Suy cho cùng, vật chất sinh trụ dị diệt là quy luật thiết yếu của Đức Phật đã giảng dạy. Điều ta thấy, cảm thụ bằng 5 giác quan vẫn có thể bị đánh lừa bởi giới hạn của tri kiến. Giới hạn của tri kiến là nguồn gốc của vô minh. Giai đoạn người viết còn thơ ấu, thường có giấc mơ về hư không, về không gian tối tăm bên ngoài thực tại đang nhìn thấy của bản thân, thường nghĩ bản thân xuất phát từ đầu, sống tại cuộc đời này có nghĩa lý gì hay không ?. Có những điều hoài nghi khi có cơ duyên được truyền dạy về kính điển Phật đà. Về pháp mật ngữ của Phật giáo. Giai đoạn tuổi thanh niên cũng xung phong đi lính, gia nhập quân ngũ, nghiên cứu tới dịch lý, huyền học, toán mệnh. Khởi của khí thai tức tác động tới vận mệnh cuộc đời. Bản tính của nhân mệnh, tính cách liên quan tới sự vận hành của âm dương ngũ hành trong chính nội tâm, cơ thể. Các giai đoạn về sau dần nghiên cứu hé mở những điều tri kiến chưa bao giờ được nắm bắt. Mỗi giai đoạn như vậy, những kiến cố chấp giai đoạn trước dần đổ vỡ, thay thế bằng những tri kiến mới, giải đáp những nghi kỵ trong lòng về những vấn đề bản thân còn hoài nghi. Bản thân suy nghĩ và tin rằng trong thiên địa này, có những suy lý về kết nối, tương tác giữa vật hữu tình và vô tình. Thắc mắc đó đã tồn tại rất lâu trong lòng khi có lần bản thân khi hoài nghi về tác động của mật chú. Một bậc thiện tri thức đã chỉ dạy cho người viết về chiêu cảm, nhân quả, nghiệp báo. Chiêu cảm nghiệp đồng khí tương liên. Nhân quả định đoạt do định nghiệp cộng kiến của một không gian sống kết nối với nhau trong cùng một hệ sinh sống. Thực tế khi đó bản thân cũng chưa hiểu thấu được và cũng sinh khởi rất nhiều mạn nghi về tính thực của điều này, bản thân cũng chưa tu tập tới giai đoạn chân nghiệm được vấn đề này. Giai đoạn sau, bản thân cũng loay hoay chưa thể tu tập để giải đáp được thắc mắc trên. Có lẽ do nhân duyên, đọc được một bài báo viết về thực vật. Trong các thí nghiệm của một nhà thực vật học xuất thân từ cựu cảnh sát về thí nghiệm máy nói dối trên thực vật. Khi tác động những điều mang tính cấp dưỡng, phát triển cho thực vật đó và khi có dấu hiệu hủy hoại, phá bỏ đều sẽ khiến sóng điện trên máy này tạo thành biến động rất khác nhau. Thí nghiệm này sau đó đã trở nên rất phổ biến do tính kiểm nghiệm đơn giản không quá phức tạp với máy móc hỗ trợ cao. Tính tương tác của vạn vật phát khởi rất phức tạp. Đặc biệt khi thí nghiệm về cái thấy, tức một tác động mang tính khí nào đó như khí " yêu thương", "căm hận", "thù ghét" có tác động tích cực hay tiêu cực tới vạn vật. Điều đó phát sinh ra một tính chất quan trọng, nếu như xét trên, vạn vật thông linh cũng hiểu rõ " yêu thương", " hi sinh" là nhân tốt, thực vật khi cảm nhận thấy sẽ phát triển tốt. " giết hại", " hủy hoại" là nhân xấu, thấu suốt từ mọi sinh vật, thành quy định bất thành văn của vạn vật. Hệ thống vận hành nhân quả vậy có thể nhận định là thông suốt, thống triệt vạn vật do điều ta vừa hiểu được, ngay thực vật cũng ưa được chăm sóc, không ưa bị chặt, phá. Cũng như điều này, lý nhân quả thấu suốt vạn vật, quy định có lẽ trong sâu thẳm nội tâm của vạn vật đều có thể tự phân định nhân tốt hay nhân xấu. Khởi lên tâm giết chóc, ắt chiêu cảm quả nhận lại như cân bằng của âm dương. Thoát khỏi dòng nghiệp, tức là thoát khỏi ngay cả tư tưởng vi tế, mà ngay khi là sinh vật cổ đơn bào, vi khuẩn vượt trội hơn thực vật, đã khởi niệm trong tâm là ăn, tích lũy, phân lập với cá thể khác. Nếu nghĩ rằng vi khuẩn không có ý thức thì bản thân chúng ta cũng không có ý thức, vì bản thân con người không cảm nhận được có hàng tỉ tỉ cá thể vi khuẩn sống trên cơ thể mỗi người, không cảm nhận rõ được ngũ tạng bên trong cơ thể, không rõ có linh hồn hay không, tồn tại thế lực siêu nhiên hay không. Khi nhìn thấy tính thông linh của vạn vật, kể từ thực vật cây cỏ tưởng như vô tri. Mật chú bản thân cũng mang một tính linh rất đặc biệt, như một quy tắc bất thành văn. Người tụng chú ngữ giữ được trì giới, đặc biệt là sát giới. Vạn vật cả thực vật tương thông tâm tính, người tùng chú không nổi tâm sát, lại tâm cầu đắc đạo, thoát khỏi vòng nghiệp báo luân hồi, tạo nên sức thành tựu của chú lực bởi định tâm. Vạn vật cũng học cách tránh nguy hiểm, hướng tới hữu dụng, như cây cỏ sẽ hướng tới vươn cao để đón ánh sáng, tránh gặp trực tiếp với lửa, nhiệt độ nóng. Chú ngữ thuộc thánh âm, khi phát ra lực tương tác qua rất nhiều đời lưu lại trong ký ức gọi là chủng tử của vạn vật kế tập mang tính hướng tới giải thoát, tự tại, không có vướng bận, là lời nói của bậc thánh trong một thời điểm quá khứ, lan truyền tới các thời sau. Cũng như bí mật về môt kho báu, người nào nắm được cũng sẽ trở nên giàu có. Chú ngữ phát ra như lời ấn chứng, quỷ thần bảo vệ do hạnh nguyện, tính chất là sáng, soi chiếu nơi tối tăm, sai lầm khiến hết thảy đều mãn nguyện. Người viết có từng nghe rằng tụng chú đại bi tâm nguyện chí thành có thể khiến cây khô héo trở nên xanh tốt. Thực tế đã có những thử nghiệm chứng minh với hai chậu cây, nói lời yêu thương và chửi rủa thời gian dài sẽ thường cho ra kết quả khiến một chậu xanh tốt và một chậu khô héo. Mật chú gồm các ngữ nghĩa cổ, từng từ đều hàm chứa những bí mật khó có thể thấu rõ. Người tụng chú tâm tương thông thì thấu suốt, đều linh nghiệm hết thảy. Bản thân đạo hữu cũng chỉ bày tỏ những điều có phần bộc bạch từ những điều bản thân nhìn thấy chiêm nghiệm thấy, mong các đạo hữu đọc qua hoan hỉ đàm đạo. Thân gửi !
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks