kết quả từ 1 tới 8 trên 8

Ðề tài: Bài giảng của Thầy giác Khang Về Chân Tâm, Tiểu Thừa, Đại Thừa, Alahán, Phật, Tịnh Độ

  1. #1

    Mặc định Bài giảng của Thầy giác Khang Về Chân Tâm, Tiểu Thừa, Đại Thừa, Alahán, Phật, Tịnh Độ

    Bài Giảng kinh 66 tuần 17 rất hay của thầy giác khang: nghe xong sẽ có sự hiểu biết hơn nữa về chân tâm,
    sự khác biệt nam tông, đại thừa, Alahán, Phật, Thế giới tịnh độ , thế giới chu kỳ, kinh lăng nghiêm.....

    thầy giải thích vì sao kinh lăng nghiêm bị diệt trước tiên.

    Kinh 66 tuần 17 tập 1:
    https://www.youtube.com/watch?v=uoTFVCuHBoI

    Kinh 66 tuần 17 tập 2:
    https://www.youtube.com/watch?v=I8rpH8HAXAQ&t=10s

    Đây là nội dung đánh máy


    Bài giảng
    KINH SÁU – SÁU
    Lần 4 – Tuần 17
    Ngày 16/12/ Nhâm thìn (27/01/2013)

    Kính lạy Đức Thầy Thích Ca Mâu Ni Phật. Mô Phật. Hôm nay ngày 16 tháng chạp, cũng là ngày chủ nhật, là ngày thường lệ, chúng ta trao đổi về giáo pháp.

    Thì hôm nay chúng ta bắt đầu đi vào bài giảng.

    Nhưng trước khi đi vào bài giảng tôi chú ý phật tử một chút. Hôm qua rằm, chúng ta có hỏi về vấn đề nghỉ tết, thật ra các Sư thì không có tết, tết là ngày

    rằm tháng 7, còn tết này là tết của ngoài đời, của phật tử. Nhưng mà thường thường ngày tết thì nó rộn ràng lắm. Tôi cũng biết vậy đó, tôi sợ phật tử bận

    rồi không có thể đến nghe được, thì tiếc bài pháp, mình vắng một kỳ thì kỳ tới khó tiếp tục. Cho nên tôi hỏi coi có thể đến được hay không hoặc là mình

    nghỉ, như Sư cô Ngọc Trường bắt đầu bữa nay nghĩ ăn tết rồi đó, thỉnh tôi 17 không có lên, 17 tháng giêng mới được. Ở đây tôi lấy làm lạ là tất cả đều

    muốn đi nghe, nhưng mà sự thật không phải vậy. Nói vậy mà không phải vậy.

    Thì hồi sáng có phật tử bạch tôi là phật tử kính Sư rồi sợ, cho nên muốn đi nghe mà nói là không nghe rồi không dám đưa tay lên. Nhưng mà thật sự tết ai

    cũng bận hết, người cư sĩ mà, lo rước ông bà, lo bà con đến thăm nom, qua tết mới có rãnh được, thành ra bữa đó chắc đến ít, không có đến đông được.

    Thì Sư thấy sao? Tôi nói nếu vậy thì nên nghỉ, mà tại sao tôi hỏi phật tử không ai đưa hết. Hôm qua tôi không để ý, phải tôi hỏi ngược lại một cái coi sao

    “Nếu ai mà không đi nghe pháp thì giơ tay lên? Thì có lẽ không ai đưa. “Nếu ai mà bận rộn, nghĩa là bữa 23 mà không đi nghe pháp thì đưa tay lên? Thì

    chắc có lẽ là nó khác. Nhưng mà tôi sơ ý một chút. Thì có phật tử bạch vậy. Thì tôi thấy, thôi 23 mình nghỉ. Thì quý vị có thể vô ủy lạo xong, quý vị về. Chớ

    còn nếu trong đây nghe pháp, cái thân ở đây mà cái tâm ở nhà, thì cũng kính tôi thôi, thì tôi thấy như vậy tôi không vui.

    Nghe pháp, thân ở đây thì tâm ở đây. Bị tôi giảng pháp bây giờ tôi giảng 45’-50’ hà, còn 1 tiếng mấy để phật tử giảng, trao đổi với tôi, tôi nghe, thì cái đó

    đòi hỏi cái tâm phải ở tại đây tức là phải có một số vốn đầy nhóc trong alaya. Chúng ta làm cái gì phải làm thiệt, thà là không giảng.

    Thì cái giảng này là do phật tử tha thiết thỉnh, nhất là ông Vân Toàn, ông Thiện Khánh, ông Thiện Đức, ông Vân Thái, tinh là gạo cội không hà, muốn tôi

    tiếp tục giảng lại. Thì tôi tính mấy ổng hiểu rành hết rồi. Ổng nói “Chớ vậy chiều sâu không rành đâu.” Tôi nói kỳ nầy tôi giảng lại thì khó à, tức là trả bài

    mỗi người đấy, thì xong rồi tôi mới giảng tiếp, còn không thì thôi. Cái tánh tôi không làm thì thôi, mà làm thì phải làm cho thật, cái khó là chỗ đó. Thì phật

    tử thông cảm cho tôi. Thì bữa 23 nếu mình cần đi đó thì đi cái thân ở đây thì cái tâm ở đây. Nhưng mà theo ông thiện nam lại bạch với tôi đó thì tôi thấy

    cũng đúng.

    Ngoài đời tôi cũng vậy, tết rộn ràng lắm, làm như cái truyền thống, rồi cái lòng mình nó cũng rộn rã theo. Hén, mình không phải là Thánh tăng. Chỉ có vô

    đây tôi tu mới thật là đây thôi, chớ hồi xưa tôi thân ở trong đạo chớ tết tới tôi cũng còn rộn mừng đó, nhớ lại những kỷ niệm xưa, cái luân hồi sanh tử là

    những kỷ niệm xưa. Thành ra trong này tăng chúng cũng có nhiều vị còn muốn về nhà nữa chớ không phải là không. Tôi bây giờ đây tôi tỉnh queo rồi, lâu

    năm rồi, bốn mươi mấy năm rồi. Hồi mới xuất gia cũng vậy, tới tết rộn ràng không nói gì, mà tới rằm tháng 7 nó cũng rộn rã nữa, mong quý Sư về gặp

    nhau, bây giờ nó cũng nhàm chán rồi. Cái tết nào tôi cũng không thích hết, mà lại sợ nữa. Hén.

    Tết ngoài đời thêm 1 tuổi đời, nó già rồi mà cái tâm nó không già. Rồi bây giờ xuất gia lên 1 tuổi đạo, rằm tháng 7, thì cái tâm nó còn muốn trẻ hơn xưa

    nữa, nó sống lại cái thời tuổi trẻ, thì tôi lo đấy, không biết khi nào tôi rớt cái bịch đây. Rồi bây giờ phật tử quá kính tôi, dùng chữ quá kính chớ không phải

    là kính, mà quá kính, quá thương tôi thành ra hại tôi. Cuộc đời tôi chưa bao giờ hưởng thụ sung sướng như bây giờ. Mà tôi nói “Tọa thực thì sơn băng”, tôi

    bây giờ như què rồi, tôi đi xa không được, bước đi điều khiển cái chưn không được.

    Ở đây phật tử lo quá trời đi. Ăn cơm tôi cũng nói hoài, quý Sư là một người khất sĩ, theo Sư Trưởng định nghĩa “Khất sĩ là xin ăn tu học. Một người ăn xin

    chớ chưa phải là thầy giáo”. Mà quý vị là cha mẹ của người học trò, thì nuôi học trò làm sao cho nó đậu làm thầy giáo. Mà nếu lo cho nó sung sướng quá,

    nó ăn rồi nó ngủ như con ột vậy, nghĩa là không trông mong gì có ông thầy đâu, ông thầy sẽ sa đọa. Thường thường người ta nói “Tọa thực thì sơn băng”,

    Khất sĩ theo Sư Trưởng thì phải đi “hành Tứ y pháp”, không có ở tịnh xá. Tịnh xá để dành cho người già và người bệnh, chớ người trẻ là không được ở tịnh

    xá. Rồi bây giờ tôi ở tịnh xá, về đây gần 30 năm rồi, không có đi đâu từ năm 1983 tới nay, ngồi tôi ăn, hút không hà, bây giờ tôi sung sướng hơn, đây tôi

    còn đi bát, bây giờ mấy tháng nay tôi không có đi bát, đi bát không ra đi bát, tôi không có đi xa được, ôm cái bát ra khỏi tịnh xá, tới chùa Phước Hòa là đầy

    nhóc rồi. Rồi cuối cùng tôi phải nhờ ông Nhã chở vô mấy cái huyện xa chưa ai biết. Nhưng mà tưởng chưa ai biết, bây giờ người ta cũng biết hết hà. Phật

    tử đem đĩa gì của tôi tràn vào trong đó hết. Ra hỏi “Sư phải Sư Khang không Sư?” Tôi nói “Phải. Tại sao bà biết?”Nói “Đĩa của Sư ở trong nhà con một đóng

    cà. Sư đứng lại, con để bát”. Mà ở huyện người ta để bát 1-2 người là đầy nhóc, năn nỉ cũng không được, người ta lâu lâu gặp một lần mà, tôi nói để một

    người một ít thôi. Biết tới chừng nào Sư vô đây nữa, gặp Sư, Sư cho con để cho đầy thôi. Mấy người là nói gì nói, nhất là mấy ông thiện nam, người nữ còn

    dễ từ chối, còn người nam khó lắm, nói rồi nó bỏ nó đi về hà, rồi mình phải chịu thôi.

    Thành ra tôi thấy, bây giờ tôi là con cưng không đi bát được. Học trò mà cưng quá nó hư. Mà tôi đâu có đắc quả đâu, tôi đang tu mà, đang cầu đạo quả.

    Thì tôi yêu cầu phật tử cố gắng giữ giới giùm cho các Sư. Giúp ăn thì giúp vừa phải thôi. Ăn thì đúng ra trong luật đó, món canh và món đồ mặn thôi. Cái

    này bữa nào cũng 4-5-6 món. Mà tết tới ở ngoài vịt, gà kêu chết chết! Rồi quý Sư ăn rồi chết chết!!! Đồ dầu, đồ chiên, đồ xào, cari, ra-gu, bữa nay bánh

    xèo,… ăn cho đã luôn để rồi quý Sư tiêu hết không còn gì hết á. Vừa vừa thôi. Phật tử ở ngoài không dám ăn, tôi biết có nhiều phật tử khá, có tiền mà

    không dám ăn, đem vô cúng dường, cúng dường có phước.

    Thì dĩ nhiên cúng dường có phước rồi. Mà tôi không chủ trương phước. Quý vị phải nhớ chỗ đó. Bởi vì phước là cái phương tiện, cái bàn đạp thôi, dửng ở

    chỗ đó thì quý vị sẽ giàu sang, quan quyền, vua chúa, sự sung sướng, thanh nhàn của cõi trời. Quý vị thích cõi trời không?

    Lương Võ Đế với Bồ Đề Đạt Ma tôi đã giảng rồi. Bồ Đề Đạt Ma là không chấp nhận cõi trời, đó là phước báo nhân thiên hữu lậu thôi, có hưởng thì có hết.

    Thì phải có trí huệ, phải hiểu được pháp lý, mà hiểu pháp lý, Đệ nhất nghĩa Thánh đế là Bát nhã đấy mà Bồ Đề Đạt Ma còn không chấp nhận mà. Bệ hạ

    hiểu là hiểu trên vấn đề văn tự thôi, nghe pháp thôi, mà bệ hạ có sống được hay không. Sống không được là bởi vì luôn luôn là ngài chấp ngã, đem ra khoe

    72 cảnh chùa, 3000 tăng gì đó, cái đó không phải. Rồi khoe tôi cũng biết bát nhã, tôi biết Đệ nhất nghĩa Thánh đế, mà biết mà khoe mình tức là không

    biết. Người ta nói “Thùng không thì kêu lớn, mà thùng đầy thì nó không có kêu”, tức là khoe tôi biết Đệ nhất nghĩa Thánh đế tức là không biết Đệ nhất

    nghĩa Thánh đế là gì. Rồi lại so sánh Bồ Đề Đạt Ma với ổng “Thánh tăng với phàm”. Bồ Đề Đạt Ma là Thánh còn tôi là phàm. Chớ Bồ Đề Đạt Ma hồi xưa

    không phải là phàm sao. Ai không phải là Thánh, ai mà không có Phật tánh. Thành ra cứ so sánh, lấy tư tưởng mà đi vào Bát nhã thì làm sao hiểu Bát nhã

    được.

    Thì tôi thấy cái đó tôi muốn đọc cái bài đó để quý vị thấy Lương Võ Đế là chính là quý vị đấy. Quý vị làm phước bây giờ cầu phước thôi. Tôi là tôi muốn qua

    cái Bát nhã. Đến tôi thì hỏi chuyện gì đâu không hà. Mà hễ tôi kéo qua Bát nhã, pháp lý, ăn chay thì rút.

    Cũng như hôm qua có cô gì thỉnh đó cũng vậy. Tôi tưởng chuyện gì quan trọng, tưởng cổ tu cổ kẹt pháp thì cổ muốn nhờ tôi thì tôi cũng chấp nhận thì hôm

    nay trả lời. Rồi vô đem chuyện gia đình nhờ tôi chỉ dạy. Tôi nói tôi là sợ cái đó rồi, mà không phải chỉ dạy, mà chính nhờ cái đức tôi đặng mà cất chùa. Trời

    ơi cái tịnh xá tôi còn lo không xong mà, tùm lum, tôi còn dạy quý Sư này không xong, mà tôi có một ông đệ tử ruột mà tôi dạy không được nữa, tôi lo đâu

    nữa bây giờ. Tôi nói thật, hồi xưa tôi xuất gia tôi biết rồi, cái khó nhất đó là trụ trì, cái khó thứ nhì là thâu đệ tử, nếu mình chưa đắc quả Alahán, tôi phát

    nguyện nếu đắc quả Alahán mới làm trụ trì, mới thâu đệ tử, còn nếu ngoài ra là ngoài ý muốn tôi. Thì bây giờ ngoài ý muốn.

    Tôi lo. Quý vị nghe tôi giảng, nói “Cha, Sư đắc quả rồi”. Giờ toàn là phật bà thọ ký cho tôi không hà. Nói “Sư giữ giới kỹ quá, chưa từng thấy ai giữ giới

    chính chắn như vậy. Sư giảng pháp rất là rõ. Như vậy là Sư phải có chứng đắc”.

    Tôi kẹt, tôi nói bây giờ một người mà lội chưa nổi, cần có cái phao với một người lội không cần phao, thì người nào mới biết lội? Lội mà nếu không còn cần

    phao thì mới biết lội, cái này còn phao, bỏ cái phao thành thằng chỏng liền. Như vậy người còn ôm cái phao giới luật là người đó chưa đắc giới đâu. Người

    ta đắc giới người ta không cần giữ nữa, người ta với giới là một. Mà người gần sắc còn đắm, gần tiền còn tham, uống rượu còn say, giữ giới kè kè hoài, hễ

    bỏ ra là phạm liền, thì người này đâu có hay gì đâu. Nhưng mà cái ý chí ổng mạnh, ổng cố gắng ổng giữ cho nó đúng, cho trong sạch.

    Thì tôi coi trong cái quyển kinh ấy tôi bắt chước theo một vị Tỳ kheo. Tu ở trong thôn quê, bên kia có cái vườn, trong đó có một cô gái góa chồng, tức là

    chồng chết. Thì ở trong quê mà, thì cổ cất ở trong cái vườn bển. Thì một đêm mưa gió lớn, cái nhà sập. Thì cổ mới qua cái chàng trai trẻ này để xin tá túc.

    Nhưng mưa gió 11-12 giờ khuya cái nhà sập, mà mưa như vậy chịu sao nổi, lạnh run hết. Cổ qua gõ cửa nhờ ông này cho ở tạm. Chàng thanh niên này nói

    “Không, không có được”. Cổ nói “Lạnh như vầy mà 12 khuya chịu cho tới sáng là tôi chết ông không phạm giới, ông không tội sao?” Nói “Cô là gái còn trẻ,

    tôi là thanh niên chưa có gia đình. Giờ cho cô vô đây rồi tôi giữ cái tâm không được thì làm sao tôi trong sạch, cuộc đời tôi có bây nhiêu thôi”. Nói “Sao

    anh không bắt chước Liễu Hà Huệ? Liễu Hà Huệ ôm người con gái vào lòng mà không động tâm, không mang tai tiếng gì hết”. Ổng nói “Cô nói vậy sai. Liễu

    Hà Huệ là Liễu Hà Huệ, còn tôi là tôi chớ. Tôi không có được đắc quả, không có được cái tâm bất động như Liễu Hà Huệ. Nhưng mà tôi không cho cô vô thì

    tôi kết quả như Liễu Hà Huệ, tôi cũng trong sạch thôi. Người mà người ta lội giỏi người ta không giữ giới mà người ta trong sạch. Bây giờ tôi lội dỡ, tôi ôm

    cái phao thì tôi cũng vẫn trong sạch. Ngài là con thỏ, Ngài bước vài bước tới, tôi là con rùa, tôi bò mãi, thì tôi cứ rùa bò mãi, tôi cũng đến, 2 người cũng

    đến mục đích như nhau. Nhưng mà cái phương tiện thì phải khác nhau chớ. Tôi đâu phải là Ngài, mà Ngài cũng không phải là tôi. Nhưng mà phải biết mình

    ở đâu, mình có mục đích là đi tới Niết bàn, đi tới trong sạch. Mà trong sạch mình lánh mình trong sạch. Còn người ta ở trong đó mà người ta vẫn trong sạch

    thì tức nhiên người ta cao hơn. Mà cao thấp mặc kệ. Miễn là Ngài thành Phật, tôi cũng thành Phật”.

    Thì quý vị nên nhớ cái đó, cái quan trọng là phải biết mình, biết mình ở đâu, nếu mình còn thấp “gối rơm thì phải theo phận gối rơm”.

    Thành ra tôi thường ở ẩn không muốn danh tiếng gì hết. Rồi tôi kẹt. Bây giờ quý Hòa thượng ở trên rầy tôi hoài. Sư nói Sư đắc Alahán Sư mới làm trụ trì,

    Sư mới nhận đệ tử. Đâu có ai tự xưng mình đắc Alahán, mà nếu ai cũng vậy làm sao bữa nay Sư xuất gia được, tụi tui cũng đâu ai đắc đâu, cũng phải

    nhắm mắt nhận Sư thôi. Rồi cũng giảng, tôi cũng đâu có dám nói đắc Alahán, chỉ dạy cho Sư cái kinh nghiệm của mình, bây giờ Sư cũng theo kinh nghiệm,

    rồi thâu đệ tử thì Sư cũng nói trao đổi kinh nghiệm với nó, cho nó làm chất liệu quán xét, rồi đối với phật tử cũng vậy.

    Thành ra tôi đâu có dám nói tôi là Sư, hay tôi là Hòa thượng gì đâu, thành ra khi nói là tôi xưng “tôi” không hà. Tôi thì thích ở ẩn, lánh, quý vị cứ nắm cái

    đuôi tôi kéo ra. Thì cho tôi ở yên đi. Quý vị muốn sao mấy cái bài giảng của tôi thì cứ sao ra, tôi có nói gì đâu, mà đừng có đề Hòa thượng Giác Khang, rồi

    nó xuống nó kiếm rồi mà tôi xã giao nhiều quá tôi dính mắc rồi tôi rớt rồi làm sao. Tôi đâu phải là Thánh. Như vậy giữ kỹ đâu phải là,… mình gần sắc thì

    đắm, gần tiền thì tham,… mình phải tránh xa sắc, tránh xa tiền. Phải nhớ chỗ đó. Rồi cứ kéo tôi ra hoài, tội nghiệp cho tôi. Hén.

    Tôi đọc tới cái đoạn Sào Phủ và Hứa Do hôm qua tôi kể đó thì tôi hơi xấu hỗ. Ông vua xuống thỉnh Hứa Do mấy lần, 3 lần. Hứa Do bực quá mới đi ra dòng

    sông rửa tai, là không muốn nghe cái lời danh lợi đó nữa. Ông Vua này là vua Nghêu hay vua Thuấn gì đó. Ông vua nổ tiếng nhất bên Tàu, con cả đóng mà

    không truyền ngôi cho con, không có đứa nào xứng đáng làm vua, lựa người hiền nghĩ tới tất cả người dân. Muốn lựa một người hiền, minh vương. Con

    mình không đủ khả năng, không đủ đức, không truyền cho con. Thế mà thỉnh 3 lần, lần thứ nhất, lần thứ nhì, lần thứ 3 từ chối, ổng bỏ ra, rồi ổng nghĩ cái

    lỗ tai này nghe danh lợi, dơ ổng ra ổng rửa. Rồi cái ông Sào Phủ mới dắt con trâu ra uống nước sông Tương. Ổng mới hỏi sao mà ông này ra rửa cái lỗ tai,

    nói vua thỉnh tôi 3 lần, tôi không muốn nghe danh lợi đó nữa mà ổng cứ đến hoài, thì cái đó là dơ dáy, tôi rửa. Sào Phủ mới dắt trâu đi ngược lên dòng

    nước. Hỏi “Ngài dắt trâu đi đâu?” Nói “Đi uống nước”. Nói “Sao không uống đây”. Nói “Nước rửa tai của ngài đó dơ lắm. Tôi dắt lên trên dòng.” Thì hồi xưa

    chúng ta thấy. Thì ông Sào Phủ mới nói một câu mà tôi thấy đau, “Ngài là người hiền sĩ ẩn danh, mà ẩn làm sao mà tới nhà vua biết. Nếu thật sự là người

    hiền sĩ ẩn danh thì nhà vua làm sao biết được. Mà ngài làm sao tới nhà vua biết được thì ngài đâu phải là chánh ẩn danh”. Thì câu đó tôi nghĩ tôi đau. Mình

    đã ẩn, trốn rồi sao người ta biết mà kéo cái đuôi mình ra. Thì tất nhiên mình là cái đầu voi mà cái đuôi chuột, nó lòi cái đuôi chuột ra. Thì bây giờ biết làm

    sao, tôi đâu phải Thánh tăng. Mặc dầu tôi ẩn, nhưng tôi còn cái háo danh, nó ló cái háo danh, thành ra người ta mới kéo ra được.

    Thì quý vị thông cảm, tôi là phàm tăng, tôi đã nói rồi, tôi có đắc Thánh đâu. Nhưng mà tôi muốn bắt chước bậc Thành. Tôi muốn cái kiếp này làm sao tôi

    đắc Thánh quả. Mà hễ còn muốn là còn tham vọng, còn vọng tâm, còn cái ý chí mạnh, mà ý chí thì không thành Phật được. Thì quý vị nên nhớ

    cái đau đớn nhất của Đạo Phật là ở chỗ đó.

    Không ý chí là không thành công cái gì hết “Chế tâm nhất xứ là vô sự bất thành” tập trung mạnh, kỹ, lâu, sâu cái gì cũng làm được hết. Tôi nghe câu

    đó tôi mừng quá, bây giờ mình có ý chí mình cho mạnh mình làm bất cứ cái gì. Nhưng mà sau qua tới Đức Phật dạy: “Cái ý chí

    tức là cái mạnh mẽ của kinh nghiệm, kiến thức, ký ức, kỷ niệm dồi dào, một người thông minh, một nhà bác học, một vị tiến sĩ. Mấy vị này không bao giờ

    thành Phật được, nó chướng ngại trên con đường giải thoát, kêu là sở tri chướng, các con phải dứt cái cuối cùng này các con mới qua Bát nhã, Phật tánh

    được”.


    Ngài còn thí dụ rành nữa, cũng như cái dòng nước vậy. Dòng nước là cái linh hồn bất sanh bất diệt, thật sự nó là alaya thôi, nó là chuyển biến sátna, thế

    giới sátna. Rồi gió bát phong là tham, sân, si mới mượn cái dòng nước này nổi lên sóng. Thì sóng tức là: sóng sắc, sóng thọ, sóng tưởng, sóng hành, sóng

    thức. Mà sóng thì đâu phải là dòng nước, mà sóng không khác với dòng nước. Dòng nước sátna linh hồn thì luôn luôn nó trôi chảy như vậy mãi, nó không

    có tướng. Mà khi đã có tham, sân, si, thì chính cái tham, sân, si là gió bát phong: sắc, tài, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ mới mượn cái dòng nước này để tạo

    ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức.



    Vậy thì sóng với dòng nước nói 1 là sai, mà 2 là trật. Cái chỗ khó là chỗ đó. Mà các con chính là dòng nước chớ không phải là sóng. Xác thân không phải là

    “Ta, của Ta”; cảm giác không phải; tư tưởng không phải; ý chí không phải; kinh nghiệm, kiến thức không phải, tất cả đều che mất cái dòng nước linh hồn”.

    Bây giờ làm sao, từ cái sóng sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà đi tìm dòng nước? Làm sao tìm được! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức nó chuyển biến theo chu kỳ,

    nó phải có điều kiện, nó duyên sinh nhau. Mà nói nó là nhân quả cũng không đúng.


    Mà cũng như cái nhận thức và đối tượng nhận thức là vô thường và vô ngã. Mà thường thường mình nói vô thường, vô ngã, mình nói là cái kiến phần, cái

    nhận thức của tôi và đối tượng nhận thức nói 1 là sai mà 2 cũng là trật, cái đó là hiện tượng giới đấy. Tôi biết đây là cái máy, thì cái biết của tôi là nhận

    thức và cái máy là đối tượng nhận thức.

    Thí dụ tôi nói cái âm thanh. Quý vị trả bài cho tôi, quý vị nói trả bài thì cái tiếng của quý vị sẽ đến cái lỗ tai của tôi, thì cái tiếng đó là thinh trần, mà cái lỗ

    tai tôi nghe đó là nhĩ thức. Thì do duyên lỗ tai duyên khởi với thinh trần phát hiện nhĩ thức.


    Thì thường thường khoa học nói cái âm thanh nó đến với cái lỗ tai thì mới phát hiện nhĩ thức. Mà âm thanh nó chuyển biến 344m/giờ, còn cái nhĩ thức, cái

    thức thường thường kêu là cái hiểu biết thì nó chuyển biến tới 300.000km/giây, nó giống như ánh sáng vậy, chúng ta thường kêu là thần quang, tức là cái

    hiểu biết cái nhận thức đó đến với đối tượng nhận thức.

    Khoa học thì nhận thức đến với cái thần quang, tức là nghe 1 tiếng nói, thì tiếng nói nó ba động, nó chuyển biến như cái lượn sóng trong không gian, nó

    đến cái lỗ tai, rồi lỗ tai mới nhận biết nó, thì theo khoa học giảng á. Quý vị coi khoa học quý vị biết.

    Còn các vị ngoại đạo, mấy ông tiên đó thì cao hơn. Bị khoa học không thấy cái thần quang này, tức là cái nhĩ thức nó chuyển biến làm sao các ngài không

    thấy được, các ngài chỉ thấy có làn sóng ba động của âm thanh thôi. Còn cái thần quang tức là cái nhĩ thức, cái tâm biết đó, nó chuyển biến nhanh hơn, nó

    gần như tốc độ ánh sáng 300.000km/giây, 1 giây mà 300.000km, còn cái kia 344m/giờ. Thì tất nhiên cái thần quang, cái nhĩ thức này phải đến để ôm

    choàng lấy cái âm thanh chớ. Như vậy thì ngoại đạo nó cao hơn khoa học.

    Thành ra trong Thủ Lăng Nghiêm thường nói ngoại đạo là mấy ông tiên trung giới và thượng giới, còn mấy nhà bác học bây giờ là tiên hạ giới. Hạ giới tức

    là cõi dục, trung giới là cõi sắc, thượng giới là cõi vô sắc. Thì mấy ông tiên ở trên này người ta cao hơn.

    Bây giờ quý vị là địa tiên, quý vị muốn biết mấy người ở ngoại quốc thì có cái điện thoại di động, quý vị bấm đúng rồi quý vị nói chuyện với nhau.

    Còn mấy ông tiên người ta không cần mấy cái đó. Tôi muốn nói chuyện, ở đây tôi nhập định, tôi dùng tư tưởng tôi phóng qua một cái núi ở Hy Mã Lạp Sơn

    thì ở bển cũng có cái thần quang phóng qua, 2 người nói chuyện bằng tư tưởng, không có xài cái bửu bối nữa.

    Còn quý vị phải cần bửu bối. Thành ra mấy ông tiên cao hơn. Người ta muốn trị bệnh quý vị, người ta nhìn thẳng vào trong cơ thể, người ta thấy hết trong

    cơ thể các cơ quan của mình.

    Còn bây giờ mình phải chụp quang tuyến X này kia, rồi cái máy đưa cho mình biết bệnh gì, nó không có chính xác, có khi lại sai nữa. Quý vị muốn biết, rồi

    lên thử máu nếu mà lộn một cái là chết luôn. Thì 2 cái nó cao.Nhưng qua Đạo Phật 2 cái đều sai hết. Chúng ta thấy Đạo Phật độc
    đáo
    .

    Thì mình nói có nhận thức, có đối tượng nhận thức. Nhận thức là vô thường đối tượng là vô ngã. Thành ra cái vô thường, vô ngã rất là quan trọng. Vô

    thường, vô ngã là nền tảng của tất cả mọi tôn giáo, nền tảng của tất cả mọi nhận thức. Thì:

    - Vô thường là nhận thức, vô ngã là đối tượng nhận thức.

    - Vô thường là thời gian, vô ngã nghiêng về không gian.

    Nhưng mà không gian và thời gian không phải là 2, mà cũng không phải là 1.

    - Thì khoa học cho rằng không gian đến với thời gian.

    - Còn mấy ông tiên thì thời gian phóng qua ôm choàng lấy không gian.

    - Nhưng mà với Đạo Phật thì không gian, thời gian cũng đều phát hiện từ “Tự chứng phần” tức là từ cái dòng nước linh hồn, thì không có cái nào trước,

    không có cái nào sau, 2 cái cùng phát hiện một lượt.


    “Hễ: cái này có thì cái kia có, cái nầy không thì cái kia không, cái này sanh thì cái kia sanh, cái này diệt thì cái kia diệt”, chớ không có cái nào trước cái nào

    sau. Nhưng mà do cái sự chuyển động thì 2 cái phải khác thôi. Cái nhận thức và đối tượng nhận thức đều phát hiện từ dòng nước của linh hồn, thế là 2 cái

    có 1 thôi.

    Cũng như bây giờ chúng ta nghe cái tiếng sét, khi mà điện âm và điện dương gặp nhau nó chớp một cái rồi, thì chúng ta thấy cái làn chớp nó đến với

    chúng ta liền, nhưng mà 2’-3’-4’-5’ sau mới có tiếng nổ. Tại sao vậy? Âm dương hợp nhau là có tiêng nổ liền. 2 cái đụng nhau nó xẹt ra lửa và tiếng nổ

    cũng lúc đó luôn, nhưng mà cái làn chớp đi rất mau, chúng ta thấy cái chớp rồi mà tiếng nổ chưa đến lỗ tai mình, nhưng mà 2 cái cùng phát hiện một lượt,

    nhưng mà cái làn chớp 300.000 km/giây, tốc độ ánh sáng, còn cái tiếng nổ đó là tốc độ của âm thinh thì nó đi 344m/giờ, một giờ có 344 m, cái kia một

    giây mà 300.000 km thì quý vị nhân lên, quý vị thấy nó lẹ như thế nào.

    - Thành ra khoa học thì nói tiếng nổ âm thanh đến với cái lỗ tai, lỗ tai phóng ra nhận thức đó.

    - Mấy ông tiên thì nói không phải, nhận thức nó đi mau hơn, ánh sáng đi mau hơn, cái ánh sáng nó phóng ra trùm lấy tiếng nổ.

    - Còn Đức Phật nói, thôi, không có cái nào tới trước cái nào hết, 2 cái duyên khởi từ alaya, tức là từ cái linh hồn. Cái linh hồn là cái dòng nước, khi nó phát

    hiện ra âm thanh, nhĩ thức thì cái nhận thức và đối tượng nhận thức cùng phát hiện một lượt. Nhưng mà đối tượng nhận thức thuộc về không gian, nó

    chuyển biến chậm, rồi nhận thức thuộc thời gian cho nên nó chuyển biến nhanh, nhanh nên nó tới ôm choàng lấy đối tượng nhận thức.

    Thì sự thật là chỉ có nhận thức thôi, tức là không gian và thời gian là sai lầm. Không gian và thời gian, khi mà cái không gian hóa giải vào thời gian thì

    thành ra Đạo Phật, thành ra cái dòng nước
    .

