi Ngọc Oánh, vì việc "dám" làm.
Mong chờ tin vui trong một ngày gần.
hello
Thú thật là ở nước ta cũng thỉnh thoảng có một sỗ người công bố các công trình nhằm vào lý thuyết hấp dẫn của Newton và thuyết tương đối của Einstein.vài tuần trước tôi có đọc đc trên web ( quên rồi ! để về tìm lại đãn ) do bạn tôi bảo vào xem phản biện của một tác giả về công thức nổi tiếng E=mc^2 của Einstein ,tôi xem toàn bộ công trình của ông ,và đại thể là tác giả nói rằng công thức giữa năng lượng và khối lượng của Einstein là chưa hợp lý ,tác giả tính toán và đưa ra công thức mà ở đó trong công thức của Einstein phải nhân thêm hệ số dãn nở Loren.nghĩ lại thấy người Việt cũng giỏi.để vài hôm nữa tui tìm lại đc trang web đó tui sẽ đưa lên điễn đàn này sau vậy nha.xin chú ý thêm rằng những tác giả công bố các công trình nghiên cứu của mình đều không phải là các nhà Vật Lý thứ thiệt ,có phải chăng rằng " chỉ có những con mắt và bộ óc ngoài Vật lý mới mở ra một bức tranh mới cho các nhà vật lý?
bin
Kể ra hội đồng làm việc như thế là chưa hết trách nhiệm, nếu đúng thì cần nói là đúng, sai thì nói là sai và chỉ ra chỗ sai chứ cứ để lửng lơ như này khiến dư luận nghĩ sai về khả năng của cả hội đồng.
k2000
Tất nhiên cũng phải có người mạnh dạn như thế thì mới có sự tiến bộ của khoa học
Tuy nhiên muốn phản bác bỏ một điều gì đó, thì trước hết mình phải là người am hiểu tường tận ngóc ngách của điều đó, nhưng ở đây tác giả còn chưa hiểu hết thuyết tương đối thì làm sao mà bác bỏ được....
NITARRID
Gửi các bạn yêu vật lý
Trong hơn 100 năm qua, Vật lý lý thuyết (VLLT) đã tiến một bước dài trong việc mô tả thế giới tự nhiên (vĩ mô, vi mô). Tuy nhiên hiện nay, có thể VLLT đang thực sự khó khăn trong việc xây dựng một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh cho mọi thứ trong vũ trụ. Steven Hawking trong A Brief History of Time đã viết như sau:
"Nhưng liệu thật sự có thể có một thuyết thống nhất như vậy hay không? Hoặc chúng ta chỉ đuổi theo một ảo ảnh? Có thể có ba điều khả dĩ:
1) Thật sự có một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh, mà một ngày nào đó chúng ta sẽ khám phá ra nếu chúng ta đủ tinh khôn.
2) Không có lý thuyết tối hậu nào của vũ trụ, chỉ là một chuỗi vô tâïn các lý thuyết mô tả vũ trụ ngày càng chính xác hơn.
3) Không có lý thuyết của vũ trụ; các biến cố không thể được tiên đoán vượt xa hơn một mức độ nào đó mà xảy ra một cách tình cờ và độc đoán."
Để vượt lên mức nhận thức "thầy bói xem voi" này. VLLT có lẽ đang rất cần một ý tưởng "điên rồ" hoặc "ngớ ngẩn" về cách tiếp cận với thế giới tự nhiên.
Lịch sử sẽ lặp lại. Một Nicholas Copernicus mới lại có thể là một người bình thường có khả năng tư duy trừu tượng, chứ không phải là một nhà vật lý được đào tạo đầy đủ.
Theo các bạn thì "Thuyết hấp dẫn mới" với nhận thức:
THỰC THỂ VẬT LÝ = VẬT THỂ + TRƯỜNG QUYỂN
và các khái niệm cơ bản như không gian, thời gian, khối lượng bất biến...có phải là sự "ngộ nhận""tâm thần" về cách tiếp cận thế giới không?
Theo tôi, chúng ta thử đi sâu vào xem xét về ý tưởng (thế mạnh của người phương Đông), còn phần định lượng, có thể dành sự phán xử cho các nhà khoa học phương Tây.
sonnn52
Riêng tớ thì ủng hộ cho những cuộc lật đổ, bởi đơn giản là nếu bằng lòng với những cái hiện có thì KH sẽ giậm chân tại chỗ. Chính Einstein chả từng xin lỗi cụ Newton là gì. Nói thế ko có nghĩa là tớ ủng hộ bác T, vì tớ chưa đủ trình xem nó đúng sai ở chỗ nào.