    Thành ra làm sao cho cái dòng nước đó im lặng, sóng đừng có thô tháo nữa, nó chảy chậm lên, nó còn lăn tăn, thì cái linh hồn, cái Chân tâm bắt đầu hiện ra thôi. Cái chỗ đó là cái đau đớn nhất của 62 tôn giáo bạn không tìm thấy. Dùng cái tư tưởng, dùng cái nhận thức, đối tượng nhận thức để đi tìm cái Chân

    tâm, 1000 năm cũng không bao giờ tìm tới, càng học hỏi, càng kinh nghiệm, kiến thức càng dồi dào thì những cái lớp mây này che cái mặt trời mất, không

    có phương pháp, không có cách thức nào để mà đi tới Chân tâm.


    Như vậy phải làm sao? Hễ làm sao là tìm 1 phương pháp nữa thì nó kẹt. Muốn đi đến Chân tâm, làm sao cho những cái vọng tâm nó im bặt bớt, cái dòng

    nước mà nó nổi sóng động như xao động vậy thì cái lượn sóng nó che mất hết.

    Nhưng mà dòng nước ở đâu? Ở ngay trong đó, tôi chỉ thấy cái sóng thôi, thì dòng nước nằm ngay trong sóng. Vậy thì dòng nước là có tướng? Không. Có

    tướng thì người ta kêu đó là sóng.

    Thật sự dòng nước nó không có tướng, nhưng mà vọng tâm nó mượn cái dòng nước tạo ra cái tướng, thì cái đó là huyễn hóa, không có. Thật sự dòng nước

    nó chỉ là cái đường chảy vậy thôi.

    Thành ra muốn tìm thấy cái dòng nước Chân tâm thì cái sóng phải bớt xuống, tức là dùng tư tưởng thiện mà đè tư tưởng ác xuống, đè rồi thì nó ẩn thôi,

    nhưng mà khi nó còn cái tư tưởng thiện nó lăn tăn, lăn tăn, thì nếu quý vị trăn trở, đừng chấp nhận nó thì quý vị thấy cái dòng nước hiện trong đó.

    Ngay cái sóng vi tế, sóng thiện thì quý vị trực nhận cái dòng nước dễ dàng. Còn cái sóng ác là sóng nó lên cao, nó đủ hình tướng ma quái hết. Thì quý vị

    thấy hình tướng ma quái chớ không bao giờ thấy cái dòng nước được hết. Thành ra chúng ta phải dùng tư tưởng tốt mà đuổi tư tưởng xấu, đuổi là đè nó

    xuống để cho nó đừng có nổi sóng, đừng có ba động nữa, đừng có sóng thần nữa, nó lặng lẽ xuống thì quý vị thấy cái dòng nước chảy lăn tăn, lăn tăn nhỏ

    thôi, thì đó là dòng nước. Đây là Chân tâm, nhưng mà cái lăn tăn đó không phải, nó cũng còn là sóng đấy, nhưng mà quý vị nhận được cái dòng nước Chân

    tâm dễ dàng. Thì cái dòng nước Chân tâm tự nó hiện đến chớ mình không thể đi tìm nó.

    Đó là cái độc đáo của Đạo Phật, mà ngọai đạo không tìm được. Cứ làm sao để đi đến Niết bàn. Mà làm sao thì không đi đến được.


    Thành ra cái bài của Phú Lầu Na, bài giảng đó, độc đáo. Tôi chưa giảng tới, nữa tôi bắt quý vị giảng, mà chưa ai giảng được hết.

    - Giới thanh tịnh - Tâm thanh tịnh - Kiến thanh tịnh, đây là tu theo người trời.

    - Giới thanh tịnh: giữ giới cho kỹ.

    - Rồi niệm Phật đếm từ 1-10, rồi niệm Phật khỏi đếm, khỏi cần niệm Phật, đây mới là tâm thanh tịnh, mà thanh tịnh yếu thôi à. Rồi tới khỏi cần niệm Phật,

    chìm đắm trong tiếng niệm Phật, mất thân nữa thì đây là qua tam thiền, tứ thiền thì càng thanh tịnh thêm. Rồi qua tới tứ không là quá xá thanh tịnh rồi.

    Thành ra từ nhị thiền mà trăn trở nữa thì cái tư tưởng….

    Giới thanh tịnh, Tâm thanh tịnh, Kiến thanh tịnh, Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh. Thì đạo là tư tưởng thiện, phi đạo là tư tưởng ác, có vậy thôi.

    Mà từ cái phi đạo quý vị nhận cái dòng nước là không bao giờ nhận được. Thành ra địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, atula mặc dầu vẫn có dòng nước Chân

    tâm mà vĩnh viễn, đời đời không nhận được. Quý vị phải lấy cái đạo đè cái phi đạo xuống tới chừng nào cái phi đạo không còn, cái tư tưởng ác không còn,

    chỉ còn đạo tri kiến thôi tức là còn tư tưởng thiện thôi, thì tự nhiên quý vị sẽ thấy cái dòng nước Chân tâm tự nó đến với mình chớ mình không thể đi tìm

    nó, khi mà cái tâm mình nó lặng bớt, chỉ có cách đó thôi.


    Thành ra Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là tiến tới Đạo tri kiến thanh tịnh.

    Đạo tri kiến thanh tịnh là đến trực nhận hoàn toàn thì bây giờ dù cho Đạo phi đạo gì cũng là Tri kiến thanh tịnh hết. Đây không còn tu nữa. Tri kiến thanh

    tịnh tức là quả Alahán
    . Mà các Ngài vô đó các Ngài sợ quá các Ngài trốn luôn, không dám ra. Ra thì thấy Đạo phi đạo nữa, thì phải trực nhận nữa. Thành ra

    trốn ở Niết bàn, vô Tri kiến thanh tịnh nằm ở trong đó.

    Thành ra Xá Lợi Phất mới hỏi “Tới đây có phải cuối cùng của Niết bàn không?” Ngài nói “Không đâu, đây là Tri kiến thanh tịnh của Alahán thôi, không còn

    dám đạo, không còn dám phi đạo, tư tưởng thiện, tư tưởng ác, trong tam giới còn chạy trốn nó. Ở trong Tri kiến lặng lẽ thôi. Thì Ngài nói phải Vô thủ trước

    Bát Niết bàn. Trở lại Đạo, trở lại Phi đạo mà thấy Đạo và Phi đạo đều là Tri kiến thanh tịnh hết”.

    Thành ra trong cái bài “Ý” của Sư Trưởng, Ngài có 2 câu thật là hay “Tâm không thì vạn sự đều không”. Tâm không là người cũng không, đối tượng cũng

    không mà các pháp môn cũng không. Tam luân không tịch. Thì tất cả tam giới đều Chân không hết, không có cái gì hết.

    Cái chỗ này mà cô ở Chợ Mới hỏi tôi đó. Cổ nói “Sư nói 3 cái đều không hết, thì con niệm Phật cũng không, mà thế giới A Di Đà cũng không, mà pháp môn

    niệm Phật cũng không. Vậy bây giờ con tu để làm cái gì? Cổ nói từ nay con niệm Phật không được nữa, đâu có con niệm, đâu có pháp môn Tịnh độ mà

    niệm, mà đâu có cõi Phật mà niệm. Từ nay con niệm không được là tại Sư đó. Sư nói cái nào cũng không hết.”

    Tôi nói “Trời ơi! tội nghiệp tôi”. Tôi có giảng, mà tôi có nói chớ. Cái không của địa ngục khác, cái không của Chân không Alahán khác. Chân không Alahán

    phải phát bồ đề tâm trở về mới kêu là diệu hữu.

    Cổ gọi điện thoại cho ông Thiện Đức, cổ nói tôi phải giảng qua điện thoại di động cho cổ. Tôi nói tôi không có làm được. Cổ nói không thì viết thơ cho con.

    Tôi nói cái này còn khó nữa. Không ấy thì Sư cho con gặp mặt, Sư cho ông Thiện Đức điện cho con thì con xuống liền lập tức, bữa trước là bữa sau con

    xuống tận Trà Vinh, Sư giảng riêng cho con. Tôi nói cũng không được nữa. “Cái nào cũng không được hết. Sư làm sao giúp đỡ con, bây giờ con không thể

    tu được, con thấy là không có con, chính là Sư nói, mà không có cõi Cực lạc nữa, Chân không, đối tượng cũng không có, mà không có pháp môn niệm Phật

    nữa. Như vậy bây giờ con làm sao đây”. Tôi nói “Chết”. Tôi ngồi thiền, tôi nghĩ bây giờ mình bỏ thì không đành, mà giảng thì làm sao, mình không muốn

    tiếp xúc nữa, di động thì mình không từng nói, mà đối diện tiếp riêng với cổ thì sức khỏe mình không có. Còn viết thơ thì bây giờ tôi bệnh, tôi cũng không

    có viết cái gì được nữa hết. Tôi nghỉ có thể giảng pháp, giảng chung cho pháp hội, rồi cái đĩa đó cổ về cổ nghe lại. Thành ra tôi có trả lời câu đó, không biết

    trong đĩa nào đó.


    Thành ra bữa nay tôi nhắc Phật tử là lâu lâu tôi đi sâu một chút.

    - Thành ra cái tiếng mà đến với cái lỗ tai thì nó đúng mà không có chuẩn lắm, không có toàn diện.

    - Rồi cái lỗ tai tức là cái nhận thức đến với cái đối tượng nhận thức, thì cái này cao hơn, nhưng mà cũng không có toàn vẹn, cái này là của mấy ông tiên ở

    cõi trời sắc giới, vô sắc.

    Còn cái âm thanh đến với cái lỗ tai thì khoa học đang giảng cái đó. Cái đó khó hiểu à. Sau khi tôi hiểu cái đó rồi giảng cái đó thì các nhà khoa học khoái,

    mấy ông giáo sư, sinh viên này kia thích lắm. Nhưng mà nó có kẻ hở lớn quá.

    Rồi qua tới Phật giáo, tôi thấy Duy thức, thì nhận thức và đối tượng nhận thức là kiến phần và tướng phần đều phát hiện từ “tự chứng phần”.

    Tự chứng phần là gì? Tức là cái linh hồn của chúng ta, tức là cái Chân tâm.

    Nhưng mà qua Thủ Lăng Nghiêm còn thêm một cái nhức đầu nữa, tôi tính đọc, nó khổ lắm, tôi đòi hỏi quý vị ngồi thiền, tôi nói thật sự vậy đó, năn nỉ cũng

    như bắt buộc. Tôi thường hay dùng cái đó, nếu năn nỉ quý vị làm, không làm thì thôi, nhưng mà tôi bắt buộc, bắt buộc nếu không làm là nghỉ thôi, chúng

    ta không học nữa. Tôi là khổ tâm, tôi nghiền ngẫm mà. Thì “Vô sư trí” là do mình ngồi hoài, ngồi mãi mà phải giáo pháp à, chớ ngồi riết rồi thành cục đá

    đó. Hén. Thì phải có giáo pháp.

    Chúng ta thấy Đức Phật hỏi Anan cái Chân tâm đó, thì 7 lần “Thất xứ trừng tâm”. Ngài bác hết. Mà cái bác độc đáo nhất của Thủ Lăng Nghiêm đó là “Nhân

    duyên - Nhân quả”. Nhân quả cũng sai luôn, Ngài bác luôn “Nhân quả”. 7 lần, trong đó có 1 lần nhân quả, mà Ngài bác tài tình nhen, tôi coi tới coi lui, tôi

    học thuộc lòng để tôi nói, nhưng mà không được, nói không được, nó khó nói lắm.

    Thành ra bên Nam tông không chấp nhận Thủ Lăng Nghiêm, đó là cái kinh ngoại đạo, đả phá bên Nam tông, đả phá cái luật nhân quả, mà nếu không có

    nhân quả thì không có cuộc đời này. Mà tạo sao Đức Phật dám bác nhân quả? Như vậy là ngoại đạo, kinh này không phải là kinh của Phật.

    Thành ra trong kinh A Di Đà nói, sau này kinh Thủ Lăng Nghiêm bị diệt trước hết thảy. Mà nếu không đưa cái đó thì làm sao đưa tới Chân tâm.


    Thành ra nói “12 nhân quả” thì sai, mà nói “Thập nhị duyên khởi”. Mà duyên khởi, bây giờ người ta hiểm lầm duyên khởi là nhân quả, nó không phải là

    nhân quả. Duyên khởi là cái nhân này với cái duyên kia, rồi nhân cái hột giống, rồi có cái quả là do nhiều cái nhân “nhân duyên quả báo”.

    Thí dụ tôi trồng cái hột xoài xuống, thì phải có người trồng, có đất, có phân, có không khí,… có này kia thì mới lên cái quả đó, đó là nhân quả. Thật ra

    không đúng lắm. Cái chỗ đó là chỗ chết. Đức Phật bác luôn vấn đề không đúng đó.


    Thành ra quý vị coi lại trong kinh Na Tiên Tỳ kheo vấn đáp với Mi Lan Đà trả lời rất hay. Cái đó Nguyên thủy lấy cái đó làm nền tảng, để người tu phải học

    thuộc lòng hết cái trong đó. Nhưng mà nó có nhiều chỗ không đúng, không phải không đúng, nhưng mà nó không được khít khao, không tròn vẹn, nghĩa là

    nó có nhiều cái lổ hỏng. Nếu là “Nghiệp cảm duyên khởi” thì rất đúng, nhưng mà nói Đạo Phật thì chưa toàn vẹn, còn sai nhiều cái lắm.

    Nghiệp cảm duyên khởi là nhân quả chu kỳ, nhân quả khác thời, có nhân, phải có duyên, có thời gian, không gian mới đưa tới cái quả được. Mà tất cả cái này đều phát hiện từ nhân quả sátna, mà bên đó không biết.

    Thành ra mới chất vấn nhau chỗ mà vua Mi Lan Đà mới hỏi Na Tiên

    - Bạch Đại đức, 1 người chết ở trần gian này mà sanh về cõi trời dục giới, với 1 người chết sanh về cõi trời sắc giới, 2 người cùng chết một lượt, ai về

    trước? Thì Na Tiên nói một lượt. Nhà vua nói Đại đức cho thí dụ đi. Na Tiên Tỳ kheo hay vô cùng, ổng nói “Bây giờ bệ hạ nghĩ chỗ quê quán của bệ hạ đi,

    lúc mẹ bệ hạ sanh ra bệ hạ cách đây tới mấy trăm cây số. Bệ hạ nghĩ tới được không?” Nói được. Rồi bây giờ ở đây với kinh đô của bệ hạ cách đây mấy

    cây số? Nói có mấy cây hà. Bệ hạ nghĩ được không? Nói được. Vậy bệ hạ nghĩ đi. Rồi cái nào hiện ra trước? Vua Mi Lan Đà nói 2 cái một lượt. Chúng ta

    thấy rất đúng.

    - Bây giờ Đại đức cho thêm cái thí dụ nữa. Bây giờ con chim đại bàng nó đậu trên cây ngô đồng là cây cao mấy trăm thước, con chim đại bàng là con chim

    bự, nó xòe cánh che bít một khoảng trời. Rồi bây giờ con chim sẽ đậu trên cây bông. 2 con đều đậu một lượt hết, 1 con trên nhánh bông, 1 con trên cây

    ngô đồng, thì cái bóng con nào xuống dưới đất trước? Vua Mi Lan Đà nói 2 con xuống một lượt. Rất hay. Nhưng mà sai.

    Chúng ta mới thấy là nó khó. Cũng như tôi nói âm thanh (cái tiếng, là đối tượng) đến với cái lỗ tai (nhận thức), hay là lỗ tai đến với âm thanh. Cái nào

    trước?

    - Rồi Đại đức thấy chết còn có linh hồn, còn kho chứa linh hồn để cung cấp cho nghiệp lực không? Na Tiên nói không có, chết là đầu thai liền lập tức.

    Thành ra bên Nam tông không bao giờ trai tăng nha, không có linh hồn, chết là đầu thai.

    - Vậy Đại đức cho thí dụ . Ổng cho thí dụ rất hay. Thí dụ có trái xoài, ăn trái còn cái hột, rồi bệ hạ đem cái hột này trồng xuống nó lên cây xoài được

    không? Nhà vua nói dĩ nhiên là lên cây xoài. Vậy có linh hồn gì của cái hột xoài truyền qua cây xoài này không? Nói làm gì có linh hồn trong hột xoài truyền

    qua cây xoài, không có. Vậy, chúng ta thấy không có linh hồn, đâu có cái gì chết mà có linh hồn, đâu có cái linh hồn hột xoài truyền qua cây xoài đâu,

    không có.

    - Vậy Đại đức cho thêm cái thí dụ. 4 cái thí dụ á, rất là khít khao, rất là tài tình. Vậy bệ hạ ra ngoài biển thấy cái biển động, sóng nó lên cao, rồi nó xuống,

    chấm dứt. Thì khi chấm dứt, một sức mạnh của lượn sóng thứ 1 đưa lên lượn sóng thứ 2, có cái gì ở lượn sóng thứ 1, cái linh hồn truyền qua lượn sóng thứ

    2 không? Nhà vua Mi Lan Đà nói không có. Thì con người chết cũng vậy đó. Khi xác thân này chết cũng giống như hột xoài có cái thân khác, khi lượn sóng

    xác thân này chết thì có lượn sóng xác thân thứ 2, có linh hồn gì chuyền qua bên đó đâu.

    Đố quý vị thấy cái chỗ sơ sót, chỗ khe hở của Mi Lan Đà. Dịch ra 18 thứ tiếng, cái bài kinh thật là hay. Có cái dịch ra bằng tiếng Pali, cái dịch bằng tiếng

    Trung Quốc, mà 2 bản khác. Bản của Pali, Nam tông tức Tiểu thừa đấy. Một cái của Sancrit tức là của Đại thừa thì dịch ra tiếng Tàu có một vài chỗ khác

    nhau. Nhưng mà đều có nhiều khe hở trong đó.

    Hồi đó tôi nghe tán thán kinh đó, tôi kiếm coi. Thì 1 cái của Đoàn Trung Còn dịch từ tiếng Trung Quốc là của ban Sancrit là bên Đại thừa, 1 bản của ông

    Giáo Sư cũng không hay. Hay nhất là của Giới Nghiêm thuộc về Nam tông. Ổng hồi xưa tu bên Bắc tông, mặc quần áo bên chùa, nhưng sau khi đi xuất

    ngoại qua Miến Điện, Tích Lan thì ổng lại theo Tích Lan, ổng học Vi Diệu Pháp, ổng thấy quyển Na Tiên Tỳ kheo hay quá trời, ổng dịch toán quyển đó rất là

    sát, rất là hay. Tôi có 1 bộ, tôi đi Đà Lạt tôi coi, tôi thấy quả hay thiệt. Nhưng mà nếu mình không nghiên cứu qua Đại thừa, qua 4 pháp giới thì mình thấy

    nó không đứng vững, hay thì có hay, thí dụ rất là sát, nhưng mà toàn là nghiệp cảm duyên khởi không.

    Mà theo Đạo Phật phải có 4 duyên khởi:

    - Nghiệp cảm duyên khởi.

    - Alaya duyên khởi.

    - Chân như duyên khởi.

    - Pháp giới duyên khởi.


    Chúng ta coi quyển nổi tiếng nhất là Đức Phật và Phật pháp của Narada, in ra biết bao tiếng, nổi tiếng thề giới, nhưng mà sơ sót, khe hở tùm lum trong đó.

    Sau này quý vị học khá rồi tôi đem đọc cái quyển đó, quý vị thấy cái khe hở rất nhiều. Nó không phải sai, nhưng mà nó quá thấp, nói về mạtna thôi chớ

    không có alaya, nói về sóng thôi chớ không dám đụng tới cái dòng nước
    . Mà nói tới dòng nước còn sai nữa, còn phải nói tới nước. Nói tới nước vẫn còn sai

    đó, phải nói tới biển. Thì tôi đã có giảng cho quý vị rồi.


    Cái sóng kêu là Nghiệp cảm duyên khởi. Khi mà nó chấm dứt rồi thì nó mang cái lượn sóng khác, nhưng mà có cái chỗ chứa. Chỗ chứa là cái gì? Là alaya,

    chứa ở trong alaya, phải có thức thứ 8. Cái này chỉ có nghiệp thôi, mà nghiệp bên Nguyên Thủy không kêu là thức thứ 7, kêu là ý chí, là sức mạnh của tư

    tưởng. Tư tưởng là cái gì? Là sự phân biệt vinh, nhục, lợi, hại, khen, chê, phải, quấy mà không có quyết định. Rồi nó đưa cái đó qua mạtna, ý chí mới chọn

    lựa, tính toán, phải, quấy rồi mới quyết định hành động. Thành ra hành động đó kêu là nghiệp, chớ nó không kêu là thức thứ 7, bên Nam tông không có

    thức thứ 7. Rồi cái nghiệp này nó mới bắt đầu đủ duyên nó tạo ra cái xác thân mới, cái lượn sóng mới, không có cái gì chứa những chủng tử nghiệp này.

    Đó là Nam tông.


    Nghiệp cảm duyên khởi, chúng ta sanh ra đời là do nghiệp, chúng ta hành động là theo nghiệp, chúng ta chết là vì hết nghiệp, rồi chúng ta đầu thai là do

    cái nghiệp đầu thai thêm xác thân mới, rồi xác thân mới sẽ hành động theo nghiệp, rồi chết đi là đã hết nghiệp, rồi lại đầu thai xác thân khác do nghiệp.

    Hay vô cùng, không có khe hở. Nhưng mà sai, nó không có chính xác.

    Thành ra học Đạo Phật, quý vị phải có con mắt trạch pháp. Mà muốn trạch pháp thì quý vị phải ngồi chết mồ chết tổ luôn. Hén. Quý vị phải ngồi thiền cho

    sâu, trong cái lặng lẽ này nó sẽ giải thích hết mọi việc, không có ai dạy quý vị được đâu, đừng có trông mong mà ai dạy cho mình. Đức Phật chỉ là “ngón

    tay chỉ mặt trăng”. Ngài chỉ là người chỉ đường thôi, mình chịu hành động, chịu tiếp thu không là phải do mình, cái lặng lẽ của mình, ngày này qua ngày

    khác, cái bền bỉ, cái tinh tấn là cái nguyên nhân đưa tới giải thoát.

    Tinh tấn là gì? Là bền bỉ làm hoài. Mà tinh tấn của nghiệp cảm khác, tinh tấn của alaya lại khác, 2 cái đi ngược nhau.

    Tinh tấn của nghiệp cảm là làm hoài, làm hủy, làm cho đúng giờ, có cố gắng, có ý chí tập trung mạnh, tập trung kỹ, tập trung lâu, tập trung cho sâu thì sẽ

    làm hết tất cả tam giới này, thay trời, đổi đất, dời non, lấp biển,… gì đó được hết.
    Nhưng mà trở về cái lặng lẽ không được, cái đó chỉ là đạo

    tiên thôi, chớ không phải là Đạo Phật. Cái chỗ đó là chỗ chết của người tu.


    Thành ra sau khi Đức Phật mà bác hết 7 cái trừng tâm của Anan rồi, thì Anan khóc, Ngài bắt đầu mới chỉ về cái Chân tâm. Tôi đã từng nói với quý vị rồi.

    Nói về cái thấy, thì thấy có vật, không vật, còn sự vật lúc có lúc không, còn cái thấy lúc nào cũng có. Cái nghe cũng vậy. Bây giờ, cái tiếng lúc có lúc không,

    còn cái nghe thì có tiếng cũng nghe, không tiếng cũng nghe. Thì Đức Phật hỏi cái nào còn, cái nào mất. Thì cái sự vật lúc có là có, lúc không là không, còn

    cái thấy lúc nào cũng thấy. Còn cái nghe cũng vậy, có tiếng thì, nghe, không tiếng cũng nghe, cái tiếng lúc có lúc mất.

    Quý vị niệm Phật có tiếng niệm thì có, ngưng không niệm thì cái tiếng mất. Rồi niệm Phật mà tiếng nhiều với cái âm thanh của gà gáy, của chim hót, của

    người ta nói chuyện thì tiếng ồn rất nhiều, nhưng mà cái nghe đâu có ồn.

    Đức Phật hỏi, Anan lúc đầu cũng nói trật, tôi thấy mình cũng nói trật thôi.

    Đức Phật hỏi “Có bàn tay của Như lai không?” Anan nói có. Rồi Ngài để xuống hỏi “Có bàn tay của Như lai không?” Anan nói không. Ngài nói đúng. Ông

    thông minh. Ngài khen đó, Ngài chê đó. Rồi Ngài hỏi “Thấy bàn tay Như lai không?” Nói thấy. Ngài để xuống hỏi “Ông thấy bàn tay Như lai không?” Anan

    nói không thấy. Ngài nói “Ông điên đảo”. Thì mới vô nghe Đạo Phật thì mình thấy mình cũng trả lời như Anan, chớ trả lời làm sao bây giờ. Có bàn tay thì

    mình nói có, không bàn tay thì mình nói không, mà hỏi thấy bàn tay thì mình nói thấy, không có bàn tay thì nói không thấy. Thì nói phải vậy thôi. Mà tại

    sao Ngài khen, cái này điên đảo.

    Không ngờ Ngài nói “Ta hỏi ông 2 câu khác nhau. Câu 1 ta hỏi cái bàn tay của Ta. Câu 2 Ta hỏi cái tâm của ông có thấy hay không.” Mà chúng ta coi

    chừng 2 cái tâm đó. Thấy mà theo đạo trời, cái tâm là cái hiểu biết phóng tới đó, cái đó lại khác nữa, nó lộn xộn lắm. Thành ra mình phải ngồi thiền mình

    biết.

    Rồi Ngài nói tới cái thứ 2 là cái nghe. Ngài đánh tiếng chuông hỏi Anan “Có tiếng chuông không?” Ngài không đánh hỏi “Có không?” Anan nói không có

    tiếng chuông, Ngài nói đúng. Qua cái này thì mình biết rồi. Rồi Ngài đánh lại hỏi Anan “Nghe không?” Nói nghe. Ngài không đánh hỏi Anan “Nghe không”.

    Nói con không nghe. Ngài nói ông điên đảo.

    Ta cũng hỏi 2 cái, 1 cái tiếng chuông, 1 cái là hỏi cái nghe, cái tâm của ông. Có tiếng thì có, khi tiếng chuông dứt thì không có thì đúng. Còn có tiếng cái

    tâm ông nghe, không tiếng thì cái tâm ông tiêu theo. Như vậy sự vật mất là ông mất theo, nếu không nghe thì ông lấy gì ông nghe nữa, người ta đánh

    chuông ông nghe, không đánh không nghe, bây giờ người ta đánh lại thì ông lấy cái gì nghe. Tiếng chuông mất thì cái tâm ông mất theo.

    Thì Anan nhận ra. Thì lúc đó Ngài nói gì thì mình cũng biết vậy, cũng nhận thôi. Anan mới khóc, quỳ xuống nói “Nếu mà con hiểu được cái này đó thì con

    không bị Ma Đăng Già bắt”. Tức là không bị sắc mà kéo lôi nữa. Thì chúng ta cũng vậy, cái sắc là nó khó nhất.

    Nhưng mà Đức Phật nói 1 câu mà tôi nhức cái đầu mấy năm trời. Ngài nói “Anan ơi, nó không phải là Chân tâm đâu nhé. Ngài bác hết trơn cái vọng tâm rồi

    Ngài đưa Chân tâm. Rồi nhận Chân tâm, Ngài nói không phải Chân tâm, mà nó cũng không phải vọng.


    Không chân, không vọng thì là cái gì? Một là Chân, hai là vọng. Khoa học ghét ở chỗ đó, ông bác sĩ Bảy ổng ghét tôi ở chỗ đó, mà mấy Hòa thượng cũng

    ghét tôi nữa. Chân thì chân, không chân thì vọng, mà vọng thì vọng, cái này chân không phải, mà vọng không phải. Mà chính Thủ Lăng Nghiêm nói, bởi vậy

    bên Nam tông nói Thủ Lăng Nghiêm là ngoại đạo
    . Giảng rồi không đưa cái Chân tâm, đưa cái đó Anan nhận cái Chân tâm, thì Ngài nói “không phải Chân”,

    rồi Ngài còn thêm một câu nữa “không phải vọng nhen. Nó do đè mí mắt mà thấy”. Đè mí mắt là sao? Không phải chân, không phải vọng là cái gì?” Quý vị

    thấy đọc kinh là quý vị chết cứng ở chỗ đó. Mà bây giờ hỏi ai? Không ai trả lời được hết.

    Hỏi ai bây giờ? Thì hỏi mình chớ hỏi ai bây giờ! Mà mình là cái thứ ngu, vô minh, thì bây giờ hỏi ông thầy vô sư trí của mình.

    Quý vị thua mấy người tu ở chỗ đó, thua tôi ở chỗ đó thôi, chớ quý vị đâu có thua tôi, quý vị còn khôn hơn tôi, bây giờ tôi thấy mấy cô nói chuyện khôn

    lắm, mà khôn theo đời á, còn cái đạo không biết, bên ngoài thì biết quá trời, tôi phải học quý vị, nhưng mà bên trong quý vị không biết.

    Nhất là thời buổi này chúng ta hướng ngoại rất nhiều, có biết bao nhiêu vấn đề phải giải quyết. Mà vấn đề là đau khổ. Mà trở về mình thì không chịu trở về,

    mà muốn trở về cũng không được, tiện nghi bây giờ nó ngút trời, đủ cái


    Hết Phần 1
    Last edited by pvhunghung; 28-03-2018 at 11:35 AM.

  2. #2

    Mặc định

    điều kiện để mà hưởng thụ, không hưởng thụ là thứ ngu. Bây giờ quý vị ra coi vật chất bên ngoài, nhất là gần tết phè phởn đủ thứ hết trơn. Rồi cái tiền, quý vị

    ra bị móc túi sạch sành sanh không còn cái gì, thấy cái gì cũng đẹp hết.

    Thành ra tôi kỳ rồi đi vô chỗ ông Tâm Châu bán trà là tôi không dám vô, vô là thấy cái nào cũng muốn mua hết. Mà đi lợi chỗ đó có một ông Việt kiều ổng theo

    nói “Sư muốn mua cái gì, con mua hết, bây giờ tốn vàng con cũng mua cho Sư nữa”. Tôi nói “Trời ơi! Tôi không dám đi đâu”. Tôi cũng còn phàm mà. Nó chưng

    bày những cái, rồi đèn đuốc nó đốt lên, trời ơi nó bán đủ thứ, trà, bánh, mức, café,… bán đủ thứ hết. Mà bây giờ tôi lại uống trà nữa, ổng cứ mua thứ thượng

    hảo hạng cho mình không hà. Tôi nói “Không, tôi không có vô, ai vô thì vô, tôi đứng ở ngoài thôi”. Không dám vô, mình là phàm phu mà, con mắt thấy sắc

    cũng còn mê.

    Quý vị thấy là khó, mình phải lánh cảnh. Khi chưa rồi là phải giữ giới cho kỹ, ôm cái phao cho kỹ, nhít một chút xíu là thành thằng chỏng thôi. Mà cuộc đời tu đã

    đến đây mà để rớt cái bịch sao!

    Mà phật tử nói tôi đắc Thánh quả không, tinh là phật bà thọ ký không hà. Thấy cái hạnh tôi giữ giới này kia, thấy tu ngon lành, giảng pháp rõ ràng, như vậy là

    ổng đắc rồi. Mà ổng càng từ chối chừng nào tức là càng đắc chừng nấy. Người đắc đâu có ai vỗ ngực xưng tên, mà không chịu tức là đắc. Phật tử bây giờ lanh

    lắm, tôi phải chịu thôi.

    Thì chúng ta trở lại. Cái chỗ đó là cái chỗ đau đớn nhất của người tu, cái chỗ mà tất cả tôn giáo bạn không hiểu được, mà cả tới Phật giáo cũng không hiểu

    được. Nên Nam tông nói kinh Thủ Lăng Nghiêm là đại gian xảo nhất, ngoại đạo. Mà theo tôi, trong các kinh chỉ có Thủ Lăng Nghiêm là đứng hạng nhất thôi.


    Thành ra Thủ Lăng Nghiêm trong thời buổi này phải bị tiêu diệt trước hết thảy, nó là một cái chướng ngại cho Nam tông, bác luôn cái nhân duyên. Thì cái

    “nhân duyên” đó, Thủ Lăng Nghiêm nói dùng không đúng, phải dùng cái “duyên khởi”, không có cái gì sanh ra cái gì, không có cái

    nhân, rồi không có cái duyên để tạo
    ra cái quả, không có vụ đó, “tất cả đều là duyên sinh”.

    Mà chữ duyên sinh là cái gì? Cái danh từ nó giết chết người. Duyên sinh là không có cái gì sinh ra cái gì hết.

    Như vậy hiện tượng giới này là cái gì? Hiện tượng giới này là làm duyên tạo cái đà điều kiện cho phát khởi với nhau, không có cái nào trước, không có cái nào

    sau, đừng có nói cái nhân hột xoài mà sanh ra cây xoài, sanh ra quả xoài, không có cái vụ đó.
    Phải có cái nhìn cái chu kỳ có cái sátna nằm trong đó.
    Thì cái hột, cái nhân cùng có một lượt, nhưng mà do sự chuyển biến mình thấy dường như nó khác. Quý vị phải hiểu cái chỗ đó.

    Thành ra nói về cái chu kỳ thì có duyên khởi “có cái này sanh ra cái kia, nhưng mà trong đó có cái sátna nằm trong đó.

    Mà sátna không cái nào sanh cái nào hết, thế giới cùng phát hiện một lượt.

    Thành ra trong kinh mà nói về thế giới hiện tượng thì không có cái gì một lượt hết trơn á, còn nếu nói về sátna thì tất cả đều một lượt.

    Cái đó tôi đã thí dụ cho quý vị rồi. Quý vị thấy như tôi nói 2 mũi tên, 2 người cùng đứng một chỗ bắn tới cái bia cách đo 3km chẳng hạng.

    - Nếu một người bắn với tốc độ 5km, người kia 500km, thì quý vị thấy người bắn với tốc độ 5km đến chậm, còn người bắn 500km đến mau. Thì mình thấy rõ

    thôi, bởi vì nó có cái khoản không gian rõ ràng.

    - Còn bây giờ một người bắn với tốc độ 500km, một người 499,5km, cách có 0,5km thôi. Thì quý vị thấy mũi tên nào tới trước? Quý vị thấy 2 mũi tên tới một

    lượt, nó cách nhau có 0,5km, mà tốc độ với 500km và 499,5km, 2 người cùng bắn một lượt thì mũi tên tới một lượt . Mà sự thật thì không có đến một lượt đâu,

    làm gì có đến một lượt. Hễ có không gian là phải có trước sau chớ.

    Cũng như tôi thường thí dụ cái đài phát thanh Saigon và cái đài phát thanh Mỹ. Nếu từ Trà Vinh mà tôi đi lên Saigon, từ đây tôi qua Mỹ, đi bằng máy bay với

    tốc độ bằng nhau, tức nhiên là tới Saigon trước, dĩ nhiên thôi.

    Rồi bây giờ nếu mà cái phát hiện đó. Thì bây giờ tôi cũng ở tại đây, tôi lấy 2 cái radio, một cái tôi bắt tần số Saigon, một cái tôi bắt tần số Mỹ, tôi nhấn nút một

    lượt hết. Thì cái âm thanh nào phát ra trước? Thì chúng ta phải nói là 2 cái cùng một lượt. Tại sao vậy? Đài Saigon gần đây, mà đài Mỹ tuốt đằng kia mà tại sao

    phát ra tiếng nói một lượt. Thì chúng ta thấy cái tiếng nói nó nằm ở trên không gian này. Không phải tiếng nói nó đi, nó đến mà nó là phát hiện. Phát hiện thì

    khác, còn đi với đến là khác.


    Thành ra chúng ta không hiểu cái này là chúng ta không hiểu được pháp môn Tịnh độ. Ông Thiện Khánh nói cô Tịnh Tường nói có nhiều

    người lên bác pháp môn Tịnh độ một cách tàn tệ
    . Thì đúng chớ đâu phải sai, nhưng đúng về thế giới hiện tượng này,

    thế giới không gian và thời gian thì pháp môn Tịnh độ hoàn toàn sai.

    Cũng như thầy Nhất Hạnh không bác, mà thầy bác, bác rất khôn, trong cái quyển thầy viết A Di Đà. Một người bạn hỏi thầy chớ trong kinh nói là đi cúng hoa

    khắp 10 phương chư Phật mà trở về kịp độ ngọ, độ ngọ là có ăn, mà có ăn là phải có ỉa, tức là phải có cầu tiêu, mà thế giới Cực lạc mà có cầu tiêu thì là sao mà

    Cực lạc được. Trời ơi! nó hôi rình. Rồi trong đó có nói ăn bằng đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực.

    Trong kinh có 4 cái thực. Mà thật sự tôi chưa từng thấy ai giảng mà cho rành. Rồi tôi cứ trăn trở hoài, giảng làm sao cho nó rõ. Trời ơi! cái tứ thực này nó nằm

    trong tam giới. Tôi đã giảng cho quý vị rồi.

    Thí dụ

    - Đoàn thực là cõi của chúng ta thì phải có sắc, tài, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ, thì ăn vô bao tử thì phải ỉa ra dĩ nhiên rồi.

    - Rồi nếu quý vị nhập định 7 ngày, 7 tháng, 7 năm, 700 năm. Thì quý vị còn ăn bánh mì, còn ăn cơm nữa không? Quý vị ngồi tỉnh bơ như vậy 7000 năm, quý vị

    ăn bằng cái gì? Cái đó có phải kêu là đoàn thực không? Có ăn, có ỉa được không? Ăn bằng cái hỷ lạc, trong kinh nói rõ ràng. Nhập vào:

    . Sơ thiền là ly dục sanh hỷ lạc.

    . Nhị thiền là định sanh hỷ lạc.

    . Tam thiền là ly hỷ diệu lạc.

    . Tứ thiền là xả niệm thanh tịnh.

    Thì quý vị ăn bằng cái hỷ lạc, quý vị sống bằng cái xác thân thứ 2. Thành ra cõi này không có mặt trời mặt trăng, không có vấn đề chết nguyên con, đâu có ăn,

    đâu có tiêu tiểu gì đâu, chết cũng không có hôi thúi nữa, chỉ là biến mất thôi. Chúng ta đâu có tin được
    .

    Không tin thì phải làm sao? Chịu thôi. Còn muốn làm sao thì phải ngồi thiền đi. Chừng nào qua nhị thiền rồi trong cái lặng lẽ rồi quý vị sẽ thầm hội (hôi là hiểu

    biết, thầm là âm thầm). Rồi người ta hỏi không biết trả lời làm sao, giống như thằng câm nó nằm chiêm bao. Cái này có nhiều người hỏi tôi. Nghe rồi suy nghỉ.

    Mà hỏi tôi nằm chiêm bao là sao Sư? Tức là mình thấy rồi lên không biết làm sao diễn tả. Cũng như con rùa diễn tả cho con cá trên mặt đất. Làm sao diễn tả

    được, vì 2 cảnh giới nó khác nhau.

    Như vậy còn chưa đâu. Quý vị qua tứ thiền sắc giới, rồi qua tứ không thì không còn xác thân thứ 2 nữa.

    - Cái đầu là quý vị sống bằng xác thân bên ngoài: mắt, tai, mũi, lưỡi, tim, gan, tỳ, phế, thận.

    - Rồi tới cõi sắc giới bỏ xác thân bên ngoài, quý vị ăn uống bằng dây thần kinh. Dây thần kinh đâu có ăn uống, thì nó phải ăn bằng cái cảm giác hỷ lạc. Thì quý

    vị coi lại sơ, nhị, tam thiền nữa tôi giảng sâu vào đó.

    - Còn tới tứ thiền sắc giới, nó không ăn xác thân bên ngoài, không cần dây thần kinh nữa, nó chỉ còn cái óc trên này thôi, các dây thần kinh cảm giác nó bỏ

    hết, nó còn cái thần kinh tư tưởng một chút thôi, nó không có thân bên ngoài, không có thân bên trong, không có cảm giác hỷ lạc luôn. Thì nó ăn bằng cái gì?

    Ăn bằng cái tư tưởng.

    Cái này ông Thiện Khánh hỏi tôi, làm sao tôi giảng. Nói “Hư không vô biên là sao Sư? Rồi thân hư không vô biên là sao Sư?” Tôi nói hư không vô biên, cái thân

    là hư không, rồi tư tưởng, cái nhận thức, cái tâm mình là hư không, rồi cảnh giới bên ngoài là cái gì, là hư không. Thân-tâm-hoàn cảnh đều là hư không hết. Thì

    cái đó không có xác thân, không có cảm giác, thì kêu là tư niệm thực. Tư là ý chí, là mạtna, niệm là tư tưởng, ý chí cung cấp chất liệu cho tư tưởng, tư tưởng

    tạo ra cái hư không. Bây giờ hỏi tôi, tôi làm sao trả lời. Trời ơi! Cái thân hư không là sao?

    Cô Khánh Hồng hỏi “Cái tâm hư không là sao, hoàn cảnh xung quanh hư không là sao. Con không thấy hư không.” Tôi nói đi chơi cho đã đi rồi về hư không. Có

    thể mình ngồi tới nhị thiền, mình ra ngoài bờ biển mình dòm cái biển thì mình thấy nó bao la, cái hư không nó gần gần như vậy, thì cái thân của mình nó cũng

    bự như vậy đó, rồi cái tâm của mình cũng bự như vậy đó, rôi hoàn cảnh chung quanh cũng bự như vậy đó, đâu có cái gì hơn hư không.

    Thành ra trong 7 đại, mình suy nghĩ đất, nước, lửa, gió, thứ 5 là hư không. Hư không là quan trọng nhất, đất, nước, lửa, gió không có ngoài hư không được, tất

    cả đều nằm trong hư không. Mà hư không bao lớn Sư? Coi đã không, hư không mà hỏi bao lớn. Làm sao tôi trả lời. Hư không là hư không đừng có hỏi tại sao

    nữa. Như vậy làm sao con nhập vào hư không? Cô Khánh Hồng à, cổ hỏi nhiều cái tôi cũng đầu hàng thôi. Thì bây giờ mình phải ngồi thiền rồi hỏi vô sư trí mình

    chớ hỏi tôi làm sao bây giờ.

    Cổ còn hỏi “Phi phi tưởng”. Mà muốn qua phi phi tưởng đâu phải dễ, phải qua tứ thiền, rồi tứ thiền thăng hoa lên tới hư không, rồi hư không phải tập trung

    mạnh, kỹ, lâu, sâu mới tới thức vô biên, thức vô biên phải tập trung mạnh, kỹ, lâu, sâu nữa rồi mới vô sở hữu xứ, vô sở hữu xứ phải tập trung mạnh, kỹ, lâu,

    sâu mới tới phi phi tưởng. “Mà Sư nói phi phi tưởng đọa xuống làm con chim phi ly, súc sanh. Làm sao đọa Sư?” Cổ hỏi cái này tôi cũng chết thôi. Thì hỏi ông

    thầy cô á, tức là vô sư trí của cô. Cổ hỏi mấy cái quá cao, tôi thầm hội được, nhưng tôi diễn làm sao tôi diễn bây giờ.

    Mấy cô nên nhớ là cái cõi tứ thiền cao vô cùng, Đức Phật chấp nhận, kêu là bất động địa, gió bát phong không hề lay chuyển. Đất, nước, lửa, gió không hề động

    tới người nhập tứ thiền. Nghĩa là đốt không cháy, mà biển sóng xao động cũng không lay động, mà bão táp cũng không nhúc nhích tới người mà nhập tứ thiền.

    Tôi chưa nhập nhen, tôi ngồi tôi hiểu vậy thôi. Nó là cứ vậy mà phi phi tưởng còn cao hơn nữa, nó nhập tới 4 tầng mới tới phi phi tưởng: hư không vô biên là

    cao hơn tứ thiền nữa, rồi thức vô biên cao hơn hư không vô biên, rồi vô sở hữu xứ cao hơn nữa, phi phi tưởng cao hơn nữa, mà dám đọa một cái là xuống súc

    sanh.

    Đọa bằng cách nào? Cái đó phải suy ngẫm chớ. Thì tất cả đều nằm trong Tam pháp ấn: vô thường, vô ngã, khổ đau. Nếu còn trong tam giới thì
    phải nằm trong


    Tam pháp ấn đó, thì Nam tông lấy cái đó làm nền tảng. Nhưng mà thật sự là không đúng lắm. Nắm nền tảng đó thì nằm trong tam giới. Còn một vị Nhập lưu,

    Nhất vãng lai, Bất lai, Alahán, cũng không ngoài cái đó, cũng vô thường, vô ngã mà là Niết bàn tịch tịnh.


    Mà khổ đau là cái gì mấy cô biết không? Mình phải ngồi suy ngẫm, chớ không phải mỗi cái đều hỏi người khác hết.


    Khổ đau đó là Tập đế.

    Tập đế là gì? Là thói quen.

    Thói quen là gì? Là ghiền.

    Ghiền là gì? Là nghiện ngập.

    Nghiện ngập là gì? Là dính mắc. Nói cho danh từ tùm lum.

    Dính mắc tức là làm cái gì đó nó quen rồi bỏ không được. Tôi bỏ cái thói quen này rồi tôi lên cái thói quen cao hơn, thế là tôi bỏ cái xiềng cây, tôi lên cái xiềng
    sắt, xiềng vàng, đó là cái khổ tâm của cuộc đời sanh tử của chúng ta mà 62 tôn giáo bạn đã đi tìm cái đó để mà chấm dứt, nhưng mà không chấm dứt được, chỉ

    có cải sửa thôi rồi an trú trong cải sửa nữa.

    Như Uất Đầu Lam Phất và A La La thấy mình tương đương chớ thật sự là tương tợ với Alahán, một người phi phi tưởng tưởng mình tương đương với Như

    lai.


    Thế mà tương đương với Như lai mà đọa xuống thành con chim phi ly. Cô Khánh Hồng hỏi cũng phải “làm sao mà bị đọa xuống”. Nhưng mà cổ quên cái “vô thường,

    vô ngã, khổ đau”.

    Khổ đau là có vấn đề, có tư tưởng, mà tư tưởng thì nằm trong vấn đề “nhàm chán”. Mà nhàm chán là phải đi xuống.

    Chúng ta thấy Từ Thức lạc non tiên. Cô Giáng Tiên trên trời sung sướng quá, lâu quá nhàm chán đi xuống cõi trần chơi. Thì xuống cõi trần chơi thì mất thần

    thông, phải hạ xuống thấp. Rồi thấy cái hoa mẫu đơn của chùa đẹp quá đưa cái tay tới, mà tiên mà đưa cái tay tới, mà tiên đưa cái tay tới ở cõi trần thì cái

    bông rụng liền. Thì nhà chùa bắt cột vô đó, đền. Tiên mà làm sao có tiền dưới trần mà đền. Thì cái câu đó chúng ta thấy nhàm chán là đi xuống.

    Rồi từ cõi đó, Bà Tây Vương Mẫu thấy là Từ Thức có duyên với cô Giáng Tiên này mới gã cô Giáng Tiên cho. Thì ổng đi chơi mới hiện cái cảnh xuống rồi con hạc

    mới chở ổng lên cõi trời, kết hôn với cô Giáng Tiên. Một thời gian rồi cũng nhàm chán “nửa năm tiên cảnh một bước trần ai”, ở trên đó có nửa năm, thì nhớ nhà

    cửa, cái phòng của ổng ở sướng thấy mồ đâu có ăn uống gì, muốn ăn cái gì thì đồ ăn nó hiện ra, ăn rồi khỏi rửa gì hết trơn, có cái tư tưởng là nó biến mất.

    Chúng ta tưởng đâu nói dối, cái đó là thế giới của thần thông, nó vẫn có như thường, nhưng mà đừng nhận nó “là Ta, của Ta, tự ngã của Ta” thì tiếp tục luân hồi nữa.

    Rồi mấy ông Bồ tát, mấy ông đắc quả Phật thì cũng có cái đó vậy, nhưng mà cái đó nó “không phải Ta, không phải của Ta, không phải tự ngã của Ta” nó khác

    có chút xíu đó thôi. Cũng hiện tượng đó vậy nhưng các Ngài không dính
    .


    Cái kia dính mắc, cho cái thần thông “là Tui à. Tui cao hơn các ngài” thì đó là cái ngã đấy.

    Cũng vẫn có thần thông như vậy, nhưng mà thần thông của Bát nhã thì tôi thị hiện, du hí chơi thôi.

    Tôi bây giờ mới hiểu được cái đó, chớ hồi xưa tôi tưởng Phật không có thần thông, tôi tưởng các vị Alahán không có thần thô
    ng.

    Thật ra cái thần thông của tư tưởng nó khác cái thần thông Bát nhã. Mà khác làm sao? Không có ai giảng hết. Thì cứ hỏi “vô sư trí mình” thôi. Tôi hơn quý vị là

    tôi cố giữ giới, thành ra rãnh rang, cuộc đời tôi không có gì hết, không xài tiền, không gì hết, ai làm gì làm, tôi không dám nói ai hết, tôi tối ngày tôi chìm trong

    thiền định, thì trong đó trả lời cho tôi hết. Đức Phật nói “Con cứ yên lặng, con cứ gõ mãi đi cửa sẽ mở”. Thì tôi thấy đúng vậy.

    Tôi thấy Sư Trưởng trong “Trú dạ lục thời”, thiền định tới 3 thời, 6 thời mà thiền chiếm hết 1/2. Thì quý vị thấy là quý vị phải cố gắng ngồi thiền.

    Mà muốn ngồi thiền quý vị phải có chất liệu tức là phải thuộc kinh rồi ọc ra, chớ bây giờ quý vị trả bài kinh Sáu Sáu, quý vị trả cho có chừng vậy thôi, nuốt vô

    như con trâu ăn cỏ thì nằm trong đó, sình bụng. Ở đây tôi thấy có nhiều người sình bụng, học nhiều quá rồi trả lộn xộn tùm lum hết trơn, không nắm được cái

    gốc.

    Mà muốn nắm cái gốc phải làm sao? Phải thiền định thôi. Phải nhai cái cỏ, cái rơm cho nó nghiến ra, mình nghiền ngẫm, dùng chữ nghiền ngẫm rất hay, nghiền

    cho nó bấy thành xương, thành thịt, thành máu của mình. Quý vị ăn cơm quý vị nuốt trọng thì không bao giờ tiêu hết trơn. Quý vị theo Osawa, quý vị nhai cả

    trăm lần để nó thành nước rồi mới nuốt, cái đó nó bổ vô cùng, nó sẽ nuôi xác thân này, nó trở thành xương, thịt, máu của mình.

    Thì bây giờ quý vị bắt đầu thực hành trong cuộc sống mình đi. Còn đa số bây giờ quý vị cả đống, rồi nhận cái đó “là Ta, của Ta, tự ngã của Ta”, cái tự cao càng

    dữ nữa. Thì quý vị phải ngồi thiền thôi. Mà ngồi thiền ngán lắm Sư ơi, ngồi tới 2 tiếng đồng hồ. 2 tiếng ăn thua gì, 8-9 tiếng, rồi 8-9 ngày nữa. Bây giờ ngồi

    thiền 2 tiếng, “ăn chay thì xót ruột, ngồi thiền thì mỏi chân”. Còn trẻ không chịu ngồi, tới già rồi làm sao?

    Chỉ có ngồi thiền thì những cái lượn sóng ác mới lặn xuống thôi. Chớ ngồi thiền không phải là đạt Niết bàn, nhưng mà điều kiện ắt có và đủ để nó đạt Niết bàn.

    Ngồi thiền thì 6 căn, 6 con trâu nó phóng ra tùm lum, cột lại 5 con: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân trói lại hết. Con mắt không ngó sắc trần bên ngoài, lỗ tai không

    nghe tiếng bậy bạ nữa, cái lỗ mũi không ngửi mùi thơm, mùi son phấn nữa, cái miệng không ăn đồ chua, chát, ngọt, bùi nữa, cái thân không còn cà lắc nữa.

    Nhưng mà còn cái óc, cái tư tưởng thì không cấm nó được đâu, nó là ông tổ cha của 5 căn kia, nó chạy tùm lum. Thì bây giờ quý vị chăn 1 con trâu thôi, thì dễ

    dàng vô cùng. Hễ nó phóng thì kéo trở lại, nó phóng thì kéo trở lại cho tới chừng nào nó thuần, chừng nào chỉ còn tư tưởng thiện thôi, chớ đâu phải diệt hết

    được.

    Tư tưởng thiện mà nó hiện rồi, lượn sóng lăn tăn thì quý vị nhìn thấy dòng nước trong đó, từ đó Chân tâm tự nó hiện đến cho mình. Thành ra đừng bao giờ đi

    tìm dòng nước, đừng bao giờ đi tìm Chân tâm. Dòng nước ở đó chớ đâu mà đi tìm, khi nào nó mất mới tìm, nhưng mà nó đâu có mất.


    Không mất tại sao Sư không thấy? Tại vì mấy con trâu, con bò sắc, thọ, tưởng,… nhiều quá. Bớt lại, tư tưởng ác bớt lại, đè nó xuống thì nó thành cái sóng lăn

    tăn, mà lăn tăn rồi quý vị nhìn cái dòng nước thấy rõ.


    Thành ra cái câu chuyện của vua Thuận Trị Hoàng Đế với Ngọc Lam hay Ngọc Lâm vậy.

    - Vua Thuận Trị Hoàng Đế hỏi “Quốc Sư thường giảng Đạo, mà tôi không biết Đạo ở đâu? Ngọc Lam nói “Trước mắt bệ hạ”.

    - “Sao trẫm không thấy”. Ngọc Lam nói “Tại bệ hạ có ngã”. Ngã là có tiến trình 5 uẩn đấy: sắc, thọ, tưởng, hành, thức nó là những lượn sóng che lấp làm cho

    bệ hạ không thấy dòng nước thôi.

    - Ông vua độc đáo, mới hỏi “Vậy Quốc Sư có thấy Đạo không?” Quốc Sư nói tôi không thấy, Quốc Sư có thấy không. Đâu có ai dám nói mình thấy, nói thấy thì

    hỏi Đạo nó ra làm sao thì làm sao giải thích. Ông Ngọc Lam Quốc Sư trả lời rất giỏi. Trả lời tới đó tôi xếp sách lại, tôi nói nếu người ta, mình trả lời làm sao. Bị

    Quốc Sư nói trẫm có ngã nó che lấp. Bây giờ Quốc Sư có thấy không, nếu thấy thì thấy nó sao, mà không thấy không lẽ mình nói ông vua không thấy Đạo mà

    mình thấy, mà thấy thì thấy làm sao. Ngọc Lam rất giỏi “Người nào mà không có ngã thì người đó thấy Đạo”. Chớ không nói là ổng, mà người nào mà không có

    ngã tức là không bị kẹt tiến trình 5 uẩn che nữa, thì người đó thấy Đạo.

    - Ông vua hỏi “Làm sao biết không có ngã?” Lại lọt vào cái vòng của Quốc Sư, “Làm sao biết người nào không có ngã?”. Thì Ngọc Lam trả lời rất hay “Người

    không có ngã nữa, không bao giờ hỏi Đạo là gì”. Người nào hỏi Đạo là người đó chưa có thấy Đạo, mà thấy rồi đâu có hỏi nữa. Hén, Người không có ngã người

    đó thấy Đạo. Làm sao biết không có ngã? Thì người không có ngã, người đó không bao giờ hỏi Đạo là gì. Còn bệ hạ hỏi ngã là bệ hạ còn là thằng ngốc.

    Bệ hạ cỡi trên lưng con trâu mà bệ hạ đi hỏi trâu, rồi làm sao tôi trả lời.

    Bệ hạ lấy cái mây bệ hạ che mặt trời, bệ hạ hỏi mặt trời ở đâu. Thì bây giờ chỉ cần cái mây nó tan mất thì mặt trời nó hiện, mặt trời nó ở đó chớ ở đâu. Nhưng

    mà bệ hạ bị cái tiến trình cái mây: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bây giờ làm sao cho mây sắc, thọ, tưởng, hành, thức mỏng bớt thì mặt trời nó ở đó, từ xưa tới

    giờ nó vốn ở đó, cái dòng nước luôn luôn ở đó.

    Bệ hạ cho cái biển động, có sóng thần thì làm sao bệ hạ thấy được cái dòng nước. Mà dòng nước là gì? Sóng thần là gì? Sóng thần lấy dòng nước tạo sóng, chớ

    đâu có ngoài dòng nước mà có sóng thần. Nhưng sóng thần có lúc lên, có lúc chấm dứt, biển động thì nó lên, biển hết động thì nó chấm dứt, còn cái dòng nước

    bao giờ nó cũng vậy. Khi có tướng thì đâu phải là dòng nước, đó là sóng. Nhưng mà dòng nước ở đâu? Ở ngay trong sóng, mà nó không có tướng, nó chỉ có cái

    hình thôi. Thì cái đó là cái nhức nhối.



    Thủ Lăng Nghiêm nói cái dòng nước đó chưa phải là Chân tâm. Mà dòng nước là vọng sao? Nó cũng không phải là vọng. Nhưng mà nhìn nó trôi chảy,

    mà trôi chảy thì vọng, mà nó không có tướng, nó đứng lặng, không có tướng thì chơn. Chỉ có nước là không trôi chảy, đứng lặng mà bất biến, thì cái đó

    kêu là nước
    .


    Mà nước chỉ có Alahán mới đạt tới, còn dòng nước là phải Nhập lưu, Nhất vãng lai, Bất lai chớ làm sao tu một cái mà nhận nước liền. Hén.

    Dòng nước nó chảy chậm, rồi nó chảy vừa vừa, rồi nó chảy thật nhanh.

    - Chảy chậm thì mình thấy cái hình dòng nước rõ ràng.

    - Nó chảy nhanh thì thấy có lúc là dòng nước, có lúc là hào quang, có lúc có hình, có lúc là hào quang thì mất hình.

    - Rồi chảy thật nhanh nữa thì cái hình mất chỉ có hào quang thôi, cái hình bắt đầu mong manh, mong manh nhỏ xíu, mờ mờ, cái đó là Bất lai đấy.

    - Rồi khi nó chảy một cách thần tốc nữa thì cái mờ mờ biến mất còn một cái vùng hào quang rực rỡ hoàn toàn. Thì cái này là đứng lặng bất biến. Niết bàn tịch tịnh của Alahán.

    Thì Đại thừa không chịu, nói không có vấn đề đứng lặng bất biến mà là chuyển biến một cách thần tốc. Chữ thần tốc lại khác nữa. Thần tốc là quá nhanh cho đến nỗi mình thấy dường như đứng lặng, chớ thật sự đứng lặng là chuyển biến thật là nhanh cho đến nỗi không có danh từ dùng, phải kêu là thần tốc. Tốc là cái vận tốc, thần tốc tức là quá nhanh, nó quá nhanh mình thấy dường như nó đứng lặng, thật sự là chuyển biến quá nhanh. Mà hễ nó chuyển biến quá nhanh thì nó phải bao trùm hết tất cả những chuyển biến đứng lặng và chuyển biến xao động, thì đó là biển Như lai.


    Thì chúng ta thấy giảng rất hay.

    Chúng ta coi trở lại thì cái kinh Na Tiên đó, không phải sai, nhưng mà không toàn diện được, mà thế giới còn ngán, bởi vì nó rất hợp với khoa học, giống hệt

    khoa học. Thành ra khoa học chỉ có chấp nhận có Nam tông thôi, chấp nhận các hiện tượng giới thôi.


    Còn qua tới pháp môn Tịnh độ thì khoa học không chấp nhận. Tôi hồi xưa cũng không chấp nhận, nó nói như nói dóc, cái gì mà cái xác thân là bông sen, mà

    bông sen ở đây cầm được, bẻ được, có thể làm uống trà được. Bông sen Cực lạc thì thấy có tướng mà nắm không dính. Phật A Di Đà, Quan Âm, Đại Thế Chí

    xuống tiếp rước mình, chụp cái chân không dính, mà có tướng chân rõ ràng. Thế giới Cực lạc là thế giới mà cây đều thuyết pháp hết, tới gió thổi cũng thuyết

    pháp. Dóc quá trời, dóc vừa vừa thôi. Cái cảnh giới đó không bao giờ nhân mãn, cảnh giới bao la có hình, có tướng mà lại là bao la, bao la cái nỗi gì. Mà cảnh

    giới vô lượng quang vô lượng thọ là cái hào quang cùng khắp, mà tuổi thọ đời đời kiếp kiếp không chết. Hễ có sống là phải có chết, có hình phải có hoại, cái này

    có hình có tướng mà lại không hoại, sống mà lại không chết. Nhức nhối!!!

    Thành ra trong kinh có nói rằng “Bủa lòng bác ái khắp trời. Nói ra những pháp mà trong đời khó tin.” Tin làm sao được. Muốn tin là chúng ta phải qua thế giới

    sátna. Mà thế giới sátna thì Sư diễn tả cho tôi nghe coi!?! Làm sao diễn tả được. Con rùa muốn diễn tả cho con cá cõi đất, cõi khô này thì chết mồ con rùa luôn,

    nói cái gì nó cũng nói “nói dóc”.


    Thì chúng ta thấy hồi thời hiện tại đây nè, ông Phan Thanh Giản chết cũng cái vụ đi qua Pháp, ổng về ổng nói xe người ta chạy không cần ngựa, rồi đèn người

    ta đốt không cần dầu. Mấy ông quan ngồi trên ghế cười cho tới lăn ở dưới đất. Đi xa về nói dóc, đèn gì không cần đốt mà cháy, xe gì không cần ngựa mà chạy.

    Cái đó là nói dóc, làm gì có cái vụ đó. Mà thiệt tình nếu chúng ta ở mấy cái nước cổ lỗ thì chúng ta thấy đèn dầu đốt phải có hộp quẹt, chớ cái gì đèn mà không

    có hộp quẹt đốt làm sao cháy, còn xe không có ngựa kéo làm mà chạy, lên nhấn nút một cái là dông. Còn bây giờ chúng ta thấy cái đó dễ ợt, nhưng mà đối với

    cỗ lỗ mấy trăm năm về trước thì cái đó quá lạ.

    Cũng như Đức Phật, trong kinh nói bây giớ có nhiều cái nó trật. Không phải trật mà thời buổi đó đúng. Trong kinh nói quý vị không giữ giới giống như cất nhà

    dưới bãi biển, nó không có cái nền. Bây giờ tôi đi Mũi Né tôi thấy cất nhà cả 3-4 chục tầng, 5-7 chục tầng ở bãi biển không, người ta vẫn cất được như thường,

    có sập đâu. Tôi hỏi mấy ông kỹ sư, ổng nói bây giờ không phải như xưa Sư ơi, nó có cái nền đàng hoàng ở dưới, mà ổng nói tôi có hiểu gì đâu, thằng ngốc ở

    trong nhà quê đi ra thì có biết về vấn đề khoa học nó tiến tới vậy. Ổng nói cái biển Manche ở bên Pháp qua Anh cách nhau 50km, nó làm cái đường xe lửa chạy

    ở dưới đáy biển đó, không có nước nào vô hết trơn, không phải mới đây mà cách mấy chục năm về trước. Sư không có biết cái đó. Thì mình chịu thôi.

    Thành ra trong cái quyển Tây Du Ký, Tề Thiên Đại Thánh có thần thông vô cùng, người ta có thần thông thì cân đẩu vân. Ổng nói người ta bay không bằng ổng,

    ổng có cân đẩu vân bay gấp mấy chục lần đằng vân. Bát giái thì có đằng vân, Sa tăng cũng đằng vân thôi. Đằng vân thì có mấy chục km, còn cân đẩu vân thì

    mấy ngàn km. Ổng nói đâu có ai hơn tui, có 72 phép biến hóa, Bát giái và Sa Tăng có 36 hà, tôi gấp đôi. Như lai nói ông giỏi mà ông nhảy qua bàn tay của Như

    lai được không? Tề Thiên cười nói cái ông Cồ Đàm nghe nổi tiếng ngon lành lắm, cái bàn tay mà làm gì tôi nhảy không qua, tôi nhảy cân đẩu vân một cái là mấy

    trăm ngàn cây số, cái bàn tay của Ngài có mấy tấc hà. Mà thật sự đâu có qua bàn tay Như lai. Mà bàn tay là gì? Đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

    Thì các nhà khoa học bây giờ là thức uẩn vô cùng, đằng vân, độn thổ, đời non, lắp biển. Tôi nghe ông Nhã nói khi đi ngang qua tỉnh Long An, cái nhà lầu 2-3

    tầng, cất rồi từ bên lộ bên nay nó đời qua lộ bên kia. Dời làm sao mà y chang hà mà không có sập cái gì hết trơn, dời nguyên căn nhà lầu. Bây giờ làm được, ở

    Viêt Nam mình đó. Cái đó là thường thôi, bây giờ ở bên Mỹ nó còn làm nhiều cái động trời, nhưng mà không qua cái bàn tay của Phật, không có làm gì qua hết.