Còn về lý thuyết về mọi thứ, hay lý thuyết tối hậu tớ nghĩ sẽ chẳng bao giờ đạt được, chính xác là nó không có. Chẳng cần 1 ý tưởng điên rồ nào cả bởi ngay việc nghĩ ra cái lý thuyết này đã là quá điên rồ rồi.
NITARRID
Sao bạn lại vạch lá tìm sâu mấy thuyết của các bác nhà ta rồi bực mình mà không làm ngược lại thử tìm cái hay của nó xem.
Các bạn tìm được 10 lỗi của bác Trí, song bác Trí tìm ra một lỗi của Einstein thì ai hay hơn (ví dụ khối lượng bất biến chẳng hạn). hoăc giả bạn tìm tiếp được thêm 100 lỗi của Bác mà cuối cùng chỉ cần nhận thức của Bác "thực thể = vật thể + trường quyến" được kiểm chứng thì làm sao!!!
Bạn có thấy không bình thường chút nào, khi người ta tìm mãi chưa ra thuyết thống nhất (Enstein bỏ ra 30 năm và khi mất mang theo nhiều bí mật) vì tất cả đều vênh nhau. Tức là cách tiếp cận của các thuyết có vấn đề (ông đứng, ông nằm, ông chổng mông sờ voi...).
Copecnic cũng chỉ làm một viêc rất đơn giản là cho rằng trái đất quay mà phải mất 100 năm sau mới được công nhận, trong 100 năm đó các nhà vật lý tầm tầm khác vẫn làm việc "khoa học" là tính toán quỹ đạo các sao (rất phức tạp), vẫn làm luận án...và cười Copecnic và cho rằng ông ta "tâm thần".
Buồn cho bác Trí là chưa có kinh nghiệm nghiên cứu, lần đầu nên viết ngắn thôi khoảng 8-10 trang, và chỉ cần đặt câu hỏi nhẹ nhàng với các tồn tại của E & N như một bài tham luận và sau đó phát triển dần dần. Nếu công bố trên tạp chi quốc tế chỉ cần đưa khái niệm thực thể, thời gian và không gian của bác cũng quá đủ là Copecnic thế kỷ XXI rồi.
-
NHẬN XÉT TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH
“LÝ THUYẾT HẤP DẪN MỚI” của tác giả Bùi Minh Trí
Nguồn: vatlyvietnam.org
I. Tóm tắt công trình.
Tác giả cho rằng phát minh lớn nhất của mình là tìm ra được thực thể vật lý là một “cấu trúc vật lý cơ bản” bao gồm vật thể (được cấu thành từ những hạt cơ bản nhỏ nhất gọi là “hạt khối lượng”) và “trường quyển” (được cấu thành từ những hạt cơ bản gọi là “graviton”) theo đó, các hạt “khối lượng” không tương tác lẫn nhau mà chỉ tác động lên hạt graviton; kế đó, các hạt graviton này mới gây “áp lực” lên những hạt “khối lượng” buộc chúng phải chuyển động với cùng một gia tốc với chính những hạt graviton đó. Kết quả là ta sẽ thấy dường như các vật “hút” lẫn nhau theo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton nhưng thực ra thì chúng chỉ bị các hạt graviton – trường quyển “đẩy” đi mà thôi.
Để cho cơ chế này có thể vận hành được, tác giả gán cho hai loại hạt “khối lượng” và “graviton” mà theo tác giả là “cơ bản nguyên thủy” những tính chất nhất định.
a/ Đối với hạt “graviton”
+ Tính tự choán lấp đầy không gian với số lượng nhiều nhất trong Tự nhiên tạo thành “trường graviton”
+ Chịu sức hút (với hằng số hấp dẫn G) của hạt “khối lượng” nên chuyển động hướng tâm vật thể với gia tốc rơi tự do của hạt “khối lượng” hay của vật thể và “phản lực chống lại sức hút” của những hạt này
b/ Đối với hạt “khối lượng”
+ Tính định xứ trong trường graviton
+ Không tương tác lẫn nhau mà chỉ tương tác hấp dẫn với các hạt graviton
Ngoài ra, tác giả đưa ra một loạt các định nghĩa và khái niệm có liên quan như: không gian, thời gian, năng lượng, vật thể, vận tốc quán tính v.v.. Tiếp theo, tác giả đưa ra cái gọi là “phương trình” của lý thuyết mới (5-3) khi thừa nhận các đẳng thức (5-1) và (5-2), từ đó có 4 trạng thái được đề cập là đứng yên trên quỹ đạo, chuyển động trên quỹ đạo với vận tốc bằng, nhỏ hơn và lớn hơn “vận tốc quán tính” đồng thời đưa ra cái gọi là “biểu thức tỷ lệ để kiểm tra kết quả tính toán có phù hợp với lý thuyết không”. Cuối cùng, tác giả thực hiện một số ví dụ tính toán cụ thể nhằm chứng minh sự đúng đắn của lý thuyết mới.
II. Nhận xét
1. Những vấn đề khái quát
a/ Tính cấp thiết. Trước những hạn chế của các lý thuyết hiện nay không chỉ về hiện tượng hấp dẫn mà còn cả những tương tác khác đặc biệt là đối với việc xây dựng một lý thuyết thống nhất cả 4 tương tác có trong tự nhiên thì đây là một đề tài thật sự cấp thiết.
b/ Tính mới. “Lý thuyết hấp dẫn mới” đưa ra ý tưởng về một cấu trúc của vật chất gồm “vật thể” và “trường quyển” tương ứng với 2 loại hạt “cơ bản nguyên thủy” là “khối lượng” và “graviton”. Nếu không kể đến tên gọi thì cấu trúc này không có gì là mới so với lý thuyết trường hấp dẫn được phát triển từ định luật vạn vật hấp dẫn của Newton sau khi Maxwell đưa ra lý thuyết trường điện từ đối với các hiện tượng điện từ hoặc thậm chí là cả thuyết hấp dẫn lượng tử sau này khi cho rằng các khối lượng cũng phát ra “lượng tử” tương tác hấp dẫn – graviton.
Điểm mới ở đây có chăng chỉ là cách thức mà các graviton tương tác với các khối lượng nhờ đó mà gây nên hiện tượng hấp dẫn.Tuy nhiên, “cơ chế” này hoàn toàn không giải quyết được cái mà tác giả gọi là “nghịch lý hấp dẫn” như tác giả kỳ vọng. Né tránh sự tác động trên khoảng cách giữa các khối lượng của Newton bằng cách thay bởi sự tác động lên các hạt trung gian graviton nhưng lại cũng vẫn “trên khoảng cách” thì phỏng có thay đổi được gì? Về mặt này tác giả đã không hay biết rằng tất cả các lý thuyết trường lượng tử đều đã thoát khỏi cái mà tác giả gọi là “nghịch lý hấp dẫn” này vì ở đó mọi tương tác từ xa đều được thực hiện thông qua việc trao đổi (phát ra và nhận về) những “hạt lực” – với trường điện từ là photon, với trường hạt nhân mạnh là gluon, với trường hạt nhân yếu là bozon còn với trường hấp dẫn là graviton – những hạt này không có sẵn trong không gian như hạt graviton của tác giả.
c/ Tính khoa học.
+ Xét về ý tưởng, việc đưa ra một cách thức tác tác động mới giữa hai loại hạt độc lập hoàn toàn với nhau – hạt “khối lượng” không tương tác lẫn nhau và hạt khác là “graviton” không rõ là có tương tác với nhau hay không là chưa đầy đủ và chưa chặt chẽ. Nếu các graviton này có tương tác với nhau (hoặc hút nhau, hoặc đẩy nhau, hoặc cả hút, cả đẩy) thì diễn biến các quá trình sẽ rất khác nhau. Thêm nữa, hạt “khối lượng” được coi là có kích thước nhỏ nhất thì còn có thể hiểu được nhưng là “siêu vi điểm” thì không hiểu, vì điểm vốn đã không có kích thước rồi? Nhưng còn kích thước của hạt graviton lại không thấy nói đến? Do đó, bản thân khái niệm “tự lấp đầy” không gian của chúng cũng không rõ ràng – thế nào nghĩa là “đầy”? Mà đã “đầy” theo nghĩa thông thường thì các graviton này chuyển động làm sao được nữa?
+ Xét về nội dung, tác giả có lẽ xuất phát từ “định luật rơi tự do” của Galileo (tuy không thấy đề cập đến) cho rằng trên mặt đất, mọi vật đều rơi như nhau với cùng một gia tốc (g) nên công thức g=GM/R^2 được coi là công thức “chủ lực”, “vạn năng” của “Lý thuyết hấp dẫn mới”; bên cạnh đó, khi chuyển động trên quỹ đạo tròn xung quanh vật có khối lượng M thì gia tốc hướng tâm V^2/R phải bằng gia tốc rơi tự do này nên công thức tính vận tốc qũy đạo (tác giả gọi là “vận tốc quán tính”) V^2 =GM/R cũng được tác giả sử dụng một cách tích cực, và... cũng chỉ có thế thôi!
Tất cả các công thức còn lại đơn giản chỉ là thay đổi chỉ số dưới (RK, RTK...), ký hiệu lại (A thay vì g) hay biến đổi đi cho phù hợp. Cái gọi là “phương trình xác định trạng thái” chuyển động (5-3) – công thức cơ bản nhất – “con át chủ bài” mà “Thuyết hấp dẫn mới” đưa ra lại hoàn toàn không được chứng minh (nếu như không nói rằng không thể chứng minh được)? Chẳng lẽ cũng lại xem nó như một tiên đề? Cái được gọi là “Biểu thức tỷ lệ (5-5) để kiểm tra kết quả tính toán” do “Thuyết hấp dẫn mới” tìm ra thật ra chỉ là các hệ thức được rút ra trực tiếp từ định luật vạn vật hấp dẫn của Newton (với ký hiệu khác đi) và, về nguyên tắc, nó đúng với mọi chuyển động theo quỹ đạo tròn ở mọi khoảng cách tới tâm của trường hấp dẫn chứ không phải chỉ đối với “Bán kính hấp dẫn” được “tìm ra” từ biểu thức (5-4), và vì vậy, việc “kiểm tra này” hoàn toàn là thừa! Như vậy, xét về bản chất, công trình nặng về võ đoán và cảm tính hơn là đáp ứng tính khoa học.
d/ Tính thực tiễn.
Vì phần lớn những tính toán đối với các đại lượng có ý nghĩa thực tiễn như vận tốc của vật trên quỹ đạo tròn hay gia tốc rơi tự do từ một khoảng cách nào đó tới tâm trường hấp dẫn thì “Lý thuyết hấp dẫn mới” hoàn toàn sao chép từ những công thức của cơ học Newton còn đại lượng mà lý thuyết mới đưa ra như “bán kính hấp dẫn” lại chưa có tiêu chí xác định và chưa có đủ căn cứ khoa học, hơn nữa, công trình chỉ mới dừng lại ở một trường hợp cá biệt – chuyển động theo quỹ đạo tròn khi chất điểm có khối lượng có thể bỏ qua so với khối lượng của vật ở tâm “trường quyển” nên có thể nói là hoàn toàn không có tính thực tiễn vì để giải những bài toán như vậy, cơ học Newton đáp ứng tốt hơn nhiều.
2. Những vấn đề chi tiết.
a/ Ý tưởng về cách thức tương tác giữa khối lượng với graviton.
Thứ nhất, do “vật thể” hút graviton, tức là truyền cho graviton năng lượng,mà graviton lại không “hút” vật thể nên nó phải mất dần đi năng lượng khiến cho “khối lượng” của nó phải giảm dần cho tới không. Và thế là toàn vũ trụ chăng mấy chốc chỉ còn lại một loại “hạt cơ bản nguyên thủy” là graviton, mà graviton lại chẳng tương tác với nhau thì có khác gì vũ trụ biến mất?
Với thuyết hấp dẫn của Newton thì khác, lực tác động luôn là tương hỗ thành ra chỉ có sự chuyển đổi năng lượng qua lại giữa các khối lượng nên khối lượng mới thật sự không thay đổi trong suốt quá trình tương tác hấp dẫn. Các dạng tương tác khác trong vật lý cũng vậy. Còn nếu cho rằng có tác động nào đó mà không cần tới trao đổi năng lượng thì cần phải xem lại!
Thứ hai, trong mô hình “thực thể vật lý” = “vật thể” + “trường quyển” ở dạng “hạt cơ bản nguyên thủy” = “hạt khối lượng” (xin được ký hiệu là H) + “hạt graviton” hay “trường graviton”(xin được ký hiệu là T), có 2 dạng tương tác được đề cập đến đó là “H hút T” tạo nên “áp lực của trường quyển lên khối lượng của vật thể” và “H đẩy T” để không cho tạo thành “cục khối lượng ròng” khi bị “nén ép”. Xin hỏi “đã hút tại sao lại còn đẩy” và “cái gì” đã quy định việc “đẩy” này? Điều này dẫn đến một số nghịch lý:
- Dưới tác dụng của lực “H hút T”, T sẽ “rơi tự do” lên H, nhưng khi đến “sát bề mặt” của H thì lại bị “H đẩy T”, vậy rốt cục T sẽ đi đâu? Chúng sẽ tập hợp ở lân cận của H ngày càng nhiều lên theo năm tháng? Và trong món “súp T đậm đặc” này, trường hấp dẫn – “trường quyển” phải rất lớn và biến đổi theo năm tháng nên G không thể là “hằng số hấp dẫn” được nữa mà là “biến số hấp dẫn” thì mới đúng? Không những thế, “gia tốc áp lực” không thể còn theo quy luật tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách được nữa? Thực tế có như thế đâu? Và thêm nữa, trong “không gian tuyệt đối” ở xa H, mật độ của T sẽ nhỏ dần đi theo năm tháng, còn nếu không thì chúng được sinh ra từ đâu?
- Một quả táo đặt ở trong nhà kín có mái che dầy phải chịu “áp lực trường quyển” ít hơn khi đặt nó ở ngoài trời. Chả lẽ trọng lượng của nó trong hai trường hợp lại không như nhau?
- Nếu T ở trong “trường quyển” của 2 “vật thể” khác nhau A và B thì “nguyên nhân” gì khiến chúng “lựa chọn” thuộc về A hay thuộc về B? Hơn thế nữa, những hạt T không nằm trong “bán kính hấp dẫn” của bất kỳ một “vật thể” nào thì chúng sẽ “cư sử” ra sao? (Đối chiếu với các số liệu ở bảng 6.3 sẽ thấy rất rõ sẽ có vô số các hạt như vậy).
Thứ ba, giả thiết về sự tồn tại của “hạt graviton” cũng không kém phần huyền thoại như chính ether “vang bóng một thời”. Đó là, về lý, nó phải không có “khối lượng” mới đúng vì đã có một hạt “cơ bản nguyên thủy” là “khối lượng” rồi, vậy mà nó lại có năng lượng, trong khi vẫn thừa nhận công thức năng lượng E = mc^2, thì năng lượng này ở đâu ra khi m=0?
Thứ tư, nếu các hạt cơ bản có lưỡng tính sóng hạt là do “trường quyển” quay thì liệu có thể tính được λ = h/p không? Và hơn thế nữa, thế nào là “trường quyển quay”? Phải chăng các hạt T này quay quanh H? Nó vừa “rơi tự do” lên H lại vừa “quay” theo phương vuông góc với phương “rơi tự do” này chăng? Nhưng vì “trường quyển” không phải là rắn tuyệt đối nên vận tốc góc của các hạt T sẽ không thể như nhau, vậy sẽ phải tính λ như thế nào đây? Hơn nữa, Mặt trăng sẽ phải quay quanh Trái đất nhanh hơn hay chậm hơn khi Trái đất được “tăng tốc” vì khi đó, “trường quyển” không chỉ “đẩy” Mặt trăng về tâm Trái đất mà còn “đẩy” nó “sang ngang” nữa? Mà đã thế thì chiều chuyển động của bất kỳ hạt nào cũng sẽ ảnh hưởng tới chiều quay của “trường quyển” của nó. Mà điều này thì thật là... khó bình luận quá vì nó sẽ dẫn sự thay đổi λ nhiều đấy! Trong các thí nghiệm, không hề ghi nhận được sự ảnh hưởng nào của chiều chuyển động lên “bước sóng de Brookline” của các hạt cơ bản cả và, đương nhiên, cả photon cũng vậy.
b/ Các công thức tính toán.
+ Đối với “phương trình trạng thái chuyển động” (5-3), nếu xem xét kỹ, ta sẽ thấy nó hết sức vô lý! Cụ thể là nếu chia cả 2 vế của (5-2) cho RQĐ ta được:
MG/RQĐ=A.RQĐ (1)
rồi thay (1) vào (5-3), sau khi giản ước đi ta nhận được VQĐ = 0 – có nghĩa là phương trình này chỉ đúng khi chất điểm đứng yên trên quỹ đạo? Hơn thế nữa, vì cái gọi là “gia tốc áp lực” A đã được xác định theo biểu thức:
A=MG/RQD^2 (2)
thì nó luôn luôn >0 và chỉ bằng 0 ở vô cực (RQĐ → ∞)! Vậy, làm sao có thể nói tới các trạng thái A<0 hay A=0 được?
+ Vấn đề “Bán kính hấp dẫn” của vật thể lẽ ra phải được định rõ “tiêu chí” rồi từ đó mới đặt vấn đề tính toán thì tác giả lại “viện cớ” là “căn cứ vào số liệu quan trắc thiên văn, mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý cơ bản của Tự nhiên” để xác lập ra cái gọi là “Biểu thức tỷ lệ” (5-4). Điều này là vô lý vì “Bán kính hấp dẫn” đâu có phải là một “đại lượng vật lý cơ bản của Tự nhiên” (?) mà trái lại là một khái niệm do ta quy ước mà có. Chẳng hạn trong Thiên văn học, người ta quy định “bán kính hấp dẫn” của các hành tinh trong Hệ Mặt trời là khoảng cách mà ở đó, lực hấp dẫn của hành tinh và của Mặt trời lên vật là như nhau. Viện cớ như vậy về thực chất chỉ là cách né tránh sự thiếu hụt về kiến thức mà lẽ ra cần phải được bổ xung.
+ “Biểu thức tỷ lệ” (5-5) hoàn toàn không liên quan gì đến cái gọi là “để kiểm tra kết quả tính toán có phù hợp với lý thuyết không?” Ta sẽ chứng minh điều này từ định luật vạn vật hấp dẫn của Newton:
F=mGMK/R^2 = A.m , (3)
Ở đây R là khoảng cách bất kỳ nào đó giữa hai khối lượng m và MK; A – gia tốc rơi tự do hay “Gia tốc áp lực” theo ký hiệu của ông Trí (2). Từ biểu thức (3) có thể viết thành 2 biểu thức cho 2 giá trị RK và RTK khác nhau:
AK=GMK/RK^2; ATK =GMK/RTK^2 ; (4)
Từ (4), ta có ngay tỷ lệ:
AK/ATK = RTK^2/RK^2. (5)
Mặt khác, từ điều kiện cân bằng giữa gia tốc hướng tâm (V^2/R) phải bằng gia tốc rơi tự do A tại quỹ đạo ứng với các bán kính đó có thể rút ra tiếp tỷ lệ đầu tiên của (5-5):
VK^2/RK=GMK/RK^2 -----> VK^4/VTK^4 = RTK^2/RK^2 (6)
VTK^2/RTK=GMK/RTK^2
Như vậy, Từ (5) và (6) ta có ngay biểu thức (5-5) mà đâu có cần tới “Lý thuyết hấp dẫn mới”? Tất cả đều nằm trong khuôn khổ cơ học Newton! Tuy nhiên, điều kiện để có thể áp dụng được các biểu thức đã dẫn phải là:
m<<M (7)
Và đây cũng chính là điều kiện tiên quyết để cho các công thức của “Lý thuyết hấp dẫn mới” có thể được áp dụng. Nhưng như vậy, khi điều kiện (7) này không được thỏa mãn thì lý thuyết đương nhiên không thể còn đúng nữa.
c) Các lỗi cảm tính, phạm vào quy luật của lôgíc hình thức:
- Xét về cách đặt vấn đề, tác giả đã dùng cái gọi là “nguyên lý vàng” với tiêu chí “nghịch lý là cảnh báo có sự ngộ nhận” làm xuất phát điểm cho sự “đột phá” của mình. Tuy nhiên, thế nào là “nghịch lý” thì lại không được tác giả bàn đến? Có những điều hôm qua còn là “nghịch lý” thì hôm nay đã trở nên bình thường, nó hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ nhận thức của nhân loại. Có thể lấy hình học Lobasepsky với tiên đề “đường thẳng song song” làm ví dụ. Vì vậy, xét về mặt khoa học, cách đặt vấn đề như thế có thể coi là hoàn toàn cảm tính.
- Mở đầu bằng khái niệm “gia tốc áp lực là áp lực...” – một “định nghĩa” để mà chẳng định nghĩa được gì vì lý do: thứ nhất, “áp lực” là gì? Nếu tuân theo các khái niệm của cơ học cổ điển thì có nghĩa là “lực áp lên một vật gì đó”, mà như thế thì trước hết nó phải là “lực” đã – là đại lượng đặc trưng cho “tương tác” giữa các vật thể. Trốn tránh tên gọi “lực” bằng cách thay tên gọi khác thì có thay đổi được gì đâu? Tiếng Việt là “lực”, tiếng Anh là “force”, tiếng Nga là “si-la” ... cũng vẫn là “nó” cả mà! Còn nếu không phải là “nó” thì xin hãy thử cho một “nội dung” khác đi xem nào? Thứ hai, cũng theo cơ học cổ điển, “gia tốc” phải bằng đạo hàm bậc nhất của vận tốc thay đổi một “cái gì đó”, ở đây là “áp lực”, vậy đạo hàm bậc hai của “áp lực” là đại lượng gì thế mà sao nó lại vẫn cứ là... “áp lực” vậy? Chưa hết, đơn vị của nó lại là m/s^2 – gia tốc của chuyển động cơ học cơ mà, có dính dáng gì đến “lực” (phải là N/s^2) đâu? Và cuối cùng, cả “gia tốc áp lực” lẫn “gia tốc rơi tự do” đều có cùng một công thức giống hệt như nhau với cũng bấy nhiêu đại lượng thì chẳng có lý do gì để nói về một “bản chất” khác cả. Điều quan trọng phải là “nội dung” của khái niệm chứ không phải là tên gọi của nó. Tóm lại vẫn chỉ là thế này: “một vật dưới tác động của lực hấp dẫn sẽ chuyển động với gia tốc bằng...”. Còn nếu như muốn cho lực hấp dẫn (vâng! chính là “lực” chứ không phải là “gia tốc áp lực”) có một nguyên nhân khác, cụ thể là do “graviton” tác động lên “khối lượng” (đại loại như gió thổi vào cánh buồm) chứ không phải do “khối lượng” tác động lẫn nhau, thì còn một vướng mắc nữa là làm sao mà graviton có thể đẩy “khối lượng” đi với cùng một gia tốc chuyển động của chính nó (g), nghĩa là giống như một graviton tự do? (Đừng quên rằng gia tốc của con thuyền bị gió đẩy đi không thể nào bằng gia tốc của chính luồng gió đã thổi nó đi được!). Như thế chẳng hóa ra là quá trình tương tác này không tiêu hao chút năng lượng nào?
- Các công thức E=mc^2 và E=hν tương ứng được suy ra từ thuyết tương đối hẹp (với hệ quy chiếu quán tính theo nghĩa cổ điển) và cơ học lượng tử. Tuy nhiên, khi thế giới quan đã thay đổi, mà lại thay đổi theo chiều hướng phủ định thì các khái niệm này không còn có thể áp dụng được nữa. Các biểu thức này lẽ ra còn cần phải được chứng minh từ chính “Lý thuyết hấp dẫn mới”.
- Đã chấp nhận “khối lượng” là “hạt cơ bản nguyên thủy” thì làm sao lại còn “đặc trưng cho lượng vật chất” chứa trong “vật thể” được vì khi đó “vật chất” là cái gì vậy? (Xem lại công thức ở mục 4 và 5.1). Trong các va chạm năng lượng cao, khối lượng không hề được bảo toàn, thậm chí hầu như có thể giảm tới không – vật chất biến mất chăng? Trong khi theo lý thuyết mới này “khối lượng tuyệt đối không biến đổi” (xem mục 5.2.7).
- Ở mục 5.2.6 nói rằng “vận tốc chuyển động của vật thể trong trường quyển tăng, dẫn tới gia tốc áp lực của trường quyển lên vật thể tăng lên”. Điều này không thể đúng khi chuyển động đó có phương trùng với phương của “áp lực trường quyển” mà trong thí dụ đơn giản nhất là khi “rơi tự do” thì “áp lực” đó bằng không (xem nhận xét ở mục 5.2.5)! Còn nếu chuyển động cùng phương như vậy mà với gia tốc lớn hơn “gia tốc rơi tự do” thì sao?
d/ Những ý kiến khác
- Xét về cách trình bầy một công trình khoa học, tác giả tỏ ra chưa có kinh nghiệm nên hơi lộn xộn – từ cấu trúc các đề mục cho tới trình tự các vấn đề cần trình bầy và được giải quyết. Đơn cử một vài ví dụ điển hình. Chẳng hạn “Cấu trúc vật lý cơ bản” được coi là một đề mục tương đương (4), hơn nữa, lại còn đứng trước cả đề mục “Thuyết hấp dẫn mới...” (5) mà trong khi đó nó chỉ là một đề xuất của tác giả trong chính lý thuyết này của mình; trong đề mục (3) “Nhận xét khái quát...”, tác giả sử dụng cả những dữ liệu của mục (4) và (5) để phê phán các lý thuyết hiện hành mà những dữ liệu đó lẽ ra còn cần phải được chứng minh, kiểm chứng và công nhận v.v..
- Xét về kiến thức sử dụng, tác giả chỉ mới đề cập đến tên của các lý thuyết và hiện tượng nhưng sự hiểu biết để vận dụng lại còn quá sơ sài. Ví dụ nói đến các hiệu ứng tương đối tính của “Thuyết tương đối hẹp” nhưng lại không viện dẫn được các công thức tính toán để đối chiếu (chỉ có định tính không thôi thì làm sao biết được tác giả đúng hay sai mà đã vội kết luận Einstein là “ngộ nhận”?); nói đến “Cơ học Newton” nhưng khi xét đến bài toán chuyển động của chất điểm lại bỏ qua điều kiện tương quan về khối lượng (thành ra mới giải một bài toán riêng thôi mà đã tưởng là có thể thâu tóm cả vũ trụ); nói đến “Thuyết điện từ” của Maxwell mà lại không biết rằng “hằng số hấp dẫn” G không còn có ý nghĩa gì nữa đối với các điện tích (nên đã vội gán các graviton cho cả proton, electron...) và nói đến “tính chất sóng” của photon nhưng lại không đề cập đến bản chất “điện từ” của nó – các véc tơ E và H luôn vuông góc với phương truyền sóng (“Thuyết hấp dẫn mới” có lý giải được không?), và hơn thế nữa, “kích thước” của photon không những không phải là “thực thể vật lý nhỏ nhất” mà lại còn lớn hơn bất kỳ một hạt cơ bản nào nữa là đằng khác; nói đến “Cơ học lượng tử” nhưng lại không hề có khái niệm về “tính lượng tử quỹ đạo” của các điện tử trong nguyên tử (nếu không, đã chẳng vội gán cái gọi là “phương trình xác định trạng thái” (5-3) cho tất cả các “thực thể vật lý”), chưa kể tới các khái niệm “tương tác mạnh” và “tương tác” yếu – chắc chắn tác giả chưa bao giờ biết đến, v.v..
- Vẫn còn cho phép tồn tại cái gọi là “không gian và thời gian tuyệt đối” độc lập với “thực thể vật lý”, là nơi chứa “thực thể vật lý đó”, về thực chất, 2 khái niệm này vẫn còn bỏ ngỏ. Việc đưa ra thêm khái niệm “không gian vật lý” là “trường graviton” không cải thiện được gì hơn về thực chất so với ether, trường hấp dẫn, trường điện từ cũng như trường hấp dẫn lượng tử (cũng có graviton) đã có trong vật lý – cảnh “bình cũ, rượu mới” mà thôi; (xin viện dẫn câu nói rất nổi tiếng của Ăng-ghen để suy ngẫm: “... không tồn tại các tính chất mà chỉ tồn tại các vật có các tính chất...”);
III. Kết luận
Công trình “Lý thuyết hấp dẫn mới” của ông Bùi Minh Trí tuy có tính cấp thiết và một chút gọi là tính mới và tính thực tiễn nhưng điều đáng nói hơn cả là không đảm bảo được tính khoa học, thiên về cảm tính và võ đoán; cho dù sửa chữa hay hoàn thiện tiếp thì khả năng trở thành một lý thuyết khoa học là không thể. Cái lợi của “nhà vật lý nghiệp dư” là “không phải tư duy theo đường mòn sách vở...” (như ông Trí nói) nhưng cái hại “chết người” là kiến thức khó được hệ thống hóa, khó có được chiều sâu cần thiết nên rất dễ “ngộ nhận”. Để thoát khỏi mâu thuẫn đó và “bứt phá” lên cần phải có thời gian và phương pháp thích hợp. Chỉ có lòng nhiệt tình và dũng cảm không thôi thì chưa đủ.