    Thôi, tôi nói đến đây thôi, quá giờ rồi, bây giờ tới quý vị, quá tới ½ tiếng rồi. Bây giờ trả bài hén, tôi tính giảng cái bài kinh Sáu Sáu mà tôi nhiều chuyện quá,

    không giảng tới đâu hết.

    Phật tử trả bài.

    Tôi cũng xin tán thán quý vị tức là phong trào học pháp rất là sinh động, tôi rất mừng, đa số trả thuộc bài. Nhưng mà, tôi nói chữ nhưng đó, tức là trâu nó đã

    ăn cỏ rồi, nó ăn rơm rồi, thì bây giờ tôi xin quý vị nghiền ngẫm, giai đoạn này là giai đoạn khó đấy.

    Thì muốn nghiền ngẫm, chúng ta phải giữ giới cho kỹ và ở chỗ thanh tịnh, bớt công ăn việc làm lại, tập ngồi thiền, nếu kiết già không được thì bán già, ít nhất

    cũng là 1 tiếng hoặc 2 tiếng, càng lâu thì cái “vô sư trí” càng hiện ra thì chúng ta thấy rõ cái bài kinh Sáu Sáu này rất là thâm thúy, và chúng ta chuyên cần

    chúng ta có thể đắc Thánh quả Nhập lưu trong ngay kiếp này.

    Còn nếu không chúng ta cũng được nhất niệm, trả như vậy quý vị nhất niệm lắm đó chớ không phải dễ, không cầm giấy gì hết mà ở trong alaya tuôn trào ra

    mà không lộn gì hết là cả một vấn đề. Tôi thấy phật tử tôi rất là tội nghiệp. Nhất là tôi thấy thôi, cũng như cô Tấn hồi nảy đó vô đây quết tịnh xá mà vừa quét

    vừa cầm bài kinh Sáu Sáu này học, mỗi lần tôi ngồi thiền tôi thấy. Còn cô Tươi vừa bán sơ ry vừa cầm bài kinh Sáu Sáu học, tôi chạy xe đi ngồi thiền ngoài bờ

    sông tôi thấy. Tôi thấy, tôi nói chà như vậy là phong trào học lên cao thành ra trả bài rất hay. Mà muốn trả được như vậy đó là alaya của quý vị đã đầy nhóc rồi

    đó, nó tràn ra.

    Mà niệm Phật nó tràn như vậy đó thì quý vị vãng sanh chắc chắn thôi, quý vị vô nhị thiền sắc giới đấy, nhưng mà nếu nó có 5’-10’, một vài tiếng đồng hồ thì đó

    là tập tu tứ thiền thôi, tức là cõi người và trời dục giới, cái lầm của tôi hồi xưa, 7-9 tiếng ngồi thiền chưa phải là nhập định đâu, là tập nhập định thôi. Tới chừng

    7 ngày, 7 tháng, 7 năm, 7000 năm,… thì đây mới nhập định, nhập thì có xuất. Còn đây mới có chút xíu hà, thành ra phải đoàn thực. Còn nếu quý vị 7 ngày, 7

    năm, 70 năm,… thì quý vị đâu có đoàn thực. Lấy cái gì mà ăn? Đâu có ăn cơm, cháo, đâu có ăn, tiêu, tiểu gì nữa thì quý vị nằm ở trong cõi trời sắc giới, từ nay

    chỉ thọ cái hỷ lạc, không còn là nam, nữ nữa, không càn mặt trời, mặt trăng nữa. Thì quý vị cứ vô đó quý vị sẽ thấy. Nhưng mà cõi

    này vẫn còn luân hồi, chúng ta nên nhớ, nhưng mà cõi này qua Đạo Phật, Nhập lưu rất dễ dàng, còn nếu không, quý vị muốn vãng sanh cũng rất dễ dàng,

    chỉ năn nỉ A Di Đà là Ngài hiện



    thôi, lúc này cái cảm của quý vị rất mạnh thì A Di Đà phải ứng hiện thôi, thì quý vị vãng sanh thôi.

    Như vậy là trâu đã ăn cỏ rồi đấy, thì bắt đầu làm việc tới nữa, tức là phải ôn tới ôn lui, chớ quý vị bỏ chừng 2-3 ngày là quên hết, huân tập những chủng

    tử

    đời, nhất là gần tết rồi, đời nó hấp dẫn lắm. Thì cái này mới vô hấp dẫn một chút thôi, thì chủng tử đời còn nhóc trong alaya mình, không khéo là nó diệt hết cái

    bài kinh này. Thì quý vị phải tiếp tục coi cái phần thứ 4 trang thứ 4 là 10 câu hỏi về bài kinh Sáu Sáu. Cái này là khó đấy.

    Thì sau khi trả bài hết, ai cũng trả hết nha, cái này là cái quan trọng của quý vị đó, rồi phải trả lời câu hỏi. Câu thứ 1 là khó nhất, tức là quả Nhập lưu đấy, hễ

    qua câu thứ nhất rồi thì mấy câu sau tương đối dễ hơn.

    Câu 1: Giải thích và cho thí dụ sự khác nhau giữa nhãn thức, nhãn xúc, nhãn thọ và nhãn ái.

    Tôi thấy quý vị trả lời thao thao bất tuyệt đấy, lanh lắm. Hén. Nhưng mà không biết giải thích làm sao. Giải thích không phải 1 căn, quý vị thấy mắt, tai, mũi,

    lưỡi, thân và nhất là cái óc, cái chỗ này là khó.

    Cái óc thì nó chưa có dây thần kinh, nó tiếp xúc với pháp trần thì quý vị làm sao cho rõ ràng. Cho được cái mắt thì tai, mũi, lưỡi, thân giống hệt, nhưng mà cái ý

    là khác.

    Thì hồi nảy mấy cô đọc: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức thuộc về ngạ quỷ tức là có cảm giác mà chưa có phân biệt của tư tưởng. Tôi đã

    giảng rồi, tôi không giảng lại nữa.

    Còn ý thức nó không thuộc về cảm giác nữa, nó thuộc về cái đầu, nó cho cái tư tưởng phân biệt lờ mờ của súc sanh. Nếu quý vị đi sâu vào cái đó, quý vị thấy

    cái đó mà đừng cải sửa gì hết là đắc Nhập lưu ngay bây giờ. Mà đừng cải sửa ít nhất cũng phải nhị thiền chớ không phải nói chơi như vậy là được, nó khó lắm.

    Mà nếu quý vị trả bài thuộc lòng như vậy là bắt đầu nhị thiền rồi đấy. Tôi lần lần tôi đưa quý vị bất ngờ. Hén. Thành ra ai học không thuộc thì khó, thì phải cố

    gắng. Nhưng mà thuộc rồi bỏ mà 3-4 bữa là quên hết, thì cái nhị thiền nó mất tiêu, trong alaya mình chủng tử thiện, ác, vô ký rất nhiều, vô ký là không thiện

    không ác, còn chủng tử niệm Phật như vậy đó là chủng tử thiện, đọc bài cho thuộc là chủng tử thiện thôi, nhưng mà nếu quý vị phát nguyện nữa “A Di Đà ơi,

    con, chủng tử thiện, chủng tử ác con đè, con đạp xuống hết rồi, nó chỉ còn chủng tử thâm căn cố đế, nó già nó không chết, nó nằm chờ thời đặng nó quật lên,

    còn những cái mầm nào hạt giống còn non thì bị tiêu diệt thôi.” Hén.

    Thì quý vị coi chừng, quý vị ra đời nữa chủng tử đời nó thắng thì chủng tử trả bài mất tiêu hết. Bây giờ phải liên tục thiền định, tối về sắp xếp, tôi thấy ở đây đa

    số là có thời giờ đấy, không nhiều, nếu 2 tiếng không được thì 1 tiếng, 1 tiếng không được thì 1/2, tiếng, 1/2 không được thì ráng 15’. Như cô Tươi đâu có rãnh,

    đây đa số cũng không ai rãnh hết, có người rãnh nhiều, có người rãnh ít. Còn nói hoàn toàn không rãnh thì tôi không tin cái vụ đó, thôi cái đó thì đừng đến nữa.

    Không có người nào hoàn toàn không rãnh hết trơn đó, sắp xếp rồi cũng được 15’, nửa tiếng.

    Nhưng Đức Phật nói cái đó không quan trọng, sắp xếp cho có rồi phải “bền” tiếp tục hoài, hoài, hoài, “Kiến tha lâu thì đầy tổ.” “Nước chảy mãi thì phải đá mòn.”

    “Gõ mãi đi rồi cửa giải thoát sẽ mở cho quý vị” Thì cái đó không ai làm được hết, chỉ có mình làm thôi.

    Thành ra: “Người đáng tán thán nhất chính là ta. Mà người đáng chê nhất, đê tiện nhất cũng chính là ta, lười biếng nhất cũng là ta, tán thán nhất, thành Phật

    cũng chính là ta. Mà cái ta đây là cái bền bỉ”.

    Thì quý vị bền bỉ tập trung mạnh, kỹ,lâu, sâu đi quý vị sẽ làm được tất cả.


    Nhưng khi qua Bát nhã là phải dứt bỏ cái đó. Thì cái đó nói sau. Cái đó là cái đau đớn vô cùng, mà dứt bỏ mà không có cách dứt. Chỉ làm sao cho bớt cái vọng

    tưởng ác, mà muốn bớt cái vọng tưởng ác thì lấy cái vọng tưởng thiện đè nó xuống, chơi cái pháp đối trị, mà đè tới một lúc nào cái vọng tưởng ác nó nằm bẹp

    hết rồi, còn cái lăn tăn của vọng tưởng thiện thì quý vị nhận cái Phật tánh nó sẽ hiện ra với quý vị. Chỉ có vậy thôi, đừng có mong cầu mà đi tìm cái dòng nước

    Chân tâm. Nó hiện ra đối với quý vị khi quý vị dùng tư tưởng thiện đè tư tưởng ác. Nếu mà nó tiếp tục nữa, nó quá tải, tư tưởng ác nó bật trở lại nữa thì bao

    nhiêu tiêu hết.


    Mà muốn không quá tải thì quý vị bền bỉ trong cuộc sống này. Tức là xác thân phải giữ giới cho kỹ.

    Mà giữ giới cho kỹ mà không gần thầy sáng bạn lành, quý vị chơi với xì ke ma túy, trộm cắp, cờ bạc thì quý vị chết “Gần mực thì đen”, quý vị phải lành xa mấy

    người đó. Lánh xa nó chớ đừng nói xấu nó, nó quật mình chết. Ai làm sao làm miễn tui thành Phật thôi. Ai nói gì nói thì ta vẫn giữ như kiềng 3 chân, như vậy

    thôi.

    Thì chúng ta cố gắng đi hoài cho đến, rồi cuối cùng qua nhị thiền thì kinh nghiệm, kiến thức già dặn rồi thì chúng ta trở nên một người giống như Phật, giống

    như Alahán, thì chính kinh nghiệm, kiến thức do mình nghiền ngẫm hoài, mình thấy nó chướng ngại trên con đường giải thoát. Thì lúc bấy giờ đạt nhị thiền sẽ

    thấy được cái Chân tâm thì cái đó là cái trăn trở của mỗi người.

    Tôi ngồi tôi suy nghĩ hoài, bây giờ làm sao, bởi vì bây giờ biết nhiều người Việt kiều lợi kiếm tôi. Bây giờ mấy ổng nghe Sư giảng rồi bây giờ tụi con phải đi sao

    nữa đây. Bây giờ Sư nói chẳng lẽ không kiến Phật tánh được, suy nghĩ trong kinh có, nhưng mà phải bì bỏm mình lội một chỗ một chút mình ráp lại.

    Trong kinh Sư Trưởng có viết bài “Lục ngôn. Phật ngôn “Chúng ta phải dùng tư tưởng tốt mà đuổi tư tưởng xấu, đuổi nó đi. Rồi chúng ta phải chặt dứt mọi dây

    xiềng để tới Niết bàn.” Dây xiềng là gì? Là tư tưởng thiện cũng phải dứt luôn, nó là dây xiềng vàng. Mà trước tiên là phải dùng tư tưởng thiện là xiềng vàng đè

    bẹp tư tưởng ác, tư tưởng xấu xuống.

    Thì trong bài kinh Xá Lợi Phất và Phú Lầu Na cũng vậy. “Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh”.

    - Đạo là tư tưởng thiện, là con đường để đi tới giải thoát. Mà giải thoát làm gì có con đường, nhưng mà phải có con đường. Con đường thiện.

    - Phi đạo là chẳng phải thiện, chẳng phải thiện thì không bao giờ nhận được Phật tánh.

    Thành ra phải lấy Đạo trừ cái phi đạo. Mà trừ hoài thì cái phi đạo nó phải nằm bẹp ở dưới, chủng tử non thì nó bị chủng tử thiện tiêu diệt, chủng tử già dặn, hột

    giống già dặn thì nó vẫn còn sống. Chủng tử trong alaya mình không bao giờ mất, nó chỉ chuyển biến từ hình thức này qua hình thức khác.

    Thì bây giờ chúng ta niệm Phật cũng là chủng tử thiện thôi, nhưng mà khác với chủng tử đạo của tư tưởng, nó cũng là tư tưởng nhưng mà tư tưởng này có

    chiều hướng phát nguyện. Cái đó là cái độc đáo của pháp môn Tịnh độ mà tất cả các pháp môn khác không có.


    Tư tưởng thiện thì sanh về cõi trời.

    Tư tưởng thiện mà có thêm cái phát nguyện nữa thì về cõi Phật.

    Thành ra Tịnh độ thù thắng hơn các pháp môn khác ở cái chỗ phát nguyện
    . Thành ra trên tịnh xá tôi để “Duy Nguyện vãng sanh”. Người ta thì “Duy tuệ thị nghiệp”.
    Mà Duy tuệ thì sanh về cõi trời.

    Mà Duy tuệ thêm cái phát nguyện “A Di Đà ơi, con không muốn về cõi trời, con muốn về cõi Phật. Ông về cõi Phật, ông nhất niệm chưa? Bạch Ngài con đã nhất

    niệm rồi.” Thì ok về liền thôi. Ngài hiện ra rồi thì xứ Cực lạc hiện ra.

    Thành ra không có cần khảy móng tay. Chúng ta còn phải đi để đến Cực lạc, không có đi, không có đến, đi tức là đến “Bất lai đàn chỉ đáo Tây phương”, chỉ cần

    trong sátna là thế giới Cực lạc hiện ra liền. Bây giờ nó vẫn hiện mà mình không thấy, tại ngũ ấm ma che, tại cái nhất niệm che. Mà nhất niệm cao thượng rồi thì

    mình phát nguyện một cái.


    Chúng ta nên nhớ, Bất lai bậc Thánh thứ 3 cũng không vãng sanh được, nếu không có sự phát nguyện. Thành ra cái phát nguyện rất là quan trọng đối với người

    tu Tịnh độ.

    Còn “tuệ” tức là tư tưởng thông minh, mà thông minh thì tự lực mình sanh về cõi trời. Thông minh không về cõi Phật được. Vì cõi Phật là cõi sátna, mà cõi sátna

    là cõi nói dóc. Nếu dùng tư tưởng thì không thể hiểu cõi sátna được.

    Thành ra chúng ta thấy Bất lai còn ¼ tư tưởng là không hiểu sátna, không phát nguyện là không về được. Chỉ có Alahán mới hiểu được cõi Tịnh độ thôi, mà nếu

    bắt không đúng tần số thì Alahán cũng không về đúng nữa.

    Chúng ta thấy trong kinh có kể Mục Kiền Liên, thần thông đệ nhất của Đức Phật, Ngài dư sức về thế giới Cực lạc, Ngài dùng thần thông về thế giới Cực lạc của

    Đức Phật A Di Đà. Mà cõi Tịnh độ đâu có 1 cõi, bao nhiêu cõi uế độ thì có bấy nhiêu cõi Tịnh độ. Ngài đi lạc qua cõi của Phật Đại Thông Trí Thắng, Ngài nguyện

    về Cực lạc A Di Đà, mà Ngài không nhờ A Di Đà tiếp dẫn, tự lực đi, Alahán rồi mà, nắm hết, bằng bản thể của Như lai, cái báo thân, còn ứng hóa thân thì chưa

    có thôi. Ngài đi lạc qua Đại Thông Trí Thắng, Ngài cũng Là Tịnh độ, mà thế giới đó người ta lớn lắm, Ngài có bằng con kiến thôi, Ngài mới đi trên cái bát của Tỳ

    kheo, thì vị Tỳ kheo mới bắt bỏ, vì đang dộ cơm thì Đại Thông Trí Thắng nói không phải kiến đâu nha ông, ông Mục Kiền Liên đấy, ổng là thần thông đệ nhất

    của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đấy, ổng đi qua Cực lạc mà ổng đi lạc qua đây. Chúng ta thấy cái độc đáo là ở chỗ đó. Thần thông thì nghe được tiếng nói của

    Như lai, ổng nghe nói rồi ổng nói “Trời ơi mình lọt qua Đại Thông Trí Thắng rồi. Bây giờ làm sao mình hóa hiện ra, ổng dùng thần lực ổng hóa hiện lớn, hóa hiện

    không nổi, bị thế giới người ta bự quá đi, mà cái thần lực của ổng có cở thôi, thần lực Như lai có thể hóa hiện bao nhiêu cũng được, Alahán có tầm cở nào thôi,

    cũng như Alahán biết quá khứ chỉ có 500-700 kiếp hà, còn trên nữa thì không biết, Như lai biết vô lượng kiếp, thì Ngài có thể thị hiện lớn nhưng vừa phải thôi.

    Còn thế giới Cực lạc làm sao bằng cái tướng người ta được, Ngài thị hiện hoài không có lớn được, Ngài mới vái Đại Thông Trí Thắng, thì Đại Thông Trí Thắng mới

    trợ lực cho Ngài mới bằng, mới thấy các Tỳ kheo được. Thôi câu chuyện còn dài, kể một khúc thôi, xanh xanh, đỏ đỏ cho quý vị ham.


    Trước khi dứt lời tôi xin quý vị là coi cái phần sau này, 10 câu hỏi tôi rút ra từ bài kinh này. 10 câu hỏi này tôi có giảng gần 30 năm về trước rồi. Bây giờ giảng

    lại, nhưng mà khác à, không giống à, nó đi thật sâu sắc hơn, nó khít khao hơn, nó sáng tỏ hơn. Lần đầu tiên đi toàn tư tưởng có một xíu Bát nhã thôi, tôi biết

    Bát nhã mà tôi không biết cách tu. Rồi kỳ sau nó gần phân nửa với nhau. Kỳ thứ 3 thì Bát nhã lấn lướt nhiều, nhưng mà cũng chưa có khít khao.

    Thì tôi tính nghỉ rồi, bây giờ giảng lại nó cũng khó, nó sâu quá mà mình không đủ khả năng để giảng, còn phật tử chưa chắc đủ khả năng tiếp thu cái lời giảng

    của mình. Tôi tính nghỉ rồi, tôi gần vô lò thiêu. Thì mấy đại phật tử này muốn thỉnh tôi giảng nữa. Tôi nói mấy ông đầy đủ rồi. Nói “Chưa đâu, cái chiều sâu con

    thấy Sư phải giảng lại”. Hồi nảy tôi có kể mấy ông thiện nam và mấy cô cũng muốn giảng lại.

    Tôi nói tôi giảng lại thì khó à, phải trả bài à, chớ không phải như trước nữa. Trả rồi qua cái lớp đó hiểu rồi tôi mới giảng tiếp, còn không thì nghỉ. Mấy ổng nói

    “Được, tụi con cố gắng”. Thì mới bắt đầu có bài giảng hôm nay. Và tôi bắt đầu làm khó quý vị. Quý vị nhất định là phát tâm mà như bắt buộc, tôi thường dùng

    2 cái phát tâm mà không phát tâm thì tôi bắt buộc.


    Thì quý vị trả như vậy tôi rất mừng, vì đây là mới cái đoạn sơ cơ thôi à. Còn tới trả lời câu hỏi số 1, quý vị mệt đấy. Bởi vì nó 6 căn, 6 trần, 6 thức mà phải cho

    thí dụ mắt, thí dụ tai, rồi mũi, lưỡi, thân, mà nhất là cái óc là cái rắc rối nhất, cái pháp trần là cái khó nhất.

    Mà đâu phải 1 cái thí dụ, tôi hỏi rồi cho thêm 2 thí dụ, 3 thí dụ thì quý vị chết. Thành ra ở ngoài phải nghiền ngẫm hoài hoài. Từ đây cho tới tết, qua tết chúng

    ta ngâm, bữa mùng 1 là chủ nhật cũng không có học nữa, mùng 8 tới chủ nhật nữa.

    Mỗi năm là chúng ta thường giảng giữa tháng, cuối tháng (rằm, 30 hoặc tháng thiếu 29). Thì theo cái luật của Đức Phật thì cúng hội quý Sư đọc giới là bữa đó

    thuyết pháp, nhưng mà nó ngay mùng 1, mà thường thường mình cúng 30 mà chỉ có đặc biệt truyền thống Khất sĩ thì bị phật tử kêu là phải ngay mùng 1, bữa

    30 hay 29 mắc rước ông bà thì bữa đó không ai đi. Mùng 1 giảng pháp, quý vị không có trả bài. Mình nghỉ tới mùng 8 là bắt đầu học lại đó. Còn bữa nay chúng

    ta bắt đầu nghỉ tết, tết của quý vị nha, chớ không phải tết của tôi, tôi không có ăn tết.

    Quý vị nghỉ rồi bữa 23 quý vị đến ủy lạo rồi quý vị về nghỉ, đưa ông táo rồi quý vị đưa lên trời tấu với Ngọc Hoàng làm sao đó cho quý vị thông minh một chút

    hén. Rồi tới mùng 8 quý vị trở xuống trả bài cho tôi. Ngọc Hoàng chứng minh cho con thông minh một chút, nhưng mà con không về với Ngọc Hoàng đâu, cõi

    trời con ngán lắm, con muốn thông minh như Ngọc Hoàng mà con không hưởng thụ, con về với Phật A Di đà của con, về quê hương Cực lạc từ xưa tới giờ của

    con, còn Ngọc Hoàng cũng là cái quán trọ thôi con không thèm đâu. Lên tâu Ngọc Hoàng cái cõi trần này cho chúng sanh khá khá, giàu nhất là cái phường 7

    của chúng con nghèo quá, tụi con cũng nghèo mà cũng cố gắng ủy lạo và nước Việt nam, toàn thế giới bây giờ đang sa đọa dữ lắm, sa đọa về vật chất không

    nói, mà sa đọa về tinh thần luôn nữa, tụi con cũng sa đọa nữa mà tụi con cố gắng hướng lên. Ông thầy ổng khó quá đi, ổng dọa tụi con hoài, tụi con cố gắng

    học bài, thì Ngọc Hoàng cho con cái thông minh một chút đặng con thành Phật, con về độ Ngọc Hoàng lại.

    Vậy trước khi dứt lời, một lần nữa tôi xin cầu chúc cho pháp hội chúng ta, cũng như toàn thể pháp giới chúng sanh đều chóng vãng sanh Cực lạc và thành Phật

    đạo.

    Nam mô A Di Đà Phật.
    Last edited by pvhunghung; 28-03-2018 at 07:51 PM.

  3. #3

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi pvhunghung Xem Bài Gởi
    Mà hễ còn muốn là còn tham vọng, còn vọng tâm, còn cái ý chí mạnh, mà ý chí thì không thành Phật được
    Bkav thấy Thầy Giác Khang thật giản dị và dễ gần. Tuy nhiên có một vài quan điểm của Thầy, Bkav thấy lạ, dường như Thầy là người đầu tiên đưa ra, và không biết Bkav có sai không khi thấy một số quan điểm của Thầy hơi gần với quan điểm ngoại đạo như về linh hồn vv...


    Thầy Giác Khang nói: Mà hễ còn muốn là còn tham vọng, còn vọng tâm, còn cái ý chí mạnh, mà ý chí thì không thành Phật được

    Bkav nghĩ Thầy nói đúng, nhưng cần phải hiểu một cách thiện xảo. Không phải tu lúc nào cũng hùng hục, cũng phải nghiến răng nghiến lợi, vì nếu vậy mình sẽ không đi được đường dài, mình sẽ bị bung một lúc nào đó.

    Nhưng điều đó không có nghĩa mình từ bỏ ý chí. Lúc đang tu có lúc mình cần thanh thản, nhưng cũng có lúc mình cần ý chí để khắc phục mình. Đức Phật đã thề nếu không chứng đạo thà nát xương không rời khỏi cội bồ đề. Hơn nữa có lúc có những lậu hoặc do tri kiến được loại trừ, có những lúc lậu hoặc do phòng hộ được loại trừ, nhưng cũng có lúc cần phải gồng mình lên, nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc học để đánh bại các dục "Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ... đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục... liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong... được an trú, an tịnh nhất tâm, định tĩnh. Ví như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu, hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục, và đánh bại. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ trừ diệt chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh."


  4. #4

    Mặc định

    Đây là bài giảng của Thầy Giác Khang, mình đăng lên để người có Duyên cùng đọc và suy ngẫm, và nếu

    muốn tìm hiểu thêm thì có thể nghe các bài giảng khác của thầy trên mạng.

    Theo ý kiến của mình Thầy Giác Khang là một vị chân tu, có thực chứng, và sự chứng ngộ của thầy rất cao (tiểu sử của thầy thì mọi người có thể google).

    Thầy cũng có nói trong các bài giảng khác đại ý là thời bây giờ tu dễ bị ngũ ấm ma, tức là không biết mình có chứng thật không vì các cảnh giới nhị thiền

    tam thiền, tứ thiền, phi tưởng...nó cũng rất giống với thánh quả bất lai, anaham, alahan... Bây giờ không có ai có thể ấn chứng cho

    mình được, mà chính thầy cũng nói tôi cũng không biết là tôi có chứng hay không nên thầy cũng quy hướng về tịnh độ, thầy

    nói lúc đầu tôi không tin tịnh độ vì nếu dựa trên thế giới nhân quả thì thế giới tịnh độ là không đúng là nói dóc, nhưng khi thầy

    hiểu về thế giới sát na thì thầy nói tôi thấy tịnh độ rõ như trong lòng bàn tay cho nên không có chuyện tin hay không tin nữa. Mà thế

    giới sát na thì như thầy đã nói là có ai giảng đâu phải tự thiền định và hỏi "vô sư trí".

    Qua bài giảng này cũng mong người tu tịnh độ sẽ có sự hiểu biết và có niềm tin trên con đường tu tập của mình,
    Last edited by pvhunghung; 30-03-2018 at 11:52 AM.

  5. #5
    Đai Đen
    Gia nhập
    Feb 2014
    Nơi cư ngụ
    Thanh Xuân, Hà Nội
    Bài gởi
    706

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi pvhunghung Xem Bài Gởi


    nói lúc đầu tôi không tin tịnh độ vì nếu dựa trên thế giới nhân quả thì thế giới tịnh độ là không đúng là nói dóc,

    ,
    Thầy Tịnh Không có giảng là :

    " Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, ác nghiệp của đời đời kiếp kiếp đều xoay chuyển lại. Những oán gia trái chủ trong đời quá khứ, nợ mạng của họ cũng được, nợ tiền cũng cũng được, ko cần bận tâm để ý. Phải trả không? Đương nhiên là phải trả ?
    Trả bằng cách nào ? Làm Bồ Tát đi độ họ, đi giáo hóa họ vì khi sanh về Tây Phương rồi, tất cả tánh đước đều bộc lộ, trả tiền rất dễ dàng. Trong tự tánh có vô số báu, có thể trả gấp nhiều lần cho họ, khiến họ sanh lòng hoan nhỉ.
    Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có bản lĩnh này ! "

    Hơn nữa, ở Tây Phương theo như thầy Thích Giang Khang nói là thế giới sát na, ko có thời gian. Nên theo TD hiểu thì khi đã thành đạo rồi thì việc quay lại quá khứ hay tương lai ở thế giới ta bà này là điều dễ như trở bàn tay. Nên việc nếu 1 ngày ở Cực Lạc bằng mấy năm ở trái đất cũng chẳng là gì khi đã đạt Đạo. Đều có thể quay về trả người nợ mình ngay lập tức !!!
    Sám hối, tạ ơn trước khi ngủ và sau khi thức dậy !
    Lạy Phật giúp tăng trưởng Phước !
    Thương yêu cả với kẻ thù !
    Thực dưỡng Ohsawa !

  6. #6

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi pvhunghung Xem Bài Gởi
    chính thầy cũng nói tôi cũng không biết là tôi có chứng hay không nên thầy cũng quy hướng về tịnh độ
    Nếu Thầy Giác Khang không biết là thầy có chứng hay không thì những quan điểm, những giải thích của Thầy về Tịnh Độ liệu có sai lầm hay chưa phản ánh đầy đủ sự thật hay không !?

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Thuongdan Xem Bài Gởi
    Thầy Tịnh Không có giảng là :

    " Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, ác nghiệp của đời đời kiếp kiếp đều xoay chuyển lại. Những oán gia trái chủ trong đời quá khứ, nợ mạng của họ cũng được, nợ tiền cũng cũng được, ko cần bận tâm để ý. Phải trả không? Đương nhiên là phải trả ?

    Trả bằng cách nào ? Làm Bồ Tát đi độ họ, đi giáo hóa họ vì khi sanh về Tây Phương rồi, tất cả tánh đước đều bộc lộ, trả tiền rất dễ dàng. Trong tự tánh có vô số báu, có thể trả gấp nhiều lần cho họ, khiến họ sanh lòng hoan nhỉ.

    Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có bản lĩnh này ! "
    Những kiến giải của thầy Tịnh Không nên phải được dựa trên nguồn kinh sách nào đó (mặc dù kinh sách cũng có nhiều vấn đề, nhưng kinh sách là nguồn tin cậy nhất thời điểm này), chứ không thì những kiến giải đó chỉ là những ý kiến chủ quan của thầy.

  7. #7

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Bkav Xem Bài Gởi


    Nếu Thầy Giác Khang không biết là thầy có chứng hay không thì những quan điểm, những giải thích của Thầy về Tịnh Độ liệu có sai lầm hay chưa phản ánh đầy

    đủ sự thật hay không !?
    Theo ý hiểu của mình là Thầy không biết chứng cảnh giới thánh (bất lai, anaham,alahan) ...) hay là lọt vào ngũ ấm ma (tam thiền,tứ thiền, phi tưởng.... ).

    Như đã nói mình đăng các bài giảng dành cho người có Duyên, và các bài giảng của Thầy cũng rất nhiều trên internet

    về tịnh độ, 15 hạng chúng sinh, kinh 66, tứ niệm xứ, tiến trình 5 uẩn..., nếu có Duyên thì có thể nghe thêm để có sự suy xét đánh giá của bản thân.

    Có một số điểm đáng chú ý để suy ngẫm : Thầy theo hệ phái khất sĩ giữ giới luật tinh nghiêm, thiền định nhưng Thầy giảng hết cả về Nam Tông, Bắc tông,

    Bát nhã, Alahan, Phật, và Thầy cũng xiển dương Tịnh Độ.....
    Last edited by pvhunghung; 30-03-2018 at 08:08 PM.

  8. #8
    Đai Đen
    Gia nhập
    Feb 2014
    Nơi cư ngụ
    Thanh Xuân, Hà Nội
    Bài gởi
    706

    Mặc định

    Mình xin gửi các đạo hữu bài giảng của Thầy: Kinh 66-tuần 9. Thầy có nói về Đạo là gì ! Câu hỏi trăn trở của người xưa lẫn người thời nay.

    https://www.youtube.com/watch?v=v1dL...Sx3TqCRfBtqWc0.


    Và đây là toàn bộ bài giảng của thầy Thích Giác Khang: file mp3, word,.. mà TD vừa xin được.

    https://drive.google.com/drive/folde...E1ZbUt6STJtc3M
    Sám hối, tạ ơn trước khi ngủ và sau khi thức dậy !
    Lạy Phật giúp tăng trưởng Phước !
    Thương yêu cả với kẻ thù !
    Thực dưỡng Ohsawa !

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 20-03-2018, 10:57 AM
  2. Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 14-11-2017, 07:22 AM
  3. Thọ Khang Bảo Giám - Phần 2
    By mynhan in forum Đạo Phật
    Trả lời: 29
    Bài mới gởi: 16-08-2017, 11:49 AM
  4. Thọ Khang Bảo Giám
    By lyquochoang in forum Đạo Phật
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 07-08-2017, 07:33 PM
  5. Thọ Khang Bảo Giám
    By mynhan in forum Sách Tôn Giáo
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 26-12-2016, 05:16 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •