Trang 1 trong 4 1234 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 77

Ðề tài: TẠI SAO TỤNG KINH Ở NHÀ LẠI KÉO VONG VỀ

  1. #1

    Mặc định TẠI SAO TỤNG KINH Ở NHÀ LẠI KÉO VONG VỀ

    Sau khi nhận được quá nhiều câu hỏi về việc tụng kinh ở nhà, tôi không thể trả lời hết câu hỏi của mọi người. Tôi viết ra đây để mọi người cùng đọc và nhìn nhận.

    Đây là một thực tế tương đối phũ phàng cho nhiều người và nó đã kéo dài trong quá nhiều năm tháng. Mọi người tụng kinh chỉ mong muốn những điều tốt đẹp đến với mình, chứ không bao giờ hình dung lại đưa thêm vong linh vào nhà mình. Nhưng vì tập tục lâu đời người này bảo người người kia nên cứ theo thói quen mà làm.

    Khi mọi người thỉnh chuông gõ mõ tụng kinh ở nhà, tiếng chuông mõ ngân lên vừa để thức tỉnh linh hồn bản thể vừa là dẫn dụ các vong linh hiếu kỳ bâu lại xem là cái gì. Kèm theo đó là những câu thỉnh, câu chú mời các đấng, các linh hồn cao về gia hộ cũng như về chứng tâm. Hội đồng chư phật, các linh hồn cao đôi khi chẳng thấy đâu vì năng lực băng tần thỉnh của nhiều người chưa thấu được đến nơi, mà lại kêu gọi các vong ở xung quanh đó bu lại nhiều hơn. Chính vì thế có nhiều người càng tụng kinh người càng xám đen, càng mệt mỏi ngủ không ngon, thậm trí con cháu trong nhà cũng bị lục đục rồi khóc đêm nhiều hơn...

    Có nhiều người còn có thói quen khi tụng kinh thường cúng thêm cho vong linh. Thế là được đà vong linh về hưởng lộc thực rồi ở luôn trong nhà không muốn đi vì ở đó họ được cúng ăn thường xuyên. Nhiều người nghĩ rằng khi tụng kinh các vong oan qia trái chủ sẽ kéo đến đòi nghiệp lực, tụng xong xin hồi hướng và xin các đấng giúp vong linh siêu thoát hoặc đi tu học nhưng mọi người không hình dung rằng năng lực tu của mình đã làm được điều đó hay chưa. Mọi người nghĩ quá đơn giản về điều đó, nên khi có chuyện xẩy ra thì hay nghĩ tu là trả nghiệp. Nên nghiệp đổ cho nhẹ nhàng về sau. Nhưng có điều mọi người không hình dung nổi là nhiều khi không phải do nghiệp ở các kiếp kéo về để chuyển hóa mà do các vong linh mọi người nhận thêm đổ dồn các nơi cùng ùn ùn kéo về. Nhiều khi hội đồng thần linh thổ địa không đủ lực để gia hộ cho nơi đó, chưa nói có nhiều trường hợp những ngôi nhà đó không có sự gia hộ mặc dù vẫn thờ thần linh nhưng không có sự linh ứng. Một số trường hợp còn bị những vong linh bất tử bất diệt có tu tập pháp lực cao vào quấy quả và chi phối trong nhà.

    Có quá nhiều người tụng kinh lâu năm đã đến điện tôi xin giúp đỡ vì vong đeo bám vào họ với số lượng quá lớn. Nhập vào gây bệnh nặng cho họ, thậm trí còn ảnh hưởng nhiều đến mọi người trong nhà. Có nhiều người nhìn thấy vong thì sợ hãi vì đêm hôm họ trêu con cháu trong nhà, ngủ còn thấy họ nằm bên cạnh ôm mình, đi theo mình gây bệnh nặng hoặc đi khám không ra bệnh. Khi lên điện tôi có khuyên với họ rằng nếu thật tâm muốn chuyển hóa dòng nghiệp lực nhiều khi không cần tụng kinh mà chỉ cần sám hối tự tâm khởi lên nói chuyện bằng tâm thức với các oan gia trái chủ của mình còn tốt gấp vạn lần ngồi đọc kinh mà không để tâm vào những lời kinh mình đọc. Tội từ tâm khởi đem tâm sám, vong linh họ nghe được hết và họ cũng không đi đâu xa, bởi họ luôn ở quanh ta, chỉ chờ đủ nhân đủ duyên là họ đòi lại oán nghiệt mà ta đã gây tạo. Vừa nói chuyện vừa phát nguyện sửa đổi dần dần. Quan trọng là tâm mình có thực sự sửa đổi chuyển nghiệp hay không. Nếu muốn tụng kinh thì lên chùa mà tụng kinh vì sự gia hộ ở nhà không thể bằng ở chùa được. Ngay bản thân các sư trong chùa tụng kinh còn bị các vong linh họ trêu đánh và hành cho. Có nhiều sư đọc kinh bị vong trong chùa phá, ngủ còn bị vong đạp ngã xuống giường nữa là mọi người đọc ở nhà. Vì năng lực chuyển hóa cho vong chưa có nên ở nhà mọi người chỉ nên khởi tâm sám hối hoặc niệm phật để tâm được tĩnh lặng thôi. Khi nào đủ năng lực thì ta phát tâm đọc kinh chuyển hóa cho vong ở nhà sẽ tốt hơn.

    Còn muốn bản thân có thể tự độ được vong thì hãy cố gắng tập để có được các vầng khí hào quang như của các đấng, Phải trải qua thờ gian thiền định chuyển hóa khí lực, chứ không phải đọc kinh là có được kết quả hào quang này. Cuối cùng Phật giác ngộ cũng qua chân lý thiền định 49 ngày. Mà không có hào quang này bản thân ta thỉnh và kêu không thể đến nơi để xin chuyển hóa cho vong linh được. Giống như cũng 1 câu kinh 2 ông hòa thượng cùng đọc nhưng 1 ông thì có thần khí, 1 ông chỉ như người bình thường.

    Nhìn những bàn thờ Phật tại gia của nhiều người to đẹp có nhỏ xấu có, nhưng cái thực tế lại không hề có Phật hay đúng hơn là băng tần của hàng lx 6 hoặc 7 nào chiếu rọi đúng nghĩa ở đó. Mà toàn hàng lx4 chủ yếu là hàng tà thần biến hiện thành Phật Bồ tát dẫn dụ mọi người, cho mọi người khả năng tâm linh để chi phối đi theo họ... và việc này đã kéo dài quá lâu. Ít nhất vài trăm năm rồi.

    Mỗi người 1 duyên nghiệp nhận thức hiểu biết để chuyển hóa, cánh cổng tâm linh khai mở rộng hay hẹp tùy theo sự giác ngộ của mỗi linh hồn. Hôm nay cũng đúng vào ngày rằm tháng giêng chúc mọi người có cái nhìn rộng và chuẩn hơn về tâm linh.
    (Tôi sẽ nói sâu hơn trong bài viết vong nhập ám người tu sau).

    2/3/2018
    Bùi Huy Hoàng

    Linh tham khảo tìm hiểu thêm về thực hành tâm linh:
    https://www.facebook.com/giacngo.nan...09816579438250
    https://www.facebook.com/giacngo.nangluong
    https://www.facebook.com/groups/1376...11643/?fref=ts

  2. #2

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi huyhoangtitc Xem Bài Gởi
    Sau khi nhận được quá nhiều câu hỏi về việc tụng kinh ở nhà, tôi không thể trả lời hết câu hỏi của mọi người. Tôi viết ra đây để mọi người cùng đọc và nhìn nhận.

    Đây là một thực tế tương đối phũ phàng cho nhiều người và nó đã kéo dài trong quá nhiều năm tháng. Mọi người tụng kinh chỉ mong muốn những điều tốt đẹp đến với mình, chứ không bao giờ hình dung lại đưa thêm vong linh vào nhà mình. Nhưng vì tập tục lâu đời người này bảo người người kia nên cứ theo thói quen mà làm.

    Khi mọi người thỉnh chuông gõ mõ tụng kinh ở nhà, tiếng chuông mõ ngân lên vừa để thức tỉnh linh hồn bản thể vừa là dẫn dụ các vong linh hiếu kỳ bâu lại xem là cái gì. Kèm theo đó là những câu thỉnh, câu chú mời các đấng, các linh hồn cao về gia hộ cũng như về chứng tâm. Hội đồng chư phật, các linh hồn cao đôi khi chẳng thấy đâu vì năng lực băng tần thỉnh của nhiều người chưa thấu được đến nơi, mà lại kêu gọi các vong ở xung quanh đó bu lại nhiều hơn. Chính vì thế có nhiều người càng tụng kinh người càng xám đen, càng mệt mỏi ngủ không ngon, thậm trí con cháu trong nhà cũng bị lục đục rồi khóc đêm nhiều hơn...

    Có nhiều người còn có thói quen khi tụng kinh thường cúng thêm cho vong linh. Thế là được đà vong linh về hưởng lộc thực rồi ở luôn trong nhà không muốn đi vì ở đó họ được cúng ăn thường xuyên. Nhiều người nghĩ rằng khi tụng kinh các vong oan qia trái chủ sẽ kéo đến đòi nghiệp lực, tụng xong xin hồi hướng và xin các đấng giúp vong linh siêu thoát hoặc đi tu học nhưng mọi người không hình dung rằng năng lực tu của mình đã làm được điều đó hay chưa. Mọi người nghĩ quá đơn giản về điều đó, nên khi có chuyện xẩy ra thì hay nghĩ tu là trả nghiệp. Nên nghiệp đổ cho nhẹ nhàng về sau. Nhưng có điều mọi người không hình dung nổi là nhiều khi không phải do nghiệp ở các kiếp kéo về để chuyển hóa mà do các vong linh mọi người nhận thêm đổ dồn các nơi cùng ùn ùn kéo về. Nhiều khi hội đồng thần linh thổ địa không đủ lực để gia hộ cho nơi đó, chưa nói có nhiều trường hợp những ngôi nhà đó không có sự gia hộ mặc dù vẫn thờ thần linh nhưng không có sự linh ứng. Một số trường hợp còn bị những vong linh bất tử bất diệt có tu tập pháp lực cao vào quấy quả và chi phối trong nhà.

    Có quá nhiều người tụng kinh lâu năm đã đến điện tôi xin giúp đỡ vì vong đeo bám vào họ với số lượng quá lớn. Nhập vào gây bệnh nặng cho họ, thậm trí còn ảnh hưởng nhiều đến mọi người trong nhà. Có nhiều người nhìn thấy vong thì sợ hãi vì đêm hôm họ trêu con cháu trong nhà, ngủ còn thấy họ nằm bên cạnh ôm mình, đi theo mình gây bệnh nặng hoặc đi khám không ra bệnh. Khi lên điện tôi có khuyên với họ rằng nếu thật tâm muốn chuyển hóa dòng nghiệp lực nhiều khi không cần tụng kinh mà chỉ cần sám hối tự tâm khởi lên nói chuyện bằng tâm thức với các oan gia trái chủ của mình còn tốt gấp vạn lần ngồi đọc kinh mà không để tâm vào những lời kinh mình đọc. Tội từ tâm khởi đem tâm sám, vong linh họ nghe được hết và họ cũng không đi đâu xa, bởi họ luôn ở quanh ta, chỉ chờ đủ nhân đủ duyên là họ đòi lại oán nghiệt mà ta đã gây tạo. Vừa nói chuyện vừa phát nguyện sửa đổi dần dần. Quan trọng là tâm mình có thực sự sửa đổi chuyển nghiệp hay không. Nếu muốn tụng kinh thì lên chùa mà tụng kinh vì sự gia hộ ở nhà không thể bằng ở chùa được. Ngay bản thân các sư trong chùa tụng kinh còn bị các vong linh họ trêu đánh và hành cho. Có nhiều sư đọc kinh bị vong trong chùa phá, ngủ còn bị vong đạp ngã xuống giường nữa là mọi người đọc ở nhà. Vì năng lực chuyển hóa cho vong chưa có nên ở nhà mọi người chỉ nên khởi tâm sám hối hoặc niệm phật để tâm được tĩnh lặng thôi. Khi nào đủ năng lực thì ta phát tâm đọc kinh chuyển hóa cho vong ở nhà sẽ tốt hơn.

    Còn muốn bản thân có thể tự độ được vong thì hãy cố gắng tập để có được các vầng khí hào quang như của các đấng, Phải trải qua thờ gian thiền định chuyển hóa khí lực, chứ không phải đọc kinh là có được kết quả hào quang này. Cuối cùng Phật giác ngộ cũng qua chân lý thiền định 49 ngày. Mà không có hào quang này bản thân ta thỉnh và kêu không thể đến nơi để xin chuyển hóa cho vong linh được. Giống như cũng 1 câu kinh 2 ông hòa thượng cùng đọc nhưng 1 ông thì có thần khí, 1 ông chỉ như người bình thường.

    Nhìn những bàn thờ Phật tại gia của nhiều người to đẹp có nhỏ xấu có, nhưng cái thực tế lại không hề có Phật hay đúng hơn là băng tần của hàng lx 6 hoặc 7 nào chiếu rọi đúng nghĩa ở đó. Mà toàn hàng lx4 chủ yếu là hàng tà thần biến hiện thành Phật Bồ tát dẫn dụ mọi người, cho mọi người khả năng tâm linh để chi phối đi theo họ... và việc này đã kéo dài quá lâu. Ít nhất vài trăm năm rồi.

    Mỗi người 1 duyên nghiệp nhận thức hiểu biết để chuyển hóa, cánh cổng tâm linh khai mở rộng hay hẹp tùy theo sự giác ngộ của mỗi linh hồn. Hôm nay cũng đúng vào ngày rằm tháng giêng chúc mọi người có cái nhìn rộng và chuẩn hơn về tâm linh.
    (Tôi sẽ nói sâu hơn trong bài viết vong nhập ám người tu sau).

    2/3/2018
    Bùi Huy Hoàng

    Linh tham khảo tìm hiểu thêm về thực hành tâm linh:
    https://www.facebook.com/giacngo.nan...09816579438250
    https://www.facebook.com/giacngo.nangluong
    https://www.facebook.com/groups/1376...11643/?fref=ts
    Bài viết quá đúng, không nên tụng kinh chú ở nhà. Tôi thì không dám tụng bất cứ bài kinh nào ở nhà chỉ niệm Phật thôi, vì bản thân tôi chỉ là hạng phàm phu thấp kém không chịu nổi vong linh theo phá.

  3. #3

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi huyhoangtitc Xem Bài Gởi
    Sau khi nhận được quá nhiều câu hỏi về việc tụng kinh ở nhà, tôi không thể trả lời hết câu hỏi của mọi người. Tôi viết ra đây để mọi người cùng đọc và nhìn nhận.

    Đây là một thực tế tương đối phũ phàng cho nhiều người và nó đã kéo dài trong quá nhiều năm tháng. Mọi người tụng kinh chỉ mong muốn những điều tốt đẹp đến với mình, chứ không bao giờ hình dung lại đưa thêm vong linh vào nhà mình. Nhưng vì tập tục lâu đời người này bảo người người kia nên cứ theo thói quen mà làm.

    Khi mọi người thỉnh chuông gõ mõ tụng kinh ở nhà, tiếng chuông mõ ngân lên vừa để thức tỉnh linh hồn bản thể vừa là dẫn dụ các vong linh hiếu kỳ bâu lại xem là cái gì. Kèm theo đó là những câu thỉnh, câu chú mời các đấng, các linh hồn cao về gia hộ cũng như về chứng tâm. Hội đồng chư phật, các linh hồn cao đôi khi chẳng thấy đâu vì năng lực băng tần thỉnh của nhiều người chưa thấu được đến nơi, mà lại kêu gọi các vong ở xung quanh đó bu lại nhiều hơn. Chính vì thế có nhiều người càng tụng kinh người càng xám đen, càng mệt mỏi ngủ không ngon, thậm trí con cháu trong nhà cũng bị lục đục rồi khóc đêm nhiều hơn...

    Có nhiều người còn có thói quen khi tụng kinh thường cúng thêm cho vong linh. Thế là được đà vong linh về hưởng lộc thực rồi ở luôn trong nhà không muốn đi vì ở đó họ được cúng ăn thường xuyên. Nhiều người nghĩ rằng khi tụng kinh các vong oan qia trái chủ sẽ kéo đến đòi nghiệp lực, tụng xong xin hồi hướng và xin các đấng giúp vong linh siêu thoát hoặc đi tu học nhưng mọi người không hình dung rằng năng lực tu của mình đã làm được điều đó hay chưa. Mọi người nghĩ quá đơn giản về điều đó, nên khi có chuyện xẩy ra thì hay nghĩ tu là trả nghiệp. Nên nghiệp đổ cho nhẹ nhàng về sau. Nhưng có điều mọi người không hình dung nổi là nhiều khi không phải do nghiệp ở các kiếp kéo về để chuyển hóa mà do các vong linh mọi người nhận thêm đổ dồn các nơi cùng ùn ùn kéo về. Nhiều khi hội đồng thần linh thổ địa không đủ lực để gia hộ cho nơi đó, chưa nói có nhiều trường hợp những ngôi nhà đó không có sự gia hộ mặc dù vẫn thờ thần linh nhưng không có sự linh ứng. Một số trường hợp còn bị những vong linh bất tử bất diệt có tu tập pháp lực cao vào quấy quả và chi phối trong nhà.

    Có quá nhiều người tụng kinh lâu năm đã đến điện tôi xin giúp đỡ vì vong đeo bám vào họ với số lượng quá lớn. Nhập vào gây bệnh nặng cho họ, thậm trí còn ảnh hưởng nhiều đến mọi người trong nhà. Có nhiều người nhìn thấy vong thì sợ hãi vì đêm hôm họ trêu con cháu trong nhà, ngủ còn thấy họ nằm bên cạnh ôm mình, đi theo mình gây bệnh nặng hoặc đi khám không ra bệnh. Khi lên điện tôi có khuyên với họ rằng nếu thật tâm muốn chuyển hóa dòng nghiệp lực nhiều khi không cần tụng kinh mà chỉ cần sám hối tự tâm khởi lên nói chuyện bằng tâm thức với các oan gia trái chủ của mình còn tốt gấp vạn lần ngồi đọc kinh mà không để tâm vào những lời kinh mình đọc. Tội từ tâm khởi đem tâm sám, vong linh họ nghe được hết và họ cũng không đi đâu xa, bởi họ luôn ở quanh ta, chỉ chờ đủ nhân đủ duyên là họ đòi lại oán nghiệt mà ta đã gây tạo. Vừa nói chuyện vừa phát nguyện sửa đổi dần dần. Quan trọng là tâm mình có thực sự sửa đổi chuyển nghiệp hay không. Nếu muốn tụng kinh thì lên chùa mà tụng kinh vì sự gia hộ ở nhà không thể bằng ở chùa được. Ngay bản thân các sư trong chùa tụng kinh còn bị các vong linh họ trêu đánh và hành cho. Có nhiều sư đọc kinh bị vong trong chùa phá, ngủ còn bị vong đạp ngã xuống giường nữa là mọi người đọc ở nhà. Vì năng lực chuyển hóa cho vong chưa có nên ở nhà mọi người chỉ nên khởi tâm sám hối hoặc niệm phật để tâm được tĩnh lặng thôi. Khi nào đủ năng lực thì ta phát tâm đọc kinh chuyển hóa cho vong ở nhà sẽ tốt hơn.

    Còn muốn bản thân có thể tự độ được vong thì hãy cố gắng tập để có được các vầng khí hào quang như của các đấng, Phải trải qua thờ gian thiền định chuyển hóa khí lực, chứ không phải đọc kinh là có được kết quả hào quang này. Cuối cùng Phật giác ngộ cũng qua chân lý thiền định 49 ngày. Mà không có hào quang này bản thân ta thỉnh và kêu không thể đến nơi để xin chuyển hóa cho vong linh được. Giống như cũng 1 câu kinh 2 ông hòa thượng cùng đọc nhưng 1 ông thì có thần khí, 1 ông chỉ như người bình thường.

    Nhìn những bàn thờ Phật tại gia của nhiều người to đẹp có nhỏ xấu có, nhưng cái thực tế lại không hề có Phật hay đúng hơn là băng tần của hàng lx 6 hoặc 7 nào chiếu rọi đúng nghĩa ở đó. Mà toàn hàng lx4 chủ yếu là hàng tà thần biến hiện thành Phật Bồ tát dẫn dụ mọi người, cho mọi người khả năng tâm linh để chi phối đi theo họ... và việc này đã kéo dài quá lâu. Ít nhất vài trăm năm rồi.

    Mỗi người 1 duyên nghiệp nhận thức hiểu biết để chuyển hóa, cánh cổng tâm linh khai mở rộng hay hẹp tùy theo sự giác ngộ của mỗi linh hồn. Hôm nay cũng đúng vào ngày rằm tháng giêng chúc mọi người có cái nhìn rộng và chuẩn hơn về tâm linh.
    (Tôi sẽ nói sâu hơn trong bài viết vong nhập ám người tu sau).

    2/3/2018
    Bùi Huy Hoàng

    Linh tham khảo tìm hiểu thêm về thực hành tâm linh:
    https://www.facebook.com/giacngo.nan...09816579438250
    https://www.facebook.com/giacngo.nangluong
    https://www.facebook.com/groups/1376...11643/?fref=ts
    heeeeeeee, cái mà tác giả bài viết nói chỉ là chỉ thấy 1 mặt phiền diện, mình tiếp xúc nhiều người, họ tụng kinh mà bị vong phá là do miệng tụng nhưng tâm ko sửa tâm ko hành, tụng theo kiểu bắt chước thấy người ta tụng mình cụng tụng theo hoặc tụng với một mục đích khác là cầu danh cầu lợi cầu tiền bạc vật chất hay là mang tâm trừ tà diệt quỷ thì mới bị vậy thôi. Còn người nào dù cho có xấu ác đến mấy, dù cho có nghiệp nặng cách mấy nhưng thành tâm sám hối thành tâm tụng kinh để tu sửa tâm tánh để khai mở trí tuệ để thực hành theo lời dạy trong kinh điển để hồi hướng công đức cho oan gia trái chú, để khai thị tâm thức hay xoa dịu nỗi đau của vong linh, để giúp vong linh giác ngộ thì đều được lợi lạc, vì trong mỗi cuốn kinh như vậy nếu người nào có tâm thành đều có long thần hộ pháp của bộ kin đó luôn hộ trì cho người tu học.
    Vậy cái cốt lõi là từ cái tâm người tu như thế nào thì sẽ dẫn đến bị vong ma quấy phá hay được long thần hộ pháp độ trì. Nhìn phiến diện như tác giả thì rất tội lỗi vì ngăn cản người tu ko tụng kinh điển la2ngan8 cản con đường giác ngộ mà con đường giác ngộ là con đường mười phương chư phật chư bi62 tát chư hiền thánh tăng chư vị thiên long bát bộ hộ pháp thiên tôn hàng ngày hàng sát na đang dày công cứu độ chúng sanh mới viết nên và hộ trì những bộ kinh đó cho chúng sanh. A di đà Phật!
    Lên hệ trao đổi phật pháp qua nick sky: hieubuikhuong hoặc facebook https://www.facebook.com/profile.php?id=100009987160842

  4. #4

    Mặc định

    À ừm, mình đọc xong bài viết của bạn chủ thớt ở trên cũng thấy 2 điều:
    1. Đối với người còn sơ cơ như mình mà thấy bạn nói vậy thiệt chắc từ nay trở về sau không dám bao giờ tụng kinh, ko dám bao giờ trì chú Đại Bi nữa quá. Vì mình định lực yếu lắm, lại còn phải làm việc hằng ngày để kiếm tiền nuôi gia đình. Lỡ bị vong linh phá đổ bệnh thì sao đây?
    2. Sau khi suy nghĩ và đọc các bài của bạn phapchieumt, mình đã trấn tĩnh trở lại và nghiệm ra một điều đó chính là cho dù mình như thế nào đi nữa, có trì tụng hay không có trì tụng mà suốt đời chỉ một có tâm đại bi, có tâm yêu thương chúng sanh thì chắc chắn sẽ không bao giờ có chuyện bị vong linh phá. Vì sao? Vong linh thì cũng là người mà không có thân xác, có ai thấy người khác làm việc tốt mà không hoan hỉ, giúp đỡ mà lại đi chọc phá người khác không? Không bao giờ, vì những người tốt luôn được chư thiện Thần bảo vệ huống hồ là người tụng kinh, trì chú, là những người đang làm những việc gọi là Hộ pháp, là phá vô minh.
    Nếu mà những vong linh đó phá hoại thì chẳng khác gì đang ngăn một người trên bước đường thành Phật quả, cái quả của việc làm này chắc chắn chỉ có đọa vào ác đạo.

    Bởi thế cho nên, các bạn, những ai đang trì chú, tụng kinh thì hãy tiếp tục trì chú, tụng kinh với bằng chính tâm thành của mình.
    Mình, là người đã và đang trì chú Đại Bi hơn 10 năm nay và chỉ thấy ngày một lợi lạc, ngày một cảm thấy sự thay đổi rõ rệt trong chính tâm thức của mình, theo chiều hướng tốt hơn, an lạc hơn thì mình xin đảm bảo rằng sẽ chẳng có vong linh nào quấy phá các bạn, mà ngược lại họ sẽ còn giúp đỡ các bạn nữa đó.

  5. #5

    Mặc định



    NIỆM PHẬT LỢI ÍCH VÔ THƯỢNG

    Phần lưu thông trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni phó chúc cho bồ-tát Di-lặc:
    Nếu có người nào nghe được danh hiệu của đức Phật A-di-đà, dù chỉ một niệm hoan hỉ vui mừng, phải biết người này được lợi ích rất lớn, được đầy đủ công đức vô thượng.

    Nói rất rõ ràng: Có người được nghe danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật, có thể khởi tâm ‘hoan hỉ vui mừng’, cho đến một niệm, nghĩa là xưng niệm danh hiệu Phật một niệm, đức Phật Thích-ca Mâu-ni liền bảo bồ-tát Di-lặc: “Ông nên biết, người này được lợi ích rất lớn, đầy đủ công đức vô thượng”.

    ‘Lợi ích lớn’ được nói trong kinh Vô Lượng Thọ là lợi ích gì? Chính là lợi ích vãng sanh thành Phật.

    Trong Phật giáo Đại thừa, lợi ích có lớn, có nhỏ; mà thành Phật là lợi ích thù thắng nhất, lợi ích to lớn nhất. Công đức, cũng có cạn, có sâu; công đức của bồ-tát đều là công đức còn có giới hạn, vì bên trên đó còn có công đức của Phật, công đức của Phật được gọi là ‘công đức vô thượng’. Người xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật liền có đầy đủ công đức của Phật, cho nên nói là ‘công đức vô thượng’.

    Nếu tu trì các pháp môn khác, mà đem hạng phàm phu tội chướng như chúng ta để bàn, thì đừng nói chi đến thành Phật, ngay cả việc thoát khỏi tam giới đã không có phần rồi. Cho dù thoát khỏi được tam giới, nhưng so với quả báo thành Phật thì cũng chỉ là cái lợi mảy mún. Huống gì chúng ta nhiều nhất là đạt được chút ít phước lạc nhân thiên, những thứ lợi ích đó vừa ít ỏi, vừa có giới hạn.

    Phần Văn tam bối trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngoài việc nói về niệm Phật, Ngài cũng nói đến việc phát tâm bồ-đề, tu các công đức, xuất gia, ly dục, làm bậc sa-môn, dâng hoa đốt hương cúng dường Tam bảo,… rất nhiều những cách hành trì tu thiện như vậy. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni tuy nói niệm Phật và các hạnh, nhưng đến cuối cùng, ở Phần lưu thông, Ngài chỉ phó chúc niệm Phật, chỉ khen ngợi niệm Phật, gọi niệm Phật là ‘lợi ích lớn, công đức vô thượng’, điều này cho thấy, tu hành các pháp môn khác tuy cũng có công đức, có lợi ích nhưng so với việc niệm Phật thì đều là công đức nhỏ, còn hạn cuộc, chỉ có niệm Phật là lợi ích lớn không gì sánh bằng.

    Pháp sư Tịnh Tông
    Nam-mô A-di-đà Phật
    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  6. #6
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Kinh sách là để ĐỌC - HIỂU rồi THỰC HÀNH... chứ không phải để đem ra tụng la làng cả nhà cả xóm, cũng không phải để gõ cóc cóc beng beng để chứng tỏ mình... tu!

    Mỗi ngày, nếu quá bận rộn, chỉ cần dành ra 30' - 1h để lấy kinh sách ra đọc. Đọc một câu rồi thì tư duy, nghiền ngẫm xem Phật dạy cái gì, rồi thực hành. Chứ không phải xách cuốn kinh ra bàn thờ ngồi "trả bài" cho Phật, thì gọi là Tu!

    "Kinh điển Ta dạy cho Nó nghe
    Nào ngờ Nó tụng, bắt Ta nghe
    Tuổi già tám mươi ngồi gì nổi
    Đọc lâu mỏi mệt sụm bánh chè" (HT.Thích Từ Thông)

    => Quan trọng là cái giữ GIỚI, vì nó là hàng rào bảo vệ cho người hành giả tránh được các bất thiện pháp chưa sanh, cũng như làm tiêu trừ nó nếu nó đã sanh. Giữ GIỚI làm cho thiện pháp chưa sanh được trổ sanh, thiện pháp đã sanh được sung mãn. Giới không giữ được thì dù có niệm Phật thụt lưỡi, lạy Phật đến liệt người, ngồi thiền chai đít như đít khỉ thì cũng không ăn thua gì hết!

  7. #7

    Mặc định



    LỊCH SỬ NHỮNG GƯƠNG VÃNG SANH HIỆN ĐIỀM LÀNH TRONG VIỆC TU PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

    Tựa: Chư Phật khởi lòng từ bi, mở bày nhiều phương tiện, nhưng chỉ một đường vãng sinh dễ dàng khế hợp cơ duyên. Xét lòng chí thành và chuyện cảm ứng của các bậc tiền bối trong các sách về điềm lành thì có sa-môn Văn Thẩm, tì-kheo Thiếu Khang ghi trong Cao tăng truyện[1], Luận vãng sinh[2].

    Tất cả đều trình bày các việc thật, ghi chép theo thứ tự những điều hiếm thấy, minh chứng cho duyên chí thành cảm hóa, hiển bày Phật lực khó nghĩ bàn, khiến cho xưa nay không đoạn dứt, tăng tục đều hướng về, tiếp nối đạo phong, trùng hưng đại sự. Vì muốn khiến cho những người phát tâm vững chắc không nghi ngại, những người chưa phát tâm có con đường để bước, nên tôi ghi lời tựa này.

    1. PHÁP SƯ HUỆ VIỄN ĐỜI ĐÔNG TẤN (317-420)

    Sư người Nhạn Môn, chọn Lô sơn[3] để ẩn cư hơn ba mươi năm, thân không hề rời núi, chân không bước vào thế tục, khi tiễn khách thì lấy suối Hổ[4] làm ranh giới. Tuy kinh sách học thông uyên bác, nhưng sư chuyên tâm hoằng dương Tịnh độ tây phương. Sư lập Tịnh độ đường ở chân núi, sớm tối lễ sám. Có quan Tạ Linh Vận[5], cao nhân Lưu Di Dân[6]… đều bỏ vinh hoa của thế tục, cùng tu Tịnh độ. Tất cả gồm có một trăm hai mươi ba người khởi lòng tin, ở trước tượng Phật Vô Lượng Thọ, lập đàn thệ nguyện, Di Dân viết văn khen ngợi pháp môn Tịnh độ, cảm được tiên nhân cỡi mây đến nghe, hoặc cất tiếng tụng kinh, âm thanh vang theo gió. Vào ngày 6 tháng 8 năm Nghĩa Hi thứ 12, ngài thấy Đức Phật A-di-đà và Thánh chúng nghinh tiếp từ xa, liền phó chúc mọi việc rồi, nằm nghiêng hông phải mà hóa, hưởng thọ tám mươi ba tuổi.

    2. PHÁP SƯ ĐÀM LOAN ĐỜI TỀ

    Sư sống gần núi Ngũ Đài, thông hiểu các kinh sách. Nhân tìm được mười quyển kinh Tiên của Trung Quốc mà muốn tìm Đào Ẩn[7] để học thuật tiên. Sau đó gặp được tam tạng Bồ-đề, ông hỏi:

    -Trong Phật pháp có phép trường sinh bất tử hơn kinh tiên của Trung Quốc không

    Tam tạng khạc nhổ xuống đất, ngạc nhiên hỏi:

    – Nơi nào trong nước này có phép trường sinh bất tử? Tu theo kinh Tiên dẫu được sống lâu, khi hết tuổi thọ cũng phải đọa lạc.

    Ngài Tam Tạng liền trao cho một quyển kinh Quán vô lượng thọ và nói:

    -Đây mới là phương pháp của bậc Đại tiên, hãy theo đây mà thực hành, sẽ thường được giải thoát, mãi mãi lìa xa sinh tử. Loan liền lấy lửa đốt kinh tiên. Bỗng nhiên vào giữa đêm, Loan thấy một Phạm tăng đi vào phòng bảo rằng:

    -Ta là bồ-tát Long Thụ.

    Rồi bồ-tát nói kệ:

    Lá rụng không thể bám lại cành
    Thóc chưa thu, không thấy trong kho
    Bóng câu qua cửa, chẳng tạm dừng
    Việc qua rồi đâu thể trở lại
    Việc chưa đến làm sao tìm được?
    Hiện tại đang ở đâu?
    Bóng câu khó trở lại.

    Pháp sư biết đã đến lúc qua đời, liền tập hợp hơn ba trăm đệ tử, Ngài tự bưng lư hương xoay mặt hướng tây, răn dạy môn đồ, khuyên mọi người tin Tịnh độ tây phương. Sáng sớm mọi người đồng cất tiếng niệm Phật, sư liền viên tịch. Cách năm dặm về phía tây của chùa có một chùa ni, mọi người ở đó nghe có âm nhạc trên không từ phía tây đi về phía đông. Trong chốc lát lại nghe từ phía đông đi về phía tây.

    3. THIỀN SƯ ĐẠO TRÂN ĐỜI LƯƠNG

    Sư trụ ở Lô sơn, chuyên tu niệm Phật. Nhân thực hành pháp thủy quán[8], sư mộng thấy hàng trăm người lên thuyền chuẩn bị đi về tây phương, liền xin đi theo, nhưng người trên thuyền không cho, Trân nói:

    -Bần đạo một đời chuyên tu tịnh nghiệp Tây phương, vì sao không cho đi?

    Người trên thuyền trả lời:

    -Nghiệp của thầy chưa viên mãn, chưa tụng kinh A-di-đà và chưa dựng nhà tắm cho tăng.
    Thế rồi mọi người trên thuyền đều xuất phát. Trân khóc lóc đến mệt mỏi mà ngủ thiếp đi. Sau đó, tỉnh giấc sư liền tụng kinh, cúng dường việc tắm rửa cho tăng. Một thời gian sau, sư lại nằm mộng, thấy có một người đứng trên lâu đài bạc, đưa tay nói rằng:

    -Thiền sư Đạo Trân! Nghiệp của sư đã viên mãn, sự dụng tâm tu rất tốt, cho nên chúng tôi đến báo cho biết, sư nhất định sẽ được vãng sinh.

    Đêm đó sư viên tịch, trên đỉnh núi sáng rực như có mấy nghìn ngọn đuốc, mùi hương thơm lạ tỏa khắp chùa. Về sau người ta tìm được trong hòm kinh một bản tồn sinh di kí mà lúc còn sống sư không nói cho mọi người biết.

    4. TĂNG NHAI ĐỜI HẬU CHU (557-581)

    Sư ở chùa Đa Bảo thuộc Ích châu. Bản tính sư thường ít nói, không thích vui đùa. Mỗi khi dạo chơi núi rừng thì ở đó suốt cả ngày. Có người hỏi lí do, sư trả lời:

    -Vì tôi nghĩ con người cần phải nhẫn.

    Về sau sư đến phía tây thành, đốt năm ngón tay trái. Tăng tục nghìn vạn người theo khóc lóc, sư nói:

    – Ta giữ tâm bồ-tát, nên không khóc.

    Có người hỏi đau không?

    Sư trả lời:

    -Tâm đã không đau thì ngón tay làm sao đau?
    Khi lửa cháy đến lòng bàn tay thì tủy chảy ra. Có người hỏi sao sư chịu đựng được, sư bảo:

    -Vì chúng sinh không nhẫn được, nên nay ta muốn khuyên mọi người nhẫn điều không thể nhẫn, đốt vật không thể đốt.

    Sư lại bảo mọi người rằng:

    – Trong đời mạt pháp, mọi người khinh mạn, bạo ngược ngu dốt, xem tượng Phật như thân khúc cây, nghe kinh điển như gió thoảng qua tai ngựa. Ta đốt tay, hủy thân, vì muốn khiến cho họ tin sâu Phật pháp.

    Sư dạy đệ tử rằng:

    -Sau khi ta diệt độ, các con nên cung cấp cho những người bịnh, những người xấu xí và súc sinh. Những vị ấy phần nhiều là chư Phật và Bồ-tát phương tiện hóa hiện. Nếu không phải bậc có đại tâm bình đẳng thì đâu thể cung kính tất cả chúng sinh. Có người thấy hoa trời rải xuống Tăng Nhai, bấy giờ sư mặc y bá nạp cầm tích trượng cùng sáu trăm vị tăng cỡi hư không đi về phương tây.

    5. THIỀN SƯ HUỆ MẠNG ĐỜI HẬU CHU (557-581)

    Sư người Thái Nguyên kết bạn tu với thiền sư Nam Nhạc, thực hành Phương đẳng sám[9]. Một hôm, hai sư ở dưới gốc cây nhìn nhau cười, nói: “Hai ta có thể chết ngay ở đây!” Không đầy mười ngày, sau hai sư bị bệnh nhẹ cùng ngồi kết-già, xoay mặt về hướng tây,và nói: “Phật đã đến”, rồi chắp tay mà thị tịch. Hai sư đều thọ tám mươi ba tuổi. Bấy giờ có người mộng thấy chư thiên cầm tràng phan đến nói: “Lành thay!” rồi rước hai sư đi.

    6. THIỀN SƯ TĨNH ÁI ĐỜI HẬU CHU (557-581)

    Lúc chưa xuất gia, sư vào chùa thấy biến tướng địa ngục[10], bảo với đồng bạn rằng:

    “Xét biết nghiệp như thế, ai có thể tránh được khổ này.”

    Sau đó, Tĩnh Ái liền xin mẹ xuất gia, thường ở nơi rừng vắng. Tăng chúng hỏi sư:

    -Sư nên ra giáo hóa người đời, chớ chôn vùi tài đức nơi núi rừng?

    Sư trả lời:

    – Đạo quí ở tự tu không phải ở nơi người. Xem thời để hành động hay ẩn cư. Nay Chu Võ[11] hủy diệt Phật pháp, ta hận là không đủ sức bảo vệ pháp.

    Sư bảo đệ tử rằng:

    -Ta sống ở đời không có ích gì, nên muốn xả thân!

    Nói xong, ngồi kết-già trên tảng đá lớn nắm nạp y, tự tay cắt y để ở trên đá, mổ bụng, rút ruột, dạ dày treo lên cành cây rồi dùng dao khoét lấy tim, bưng đưa lên mà chết. Sư để lại thư rằng: “Những người có duyên ở trong Phật pháp, đừng sinh tâm lui sụt, nhất định làm việc thiện lợi. Tôi có ba lí do để bỏ thân này: một là tự thấy có nhiều lỗi lầm, hai là không thể hộ pháp, ba là muốn nhanh chóng được gặp Phật.”

    Rồi nói bài kệ:

    Nguyện cho các chúng sinh
    Khi nghe tôi bỏ thân
    Thành tựu được thiên nhĩ
    Rốt ráo đạt bồ-đề
    Thân này chứa bất tịnh
    Phần dưới toàn phân dơ
    Từ chín lỗ chảy ra
    Bỏ thân ô uế này
    Nguyện sinh về Tịnh độ
    Một niệm hoa sen nở
    Gặp Phật A-di-đà.

    7. THIỀN SƯ KHẢI

    Vào triều nhà Tùy có thiền sư Khải, ở núi Thiên Thai, người Dĩnh Châu, họ Trần. Trong thời gian giảng kinh Tịnh Danh, một đêm nọ, sư nằm mộng thấy ba bậc thềm báu từ trên không hạ xuống, có mấy mươi phạm tăng cầm hương vào phòng nhiễu quanh sư ba vòng.

    Sư nói:

    Ta từ khi sinh ra đến nay, thường ngồi hướng về phía Tây, niệm danh hiệu Phật A-di-đà, kinh đại Bát-nhã, Bồ-tát Quán Âm và Thế Chí. Sức oai thần đạt được chẳng thể hơn như thế.
    Ta cũng thường thỉnh Quán Âm để sám hối. Từ khi mắc bịnh, ta càng tha thiết nhớ đến Tây phương. Ta nên đi theo Phật về Tây phương.
    Có người đưa thuốc uống đến, sư bảo: “Bịnh không hiệp với thân, tuổi không hiệp với tâm, thuốc há có thể chữa khỏi bịnh sao! Ta sống vất vả vì than mang các khổ, chết vui mừng vì được về nghỉ ngơi. Nay Quán Âm, Thế Chí đến đón ta”. Sư bảo mọi người tụng đề kinh Pháp hoa, rồi đọc kệ khen rằng:

    Đây pháp môn cha mẹ
    Nhờ đó sinh tuệ giải
    Vi diệu khó suy lường
    Ngừng giảng từ hôm nay.

    Sư lại sai tụng kinh Vô lượng thọ, rồi khen rằng:

    Bốn mươi tám lời nguyện
    Cõi tịnh độ trang nghiêm
    Ao sen cùng cây báu
    Dễ đến nhưng không người.

    Sư lại bảo vị duy-na rằng: Bây giờ là lúc ta lâm chung. Hãy đánh chuông lên. Bảo mọi người tăng them chính niệm và giữ yên lặng. Ta sắp đi rồi.

    Nói xong, sư liền qua đời, hưởng thọ sáu mươi tuổi. Hôm đó nhằm ngày 24 tháng 11 năm Khai Hoàng thứ 17 (597). Sư đã lập bốn mươi lăm cảnh chùa, độ bốn nghìn vị tăng, chép mười lăm tạng kinh, tạo hơn mười vạn tượng bằng vàng, bạc và gỗ chiên đàn. Sư còn được gọi là Trí Giả Pháp Không Đại Sư.

    8. TĂNG ĐẠO DỤ

    Vào triều Tùy có sư Đạo Dụ ở chùa Khai Giác chuyên niệm Phật A-di-đà. Sư có tạo tượng Phật A-di-đà bằng gỗ chiên đàn cao ba tấc. Sau đó, Đạo Dụ bỗng nhiên chết qua bảy ngày thì sống lại và kể rằng: “Lúc đầu thấy một hiền giả vãng sinh bên ao báu. Hiền giả ấy nhiễu quanh hoa ba vòng, hoa liền nở ra, vị ấy bước vào ngồi. Tôi cũng nhiễu ba vòng quanh hoa, nhưng hoa không nở. Tôi đưa tay vạch hoa ra, nó liền héo và rụng xuống. Phật A-di-đà bảo: “Ngươi hãy trở về nước kia, sám hối các tội lỗi, tắm gội bằng nước thơm. Khi sao Mai mọc, ta sẽ đến đón ngươi. Vì sao ngươi tạo tượng ta quá nhỏ vậy?” Tôi trả lời: “Tâm lớn thì thấy tượng lớn, tâm nhỏ thì thấy tượng nhỏ”. Tôi vừa nói xong, tượng liền trùm khắp hư không.
    Sau đó, sư liền y theo lời dạy mà tắm gội bằng nước thơm, nhất tâm sám hối, thưa với đại chúng rằng: “Xin hãy niệm Phật cho tôi”.
    Khi sao mọc thì hóa Phật đến đón sư. Ánh sáng chiếu khắp nhà, mọi người đều nghe thấy. Khi ấy, sư qua đời, nhằm năm Khai Hoàng thứ 8 (588).

    9. PHÁP SƯ ĐĂNG

    Vào triều nhà Tùy có pháp sư Đăng ở chùa Hưng Quốc thuộc Tinh Châu giảng kinh Niết-bàn. Tăng tục đến nghe, dù lớn hay nhỏ, đều được sư dạy niệm danh hiệu Phật A-di-đà, và khuyên vãng sinh. Đến năm Khai Hoàng thứ 12 (592), sư qua đời có mùi hương lạ đến nghinh tiếp. Ngày tiễn đưa sư, có mây hương bao phủ khắp làng xóm.

    10. PHÁP SƯ HỒNG

    Vào triều nhà Tùy có pháp sư Hồng, người Tinh Châu, cả đời tinh tấn tu tập, không cầm đến tiền bạc, thường niệm cầu Tịnh độ Tây phương, được thấy Phật A-di-đà. Khi lâm chung, sư thấy đồng tử nam và nữ từ cõi trời Đâu-suất đến đón. Pháp sư nói: “Ta muốn về tây phương, không muốn sinh lên trời”. Nói xong, sư bảo các đệ tử niệm Phật, rồi nói: “Phật ở Tây phương đến đón ta rồi”. Nói xong, sư liền qua đời nhằm năm Nhân Thọ thứ tư (604).

    11. THIỀN SƯ ĐẠO XƯỚC

    Vào triều Đường có thiền sư Đạo Xước, người Tinh Châu, ở chùa Huyền Trung. Sư giảng Quán Kinh đến hai trăm lần, tu tập tam-muội bảy năm và lĩnh hội pháp niệm Phật, tự xỏ tràng hạt, khuyên người niệm Phật, nói thường mỉm cười, chưa từng xoay lưng về hướng tây. Sư nói với Thiện Đạo rằng: “Đạo Xước sợ không được vãng sinh, xin sư nhập định hỏi Phật được không?”

    Thiện Đạo nhập định thấy Phật cao hơn một trăm thước, thưa: “Đạo Xước đang tu niệm Phật tam-muội, không biết khi xả báo thân có được vãng sinh không? Năm tháng nào được vãng sinh?”

    Phật trả lời: “Đốn cây phải luôn tay búa, không duyên đừng cùng nói chuyện, trở về nhà chớ nề hà lao khổ”. Lại dạy Xước sám hối các tội: “Một là đặt kinh và tượng Phật nơi bụi ẩm; phải tự ở yên trong phòng đối trước tượng Phật sám hối. Hai là sai khiến người xuất gia làm việc nặng; phải đối trước mười phương tăng để sám hối. Ba là xây dựng làm tổn thương các loài chúng sinh; phải đối trước chúng sinh mà sám hối.”

    Thiện Đạo hỏi: “Khi Đạo Xước chết có tướng lành gì khiến cho mọi người nghe hoặc thấy không?”

    Phật trả lời:

    -Ngày Đạo Xước chết, ta phóng bạch hào, từ xa chiếu đến phương đông. Khi ánh sáng đó xuất hiện, Đạo Xước sẽ đến nước của ta.
    Quả đúng đến ngày sư chết, có ba luồng bạch hào chiếu sáng trong phòng. Thiện Đạo lại thấy pháp sư Đàm Loan trong ao thất bảo nói: “Tịnh độ đã thành, dư báo chưa hết”.

    Mây tía ba lần hiện trên tháp của sư.

    12. THIỀN SƯ THIỆN ĐẠO

    Vào triều Đường có thiền sư Thiện Đạo họ Chu, người Tứ Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Khi thấy biến tướng Tây phương, sư than rằng: “Bao giờ thân gởi đài sen, tâm trụ nơi Tịnh độ?” Sau khi thụ giới cụ túc, cùng xem Quán Kinh với luật sư Diệu Khai, sư xúc động mà than rằng: “Tu các hạnh nghiệp khác đều là đi đường vòng nên khó thành. Chỉ có tu pháp quán này mới nhất định vượt thoát sinh tử.” Sau đó, hai sư đến gặp thiền sư Xước hỏi: “Có thật là niệm Phật được vãng sinh không?” Đại sư trả lời: “Mỗi người cắm một hoa sen vào bình, tu hành trong bảy ngày nếu hoa sen không héo thì được vãng sinh.”

    Lại có pháp sư Anh ở Đông Đô giảng kinh Hoa nghiêm bốn mươi lần, vào đạo tràng của thiền sư Xước dạo chơi trong tam-muội rồi than rằng: “ Tôi tự hận nhiều năm tìm tòi suông trong văn sớ, chỉ uổng công lao nhọc thân tâm thôi. Đâu ngờ pháp môn niệm Phật là không thể nghĩ bàn!” Thiền sư trả lời: “Kinh chứa toàn những lời thành thật, Phật há nói dối sao!” Thiền sư cả đời thích khất thực, thường tự trách rằng: “Đức Thích-ca còn khất thực, Thiện Đạo là hạng người gì mà ở yên một chỗ mong cúng dường”. Sư không nhận lễ, chép mười vạn quyển kinh A-di-đà, vẽ hai trăm bức biến tướng tịnh độ, thấy tháp miếu sư cũng đều tu bổ. Đạo Phật thịnh hành ở Trung Quốc, lúc ấy chưa có nhiều thiền sư.

    13. PHÁP SƯ HUYỄN

    Vào triều Đường có pháp sư Huyễn, người Tinh Châu. Gặp thiền sư Xước giảng Quán Kinh, sư mới bắt đầu hồi tâm, suốt năm năm chuyên niệm Phật, một ngày một đêm lễ nghìn lạy, niệm Phật bảy muôn lần. Sợ chết nên sư càng thêm tinh tấn. Sư từng mộng thấy Phật Thích-ca cùng bồ-tát Văn-thù khen ngợi kinh Pháp hoa. Sư lại mộng thấy ba con đường đi về phía tây. Đường thứ nhất dành chung cho người thế tục, đường thứ hai có cả tăng và tục cùng đi, đường thứ ba chỉ có tăng. Sư nói đó là những người vãng sinh.

    14. THIỀN SƯ NGẠN

    Vào triều Đường có thiền sư Ngạn, người Kinh Châu, tu nghiệp vãng sinh, thường thực hành Phương đẳng sám. Lúc sư lâm chung, có hai vị bồ-tát Quán Âm và Thế Chí hiện trên hư không. Sư liền mời thợ vẽ nhưng không ai vẽ được. Bỗng nhiên sư cảm được hai người bảo từ Tây Kinh đến muốn viếng Đài Sơn, liền đưa sư một bức tranh vẽ hai vị bồ-tát, rồi đi không để lại dấu tích. Sư bảo đệ tử rằng: “Ai có thể theo ta vãng sinh Tây phương”. Lúc đó, có đồng tử nhỏ nhất thưa: “Con xin đi theo”. Sư liền vào trong đạo tràng ngồi ngay ngắn mà qua đời, hưởng thọ tám mươi tuổi. Hôm ấy là ngày mồng 7 tháng giêng năm Thùy Củng đầu tiên.

    15. THIỀN SƯ ĐẠI HẠNH

    Thiền sư Đại Hạnh người Tề Châu, vào ở trong Thái Sơn, mặc áo cỏ, ăn lá cây, mong đắc Pháp Hoa tam-muội, cảm được bồ-tát Phổ Hiền hiện thân dạy sư niệm Phật A-di-đà. Sư niêm Phật trải qua hai mươi mốt ngày đến đêm nọ bỗng thấy đất bằng lưu ly, mắt tâm thấy suốt Phật khắp mười phương. Sau đó, sư có chút bịnh nằm nghiêng bên hông phải mà qua đời. Sau khi an táng xong, từ quan tài có mùi hương lạ tỏa ra mấy ngày không hết, diện mạo sư giống như lúc còn sống.

    16. THIỀN SƯ TẠNG Ở PHẦN CHÂU

    Thường ngày, mỗi khi sư ra khỏi chùa là đi lễ bái khắp các chùa tháp và không nhận sự lễ bái của tăng tục. Sư lấy việc điều phục tâm để ngăn sáu trần, mỗi niệm đều tỉnh giác không để mất. Sư thường làm việc của tăng thay cho nô bộc, thấy y của tăng dơ rách, sư âm thầm lấy giặt sạch rồi vá. Vào mùa Hạ nóng bức sư cởi áo nằm trên cỏ cho các loài côn trùng như mòng muỗi hút máu. Ngày sư lâm chung, chư thiên tuần tự đến mời đi, nhưng sư không chịu, đợi khi Hóa Phật ở Tịnh độ đến đón, sư mới chịu vãng sanh.

    17. PHÁP SƯ CẢM Ở TRƯỜNG AN

    Sư trú chùa Thiên Phước, thông suốt kinh điển, nhưng lại chưa tin pháp môn Niệm Phật, bèn đến hỏi hòa thượng Thiện Đạo rằng:

    – Việc niệm Phật thuộc pháp môn nào?

    Hòa thượng đáp:

    – Ông cứ chuyên niệm Phật, sẽ tự chứng nghiệm.

    Sư lại hỏi:

    – Thấy được Phật không?

    Đáp:

    – Lời Phật dạy sao còn nghi?

    Sư bèn nhập đạo tràng niệm Phật, tu tập hai mươi mốt ngày mà chưa có ứng nghiệm gì, sư hận mình tội sâu nặng, nên muốn tuyệt thực để bỏ mạng. Hòa thượng ngăn không cho. Sau đó, suốt ba năm sư chuyên tâm niệm Phật, liền được thấy được tướng lông trắng của Phật, chứng được tam-muội. Khi lâm chung được Phật đến đón, sư chắp tay hướng về phía tây mà qua đời. Sư soạn “Vãng sinh quyết nghi luận” 7 quyển để lại đời.

    18. THIỀN SƯ HOÀI NGỌC Ở THAI CHÂU

    Sư họ Cao, sống ở chùa Dũng Tuyền, chỉ dùng thức ăn tự mọc, không do người trồng, không mặc y phục dệt bằng tơ tằm, sám hối hơn vạn vạn lần, tụng kinh A-di-đà và Quán vô lượng thọ ba mươi vạn biến. Sư giữ thời khóa hàng ngày niệm danh hiệu Phật năm vạn lần, phóng sinh rận, bọ chét, thường ngồi không nằm.

    Vào ngày 9 tháng 6 năm Thiên Bảo thứ 6 (*), sư thấy hằng sa thánh chúng tây phương đến, có một vị cầm đài bạc trắng vào từ cửa sổ. Sư nói rằng:

    – Theo lẽ công phu của tôi phải được đài vàng.

    Sư liền tăng thêm niệm Phật thì nghe trên không có tiếng bảo rằng:

    – Viên quang trên đỉnh đầu chiếu sáng khắp hư không.

    Sư bảo các đệ tử rằng:

    – Hãy lui lại, chớ chạm vào ánh sáng ấy

    Đến khi sư lâm chung, ánh sáng ấy càng rực rỡ. Sư bèn nói kệ:

    Thanh tịnh sáng trong không trần cấu
    Hoa sen hóa sinh là cha mẹ
    Ta đã tu hành qua mười kiếp
    Sinh ở Diêm-phù chịu nhiều tội
    Một đời khổ hạnh đã vượt qua
    Mãi thoát ta-bà, về Tịnh độ.

    Nói kệ xong, thấy đài vàng hiện đến, sư mỉm cười mà thị tịch, nhục thân hiện còn ở chùa Dũng Tuyền tại Thai Châu.

    19. SƯ PHÁP TRÍ Ở THIÊN THAI

    Sư chuyên tu pháp môn Niệm Phật, nhưng tính rất thô tháo, không giữ luật nghi. Mọi người thường nói: “Sư sẽ phạm tội Đột-kết-la[12], bị đọa chín trăm năm ở địa ngục”, sư liền tin ngay. Do đó khi nghe kinh nói: “Một lần xưng niệm danh hiệu A-di-đà Phật, sẽ diệt được tội nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp”, sư vào đài Đâu-suất ở chùa Quốc Thanh[13], ngày đêm chuyên niệm Phật. Mọi người bấy giờ không tin. Bỗng nhiên sư từ biệt khắp tăng tục, nói ta sắp vãng sinh, nhờ người thân quen thiết trai một ngày. Đến nửa đêm hôm ấy, sư không bệnh mà chết, có ánh sáng sắc vàng chiếu mấy trăm dặm, gà rừng cất tiếng gáy kinh động, người đi thuyền trên sông bảo là trời đã sáng.

    20. SƯ ĐẠO NGANG Ở TƯƠNG CHÂU

    Sư chuyên giảng dạy kinh Pháp Hoa. Một hôm, sư bỗng thấy các trời trỗi âm nhạc từ không trung đến bảo rằng:

    – Chúng tôi ở cõi trời Đâu-suất xuống để cùng đón ngài.

    Ngang nói rằng:

    – Cõi trời là cội rễ của sinh tử, xưa nay ta không mong cầu. Ta chỉ nhớ nghĩ đến Tây phương thôi.

    Sau đó, sư nghe tiếng nhạc từ Tây phương nghinh đón. Sư lại nói:

    – Có tin đến rồi, không được nán lại lâu.
    Nói xong lư hương rời tay, sư an nhiên thị tịch trên tòa cao.

    21. SƯ HÙNG TUẤN Ở THÀNH ĐÔ

    Sư họ Chu, giỏi giảng kinh thuyết pháp, nhưng không có giới hạnh, sử dụng của cải cúng dường không đúng pháp. Sau đó sư hoàn tục, gia nhập quân đội chém giết, rồi vào trong tăng lánh nạn. Vào niên hiệu Đại Lịch (776), sư thấy Diêm-la vương phán mình vào địa ngục, liền nói lớn rằng:

    – Hùng Tuấn nếu vào địa ngục thì ba đời chư Phật đều nói dối.

    Diêm vương nói:

    – Phật chưa từng nói dối.

    Tuấn bảo:

    – Mục Hạ phẩm hạ sinh kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Nếu người tạo tội ngũ nghịch, lúc lâm chung niệm danh hiệu Phật mười lần còn được vãng sinh.” Tuấn tuy tạo tội, nhưng không phạm tội ngũ nghịch. Nếu nói niệm Phật, tôi đã niệm không thể tính cho hết được.

    Nói xong, sư nương đài vãng sinh Tây phương.

    22. ĐỜI TỐNG, NI SƯ PHÁP TẠNG

    Ni sư ở chùa Kiến Phúc tại Kim Lăng, tu thiền đạt đến chỗ sâu xa, sư thường nói với bạn học là Vân Kính rằng: “Tôi lập thân hành đạo, chí hướng về Tây phương”.

    Một hôm, bỗng ni sư bị bệnh. Lúc đầu, ni sư thấy Phật A-di-đà và các thánh chúng đến thăm. Sau đó, mọi người đều thấy ánh sáng chiếu khắp chùa, hôm ấy ni sư qua đời.

    23. NI TỊNH CHÂN Ở TRƯỜNG AN

    Ni sư trụ ở chùa Tích Thiện, Trường An, suốt đời mặc y bá nạp đi khất thực, không hề sân hận. Ni sư tinh chuyên niệm Phật và tụng kinh Kim Cương đến mười tám ngàn lần.

    Tháng bảy năm Hiển Khánh thứ 5 (660), ni sư bị bệnh, bèn gọi đệ tử đến dạy rằng:

    – Trong 5 ngày ta được thấy Phật A-di-đà mười lần. Ta còn thấy đồng tử dạo chơi trên hoa sen báu ở thế giới Cực Lạc hai lần; lại có thánh tăng năm lần thụ kí ta sẽ làm Phật, và được vãng sinh phẩm thượng.

    Sư ngồi kiết già mà tịch. Đến sáng sư tỉnh lại bảo đệ tử rằng:

    -Ta được quả vị Bồ-tát, đi khắp mười phương để cúng dường chư Phật.

    Ni sư nói xong liền thị tịch, ánh sáng chiếu khắp chùa.

    24. NI PHÁP THẮNG Ở HUYỆN NGÔ

    Ni sư tinh tấn tu tập thiền định và niệm Phật. Ni sư khuyên kẻ đạo người tục đều nên tu Tịnh độ. Khi bị bệnh, ni sư tự biết không thể qua khỏi, lại mộng thấy một vị tăng đến bảo rằng:

    – Bệnh ngươi không qua khỏi, phải chuyên niệm Phật!

    Ni sư lại còn thấy có hai vị tăng mặc áo bày vai, cầm hoa đứng trước giường. Ni sư nói:

    – Có ánh sáng chiếu khắp thân ta.

    Nói xong ni sư liền thị tịch.

    25. NI NGỘ TÍNH Ở LẠC DƯƠNG

    Ni sư ở trước A-xà-lê Chiếu ở Hành Châu phát nguyện niệm Phật muôn lần. Vào năm Đại Lịch thứ 6 (772), ni sư vào Đài Sơn tu tập bỗng bị bệnh. Nghe tiếng nhạc từ trên hư không, ni sư liền bảo:

    – Ta đắc được trung phẩm thượng sinh, thấy những người cùng niệm Phật đều ở trên hoa sen trong cõi Tây phương, thân vàng sáng chói.

    Bấy giờ, vào năm Đại Lịch thứ 24 (890).

    26. NI ĐẠI MINH Ở DUYÊN CHÂU

    Ni sư nghe thiền sư Đạo Xước giảng kinh Vô Lượng Thọ và được dạy cho pháp môn Niệm Phật. Trước khi niệm Phật, ni sư thay y phục sạch sẽ, và súc miệng bằng nước trầm hương. Ni sư giữ thời khóa niệm Phật trong tịnh thất suốt ba, bốn năm không gián đoạn. Khi ni sư lâm chung, mọi người đều thấy trong thất có ánh sáng và mùi hương trầm thủy đến rước.

    27. HAI SA-DI CHÙA KHAI HÓA TINH CHÂU

    Một hôm vị sa-di nhỏ hỏi vị sa-di lớn rằng:

    – Thế nào! Huynh tu Tịnh độ nhé!

    Vị sa-di lớn tuổi hơn vui vẻ đồng ý.

    Thế rồi, hai vị sa-di cùng nhau tu tập trải qua năm năm, thì vị sa-di lớn qua đời, được vãng sinh, đến Tây phương gặp Đức Phật A-di-đà. Sa-di lớn bạch rằng:

    – Con còn một sư đệ đồng tu, chẳng biết có được sinh về đây không?

    Phật dạy

    – Ông nhờ vị sa-di nhỏ khuyên phát tâm niệm Phật mà còn được vãng sinh. Sao lại còn nghi ngờ vị kia? Nay ông trở về Diêm-phù, gắng niệm thêm danh hiệu ta. Ba năm sau, hai người sẽ đồng được đến nơi đây gặp ta.
    Vị sa-di lớn liền được sống lại, thuật rõ lại việc gặp Phật với vị sa-di nhỏ và mọi người. Từ đó hai ông càng chuyên cần tu niệm. Ba năm sau, cả hai vị sa-di đều được tâm khai, nhãn tịnh, đồng thấy Bồ-tát đến đón. Bấy giờ khắp mặt đất rung động, hoa trời rưới khắp hư không. Hai vị sa-di theo nguyện mà đồng thời vãng sinh.

    28. ĐỜI TỐNG, ĐỒNG TỬ A ĐÀM VIỄN

    Đồng tử thọ giới Bồ-tát năm mười tám tuổi, thờ thiền sư Hàm làm thầy, chuyên tu tịnh nghiệp, luôn hướng về Đức Phật A-di-đà để sám hối. Một đêm vào canh tư, bỗng nhiên Đàm Viễn tự niệm tụng, thầy giật mình hỏi. Ngài đáp:

    – Con thấy thân Phật sắc vàng, hương hoa và tràng phan đầy cả hư không, từ phía tây đến.
    Chỉ trong chốc lát Viễn qua đời, có mùi hương lạ trong phòng đến mấy ngày chưa hết.

    29. ĐỒNG TỬ NGỤY SƯ TÁN Ở UNG CHÂU

    Năm đồng tử mười bốn tuổi thờ thiền sư Tĩnh làm thầy, phát tâm niệm Phật ngày đêm không gián đoạn. Vào năm Vĩnh Huy thứ 3 (653), đồng tử bị bệnh mà qua đời. Sau đó bỗng sống lại bảo mẹ rằng:

    – Con thấy Đức Phật A-di-đà ở đây. Con sẽ vãng sinh theo ngài.

    Nói xong, đồng tử qua đời, hàng xóm thấy trên nóc nhà đồng tử có ánh sáng năm màu và ông vọt lên mây, bay về phía tây.

    30. QUỐC VƯƠNG NƯỚC Ô TRÀNH[14]

    Quốc vương nước Ô-tràng khi rỗi việc triều chính, bèn bảo các quan:

    – Trẫm tuy là vua một nước, nhưng không thoát khỏi sự vô thường. Trẫm nghe kinh nói cõi Tây phương Cực Lạc là nơi nên an trụ.
    Từ đó, nhà vua bèn dốc lòng ngày đêm sáu thời tu tập theo pháp môn Niệm Phật. Mỗi ngày đều trỗi nhạc, thiết trai cúng dường một trăm vị tì-kheo. Đích thân nhà vua và hoàng hậu dâng cơm cúng dường chư tăng. Hơn ba mươi năm nhà vua một lòng tinh tấn như thế, không sút giảm. Khi nhà vua lâm chung, sắc mặt vui tươi, thánh chúng từ Tây Phương đến rước và có nhiều điềm tốt hiện ra.

    31. HOÀNG HẬU CỦA TÙY VĂN ĐẾ (581)

    Tuy ở trong cung quyền quý, nhưng bà nhàm chán thân nữ, hàng ngày niệm Phật cầu về Tây phương, đến khi lâm chung có mùi hương lạ từ không tỏa khắp trong cung. Văn Đế ngạc nhiên nên hỏi Xà-đề-tư-na:

    – Đây là điềm lành gì?

    Xà-đề-tư-na đáp:
    – Ở Tây phương có đức Phật hiệu là A-di-đà, phúc nghiệp của hoàng hậu cao dày, được sinh về cõi ấy, nên mới hiện điềm lành này.

    32. ĐỜI TỐNG, LƯU DI DÂN

    Lưu Di Dân làm huyện lệnh Sài Tang và Nghi Xương. Về sau ông nương đại sư Tuệ Viễn ở Lô sơn để tu tập pháp môn Niệm Phật tam-muội. Được nửa năm, ông vào tam-muội thấy Phật phóng hào quang, duỗi tay tiếp dẫn. Từ đó, ông thỉnh Phật cầu tăng chú nguyện cho ông mau xả báo thân sinh về Tịnh độ. Mười lăm năm ông ẩn cư trong Lô sơn, tự biết trước ngày mất, từ biệt mọi người rồi ngồi ngay thẳng mà qua đời, thọ 57 tuổi. Bấy giờ nhằm năm Nghĩa Hy thứ 15 (419).

    33. ĐỜI ĐƯỜNG, QUÁN SÁT SỨ VI CHI TẤN

    Ông lập hạnh từ bi sâu rộng: xây dựng đạo tràng Tịnh độ, niệm Phật A-di-đà, sám hối cầu nguyện vãng sinh, hành bồ-tát đạo, hộ trì Phật pháp, hoằng dương chánh pháp, độ thoát chúng sinh. Vào tháng 6, ông xoay mặt về phía Tây, ngồi kiết-già chắp tay niệm Phật A-di-đà sáu mươi biến, bỗng nhiên qua đời, có mùi hương lạ tỏa khắp nhà, mọi người đều ngửi thấy, và nhiều điềm lành khác.

    34. ĐỜI ĐƯỜNG, NGUYÊN TỬ BÌNH

    Năm Đại Lịch thứ 9 (774) đời Đường, ông ở chùa Quán Âm, Nhuận Châu phát tâm niệm Phật A-di-đà mười ngàn biến. Sau ba tháng, ông bỗng nhiên bị bệnh. Một đêm nghe trong không trung có mùi hương lạ, và tiếng âm nhạc, ông rất vui mừng. Trên hư không lại có người bảo:

    – Nhạc ồn ào vừa dứt, thì nhạc êm dịu trỗi dậy.
    Hôm ấy, ông niệm Phật cả ngày rồi qua đời, được sinh về Tịnh độ, mùi hương lạ lan tỏa suốt mấy ngày mới hết.

    35. ĐỜI TỐNG, NGỤY THẾ TỬ

    Ba cha con Ngụy thế tử đều tu theo pháp Tịnh Độ, chỉ có người mẹ là không tin. Người con gái của thế tử mười bốn tuổi thì qua đời, sau bảy ngày thì trở về báo mộng với mẹ:

    – Con đã thấy cảnh Tây phương, cha cùng anh và con đều đã có đài sen, về sau sẽ được vãng sinh, chỉ riêng mẹ là không có. Nay con tạm trở về báo cho mẹ biết.

    Sau đó người mẹ nghe lời con, hàng ngày niệm Phật, cuối cùng bốn người đều được vãng sinh.

    36. ĐỜI ĐƯỜNG, TRƯƠNG NGUYÊN

    Ông là người ở kinh đô, bẩm tính chính trực, mỗi ngày đều niệm Phật. Vào giờ thìn, ngày 3 tháng 6 năm Khai Hoàng thứ 2 (589), ông bảo người nhà làm một bữa cơm chay để đãi các vị thánh hiền. Thọ trai xong ông, đốt hương hướng về Tây phương nhất tâm niệm Phật mà mất. Khi đưa ông đến huyệt mọi người ngửi thấy mùi hương lạ và thấy ánh sáng rực trên mộ.

    37. NGƯỜI HẰNG CHÂU ĐỜI TÙY

    Hàng ngày ông dùng hạt đậu để đếm số lần niệm Phật. Sau khi đủ ba mươi sáu, ông cúng dường trai phạn, đầy ba mươi thạch. Sau khi thọ trai, vui mừng khen việc dùng đậu niệm Phật và đem số đậu ấy chia cho mọi người thụ trai. Bấy giờ, hai vị bồ-tát Quan Âm, Thế Chí hóa làm hai vị sư thân hình tiều tụy đến khất thực. Ông trả lời: “Đệ tử mong vãng sinh Tây phương, không gì làm trở ngại được. Hai sư đến khất thực khiến tâm nguyện con thêm sâu chặt”. Sau khi ăn xong, hai vị sư biến mất, chỉ ngửi mùi hương lạ. Cùng lúc ấy, ông bay trên hư không ra đi. Bấy giờ nhằm tháng 9 năm Khai Hoàng thứ 8 (589).

    38. TRƯƠNG CHUNG QUỲ

    Ông làm nghề buôn bán gà. Năm Vĩnh Huy thứ 9, lúc lâm chung, ông thấy phía nam nhà mình có bầy gà đang chen chúc, bỗng nhiên thấy một người mặc áo đỏ đen xua gà và hô to rằng: “Mổ mắt!” Bầy gà đó bốn lần bay lên mổ vào hai mắt ông ta chảy máu đầy giường. Đến giờ dậu có sư Hoằng Đạo ở chùa Thiện Quang chuyên niệm Phật đến bảo đặt tượng Phật trước mặt và niệm Phật A-di-đà. Bỗng nhiên có mùi hương lạ, ông bình thản qua đời.

    39. NGƯỜI MỔ TRÂU BÒ Ở PHẦN CHÂU

    Khi lâm bệnh nặng, ông thấy nhiều trâu bò đến vây sát thân mình. Ông bảo vợ: “Hãy mời chư tăng đến cứu ta!” Khi chư tăng đến, ông ấy nói: “Thầy tụng kinh thấy tội nặng như đệ tử có cứu được không?” Vị sư trả lời: “Trong Quán kinh nói: Khi lâm chung niệm mười tiếng còn được vãng sinh. Phật đâu có nói dối!” Ông vui mừng, liền niệm Phật. Chốc lát sau, bỗng nhiên có mùi hương lạ tỏa khắp nhà, ông liền qua đời. Mọi người đều ngửi thấy mùi hương lạ và nhìn thấy mây lành phủ kín trên nhà ông ấy.

    40. PHÒNG TRỨ Ở ĐẠI CHÂU

    Ông từng khuyên một người già niệm Phật, và người ấy được sinh Tây phương. Về sau, Phòng Trứ vào cõi U minh gặp vua Diêm-la và được thả về dương thế. Vua Diêm-la nói: “Ngươi sẽ sinh về Tịnh độ”. Trứ nói: “Tôi nguyện tụng kinh Kim Cương một vạn lần và kính lễ Ngũ Đài Sơn. Tâm này chưa toại nên chưa muốn vãng sinh”.

    41. VỢ CỦA ÔN VĂN TĨNH

    Bà người Tinh Châu, bệnh nằm liệt giường. Chồng bảo cô: “Em hãy niệm Phật A-di-đà”. Cô bèn niệm Phật không ngừng, liền thấy cõi Phật. Sau đó, cô bảo chồng: “Hãy giúp em thiết trai cúng dường. Em sắp vãng sinh Tây phương”. Thiết trai xong, cô dặn chồng nỗ lực niệm Phật rồi qua đời.

    42. ÔNG BÀ HAI NGƯỜI THÔN ƯỚC SƠN, TÙY CHÂU

    Hiểu rõ lí khổ không, vào ngày 29 mỗi tháng hai ông bà thỉnh hai thầy đến nhà hướng dẫn niệm Phật. Khi thiết trai, bà tự dâng cơm, ông hỏi: “Sao không sai người làm?” Bà trả lời: “Mấy khi có thể được tự làm, nếu bảo người khác làm thì họ hưởng hết phúc”. Đến khi hai ông bà lâm chung, ánh sáng chiếu khắp nhà, nửa đêm mà sáng như ban ngày.

    43. ĐỆ TỬ NỮ HỌ LƯƠNG Ở HẠO CHÂU

    Cô Lương mù cả hai mắt. Từ khi được một vị tăng dạy khuyên niệm Phật A-di-đà, cô niệm Phật suốt ba năm không ngừng thì hai mắt mở ra được, mọi người trong thôn đều biết việc này. Khi lâm chung cô thấy Phật và Bồ-tát đều đến rước. Sau khi cô qua đời, mọi người cùng nhau xây tháp thờ. Người qua lại đều cung kính, nam nữ cả quận ấy đều hồi tâm niệm Phật.

    44. ĐỆ TỬ NỮ HỌ BÙI

    Giữa năm Trinh Quán (627), được vị tăng dạy niệm Phật, cô Bùi dùng hạt đậu để đếm số. Khi niệm đủ mười ba thạch, cô tự biết nơi sẽ sinh. Cô liền từ biệt hết thảy những người thân, mặc đồ đúng như pháp, niệm Phật mà qua đời, được vãng sinh Cực Lạc.

    45. BÀ PHẬT TỬ HỌ DIÊU NGƯỜI THƯỢNG ĐÔ

    Giữa năm Trinh Quán (627) nhờ bà Phạm khuyên, bà bèn niệm Phật A-di-đà. Khi lâm chung thấy Phật, Bồ-tát đến đón, bà thưa: “Con chưa từ biệt bà Phạm. Thỉnh Phật tạm trụ trên không trung chờ con”. Lát sau, bà Phạm đến, bà liền bưng lư hương thản nhiên qua đời.

    46. VỢ CỦA TRƯƠNG VĂN XÍ

    Bà họ Tuân, phát tâm niệm Phật, vừa tròn hai năm. Một hôm, bà mộng thấy có vị tăng ở trước ao sen bảy báu liền bạch Phật: “Con bẻ một cành sen cho một người nữ thì có tội không?”. Câu nói vừa dứt, cảnh tượng liền tan biến. Ngày bà ấy xả báo thân, có mùi hương lạ tỏa khắp nhà, bà liền được vãng sinh Tây phương.

    47. ÔNG GIÀ HUYỆN PHẦN DƯƠNG, TINH CHÂU

    Ông thường tụng kinh A-di-đà. Năm Trinh Quán thứ 5 (632), ông mang theo lúa đến mượn một phòng trống ở chùa Pháp Nhẫn để nghỉ ngơi và niệm Phật. Lúc ông lâm chung có luồng ánh sáng rực rỡ chiếu khắp phòng, hướng mặt về phía tây mà qua đời, dáng như bước lên đài sen mà đi.

    48. THIỆU NGUYỆN BẢO Ở UNG CHÂU
    Ông phát tâm niệm Phật âm thanh không dứt, tự tu sám hối. Một đêm nằm mộng thấy bò kéo đài sen báu đến. Ông mắng con bò và nói: “Không phải đài này”. Ông liền niệm ba quyển kinh A-di-đà, niệm Phật một trăm tiếng. Con bò mới hoan hỷ kéo đài vàng đến. Bấy giờ, ông bay lên hư không mà vãng sinh.

    Trích Vãng Sanh Tịnh Độ Cảm Hiện Điềm Lành
    Nguyên tác Hán văn: Đời Đường, sa-môn Văn Thẩm, Thiếu Khương soạn
    Việt dịch: Tì-kheo Vạn Thiện, Đồng Hội, Vạn Ngộ
    Hiệu đính: Tì-kheo Thích Nguyên Chơn
    Biên tập: Chúc Đức

    [1] Cao tăng truyện 高僧傳: còn gọi là Lương cao tăng truyện, mười bốn quyển, Thích Tuệ Kiểu dịch vào đời Lương.

    [2] Vãng sinh luận 往 生 論: tên khác của vô lượng thụ kinh Ưu-bà-đề-xá nguyện sinh kệ. Còn gọi là Tịnh độ luận.

    [3] Lô sơn 廬山: tên núi, ở Cửu Giang Hà Nam, tỉnh Giang Tây, đứng cao sừng sững ở Bà Dương Hồ, bờ sông Tràng Giang.

    [4] Hổ khê 虎溪: tên suối, ở trước chùa Đông Lâm, Lô sơn , Cửu Giang Hà Nam, tỉnh Giang Tây. Tương truyền pháp sư Tuệ Viễn ở đây, khi tiễn khách không qua khỏi suối, nếu qua khỏi thì liền kêu lên, cho nên gọi là Hổ khê.

    [5] Tạ Linh Vận 謝 靈 運 (358~433): nhà văn học nổi tiếng thời Lưu Tống. Ông họ Trần, người Quận Dương Gia (tỉnh Hà Nam), tự Tuyên Minh. Cháu của Xa kị tướng quân Tạ Huyền. Đời gọi là Tạ Khương Nhạc, thuở nhỏ hiếu học, hiểu biết sâu rộng, giỏi thư pháp và hội họa, văn chương trác tuyệt, làm quan ở Giang Tả.

    [6] Lưu Di Dân 劉遺民 (352~410): là hành giả tu pháp môn Tịnh độ đời Đông Tấn, người Bành Thành (Giang Tô Đồng Sơn), tên Trình Chi, tự Trọng Ân.

    [7] Đào Ẩn 陶隱, tức Đào Hoằng Cảnh. Khi Đào Ẩn ở Cú Khúc sơn, có trồng cây tùng trước sân, mỗi khi nghe gió thổi đến cây tùng, ông rất vui. Gặp ở Đào Hoằng Cảnh, Truyện Ẩn Dật quyển hạ, Nam sử.

    [8]Thủy quán 水觀: một trong mười sáu phép quán, rút ra trong kinh Quán vô lượng thọ. Còn gọi là Thủy tưởng quán, Thủy tướng quán.

    [9] Phương đẳng sám 方等懺: thực hành phương đẳng tam-muội mà sám hối tội chướng của sáu căn. Còn gọi Phương đẳng tam-muội, Phương đẳng sám hối.

    [10] Biến tướng địa ngục 地獄變相: biến là biến hiện, tùy theo căn cơ mà biến hiện ở địa hay Cực lạc, gọi là biến tướng.

    [11] Chu Võ 周武: tức Chu Võ vương “Chiêu công năm thứ tư, Tả Truyện”: “ Chu Võ có lời thề cấp phát lương thực ở Mạnh Tân”.

    [12] Cát-la tội 吉羅罪: gọi đủ là Đột-cát-la tội, tội nói lời xấu, làm việc xấu.

    [13]Quốc Thanh Tự 國清寺: còn gọi là Thiên đài sơn cổ sát, ở phía nam của đỉnh Phật lũng, núi Thiên đài, tỉnh Chiết Giang.

    [14] Ô-Tràng 烏場: Ô-trường: cũng gọi là Ô-trà, Ô-trượng-na (S: Udyàna). Trung quốc dịch là vườn, tức vườn của vua A-thâu-ca. Dịch âm Ô-tràng, Ô-trà đều sai. Đây là một nước thuộc Bắc Ấn (Đại Đường Tây Vực Ký, quyển 2)



    TRUYỆN NGƯỜI NIỆM PHẬT VÃNG SANH CỰC LẠC

    1. Thiên chúng đến đón chẳng đi

    Ðại sư Tăng Tạng đời Ðường, người xứ Tây Hà. Tuổi nhỏ xuất gia, nép mình thờ người, hết thảy cung kính, chẳng từ lao khổ. Thấy tăng y của người khác liền giặt giũ giùm, rồi lại vá chằm. Ngày nắng gắt, sư cởi áo ngồi trong đám cỏ để thí máu thịt cho các loài muỗi, ve.

    Hằng ngày, ngài niệm Phật hiệu chẳng cần ghi số, chỉ nhớ rõ trong tâm, chưa hề thiếu sót. Ðến khi báo tận, thấy chư thiên theo thứ tự đến đón, ngài đều chẳng theo. Ngài chợt bảo mọi người:

    – Vừa về Tịnh Ðộ, thấy các thượng thiện nhân rải hoa trên không.

    Rồi chắp tay niệm Phật mà hóa.

    (theo Cao Tăng Truyện, tập 3)

    * Ðại sư Thiện Ngang đời Ðường, người Ngụy Quận. Chí kết Tây Phương, nguyện sanh An Dưỡng. Sau ngài ngụ tại chùa Báo Ứng, biết đã đến lúc bèn bảo trước những người hữu duyên: đầu tháng Tám sẽ chia tay. Ðến kỳ, ngài lên tòa cao, lư tỏa mùi hương lạ, dẫn tứ chúng thọ Bồ Tát giới, dạy dỗ những điều thiết yếu. Chợt thấy thiên chúng rộn ràng, đàn sáo véo von. Ngài bảo đại chúng:

    – Trời Ðâu Suất Ðà đến đón ta; nhưng Thiên đạo chính là căn bản sanh tử, chẳng phải chỗ ta ước mong. Lòng thường mong sanh về Tịnh Ðộ, nguyện này chẳng được thỏa hay sao?

    Nhạc trời bỗng bặt tiếng. Từ trời Tây, hương, hoa, âm nhạc vùn vụt kéo đến, xoay quanh trên đỉnh đầu, toàn thể mọi người đều thấy. Sư bảo:

    – Nay tướng lành Tây Phương đến đón. Ta đi đây.

    Nói xong liền tịch, thọ sáu mươi chín tuổi.

    (theo Cao Tăng Truyện, tập hai)

    Nhận định:

    Lúc lâm chung, tứ đại chia lìa là lúc nào vậy? Chư Thiên lần lượt đến đón là cảnh nào đây? Nếu chẳng phải là bậc tín nguyện kiên cố thì ngay trong lúc đó, đối trước cảnh ấy làm sao cưỡng làm chủ tể nổi? Ðây đúng thật là gương sáng thiên cổ cho những kẻ tu Tịnh nghiệp vậy. Nếu không, một phen sanh lên trời sẽ lại đọa trong luân hồi. Xin đừng lầm tin ngoại đạo cầu sanh Thiên Quốc.

    2. Lấy việc lợi lạc chúng sanh làm đầu

    Ðại sư Tự Giác đời Ðường, người xứ Bác Lăng. Xuất gia từ nhỏ, học Kinh, Luật, Luận siêng năng suốt cả chín năm, kinh luận nào cũng đều hiểu sâu sắc. Sau ngài trụ tại Trùng Lâm Sơn Viện trong núi Bình, nhặt quả, hái rau, ngày chỉ ăn một bữa, phát tâm đúc tượng đức Ðại Bi Quán Âm và dựng chùa Phật.

    Gặp lúc đại hạn, tiết độ sứ xứ Hằng Dương là ông Trương thỉnh ngài cầu mưa. Ngài kiền thành khẩn cáo long thần, mưa to liền đổ xuống. Do đó, thí chủ chen nhau tụ về, đúc được tượng cao bốn mươi sáu thước, chùa cũng dựng xong.

    Ngài liền đối trước đàn, thệ nguyện nương nhờ Thánh lực sớm sanh Tịnh Ðộ. Chợt thấy hai đạo kim quang: A Di Ðà Phật và hai vị Ðại Sĩ từ trong quang minh giáng xuống, xòe tay sắc vàng xoa đầu sư, bảo:

    – Giữ nguyện chẳng đổi, lấy việc lợi sanh làm đầu. Sanh chốn ao báu mặc tình thỏa nguyện.

    Về sau, chợt thấy thần nhân đứng trong mây hiện nửa thân, bảo:

    – Thời kỳ sư quy Tây đã đến rồi!

    Ngài liền ngồi xếp bằng trước tượng Quán Âm mà hóa.

    (theo Cao Tăng Truyện, quyển 3)

    Nhận định:

    Phàm những việc như: tạo tượng, lập chùa, cầu mưa lợi người v.v… đều là những trợ duyên cho Tịnh nghiệp. Ðem những việc ấy hồi hướng Tây Phương. Do làm được như vậy nên Phật dạy: “Giữ nguyện chẳng đổi, lấy việc lợi sanh làm đầu”. Nếu như ngài chẳng có mật hạnh niệm Phật, làm sao cảm được đức Phật đến xoa đầu?

    3. Kết xã khích lệ lẫn nhau

    Ðại sư Tạo Vi Tỉnh Thường đời Tống là Tổ thứ bảy của Liên Tông. Ngài họ Nhan, người huyện Tiền Ðường. Bảy tuổi xuất gia, mười bảy tuổi thọ Cụ Túc Giới. Ngài lấy việc kiên trì giới luật, chuyên xưng danh hiệu, phát Bồ Ðề tâm, kết xã để khích lệ lẫn nhau làm chánh nhân Tịnh Ðộ.

    Ngài trụ tại chùa Chiêu Khánh ở Hàng Châu, hâm mộ di phong Lô Sơn của Tổ Huệ Viễn nên thành lập Tịnh Hạnh Xã. Trong nhóm sĩ phu dự hội có quan Tướng Quốc Văn Chánh Vương Công Ðán v.v… một trăm hai mươi người đều xưng là Tịnh Hạnh Ðệ Tử, còn Tăng thì có đến một ngàn vị đồng tu Tịnh nghiệp.

    Ngài cắt máu chép kinh phẩm Tịnh Hạnh của kinh Hoa Nghiêm. Mỗi ngày chép một chữ, ba lạy, nhiễu ba vòng, ba lượt xưng danh hiệu Phật. Chép được ngàn quyển, thí cho ngàn người. Ngài dùng chiên đàn hương khắc tượng Phật Vô Lượng Thọ, quỳ trước tượng, phát nguyện:

    – Con cùng đại chúng bắt đầu từ ngày hôm nay trở đi phát Bồ Ðề tâm. Cho đến cùng tột đời vị lai, hành hạnh Bồ Tát. Nguyện hết một báo thân này sẽ sanh An Dưỡng

    Một hôm, trong lúc ngồi nghiêm trang niệm Phật, ngài chợt kêu to: “Phật đến rồi!”, tự nhiên hóa. Ðại chúng thấy đất đều có màu vàng ròng. Sư thọ sáu mươi hai tuổi.

    (Theo Phật Tổ Thống Ký)

    Nhận định:

    Kết xã khích lệ lẫn nhau đúng là tự lợi, lợi tha. Nhưng để thực hành được điều này trong hiện tại, phải có bậc hữu đức thống suất đại chúng cộng tu, rất kỵ nam nữ hỗn tạp. Nếu không có được cơ duyên như vậy thì chẳng bằng đóng cửa tiềm tu, so ra còn dễ tinh tấn hơn!

    4.Chuyên tâm niệm Phật

    Ðại sư Hám Sơn Trừng Ấn Ðức Thanh đời Minh, là con nhà họ Thái ở Kim Lăng. Năm mười chín tuổi xuất gia, chuyên tâm niệm Phật, mộng thấy Phật A Di Ðà hiện thân trên không, quang tướng phân minh.

    Từ đấy, thánh tượng sáng rực rỡ luôn hiện diện trước mắt ngài. Sau ngài đến Ngũ Ðài tu Ðịnh, phát minh được bổn tâm sẵn có. Ngài cắt máu chép kinh Hoa Nghiêm, mỗi một nét bút hạ xuống là một câu niệm Phật. Lâu dần, động tịnh hệt như nhau.

    Sau ngài ẩn cư trong Lao Sơn là chỗ bọn ngoại đạo sanh sống. Thoạt đầu, chẳng có ai nghe đến danh hiệu Tam Bảo, nhưng lâu sau, ai nấy đều biết niệm Phật. Lý Thái Hậu hạ lệnh chở vàng đến dựng chùa, ban tấm biển đề tên chùa là Hải Ấn. Vua giận dữ, sai đầy ngài đi Lôi Châu. Nhân đấy, ngài trùng hưng tổ đình Tào Khê.

    Về sau, ngài được vua hạ chiếu tha cho về, bèn kết am trong Lô Sơn, tu Tịnh Nghiệp càng thêm chuyên gắng. Ngài đột ngột đi về Tào Khê, thị hiện bịnh nhẹ, tắm gội, thắp hương, bảo đồ chúng rằng:

    – Hãy nghĩ tới việc lớn sanh tử, vô thường mau chóng.

    Ðoan tọa mà tịch, có quang minh chiếu rực tận trời, thọ bảy mươi tám tuổi, nhục thân hiện vẫn còn.

    (theo Mộng Du Tập)

    Nhận định:

    Thánh tượng thường hiện, động tịnh nhất như thì đúng là tu hành Tịnh Nghiệp thật tinh cần. Vì chẳng chứng đắc chút ít đã cho là đủ nên nhục thân của ngài tồn tại vĩnh viễn. Xét ra, ắt ngài phải sanh trong Thượng Phẩm Thượng Sanh nơi Thật Báo Tịnh Ðộ hoặc Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ trong thế giới Cực Lạc.

    5. Bỏ Thiền tu Tịnh

    Ðại sư Ngẫu Ích Trí Húc đời Thanh là Tổ thứ chín của Liên Tông. Ngài họ Chung, người Ngô Huyện. Lúc tuổi trẻ, tự lấy việc học Nho làm trách nhiệm, viết sách bác Phật. Ðến khi ngài đọc được tác phẩm Trúc Song Tùy Bút của tổ Vân Thê bèn đốt những sách mình đã viết.

    Năm hai mươi tuổi, nhân đọc kinh Ðịa Tạng bèn phát chí xuất thế, hằng ngày tụng danh hiệu Phật. Năm hai mươi bốn tuổi, nghe pháp sư Cổ Ðức giảng kinh, nghi tình chợt phát, dụng tâm tham cứu, chứng ngộ rỗng rang. Ngài liền bế quan ẩn tu ở Ngô Giang. Bị bịnh gần chết, ngài mới nhất ý cầu sanh Tịnh Ðộ.

    Lúc bịnh giảm chút ít, ngài bèn kết đàn trì chú Vãng Sanh bảy ngày. Sau đấy, ngài ẩn tu tại Linh Phong, trước thuật những tác phẩm xiển dương Tịnh Ðộ được lưu truyền rộng rãi.

    Ngài chợt thị hiện có bịnh, dặn dò sau khi trà tỳ hãy đem tro ngài hòa với bột đem thí cho các loài chim, cá để chúng được kết duyên Tây Phương. Sau đó, khi bịnh đã khỏi hẳn, ngài bèn ngồi xếp bằng, hướng về Tây, giơ tay lên mà tịch, thọ năm mươi bảy tuổi.

    Ba năm sau, mở khám đựng nhục thân của ngài ra, tóc đã mọc dài phủ tai, vẻ mặt vẫn như lúc sống; môn nhân chẳng nỡ tuân theo di mạng nên lập tháp thờ ở Linh Phong.

    (theo Linh Phong Tông Luận)

    Nhận định:

    Gặp lúc bịnh gần chết mới bỏ Thiền tu Tịnh. Sách Niệm Phật Trực Chỉ viết:

    “Tinh tấn là chẳng vì chút bịnh duyên nhỏ hay lớn mà biếng nhác cái hạnh. Nếu như bị túc nghiệp sai sử thì nên tụng Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Ðắc Sanh Tịnh Ðộ Ðà Ra Ni. Trì một lần, diệt được tất cả các tội: ngũ nghịch, thập ác nơi thân. Trì được ba mươi vạn biến, quyết sẽ sanh về Tịnh Ðộ”.

    Kinh Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Ðắc Sanh Tịnh Ðộ Thần Chú có nói:

    “Nếu tụng được chú này thì A Di Ðà Phật thường ngự trên đảnh người ấy, ngày đêm ủng hộ chẳng để cho oán gia có dịp hãm hại. Hiện đời thường được an ổn; lúc mạng sắp hết, tùy ý vãng sanh”.

    Vì thế, lúc ngài vừa bớt bịnh liền kết thất trì chú bảy ngày. Những người ham Thiền Tịnh Song Tu hãy bắt chước ngài lấy việc chuyên tu làm trọng.

    6. Làm việc nặng vẫn niệm Phật không gián đoạn

    Ðại sư Cụ Hạnh Nhật Biện thời Dân Quốc, người huyện Hội Lý ở Vân Nam. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải đi ở rể nhà họ Tăng ở Diêm Nguyên, sanh được hai con trai. Nhà nghèo, ngài phải làm thuê cho Chúc Thánh ở núi Kê Túc. Năm hai mươi mốt tuổi, ngài dẫn cả nhà tám người xin đi xuất gia, thọ Cụ Túc.

    Hòa Thượng Hư Vân dạy ngài tu pháp môn Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Ðộ. Ngài bèn dứt bỏ các duyên, nhất tâm hệ niệm. Ngài tai điếc, mặt mũi xấu xí, không biết chữ, ngày trồng rau, đêm lễ bái, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Rảnh rỗi thì tập tịnh tọa, học khóa tụng và các kinh điển, tự siêng gắng hết sức. Sư vừa đi tham bái tứ đại danh sơn trở về đất Ðiền (Vân Nam), gặp lúc ngài Hư Vân trùng hưng chùa Vân Thê, hỏi:

    – Thầy đã đi thăm quyến thuộc chưa?

    Sư thưa:

    – Con chẳng bận tâm đến họ.

    Hòa Thượng lại hỏi:

    – Thầy tính làm gì?

    Thưa:

    – Những việc nặng nhọc nhất không ai chịu nổi, con sẽ gánh vác.

    Phàm là những việc nặng như đắp tường, lợp nhà, trồng rau, trồng cây, vác đá, đào đất, quét tước, nấu nướng, ngài đều làm không lúc nào ngơi tay, nhưng không một khắc nào để câu niệm Phật bị gián đoạn.

    Khi đêm xuống, vào lúc chỉ tịnh, ngài bèn lễ các kinh Kim Cang, Dược Sư, các kinh Tịnh Ðộ; cứ một chữ là một lạy. Tảng sáng, hồng chung vừa gióng, đã lên điện tham dự khóa tụng như thường, chưa hề ngủ nghỉ. Ngài tự vá áo, hoặc chằm vá áo giùm bạn đồng tham, mỗi một mũi kim là một câu Phật hiệu.

    Trong kỳ hạn kết giới, được thỉnh làm Tôn Chứng, ngài bèn bán y, đem hết tiền mua sắm vật dụng để thiết trai cúng dường đại chúng. Hỏi ngài sẽ đi đâu, chỉ cười không nói. Giới đàn hoàn tất, ngài ngầm lên điện sau cùng, ngồi xếp bằng, hướng về Tây niệm Phật, dùng lửa tự thiêu, thọ ba mươi sáu tuổi. Hình trạng vẫn như lúc sống, mùi hương lạ lan tận ra xa.

    Ðại chúng tranh nhau đến xem, vừa đánh khánh, di thể ngài chợt sụp xuống, hóa thành tro.

    (theo Hư Vân Hòa Thượng Niên Phổ)

    Nhận định:

    Một chữ chẳng biết, nhưng lúc làm công việc nặng nhọc chưa hề gián đoạn niệm Phật. Chúng ta là những kẻ biết chữ đọc được sách, nếu cứ lơi là để uổng phí ngày tháng trôi qua há chẳng biết thẹn chăng?

    Nhưng tự thiêu là chưa đắc tam muội. Chớ nên manh nha vọng niệm như vậy để khỏi bị ma dựa phát cuồng, vĩnh viễn đọa trong ác đạo!

    7. Xả Quán niệm Phật

    Ðại sư Huệ Tam Tư Nguyên thời Dân Quốc, người huyện Uyển Bình tỉnh Hà Bắc. Năm mười bảy tuổi xuất gia. Ít lâu sau, thọ Cụ Túc, vào học trường Phật Giáo Học Hiệu tại tỉnh An Huy, nghiên cứu tinh tường nội điển.

    Ngài nhận trách nhiệm trụ trì chùa Sùng Thọ và Quảng Thiện ở Bắc Kinh. Ngài kiến lập, hưng khởi đạo tràng Hoa Nghiêm. Trước giờ Ngọ mỗi ngày, ngài tụng kinh Hoa Nghiêm. Cuối năm, ngài kết Hoa Nghiêm Phật Thất, lãnh đạo đại chúng huân tu pháp Chơn Không Pháp Giới Quán; từng đốn nhập Pháp Giới Ðịnh. Sau khi khai tịnh, mới ngộ được hư không pháp giới lý sự vô ngại, pháp hỷ tràn đầy, khen là chưa từng có.

    Từ đấy, ngài càng thêm tinh tấn, tu Quán chẳng lùi. Tháng Mười Một năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy (1948), ngài đến Ðài Loan lúc bốn mươi tám tuổi, lãnh trọng trách giảng dạy tại Phật Học Viện chùa Viên Quang ở Trung Lịch. Năm sau, ngài đến Sở Giảng Dạy Học Tập Phật Học ở Tân Trúc giảng dạy Phật giáo, đồng thời giảng kinh ở chùa Nhất Ðồng suốt bảy năm.

    Sư thường sống tại các chùa ở Ðài Bắc, Nội Hồ, Nam Ðầu… để giảng kinh, độ chúng không đếm nổi. Năm năm mươi lăm tuổi, ngài sáng lập chùa Phước Huệ trên núi Linh Sơn ở xã Thọ Lâm, Ðài Bắc. Mỗi năm, vào tháng Bảy, ngài lập pháp hội Ðịa Tạng kéo dài bảy ngày, truyền U Minh Giới một lần. Mỗi năm, tại Ðài Loan, khi truyền tam đàn đại giới và giới tại gia, sư thường được suy cử vào một trong tam sư. Cả cõi âm lẫn dương gian đều được lợi, pháp hóa lợi ích vô cùng!

    Năm sáu mươi sáu tuổi, sư lại càng thêm thường tinh tấn, hằng khóa niệm Phật mỗi ngày là ba vạn câu. Năm tám mươi tuổi liền bắt đầu niệm Phật, tọa thiền cộng tu, và khởi xướng nghĩa chẩn cứu dân nghèo và thí thuốc trong khuôn viên nhà chùa; sáng lập thư viện để mọi người đến đọc sách; đề xướng, lo liệu việc giảng giải, học hỏi Phật học. Hạnh lẫn giải càng thêm sâu, phước huệ song tu.

    Sư từng đáp ứng lời thỉnh sang Mỹ hoằng pháp, qua Ðại Hàn truyền giới, người thọ giới lên đến hơn năm ngàn người. Giữa trưa ngày mồng Tám tháng Bảy năm Dân Quốc 75 (1986), sau khi dùng cơm, sư chợt nói:

    – Ta muốn đi đây!

    Liền triệu tập tất cả đệ tử trong chùa, dặn dò:

    – Sau khi ta mất, các con nên hợp tác với nhau.

    Sau bữa cơm chiều, ngài không bịnh gì, đang đứng mà hóa, thọ tám mươi sáu tuổi.

    (theo tạp chí Từ Vân số 126)

    Nhận định:

    Ðại Sư mỗi ngày tụng kinh Hoa Nghiêm, tu Chơn Không Quán, từng nhập Pháp Giới Ðịnh, từ đấy tu Quán chẳng lui sụt. Ðến năm sáu mươi tuổi, bắt đầu mỗi ngày hằng khóa niệm Phật ba vạn tiếng; đấy là bỏ Quán niệm Phật.

    Từ năm tám mươi tuổi trở đi, chợt lại tọa Thiền, niệm Phật cộng tu. Ðấy là tuổi già tịnh tọa niệm Phật, chứ chẳng phải là Thiền Tịnh Song Tu. Không bịnh, đang đứng mà hóa, nhất định phải là Thượng Phẩm Thượng Sanh.

    8. Chuyên cầu thoát khổ

    Thời Dân Quốc, một người phụ nữ nghèo ở huyện Từ Khê tỉnh Triết Giang, không biết họ, nhà nghèo, con ngỗ nghịch. Một ngày nọ bị con mắng nhiếc, tâm đau đớn, khó nhẫn, đến than thở với vị Tăng ở gần nhà. Vị Tăng bảo:

    – Bà đã biết khổ; sao chẳng đem cái khổ ấy bán đi?

    Hỏi:

    – Làm sao bán được đây?

    Tăng bảo:

    – Bà chuyên niệm A Di Ðà Phật cầu sanh Tây Phương. Lâm chung Phật đến tiếp dẫn đi thì vĩnh viễn thoát khỏi các nỗi khổ, chỉ hưởng các sự vui. Ðấy là bán khổ đi đó!

    Bà nói:

    – Mẹ con tôi sống chung một phòng. Giường và bếp kê chung một chỗ. Dưới gầm giường có chuồng heo. Bẩn thỉu như vậy làm sao niệm Phật được?

    Tăng bảo:

    – Không hề chi, bà sống tại gia thì chỉ cốt sao thường niệm, lúc rảnh có thể đến chùa lễ Phật.

    Bà liền phụng hành đúng như lời dạy, chuyên cầu thoát khổ, niệm Phật không gián đoạn. Ba năm sau, trước lúc sắp lâm chung vài tháng, bà nói trước với con:

    – Ngày tháng đó ta sẽ sanh Tây Phương. Ngươi đừng có đi ra ngoài, vì ta lo liệu hậu sự để trọn đạo làm con.
    Người con chẳng tin; ít lâu sau, bà nhắc lại cũng chẳng tin. Vài ngày trước khi mất, chợt ngửi thấy mùi hương lạ, tìm khắp nơi chẳng biết từ đâu ra, mới tin lời mẹ là thật. Ðến kỳ, cả nhà trông chừng, thấy mẹ tắm gội, thay áo, ngồi ngay ngắn niệm Phật qua đời.

    (theo Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục)

    Nhận định:

    Dùng cái tâm sợ khổ để niệm Phật là pháp mầu nhiệm bậc nhất để thoát khổ. Nếu chẳng phải là nhà nghèo, con ngỗ nghịch, tâm đau buồn khó chịu đựng nổi thì làm sao cam tâm chuyên cầu thoát khổ niệm Phật sanh Tây? Thuận, nghịch đều là phương tiện; nghịch cảnh còn thù thắng hơn thuận!

    9. Dụng công mãnh liệt

    Cư sĩ Tiền Dực Sơn tự Vạn Dật đời Thanh, người huyện Thường Thục, làm nghề nấu rượu, thích chè chén. Ít lâu sau, ông tu Tịnh nghiệp, tận lực sửa đổi lề thói cũ, tránh sát sanh, dứt rượu thịt, khuyên mẹ ăn chay trường niệm Phật.
    Một người con của ông bịnh lao, niệm Phật qua đời, mọi người phỉ báng, ông vẫn thờ Phật như cũ. Vợ mất, ông vẫn điềm nhiên, cự tuyệt người khuyên tục huyền:

    – Có con nhưng nó đã mất rồi, tôi cưới vợ nữa để làm gì? Chí tôi xuất thế, lẽ nào còn thèm thuồng có người nối dõi ư?

    Nhà cửa bị lửa cháy, ông hướng lên không, nguyện:

    – Nghiệp của tôi đáng bị lửa cháy, chỉ xin đừng làm tổn hại đến nhà hàng xóm.

    Lửa tắt, quả nhiên nhà hàng xóm vô hại. Ông chợt mắc bịnh thổ huyết, tâm sanh tử càng thiết tha, niệm Phật càng mạnh mẽ. Ðến lúc bịnh nguy kịch, ăn vào là ói ra ngay. Người chú là Tạ Phượng Ngô kể chuyện cổ đức nhịn ăn để thấy Phật, ông vui vẻ bảo:

    – Có phương cách tiện lợi lớn như vậy, tôi phải dũng mãnh làm theo!

    Ông liền tắm gội, đến trước bàn Phật, thắp hương, phát thệ: giữ trai giới bảy ngày, bỏ tiền phóng sanh cầu sanh Tịnh Ðộ. Ðêm ngày niệm Phật chẳng sót, có khát chỉ ăn dưa mà thôi. Có người hỏi: “Cả đêm chẳng ngủ, chẳng mệt mỏi hay sao?” Ông nói:

    – Chẳng ngủ có lợi là niệm Phật được nhiều. Lúc tôi chưa bịnh chẳng được an nhàn; nay do bịnh mới được nhàn, đúng là lúc phải dốc sức, làm sao còn mệt nhọc được?

    Hết kỳ hạn, thần thức hôn loạn, ông cả sợ, chắp tay đặt trên gối, ra lệnh đốt ngón tay. Ông Tạ nói:

    – Lúc này, ngươi phát nguyện ấy thì cũng giống như đã đốt ngón tay rồi, chẳng bằng nhất ý cầu về Tây Phương thì hơn.

    Ông liền nhắm mắt niệm Phật, lúc đầu còn miễn cưỡng, sau do dụng công mạnh mẽ, dần dần thần chí an định. Lại được mười mấy người trợ duyên, tiếng niệm Phật liên tục suốt ngày đêm. Ông chợt thấy Tây Phương Tam Thánh hiện tiền, quang minh, tướng hảo, toan cất thân lên kim đài; chợt nghe trên không có tiếng nói:

    – Thân ông chưa sạch!

    Ông liền sai lấy nước thơm tắm gội xong, Tam Thánh hiện như cũ, liền bảo người nhà rằng:

    – Tôi đã đến được Tịnh Ðộ, thấy vô số hoa sen, tôi ngồi trên đó, sướng chẳng thể nói nổi!

    Ông chỉ vào thân mình bảo:

    – Ðây chẳng phải là thân ta!

    Một lát, lại bảo:

    – Phật đông nghẹt cả nhà!

    Ngồi hướng về Tây, qua đời, thọ ba mươi tám tuổi.

    (theo Tục Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục)

    Nhận định:

    Ðoạn được rượu thịt là tham độc đã hết. Bị cười chê chẳng đoái hoài là sân độc đã hết. Con chết, vợ mất vẫn điềm nhiên là ái căn đã đoạn. Cự tuyệt lời khuyên lấy vợ lần nữa, chẳng mong có người nối dõi là si độc đã hết.

    Vì vậy, gặp phải nghịch cảnh, ông vẫn có thể chẳng thối thất cái tâm ban đầu; dù bịnh tật khổ sở vẫn giữ vững chánh niệm. Dù vì nghiệp chướng hiện tiền khiến thần thức hôn loạn, ông vẫn có thể dụng công mạnh mẽ, lại được trợ duyên nên nhanh chóng cảm được tướng tốt lành là đài vàng, thần hồn ngao du cõi Sen, thật đáng làm gương vậy!

    10. Trợ niệm đắc lực

    Cư sĩ Dương Liên Hàng thời Dân Quốc, người huyện Dư Diêu tỉnh Triết Giang. Nhà nghèo, làm nghề buôn bán. Nghe lời ông Ðồng Giác Hàng tu Tịnh nghiệp, lâu ngày đối với giáo nghĩa giải ngộ siêu quần.
    Ông tham dự Liên Xã niệm Phật. Vì bị bịnh nên lại sát sanh, dần dần xa lìa các liên hữu. Sau bịnh nguy kịch, liên hữu bảo ông ắt phải chết. Tự xét mình không thể nào qua nổi, ông hoảng sợ, hối hận, bèn gắng sức đến trước Phật, tận tình bày tỏ, dốc lòng thành sám hối, lại giữ Ngũ Giới, thề chẳng tái phạm.

    Từ đấy trở đi, ông buông bỏ vạn duyên, quét sạch ái dục, nhất tâm thầm niệm Phật hiệu đợi lúc lâm chung. Liên hữu biết công năng trì danh của ông nông cạn nên trước hết vì ông thỉnh người trợ niệm. Hai ngày sau, liên hữu cũng trợ niệm. Ông chợt thấy thần khí thanh sảng, mộng thấy quang minh. Ðến canh hai, liên hữu sắp ra về, chẳng biết rằng đến lúc đó, việc trợ niệm đã có hiệu lực. Ông liền bảo:

    – Tôi chưa đến được Tây Phương, xin liên hữu lớn tiếng niệm Phật trợ niệm suốt đêm, đừng để lỡ!
    Mọi người lại cao giọng niệm Phật, lại luôn luôn khích lệ ông. Chợt ông mỉm cười bảo:

    – Tôi nay đã đến Tây Phương rồi, hoa sen đẹp quá! Ao báu đẹp quá! Quang minh đẹp quá!

    Mắt ông nhìn chăm chú vào tượng Phật mà qua đời. Mọi người vẫn trợ niệm đến khi thân ông đã lạnh mới thôi, chẳng cho người nhà khóc than. Ðến trưa hôm sau, đảnh đầu ông vẫn còn ấm, thọ ba mươi tuổi!

    (theo Cận Ðại Vãng Sanh Truyện)

    Nhận định:

    Công phu trì danh nông cạn mà được vãng sanh là do sức liên hữu trợ niệm. Trợ niệm khẩn yếu như thế đó. Xin hãy đề xướng rộng rãi. Nếu như không có liên hữu thì xin hãy dùng băng niệm Phật để trợ niệm, tạm dùng làm phương tiện cũng có thể được hưởng đại lợi vãng sanh vậy!

    11. Giác chiếu niệm Phật

    Cư sĩ Phạm Dụng Hòa tự Nguyên Lễ đời Thanh, người huyện Tiền Ðường. Lúc nhỏ học Nho, thờ cha mẹ rất có hiếu. Lúc cha mẹ bịnh, trước sau, ông đã cắt thịt bắp tay hòa với thuốc trị lành bịnh cho cha.

    Bước vào tuổi tráng niên, cha mẹ mất, vợ chết, ông từ bỏ trần duyên, tu tập huyền công (cách tu hành của Ðạo giáo) hơn mười năm, đạt chút linh nghiệm. Về sau, ông đọc những tác phẩm của ngài Vân Thê có phần tỉnh ngộ, bèn thọ Tam Quy, Ngũ Giới, nhất chí kiên trì, thậm chí những thứ làm bằng lông thú, dệt bằng tơ tằm, ông chẳng hề khoác vào thân. Bỏ hết những điều mình đã tu tập, chuyên tu Tịnh nghiệp. Ông ham làm lành, thí thuốc, phóng sanh, giúp đỡ người nghèo, chẳng nề nhọc mỏi. Gặp Tăng chúng nghèo bịnh, ông liền cúng dường chẳng thiếu gì.

    Về sau, ông bế quan niệm Phật suốt trăm ngày. Lúc hơi thở ông vừa trở nên yên tịnh thì cách tu huyền thuật trước kia chợt hiện ra, nhận thấy khí Thiên Ðịa cuồn cuộn, mù mịt trong không trung xông thẳng vào miệng, mũi, chạy thẳng vào huyệt Ðan Ðiền, hòa hợp với nguyên khí của chính mình, [cảm thấy] khinh an chẳng thể diễn tả nổi. Giây lát, có một đứa bé cao mấy tấc từ đảnh đầu vọt ra, lãng đãng trước mặt; được một chốc, nó lại theo đảnh đầu trở vào.

    Từ đấy trở đi, mỗi khi đến lúc hết sức tịch tịnh, vong niệm thì liền có đứa bé bước ra, trở vào như trên. Thoạt đầu, ông rất vui; lúc sau, ông chợt nghĩ:

    – Ðây há chẳng phải là năm mươi thứ Ấm Ma như đã nói trong kinh Lăng Nghiêm đó ư? Nếu cho là kỳ đặc thì sẽ bị lạc vào quần ma! Niệm Phật chí tại Tây Phương, thánh cảnh chẳng hiện, sự này ích chi?

    Ngay khi đó, ông liền giác chiếu, chánh niệm hiện tiền, đứa bé chẳng xuất hiện nữa. Ðối với yếu chỉ Duy Tâm, ông khế ngộ sâu xa; Tín – Hạnh – Nguyện lực càng thêm thuần thục. Thường bảo với mọi người rằng:

    – Ðối với cửa ải hiểm yếu bậc nhất trong cuộc đời này nếu có chút phần chẳng rõ thì sẽ lạc vào bàng môn. Vì vậy, tu hành chẳng thể không thận trọng vậy!

    Chợt ông kết liễu mọi việc, dặn dò, từ biệt bè bạn, ngồi niệm Phật qua đời. Lúc liệm, đảnh đầu vẫn còn nóng, thọ sáu mươi ba tuổi.

    (theo Nhiễm Hương Tục Tập)

    Nhận định:

    Từng tu tập huyền công của ngoại đạo, nguyện thường giác chiếu nên khỏi bị đọa vào bàng môn. Chánh niệm hiện tiền, quần tà tự diệt.

    12. Mật hạnh tinh tấn

    Cư sĩ họ Trần đời Thanh, không rõ tên là gì, là chú họ của các ông Thế Anh, Mậu Tài ở huyện Thường Thục. Mỗi sáng dậy, ông thắp hương yên lặng tụng kinh, niệm Phật. Dù gió, mưa, lạnh, nóng đều chẳng gián đoạn. Suốt mấy năm như thế người nhà chẳng hay vì ông hành mật hạnh.

    Trước khi mất ba tháng, ông tự bảo đã đến lúc sắp mất, người nhà thấy ông không bịnh tật gì nên không tin. Ba ngày trước khi mất, ông thị hiện bịnh nhẹ, vẫn đi đứng như thường. Ðến ngày, ông tọa hóa, người nhà kêu khóc; ông bèn mở mắt, dạy sơ lược vài lời, rồi nói: “Ta đi đây!” Lại yên lặng, thân bốc ra mùi hương lạ ba ngày mới hết.

    (theo Vãng Sanh Cận Nghiệm Lục)

    Nhận định:

    Cổ nhân mật hạnh, dù nóng hay lạnh chẳng gián đoạn, dù là người nhà cũng chẳng hay biết. Nay thì hành nhân rêu rao khoe mẽ nhưng một ngày nóng mười ngày lạnh, cho nên người niệm Phật thì nhiều mà kẻ vãng sanh lại ít. Hãy dè dặt, hãy thận trọng

    Trích trong Niệm Phật Thập Yếu của Tịnh nghiệp đệ tử Dịch Viên Mao Lăng Vân cung kính kết tập

    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  8. #8
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Kinh sách là để ĐỌC - HIỂU rồi THỰC HÀNH... chứ không phải để đem ra tụng la làng cả nhà cả xóm, cũng không phải để gõ cóc cóc beng beng để chứng tỏ mình... tu!

    Mỗi ngày, nếu quá bận rộn, chỉ cần dành ra 30' - 1h để lấy kinh sách ra đọc. Đọc một câu rồi thì tư duy, nghiền ngẫm xem Phật dạy cái gì, rồi thực hành. Chứ không phải xách cuốn kinh ra bàn thờ ngồi "trả bài" cho Phật, thì gọi là Tu!

    "Kinh điển Ta dạy cho Nó nghe
    Nào ngờ Nó tụng, bắt Ta nghe
    Tuổi già tám mươi ngồi gì nổi
    Đọc lâu mỏi mệt sụm bánh chè" (HT.Thích Từ Thông)

    => Quan trọng là cái giữ GIỚI, vì nó là hàng rào bảo vệ cho người hành giả tránh được các bất thiện pháp chưa sanh, cũng như làm tiêu trừ nó nếu nó đã sanh. Giữ GIỚI làm cho thiện pháp chưa sanh được trổ sanh, thiện pháp đã sanh được sung mãn. Giới không giữ được thì dù có niệm Phật thụt lưỡi, lạy Phật đến liệt người, ngồi thiền chai đít như đít khỉ thì cũng không ăn thua gì hết!


  9. #9

    Mặc định



    LỢI ÍCH KHI NIỆM PHẬT (tập 1)

    Người giảng: Lão pháp sư Tịnh Không

    Thời gian: ngày 23 tháng 06 năm 2003

    Giảng tại: Học Viện Tịnh Tông Úc Châu

    Phần 1

    Xin chào các vị đồng tu!

    Hôm qua chúng tôi từ Tuyết Lê Newsaque trở về, hôm nay đã nghỉ hết một ngày, buổi tối chúng ta họp mặt với các đồng tu đàm luận mấy vấn đề tu học Phật pháp. Những vấn đề này phần nhiều đều là thuộc về sơ học, cho dù là lão tu cũng luôn xem thường, cho nên gọi là “tập nhi bất sát”. Đợi đến khi có người hỏi đến chúng ta, thì có không ít người không biết phải trả lời thế nào. Học viện của chúng ta là học viện của Tịnh Tông, xem hình thức là biết nội dung, chúng ta là chuyên tu Tịnh Độ. Tịnh Độ cũng gọi là tịnh nghiệp, chuyên tu tịnh nghiệp, nếu có người hỏi bạn, mười phương chư Phật quá nhiều quá nhiều, vì sao các người chỉ niệm Phật A Di Đà? Vì sao chỉ chuyên niệm A Di Đà Phật mà không niệm các Phật khác? Tôi hỏi thử các vị, mọi người các vị ai có thể giải thích được vấn đề này rõ ràng? Mười phương Phật rất nhiều, vì sao các vị chuyên niệm A Di Đà Phật? Vì sao các vị không niệm mười phương chư Phật? Có người nào có thể trả lời hay không?

    Trả lời đơn giản nhất, chính là chiếu theo trên kinh A Di Đà đã nói. Thích Ca Mâu Ni Phật ở trong kinh A Di Đà đã bốn lần khuyên bảo chúng ta niệm A Di Đà Phật. Kinh A Di Đà có thể làm chứng minh là Phật dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, chúng ta thuận theo lời giáo huấn của Thích Ca Mâu Ni Phật niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đây là đáp án rất đơn giản, rất dễ dàng. Thế nhưng vấn đề của người ta vẫn chưa được khai mở ra, vì sao Thích Ca Mâu Ni Phật muốn khuyên chúng ta niệm A Di Đà Phật? Không chỉ Thích Ca Mâu Ni Phật, mà chúng ta thấy ở trong kinh Vô Lượng Thọ và Kinh A Di Đà là mười phương tất cả chư Phật Như Lai đều khuyên mọi người niệm A Di Đà Phật, đó là ý gì vậy? Nếu như bạn muốn hiểu vũ trụ, chúng ta gọi là vũ trụ, ở trong Phật pháp gọi là pháp giới, nếu như chân thật hiểu được rõ ràng chân tướng của vũ trụ nhân sanh rồi thì bạn liền biết được tất cả chư Phật vì sao bảo chúng ta niệm A Di Đà Phật. Cho nên đây là một vấn đề lớn, không phải là vấn đề nhỏ. Các vị có đọc qua ở trong kinh đại thừa hay không? Hình như trong khóa tụng sớm tối đã có, trong 88 vị Phật có Pháp giới Tàng thân A Di Đà Phật, cái ý này đã nói rõ rồi. A Di Đà Phật là tên gốc của pháp giới tất cả chư Phật, danh hiệu của tất cả chư Phật là biệt hiệu của Ngài, A Di Đà Phật là tên gốc của các Ngài, cho nên gọi pháp giới tàng thân.

    Vì sao nói A Di Đà Phật là tên gốc của tất cả chư Phật? Cái danh hiệu này là dịch âm ra từ tiếng Phạn, dịch thành ý nghĩa theo tiếng Trung Quốc là vô lượng, “A” dịch là Vô, “ Di Đà” dịch là Lượng, Phật dịch là Trí, dịch là Giác. A DI Đà Phật nghĩa là vô lượng trí, vô lượng giác. Các vị thử nghĩ xem, vị Phật nào không là vô lượng giác, vô lượng trí? Đó là tên gốc của Phật. A Di Đà Phật cùng với Phật Tỳ Lô Giá Na, ý nghĩa rất gần nhau, thế nhưng không hề giống nhau. Tỳ Lô Giá Na cũng là tên gốc của tất cả chư Phật, ý nghĩa của nó là biến khắp tất cả, còn A Di Đà là dùng vô lượng trí biến khắp tất cả, vô lượng giác biến khắp tất cả. Khi bạn vừa hợp lại xem thì ý nghĩa rất là rõ ràng, chúng ta phải thông hiểu hàm nghĩa chân thật của danh hiệu Phật.

    Cho nên tất cả chư Phật khuyên chúng ta niệm A Di Đà Phật vì A Di Đà Phật cũng chính là tên gốc của tự tánh chính chúng ta. Việc này trên kinh đại thừa Phật thường nói, “tất cả chúng sanh hữu tình đều có Phật tánh”. Vô tình chúng sanh, vô tình ngày nay chúng ta gọi là thực vật và khoáng vật, có pháp tánh. Phật tánh cùng pháp tánh là một tánh, không phải là hai tánh, đây là tên gốc của tánh đức. Thế Tôn ở trong hội Hoa Nghiêm nói với chúng ta, “tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng Như Lai”. Tất cả chúng sanh là bao gồm chúng ta trong đó, chúng ta vốn dĩ là Phật, mỗi một người vốn dĩ là Phật, vốn dĩ là A Di Đà Phật, vốn dĩ là Tỳ Lô Giá Na Phật, xin nói với bạn, hiện tại vẫn là vậy. Chẳng phải các vị thường thấy trên kinh đã nói là tự tánh Di Đà? Tự tánh Di Đà mỗi người chúng ta đều có phần, vì sao vậy? Mỗi người chúng ta vốn dĩ vô lượng trí, vốn dĩ có vô lượng giác, trí giác của chúng ta chiếu khắp mọi nơi, vốn dĩ chính là như vậy, cho nên trên kinh Hoa Nghiêm và Duyên Giác kinh nói tất cả chúng sanh vốn dĩ thành Phật. Thế nhưng lời nói này Phật không thường nói, vì sao vậy? Sợ người ta nghe không hiểu sanh ra hiểu lầm nên Phật rất ít giảng. Thế nhưng đây là lời thật.

    Vì sao hiện tại biến thành phàm phu? Vì bạn mê rồi. Mê rồi thì thế nào? Mê rồi thì bạn ngu si, bạn không có trí tuệ, bạn cũng không giác, mê mất tự tánh, chính là mê mất tự tánh A Di Đà, mê mất tự tánh Tỳ Lô Giá Na, sự việc chính là như vậy. Mê rồi thì làm phàm phu. Cảnh giới của giác ngộ, cảnh giới của Phật, cảnh giới của giác ngộ là thế giới Cực Lạc, cảnh giới của giác ngộ là thế giới Hoa Tạng, sau khi mê rồi thì đem Cực Lạc, đem Hoa Tạng biến thành đời ác năm trược hiện tại của chúng ta. Sự việc chính là như vậy. Thế nên hiện tại Thế Tôn dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, tất cả chư Phật dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, đó là ý gì vậy? Dạy chúng ta dùng phương pháp này để làm cho tự tánh hồi phục lại. Giống như một người chúng ta đang ngủ ngon, mê hoặc điên đảo, một câu A Di Đà Phật làm cho chúng ta tỉnh lại. Sau khi tỉnh rồi mới biết được chính mình vốn dĩ là A Di Đà Phật, chính mình vốn dĩ là Tỳ Lô Giá Na. Thế nhưng chúng ta mê đã quá lâu, mê đã quá nặng, ngày ngày đang niệm vẫn là không thể tỉnh, vậy thì phải làm sao?

    Những chư Phật Như Lai đã giác ngộ rồi, đã thức tỉnh rồi sẽ giúp đỡ cho bạn. Thế giới Tây Phương Cực Lạc, Bồ Tát Pháp Tạng thành Phật ở thế giới Cực Lạc chính là A Di Đà Phật ngày nay, Ngài phát tâm giúp đỡ chúng ta. Ngài nói với chúng ta, chỉ cần đầy đủ tín tâm, tin sâu nguyện thiết, tin sâu nguyện thiết chính là tâm Bồ Đề, lại thêm “một lòng chuyên niệm”, chính là một phương hướng, một mục tiêu, chuyên niệm A Di Đà Phật, vậy thì liền có thể giúp được cho bạn. Cho nên một câu A Di Đà Phật là từ tâm địa của chúng ta mà sanh khởi, niệm ra từ nơi miệng, dùng cách nói của khoa học hiện đại là sóng âm. Các vị thấy tiến sĩ Giang Bổn Thắng của Nhật Bản, phòng nghiên cứu của ông chính là phòng nghiên cứu sóng âm, tâm khởi lên một ý niệm, đó là sóng âm của tâm. Tốc độ của sóng âm của tâm thì tất cả hiện tượng sóng âm của vật chất đều không thể bì kịp, ý niệm trong tâm vừa sanh khởi thì sóng âm này lập tức biến khắp hư không pháp giới, nhanh hơn nhiều so với ánh sáng. Ánh sáng một giây mới đi được 30 vạn dặm, từ địa cầu phát ánh sáng lên đến mặt trời phải mất hơn tám phút, cái cự ly này không xa, rất gần. Thế nhưng ý niệm của chúng ta vừa khởi, cái sóng âm lập tức biến khắp hư không pháp giới, không có tốc độ nào có thể so sánh kịp. Chư Phật dạy chúng ta, chúng ta khởi tâm động niệm, niệm một câu A Di Đà Phật thì ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, A Di Đà Phật lập tức liền nhận được tín hiệu này, chúng ta liền bắt tín hiệu được với Phật. Ngài nhận được tin tức rồi, Ngài cũng có hồi âm. Có hồi âm mà chúng ta không hề biết, vì sao chúng ta không biết vậy? Hiện tại máy móc này của chúng ta quá già quá cũ rồi, không nhạy bén nữa, không được linh mẫn như Ngài. Cho dù sóng âm có nhỏ đến đâu, Ngài cũng đều có thể nhận được. Máy móc của chúng ta vì sao không linh vậy? Phật nói với chúng ta, bởi vì chính chúng ta có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đã làm chướng ngại sáu căn của chúng ta. Căn tánh sáu căn có ba loại chướng ngại này, đó là chướng ngại lớn, cho nên hồi âm của chư Phật chúng ta không nhận được.

    Đến lúc nào thì chúng ta có thể nhận được? Đó là tu định, bạn có được sức định sâu. Cái gì gọi là sức định? Chính là bạn buông bỏ được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Khi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước ít đi rồi, tác dụng của sáu căn liền linh mẫn, hồi âm của A Di Đà Phật bạn liền có thể nhận được, bạn có thể thấy được Phật, bạn có thể nghe được thinh âm của Phật nói pháp, mũi có thể ngửi được bảo hương của thế giới Cực Lạc, thân có thể cảm xúc được gió nhẹ của thế giới Cực Lạc. Thế giới Tây Phương Cực Lạc cách với chúng ta rất xa, các vị đã nghe qua báo cáo của cư sĩ Chung Mao Sâm, đó là khoa học hiện đại phát hiện, ông báo cáo qua cho chúng ta ba sự việc.

    Việc thứ nhất, thời gian cùng không gian không phải là thật, việc này ở trên kinh Phật giảng nói rất rõ ràng, thời gian cùng không gian là sự vận hành không tương ưng. Sự vận hành không tương ưng chính là khái niệm trừu tượng, không phải sự thật. Hiện tại khoa học gia chứng thực, ở trong một điều kiện nào đó thì không gian không có. Khi không gian không còn nữa thì là không có xa gần, xa gần không còn nữa. Khi xa gần không còn nữa thì Phật A Di Đà ở đâu vậy? Phật A Di Đà ở ngay đối diện với chúng ta, không có xa gần, cho nên chúng ta xem thấy được rất tường tận, Ngài nói chuyện chúng ta nghe được rất thông suốt, mùi hương của thế giới Cực Lạc chúng ta ngửi được rất rõ ràng, mọi thứ đều rất phân minh, không có xa gần. Không những không có xa gần, thời gian cũng là giả, ở trong một điều kiện nào đó thì thời gian cũng không có. Khi thời gian không có, chính là không có quá khứ, không có vị lai, con người chúng ta có thể trở về quá khứ, cũng có thể bước vào tương lai. Đây là việc thứ nhất mà hiện tại khoa học đã chứng minh, cùng với Kinh Điển đã nói là hoàn toàn giống nhau. Cho nên thời gian và không gian đều là từ huyễn tướng của vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà sanh ra, cái huyễn tướng này biến thành chướng ngại rất lớn.

    Phát hiện thứ hai, đó là cái “có”. Tất cả vạn vật từ do đâu mà ra? Trong không sanh có. Khoa học gia hiện tại đã phát hiện, có là từ trong không mà ra, từ trong không mà có lại trở về với không, có lại quay về với không. Phát hiện này thực tế mà nói, họ vẫn chưa có thể nói được tường tận. Trên kinh Lăng Nghiêm, Phật nói rất rõ ràng là “ngay chỗ sanh ra, tùy chỗ diệt tận”. Ngay chỗ sanh ra, cái chỗ đó là không, không có thứ gì, từ trong không nó liền sanh ra có, tuy là sanh ra có liền lập tức quay về lại với không, trên kinh Lăng Nghiêm giảng nói rất tường tận. Báo cáo nghiên cứu của họ đem đến ở chỗ tôi đây, tôi lập tức liền biết được, không một chút gì kinh ngạc.

    Việc thứ ba chính là nói khởi nguồn của vũ trụ, hư không, thế giới, tinh cầu, sinh mạng, vạn vật từ do đâu mà ra? Thực tế ra mà nói, chính là từ trong không mà sanh ra có. Báo cáo gần đây nhất của khoa học, từ trước đều nói là vụ nổ lớn, vụ nổ lớn này là do thứ gì làm nổ ra vậy? Hiện tại họ đã tìm ra được cái điểm của vụ nổ. Việc này vẫn là từ nơi lý luận mà suy diễn ra, trên thực tế không cách gì tìm ra. Họ nói cái nguyên điểm vụ nổ lớn của vũ trụ bao lớn vậy? Các vị nghe báo cáo của tiến sĩ Chung đều biết, ông nói cái nguyên điểm là rất nhỏ, nhỏ đến mức chúng ta không thể tưởng tượng được. Ông nêu ra một thí dụ, đây là thí dụ của khoa học gia nêu ra, tóc của chúng ta thì rất nhỏ, cái sợi tóc này sau khi bạn cắt xuống, bạn cắt lấy một đoạn, cắt một đoạn tóc là cắt ngang, không phải cắt dọc, mặt bằng ở trên đầu sợi tóc là tròn, đường ngang của mặt tròn này có thể xếp cái nguyên điểm của vũ trụ này. Có thể xếp được bao nhiêu cái nguyên điểm của vũ trụ? Một trăm vạn ức ức ức cái, phía sau có ba cái ức. Chỉ là một đường ngang của đầu sợi tóc mà xếp được một vạn ức ức ức cái nguyên điểm, cái nguyên điểm này nổ ra chính là nổ vũ trụ.

    Sự việc này ở trên kinh Hoa Nghiêm chúng ta đã giảng rất nhiều lần, kinh Hoa Nghiêm nói trong vi trần có thế giới, thế giới không lớn, vi trần không nhỏ. Vi trần mà trên kinh Hoa Nghiêm đã nói, có thể chính là nguyên điểm mà khoa học gia đã nói. Trên mặt bằng của đầu sợi tóc có thể đặt một trăm vạn ức ức ức cái nguyên điểm. Cái nguyên điểm này nhà Phật giảng là vi trần. Ai có thể vào được thế giới vi trần? Bồ Tát Phổ Hiền, trên Kinh Hoa Nghiêm chúng ta xem thấy Bồ Tát Phổ Hiền có thể vào được. Bồ Tát Phổ Hiền là Bồ Tát gì vậy? Là Đẳng Giác Bồ Tát. Việc này nói với bạn, khi bạn chứng được Đẳng Giác Bồ Tát thì bạn liền có thể bước vào nguyên điểm của vũ trụ, “ngay chỗ sanh ra, tùy chỗ tận diệt”, cho nên ông nói nó là một nguyên điểm của vụ nổ. Hiện tại vũ trụ vẫn đang mở rộng, khi nổ ra đã biến thành vũ trụ, bao gồm sinh mạng, tất cả vạn vật, đều là do đây mà ra.

    Hôm đó tôi hỏi tiến sĩ Chung, tôi hỏi ông nó nổ ra lúc nào vậy? Vũ trụ này của chúng ta đã nổ ra từ lúc nào vậy? Ông không nói ra được. Tôi nói tôi biết được, kỳ thật việc này tôi đã nói qua rất nhiều lần rồi, nếu như các vị thật nghe hiểu rồi, những vấn đề này của khoa học khi vừa hỏi bạn, bạn liền có đáp án ngay. Vừa rồi tôi cũng đã nói qua, trên kinh Lăng Nghiêm nói “ngay chỗ sanh ra, tùy chỗ diệt tận”, trên kinh Nhân Vương nói với chúng ta, một khảy móng tay có 60 sát na, một sát na có 900 sanh diệt, cái sanh đó chính là hiện, diệt chính là quay về, ngày nay chúng ta xem thấy cái hiện tượng này là hiện tượng gì vậy? Tướng tiếp nối tướng, cho nên trên kinh Kim Cang giảng là “tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ cũng như điện, nên quán thấy như vậy”. Vũ trụ này tất cả hiện tượng không phải là chân thật, “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Nó nổ được quá nhanh, lập tức liền tiêu mất, cái thứ hai lại nổ, cái nguyên điểm đó là vô lượng vô biên, không biết được là có bao nhiêu. Cái nguyên điểm đó là gì vậy? Khoa học gia nói không ra. Phật không hề nói.

    Phật tuy là không nói nguyên điểm của vũ trụ, nhưng chúng ta biết được đó là thứ gì? Là chủng tử trong A Lại Da Thức, Phật nói, chủng tử của A Lại Da Thức không có hình tướng, nếu như có hình tướng thì tận hư không khắp pháp giới cũng không thể dung nạp được. Hiện tại họ tính nguyên điểm, cái điểm nhỏ như vậy cùng bằng với hư không. Bạn xem, mặt bằng trên đầu sợi tóc có thể xếp một trăm vạn ức ức ức cái nguyên điểm, ngày nay công cụ khoa học cao minh hơn, đều không cách gì quan sát được. Vì sao vậy? Nếu bạn đem cái nguyên điểm này phóng to ra một trăm vạn ức ức ức lần, bạn vẫn là xem không thấy, cần phần cộng thêm một lần nữa thì bạn mới thấy cái nguyên điểm này nó là bao lớn, cũng giống như trên đầu tóc nhỏ như vậy thôi. Đó là cảnh giới không thể nghĩ bàn, đó là chân tướng của vũ trụ mà trên kinh Phật đã nói. Khoa học gia hiện tại tuy là từ trong số học tính đếm ra được, nhưng vẫn là không cách gì quan sát được, bởi vì gần như không dễ gì đem một sợi tóc phóng to vuông vứt đến một trăm vạn ức ức ức lần. Nếu phóng to được như vậy thì bạn mới có thể xem thấy cái điểm đó giống mặt bằng trên đầu tóc cắt ra, chỉ lớn bằng như vậy thôi.

    Chúng ta biết tiến sĩ Giang Bổn Thắng xem kết tinh của nước trong kính hiển vi, chỉ có 250 lần quan sát kết tinh nước. Bạn muốn quan sát vi trần, trên kinh Phật gọi là vi trần, khoa học gia gọi là nguyên điểm của vũ trụ, kính hiển vi đó có thể phóng to được bao nhiêu lần? Một trăm vạn ức ức ức mét vuông thì bạn mới có thể xem thấy được, nếu không thì bạn sẽ không thể xem thấy được. Khoa học kỹ thuật cao đến như vậy, hiện tại trên thế giới này của chúng ta chưa có, cho nên đây là “thực tướng các pháp”. Bồ Tát Đẳng Giác tường tận, rất tự tại, nguyên điểm cũng có thể vào được. Điều này nói với chúng ta, không có lớn nhỏ, đó là tự tánh biến hiện, không có lớn nhỏ, nguyên điểm không nhỏ, vũ trụ không lớn, không có xa gần, không có trước sau. Không có xa gần thì không có cự ly, không có trước sau thì không có quá khứ hiện tại vị lai. Ngày nay chúng ta gọi là không gian thời gian, đến lúc đó tất cả đều bằng không, đó là chân tướng.

    Chúng ta học Phật không gì khác hơn, chủ yếu chính là phải hiểu rõ chân tướng này. Nếu chúng ta muốn ở trong chân tướng này mà sống, đó chính là cảnh giới của Phật, cái cảnh giới này chính là thế giới Cực Lạc mà trên kinh đại thừa đã nói, chính là thế giới Hoa Tạng mà trên kinh đại thừa nói. Chúng ta chính mình nếu muốn tu hành chứng được cảnh giới này là khó! Quá khó! Rất khó! Vì sao vậy? Nếu bạn đem phiền não tập khí của chính mình đoạn được sạch sẽ vắng lắng, kiến tư phiền não, trần sa phiền não, vô minh phiền não đều đoạn hết không phải là việc dễ dàng. A Di Đà Phật, một vị Phật hiện tại ở thế giới Cực Lạc, Ngài chân thật là đại từ đại bi, đã giúp chúng ta rất nhiều. Phiền não của chúng ta không cần đoạn, chỉ cần niệm danh hiệu của Ngài, danh hiệu này cũng giống như sóng điện từ vậy, chúng ta dùng phương pháp này để tương thông, đến khi thọ mạng của chúng ta hết rồi, đầy đủ tín nguyện trì danh. Các vị phải nên biết, tín nguyện chính là phát tâm Bồ Đề mà trên kinh Vô Lượng Thọ đã nói, tín nguyện là tâm Bồ Đề. Lời nói này không phải tôi nói, mà là đại sư Ngẫu Ích đã nói trong Yếu Giải kinh A Di Đà. Một lòng chuyên niệm chính là trì danh, tin tức của chúng ta thường thường liên hệ, đến khi nào Ngài giúp đỡ chúng ta, tiếp dẫn chúng ta đến thế giới Cực Lạc. Đến thế giới Cực Lạc để làm gì?

    Đến thế giới Cực Lạc để tu hành. Thế giới Cực Lạc rất tốt, tốt ở chỗ nào vậy? Chỗ tốt thứ nhất, đó là tổ sư đại đức xưa nay thường giảng, vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc là chỗ tốt thứ nhất, vào thời đó các Ngài không gọi là chỗ tốt, mà gọi là đức thứ nhất (đức của đạo đức), hiện tại chúng ta gọi là chỗ tốt thứ nhất, gọi đức thứ nhất không có người hiểu. Chỗ tốt thứ nhất là gì vậy? Vô lượng thọ, bạn có tuổi thọ vô lượng. Tuổi thọ vô lượng thì ngay trong đời đó của bạn đương nhiên sẽ thành tựu, bạn liền chứng được cảnh giới Phật, đó là cái tốt thứ nhất. Chúng ta sống ở thế gian này tuổi thọ quá ngắn, học thứ gì cũng học không thành công, thành thật mà nói, học một bộ kinh cũng học không thành. Hiện tại các vị thử nghĩ xem, một đời này bạn có thể học được kinh Hoa Nghiêm hay không? Hiện tại chúng ta từ đầu đến cuối giảng qua một lượt, giảng qua một lượt này không phải là giảng tỉ mỉ, mà là giảng rất thô, giảng rất giản lượt, như vậy giảng qua một lượt, hiện tại chúng ta dự tính chí ít phải hơn mười ngàn giờ. Hiện tại chúng ta giảng đến quyển 12, vẫn chưa giảng xong quyển thứ 12 nhưng đã dùng hơn hai ngàn giờ đồng hồ rồi. Bộ kinh này tổng cộng có 99 quyển, cho nên một đời học một bộ kinh cũng rất khó khăn vì tuổi thọ không đủ, thời gian không đủ dùng. Việc này A Di Đà Phật giúp được một phần rất lớn, để chúng ta đi đến thế giới Cực Lạc, đổi một thân thể khác.

    Trước tiên nên hiểu rõ, cái tánh này, Phật tánh pháp tánh, tánh thì không sanh không diệt, đạo lý này nhất định phải nên hiểu, tánh thì không sanh không diệt. Tánh nếu mê rồi thì gọi là thức, người Trung Quốc chúng ta gọi là linh hồn. Linh hồn là gì vậy? Đó là tự tánh mê rồi thì biến thành hình trạng này, biến thành linh hồn. Linh hồn đầu thai trong sáu đường, cho dù là đầu thai cách nào thì nó cũng không sanh không diệt. Lúc nào giác ngộ thì là thành Bồ Tát thành Phật, giác ngộ thì được đại tự tại, không giác ngộ thì họ bị nghiệp lực xoay chuyển. Thí dụ như khi sanh ra, nghiệp họ đã tạo là thiện, tâm thiện, ý nghĩ thiện, việc làm thiện, vậy thì hoàn cảnh sinh hoạt mà họ sanh đến là cõi người cõi trời. Trời có 28 tầng trời, nếu như tâm của họ không thiện, tư tưởng không thiện, việc làm không thiện, tương lai nơi mà họ sanh đến chính là ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, đó là sanh ác đạo.

    Cho nên thần thức, người Trung Quốc chúng ta gọi là linh hồn, đi đầu thai, nó không diệt, nó sẽ chuyển biến, nó không bị tiêu diệt. Nếu nó giác rồi thì chuyển thành Phật tánh, mê thì nó chuyển thành thần thức, nó sẽ chuyển biến tùy theo mê ngộ, nó vĩnh viễn sẽ không bị tiêu diệt. Cho nên nếu bạn chân thật hiểu rõ chân tướng sự thật này, thì bạn sẽ không sợ chết, vì sao vậy? Căn bản là không có sanh tử. Sanh tử là gì vậy? Đổi một cái thân, đổi một hoàn cảnh sinh hoạt, giống như chúng ta di dân vậy. Hiện tại di dân mọi người rất rõ ràng, rất thấu hiểu, chúng ta từ Trung Quốc di dân đến nước Mỹ, đó chính là đổi một thân thể, ngoài ra còn có thể đổi một thân phận. Quốc tịch Trung Quốc chúng ta không cần nữa thì đi lấy quốc tịch của Mỹ, liền đổi một thân phận. Đây chính là bạn có thể đổi thân thể, bạn có thể hoán đổi hoàn cảnh sinh hoạt. Gần đây chúng ta lại từ nước Mỹ di dân đến Úc Châu, chúng ta ở Úc Châu đã lấy được chứng nhận công dân, lại đổi một thân phận. Người vẫn chưa chết mà đã đổi hết ba thân phận, đã đổi hết ba hoàn cảnh sinh sống, chính là như vậy mà thôi.

    Cho nên bạn phải nên hiểu, hiện tại chúng ta ở thế gian này, chúng ta ở Trung Quốc, ở nước Mỹ có rất nhiều đồng tu bạn bè thân thích, chúng ta vẫn thường hay liên hệ, thường giữ liên lạc, đạo lý là như vậy. Nếu như bạn sanh đến thiên đạo, bạn sanh đến thế giới Cực Lạc, bạn cùng với rất nhiều thân thích bạn bè ở trên cái địa cầu này cũng thường hay giữ lấy liên lạc, cũng thường hay đi chăm sóc họ, đi thăm viếng họ, thế nhưng cảnh giới không giống nhau, không gian duy thứ không giống nhau. Họ đến nơi đây thăm chúng ta, họ rất rõ ràng nhưng chúng ta thì không thấy được họ, đó là do không gian duy thứ không giống nhau. Chúng ta tuy là không nhìn thấy họ, nhưng chúng ta thường hay kỷ niệm họ, thí dụ như chúng ta tụng kinh bái Phật, đem công đức hồi hướng, đó là kỷ niệm họ. Thế nên họ cũng thường hay đến thăm chúng ta, trong âm thầm bảo hộ chúng ta, vẫn là thường hay giữ mối quan hệ qua lại. Nếu như chúng ta tu hành có đầy đủ công phu, công phu đầy đủ là gì vậy? Đầy đủ sức định. Có đầy đủ sức định thì có thể làm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng ta hạ thấp xuống. Hạ xuống đến trình độ nhất định thì việc cảm ứng này sẽ rất rõ ràng, họ đến thăm chúng ta hoặc là chúng ta đi thăm họ. Cho nên nói cảnh giới trong định thì không gian cùng thời gian đều không tồn tại, cho nên trong định thì có thể qua lại, có thể trở về quá khứ, cũng có thể bước vào tương lai.

    Hiện tại khoa học gia biết được, xác thực là có không gian duy thứ khác nhau đang tồn tại, thế nhưng không biết được dùng phương pháp gì để đột phá. Trên lý luận thì có, như những nhà khoa học đã nói, họ dùng độ gia tốc, nếu như tốc độ này có thể vượt qua tốc độ ánh sáng, trên mặt lý luận mà nói thì có thể trở về quá khứ, có thể đột phá không gian. Việc này người học Phật chúng ta hiểu được, nhà Phật gọi không gian duy thứ là pháp giới, pháp giới chính là không gian duy thứ mà khoa học gia đã nói. Vì sao pháp giới lớn đến như vậy? Từ đâu mà ra? Là từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà biến hiện ra. Nếu vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của bạn thảy đều không còn thì cái không gian duy thứ này sẽ không còn, sẽ hoàn toàn đột phá, lúc đó thì cho dù thân bằng quyến thuộc của chúng ta ở trong không gian nào, chúng ta cũng đều thấy được, chúng ta có thể trực tiếp qua lại, cùng với người không gian khác nhau qua laị.

    Việc này sớm nhất là Ba La Môn giáo, Ba La Môn giáo có đến hơn mười ngàn năm lịch sử, Phật giáo chúng ta mới 3000 năm, họ chính là nhờ tu định, từ trong thiền định đột phá không gian duy thứ, cho nên hiện tượng của sáu cõi luân hồi họ đã thấy được rất sớm. Tuy là thấy được, nhưng họ không biết được sáu cõi rốt cuộc do đâu mà ra. Mãi đến Thích Ca Mâu Ni Phật ra đời mới đem việc này giảng tường tận giảng thấu đáo. Họ biết được sở đương nhiên mà không biết được sở dĩ nhiên. Sau khi Phật xuất hiện mới đem nguyên nhân lý do nói ra, là từ trong vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà biến hiện ra, rời khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì pháp giới này là nhất chân. Hay nói cách khác, quyết định không có không gian duy thứ, không gian duy thứ là một huyễn tướng, không phải là chân tướng.

    Chúng ta vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc chỉ nhờ vào câu Phật hiệu này, thế nhưng câu Phật hiệu này nhất định phải biết, chỉ niệm một câu A Di Đà Phật không phát tâm Bồ Đề thì không thể vãng sanh. Đại sư Ngẫu Ích giảng cho chúng ta nghe được rất rõ ràng, rất đơn giản, rất thấu đáo là “chân tín thiết nguyện”. Tôi thật tin tưởng, không một chút hoài nghi, tôi thật bằng lòng đi đến thế giới Cực Lạc, chân thật bằng lòng thân cận A Di Đà Phật, học với A Di Đà Phật, cái tín cùng nguyện này chính là tâm đại Bồ Đề, sau đó bạn chỉ cần một lòng chyên niệm thì đầy đủ điều kiện rồi, thì bạn liền có thể vãng sanh. Vãng sanh là việc lớn, nhân duyên hy hữu. Thế gian bất cứ thứ gì cũng đều là giả, những việc thế gian có duyên thì làm, không có duyên thì tuyệt đối không nên khởi lên ý niệm này. Nếu bạn đem tinh thần và thời gian lãng phí ở nơi thế gian pháp, cái nhân duyên đại sự này bị lỡ qua rồi thì bạn đến đời nào kiếp nào mới có thể gặp lại được? Nhất định bạn phải hiểu. Cho nên người học Phật chúng ta ở thế gian này tất cả tùy duyên, vì việc tốt cho chúng sanh. Có duyên thì chúng ta làm, không có duyên thì không nên phan duyên, việc này quan trọng hơn bất cứ việc gì.

    Thích Ca Mâu Ni Phật, rất nhiều Bồ Tát tổ sư đại đức thị hiện ở ngay trong đời này, bạn xem việc các Ngài đã làm ra, chúng ta phải hiểu, chúng ta phải học tập. Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa còn ở đời vì chúng ta làm ra tấm gương, Ngài thị hiện 30 tuổi thành Phật, đại triệt đại ngộ minh tâm kiến tánh, đây gọi là thành Phật. Thành Phật chính là thành tựu trí tuệ viên mãn, giác ngộ viên mãn. Sau khi trí tuệ giác ngộ viên mãn rồi thì giáo hóa chúng sanh, cả đời làm công việc giáo học. Giáo học cũng là tùy duyên, cho nên nói Phật không độ người không có duyên. Có duyên gặp được đó gọi là có duyên, không có duyên không gặp được, Phật sẽ không sách lồng đèn đi khắp nơi mà tìm, không có loại đạo lý này. Ai gặp được thì người đó có duyên. Sau khi Phật diệt độ đến nay, tuy là Ngài không ở thế gian, nhưng kinh điển của Ngài lưu lại thế gian này. Chúng ta có thể gặp được kinh điển chính là có duyên, là người có duyên, không gặp được kinh điển thì không có duyên. Gặp được kinh điển mà bạn có thể đọc tụng kinh điển, bạn có thể lý giải, bạn có thể tin tưởng, bạn có thể y theo đạo lý phương pháp của kinh điển mà tu hành thì bạn liền có thành tựu rồi. Chỗ này rất quan trọng. Chúng ta phải buông bỏ thân tâm thế giới, tức là phải buông bỏ vọng tưởng, buông bỏ phân biệt, buông bỏ chấp trước, thì chúng ta liền có thể tương thông với chư phật Bồ Tát, giới hạn ngay trong đó liền có thể đột phá. Ngày nay chúng ta học Phật nhưng không thể đột phá là do nguyên nhân gì vậy? Bạn vẫn chưa thể buông bỏ.

    Cẩn dịch: Vọng Tây cư sĩ

    Biên tập: Phật tử Diệu Hiền




    LỢI ÍCH KHI NIỆM PHẬT (Tập 2)

    Người giảng: Lão pháp sư Tịnh Không

    Thời gian: ngày 23 tháng 06 năm 2003

    Giảng tại: Học Viện Tịnh Tông Úc Châu

    Phần 2

    Chỗ này rất quan trọng, chúng ta phải buông bỏ thân tâm thế giới, tức là buông bỏ vọng tưởng, buông bỏ phân biệt, buông bỏ chấp trước thì chúng ta liền có thể tương thông với chư phật Bồ Tát, liền có thể đột phá giới hạn. Ngày nay chúng ta học Phật không thể đột phá là do nguyên nhân gì vậy? Bạn vẫn chưa buông bỏ. Cho nên lỗi lầm này chính ở chúng ta, không phải ở nơi Phật cũng không phải ở trong kinh điển, mà là ở chính mình. Chính mình không thật tin, còn có hoài nghi, còn có vọng tưởng, còn có chấp trước, vậy thì không còn cách gì, chư Phật Như Lai có ở ngay trước mặt bạn cũng không thể giúp được, đó là việc của chính bạn. Cho nên đến thế giới Cực Lạc, việc tốt là tuổi thọ vô lượng, phước báo vô lượng. Vô lượng trí vô lượng giác của Ngài là cách nói thông thường, trên kinh giảng là vô lượng quang, vô lượng thọ. Cái ý này trên kinh rất hay. Vô lượng quang, quang là quang minh biến chiếu, đại biểu không gian. Vô lượng thọ, thọ là đại biểu thời gian. Tất cả vô lượng trong vô lượng thời không thảy đều đầy đủ không kém khuyết chút nào, cho nên nói “Phật thị môn trung hữu cầu tất ứng”. Vì sao có thể có cầu ắt có ứng? Bởi vì tất cả đều là trong tự tánh của bạn vốn sẵn đầy đủ. Trong tự tánh của bạn vốn sẵn đầy đủ vô lượng trí tuệ nên trí tuệ này liền hiện tiền, vô lượng tài nghệ, tài nghệ đức năng đều hiện tiền, vô lượng tướng hảo chính là phước báo vô lượng đều hiện tiền.

    Hiện tại người thế gian này, hôm qua tôi ở Tuyết Lê cũng nói đến vấn đề này, người thế gian mong cầu cũng không ngoài ba việc là của cải, trí tuệ và khỏe mạnh sống lâu, ba thứ này ở thế giới Tây Phương Cực Lạc là đầy đủ cả. Thế giới Tây Phương của cải vô lượng. Các vị xem, Thích Ca Mâu Ni Phật ở trên kinh điển giới thiệu cho chúng ta hoàn cảnh của thế giới Tây Phương Cực Lạc, đại địa của thế giới Tây Phương Cực Lạc không phải là đất, mà là Lưu Ly. Lưu Ly là thứ gì vậy? Người thế gian này chúng ta gọi là Tỷ Thúy tức ngọc màu xanh. Thứ này thông thường giá trị rất cao. Đại địa của thế giới Tây Phương là Tỷ Thúy, cho nên Tỷ Thúy ở thế giới Tây Phương Cực Lạc thì không đáng một đồng, vì sao vậy? Cũng giống như đất của chúng ta ở đây vậy, ở đây chúng ta đeo một chiếc nhẫn Tỷ Thúy rất cao quý, đến bên đó lại là đất mà đeo ở trên tay thì chẳng phải là trò cười hay sao?

    Người chúng ta quý trọng vàng ròng đến dường nào! Còn ở thế giới Tây Phương Cực Lạc vàng ròng là để làm gì vậy? Cũng giống như xi măng vậy, đem đi làm đường, vàng ròng làm đất dùng để đắp đường đi. Bạn xem, đất là Tỷ Thúy, đường đi đắp bằng vàng ròng, bạn không cần nói thứ khác, bạn nói xem bên đó giàu có bao nhiêu! Phú ông ức vạn thế gian này chúng ta đến thế giới Tây Phương Cực Lạc là bần cùng hết chỗ, không có tiền. Thế giới Tây Phương bạn thấy nhà ở của ta ở đều là bảy thứ báu tạo thành, vật liệu xây dựng là bảy báu, kim ngân, lưu ly, xa cừ, mã não, không phải là xi măng sắt thép chúng ta ở đây, không phải thứ này, bạn nghĩ xem đầy đủ đến dường nào! Cơm áo đi đứng đều tự nhiên, bạn muốn ăn bất cứ thứ gì, ý niệm vừa khởi, những thứ mà bạn cần ăn đã bày đầy trên bàn. Vào thời xưa Hoàng đế Trung Quốc chúng ta ăn cơm là một trăm món ăn, cho dù là ông ăn mấy món nhưng mỗi lần dọn cơm nhất định là một trăm món ăn. Đến thế giới Tây Phương Cực Lạc còn dư giả hơn so với làm Hoàng Đế. Hoàng Đế mới có một trăm món, bạn đến nơi đó, bạn muốn một ngàn món, muốn một vạn món, ý niệm vừa khởi đều bày ra ở trước mặt, Hoàng Đế làm sao có thể so sánh được với bạn! Sau khi ăn xong, không cần nữa thì lập tức không còn gì hết, cũng không cần phải đi rửa chén, cũng không cần phải đi thu dọn bát đĩa, nó đều biến hết, trở về cái không, cho nên thế giới đó chính là ngày nay khoa học gia chúng ta gọi là chuyển biến của năng lượng và vật chất. Hiện tại khoa học gia biết được, đích thực là có cái lý luận này, thế nhưng không làm được. Thế giới Tây Phương Cực Lạc đã làm được rồi, khi cần dùng đến thì làm cho năng lượng biến thành vật chất, chính mình tận tình hưởng thụ, khi không dùng nữa thì vật chất này lại quay trở về lại năng lượng, không còn thứ gì hết, được đại tự tại.

    Phòng ốc nơi bạn ở, muốn ở trên mặt đất thì phòng ốc liền hạ xuống mặt đất, muốn ở trên hư không thì nó liền nâng lên, liền ở ngay trong hư không, muốn đến các cõi nước phương khác cũng không cần phải ngồi phi cơ, nhà ở của bạn cũng biết bay, chính là công cụ phi hành của bạn. Tùy tâm sở muốn, tướng hảo quang minh, không chỉ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp. 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp ở thế gian này chúng ta là quý tướng, các vị xem cái tướng đó là quý tướng. Nhưng ở trên kinh Phật nói với chúng ta, người thế giới Tây Phương Cực Lạc có vô lượng tướng, tướng có vô lượng vẻ đẹp. Trên kinh các vị xem thấy Thích Ca Mâu Ni Phật làm một thí dụ, không những người thế gian chúng ta không có, không thể so sánh, Đại Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương, những tướng phú quý đó, nếu đứng cùng với người hạ phẩm hạ sanh của thế giới Tây Phương Cực Lạc thì họ giống như người xin ăn vậy, không thể so sánh. Không có thứ nào là không vừa lòng như ý. Lợi ích của niệm Phật, lợi ích của vãng sanh, nếu bạn hỏi vãng sanh, vãng sanh có thật hay không? Là thật! Một chút cũng không giả. Ngay trong một đời này của tôi chính mắt nhìn thấy đứng vãng sanh, ngồi vãng sanh, tôi xem thấy mười mấy người, nếu nghe nói thì không biết là đến bao nhiêu. Lần gần đây nhất, vẫn chưa đến hai năm, lão cư sĩ Trần Quang Biệt của Cư Sĩ Lâm Singapore, đó là lão hội trưởng, bạn thấy ông vãng sanh, đó là chúng ta chính mắt nhìn thấy. Học sinh chúng ta đều đi trợ niệm giúp cho ông. Lão cư sĩ tuổi tác lớn rồi, đã hơn 80 tuổi, những năm cuối bị bệnh sức khỏe không tốt. Thực tế mà nói, bị bệnh rồi ông mới chân thật học Phật, khi ông chưa bị bệnh thì ông chưa thật học Phật. Ông là người làm ngân hàng, mỗi ngày công việc đều rất bận, căn bản là không có thời gian đọc kinh, cũng không có thời gian nghe kinh. Bị bệnh rồi không còn cách gì, ở trong nhà dưỡng bệnh, mỗi ngày nằm trên gường buồn bã. Cư sĩ Lý Mộc Nguyên đem băng đĩa giảng kinh của chúng ta đến tặng cho ông, ông xem mỗi ngày, càng xem càng hoan hỉ. Mỗi ngày ông xem 8 giờ đồng hồ, lúc nào không xem thì ông niệm A Di Đà Phật. Hai năm là thời gian không dài, hai năm thì ông liền thành tựu.

    Có một hôm ông nói với cư sĩ Lý Mộc Nguyên là ông muốn vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Cư sĩ Lý Mộc Nguyên nói với ông là không được, hiện tại ông không thể đi, hiện tại Cư Sĩ Lâm tất cả đều chưa yên ổn, chỉ cần ông sống ở thế gian thì sức ảnh hưởng của ông vẫn còn, nên hy vọng ông quan tâm. Ông nói được rồi, vậy tôi sẽ đợi thêm hai năm nữa. Khi hai năm này đến, nhiệm kỳ sau cùng nhất, Cư Sĩ Lâm cử hành tuyển cử, đổi nhiệm, ông ngồi xe đẩy đến tham gia, ngày hôm đó tôi cũng có mặt, đó là lần sau cùng ông đến Cư Sĩ Lâm. Sau khi trở về, tôi nghe người trong nhà ông nói, có một hôm ông viết ở bên cạnh ngoài của tờ báo ngày mùng 07 tháng 8, ông đã viết mười mấy lần mùng 07 tháng 8, người trong nhà cũng không có người nào dám hỏi, cũng không biết đó là chuyện gì. Mùng 07 tháng 8 hôm đó ông vãng sanh. Ngày ông viết ra ngày ông vãng sanh cách ngày ông vãng sanh ba tháng, ông đã biết trước ngày ông vãng sanh ba tháng. Thời gian ngày tháng tường tận như vậy, mùng 07 tháng 8, ông đã viết mười mấy lần mùng 07 tháng 8, dự biết giờ đi. Từ lúc ông bị bệnh bắt đầu nghe kinh niệm Phật đến lúc ông vãng sanh, thời gian cũng sắp gần bốn năm.

    Bạn thấy sau khi ông đi rồi, Cư Sĩ Lâm Singapore xuất hiện một việc kỳ quái. Có một hôm, cư sĩ Đỗ Mỹ Quyên, về trước tôi không quen biết cô, sau khi sự việc này xảy ra, cư sĩ Đỗ đến tìm tôi, xảy ra sự việc gì vậy? Oan gia trái chủ của Cư Sĩ Trần Quang Biệt, rất nhiều người, đó không phải là người sống mà là hồn quỷ, đi đến Cư Sĩ Lâm. Những oan gia trái chủ này vốn là ở ngay trong nhà của Trần Quang Biệt, thế nhưng mỗi ngày Trần Quang Biệt nghe kinh niệm Phật, nên họ không dám đụng đến ông, nghe kinh niệm Phật có thần hộ pháp, cho nên oan gia trái chủ tuy là vây quanh ở bên cạnh nhưng không dám động ông. Khi xem thấy ông vãng sanh rồi, những oan gia trái chủ này đều cảm động, cho nên họ đi theo các pháp sư (mỗi ngày chúng ta đều phái pháp sư đi trợ niệm, bốn người một nhóm luân phiên đi), những oan gia trái chủ này đi theo pháp sư đến Cư Sĩ Lâm. Họ nói thần hộ pháp của Cư Sĩ Lâm không hề chướng ngại họ, họ nói chúng tôi đến Cư Sĩ Lâm tuyệt đối sẽ không gây phiền phức, chúng tôi không dám gây phiền phức, chúng tôi đến cầu xin quy y. Họ nói, chúng tôi xem thấy lão cư sĩ Trần Quang Biệt vãng sanh, chúng tôi đều rất là hoan hỉ nên đến cầu quy y. Vào lúc đó tôi đang ở HongKong, dường như là sư Toàn gọi điện thoại cho tôi, nói là hồn quỷ muốn quy y, tôi nói với ông phải mau quy y giúp cho họ. Sau khi quy y rồi, họ muốn nghe kinh, pháp sư của Cư Sĩ Lâm liền nói với họ, lầu 4 là niệm Phật đường, lầu 5 là giảng đường, mỗi ngày đều có pháp sư ở nơi đó giảng kinh, các vị đều có thể đến nơi đó nghe kinh. Họ nói ánh sáng của giảng đường lầu 5 quá mạnh, họ không chịu nỗi. Sau đó mấy lần thương lượng thì chúng tôi mở ra lầu 1 và lầu 2 để máy truyền hình cho họ xem. Họ yêu cầu nghe kinh Địa Tạng, cho nên 24 giờ mở băng đĩa kinh Địa Tạng cúng dường quỷ thần. Quỷ thần thích nghe nhất là kinh Địa Tạng và kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, họ thích nhất là hai bộ kinh này. Sau khi nghe xong rồi thì họ liền ra đi. Đã xảy ra một việc như vậy.

    Qua mấy ngày sau, đại khái dường như là hơn một tuần lễ, cô Đỗ Mỹ Quyên đến tìm tôi, đem tình hình quỷ thần nhập thân nói với tôi. Cô nói ngay lúc đó cô bị hôn mê, sau khi hôn mê thì cô không hề biết gì hết. Sau khi tỉnh lại, người khác nói cho cô nghe là cô đã nói hơn một giờ đồng hồ, nhưng chính cô một câu cũng đều không biết. Người trong nhà cô không hề tin, nhất là em trai cô, anh ấy nói việc này nhất định là không đáng tin, kết quả em trai của cô hôm đó, nghe nói bị tám con quỷ vật ra vả cho một trận, họ còn kéo anh ấy đến rãnh nước bên cạnh đường lộ làm anh bị trọng thương, kết quả là phải nhờ xe cứu thương đưa anh vào phòng cấp cứu. Anh báo cảnh sát, anh nói anh bị bảy, tám người đánh bị thương. Kết quả cảnh sát đến điều tra, hỏi người chung quanh, người chung quanh nói không có, anh ấy chính mình ngã tam ngã tứ rồi chính mình ngã xuống đó, không có người nào đánh anh. Bảy, tám con quỷ đánh anh. Từ đó về sau tin tưởng, người cả nhà đều tin tưởng. Đỗ Mỹ Quyên bị quỷ nhập thân độ được người cả nhà, cho nên sự việc này là thật, một chút cũng không giả.

    Ngồi đồng nhập cốt tôi cũng đã gặp qua rất nhiều, có rất nhiều là thật, cũng có giả, giả thì rất ít. Thứ giả hoặc mạo nhận họ có mưu đồ, đều có mục đích, vừa nghe vừa thấy thì liền biết được, cho nên phải có năng lực phân biệt, không nên bị những người này phỉnh. Việc này khi chúng ta qua lại với quỷ thần, nhất định phải nên thận trọng, quyết định không nên để bị hại. Bạn tỉ mỉ lắng nghe lời của họ nói, họ thị hiện ra cái tướng này rất đáng được tham khảo. Phật sự Tam Thời Hệ Niệm là do thiền sư Trung Phong, đó là người đầu triều nhà Nguyên, Ngài y theo kinh A Di Đà soạn ra một nghi quy. Bộ nghi quy này chuyên dùng để siêu độ vong nhân, chúng ta tu Tịnh Độ dùng nghi quy này thì rất thích hợp. Trong nghi quy này chúng ta tỉ mỉ mà xem, trong đó có tán Phật, có tụng kinh, có niệm chú (chú vãng sanh là niệm chú), có sám hối, có phát nguyện, có hồi hướng, có quy y. Trong đây tổng cộng có 8 phương pháp tu học, rất là hoàn bị, rất thù thắng. Đây cũng chính là khai thị, khai thị rất nhiều, khai thị rất là tinh túy, đối với việc tu học của chúng ta có sự giúp đỡ rất lớn, có sự giúp đỡ không nhỏ. Cho nên khai thị của Ngài, nếu như các vị thường hay tụng, thường hay đọc, tôi tin tưởng đọc lâu rồi thì các vị chính mình có thể ngộ nhập vào cảnh giới này. Vào được cảnh giới đó là lợi ích rất lớn. Hiện tại chúng ta đem Phật sự Tam Thời Hệ Niệm làm thành thời khóa để tụng, mỗi một tuần chúng ta làm một lần, âm dương lưỡng lợi.

    Hiện tại trên thế gian này, người khổ, linh hồn cũng rất khổ. Con người chúng ta có tai nạn, cái thế gian này có tai nạn, con người không biết nhưng linh hồn biết. Những năm gần đây, những tin tức này tiết lộ ra từ linh giới, nói đến việc tai nạn của tu hành này rất khiếp sợ. Việc mà họ nói tôi tin tưởng, tôi không chỉ tin tưởng lời của linh quỷ nói lại, mà tôi tin tưởng đạo lý của nhân quả báo ứng mà trên kinh Phật đã nói, tất cả những tai nạn là do ác nghiệp chiêu cảm. Bạn xem thấy hiện tại người ở thế gian này, họ tưởng là những gì? Họ nghĩ là những gì? Họ nói ra là những gì? Họ làm ra là những gì? Bạn tỉ mỉ mà quan sát thì bạn liền biết được. Người xưa nói “nhà làm việc thiện ắt dư thừa việc vui, nhà làm việc ác ắt dư thừa việc xấu”. Hiện tại tất cả xã hội, những chúng sanh này họ làm là những việc gì? Ý niệm ác, tư tưởng ác, lời nói ác, việc làm ác, như vậy làm sao mà không có tai nạn? Vào thời trước người nhận qua giáo dục truyền thống của người xưa, từ nhỏ đã dạy bạn cách làm người thế nào. Giáo dục của Trung Quốc từ Nghiêu Thuấn, việc này trên lịch sử có ghi chép, Nghiêu Thuấn cách ngày nay chúng ta đại khái là 4500 năm, ở vào cuối triều nhà Thanh. Trung Quốc dạy là những thứ gì? Dạy về luân lý, dạy về đạo đức, luân lý đạo đức duy trì dân tộc quốc gia này đến 5000 năm. Từ năm dân quốc đến nay mọi người đều là mến mộ khoa học phương tây, bỏ mất đi luân lý đạo đức của chính mình, đời sống vật chất dường như có nâng lên cao, mức sống nâng cao, nhưng luân lý đạo đức thì không còn, xã hội động loạn, lòng người bất an, có thể nêu ra là người nổi tiếng ở đời, có mấy người có cảm giác an toàn? Bao gồm chính chúng ta, bạn đi hỏi xem thử, bạn có cảm giác an tòan hay không? Rất đáng thương.

    Hiện tại tương đối tốt hơn một chút là người học Phật. Chân thật học Phật, chân thật đạt được thọ dụng của Phật pháp, tâm địa tương đối thanh tịnh thì có được cảm giác an toàn, vì sao vậy? Biết được thật tướng của các pháp, cũng chính là biết được chân tướng vũ trụ nhân sanh, biết được tất cả chúng sanh không sanh không diệt, chỉ là chuyển biến mà thôi, cho nên gọi là tâm an lý đắc. Đạo lý làm được rõ ràng rồi thì tâm liền được an, đạo lý chưa hiểu được rõ ràng thì tâm của họ làm sao có được an định? Ngày nay trong xã hội này, nếu như cầu được thân tâm an ổn thì phải đem đại đạo lý của vũ trụ nhân sanh hiểu cho tường tận, hiểu cho thấu đáo, chân tướng sự thật thông suốt rồi thì tâm của bạn được định, tâm của bạn được an, bạn cũng biết được phải sống ra sao, làm việc thế nào, làm thế nào đối nhân xử thế tiếp vật. Khai thị trong Tam Thời Hệ Niệm quá tinh tế.

    Người sau khi qua đời vì sao phải cúng thất? Có rất nhiều người hỏi vấn đề này, vì sao phải làm thất? Nếu như người này niệm Phật thật đã vãng sanh rồi, thực tế mà nói, vậy thì không cần phải làm thất. Người vãng sanh và người sanh thiên (người ở ngay trong một đời có đại thiện, sau khi chết sanh thiên) đều không có thân trung ấm thì không cần làm thất. Thế nhưng người thông thường nghiệp chướng tập khí sâu nặng, nếu là họ đọa vào ác đạo, đọa ba đường ác, hoặc là sanh đến loài người, đời sau vẫn có thể sanh đến cõi người, thế nhưng chỉ là một người rất thông thường, không phải là người phú quý, chỉ là một người phổ thông thì đều có thân trung ấm. Trung ấm thông thường tồn tại 49 ngày, chính là 7 lần 7. Trung ấm thì 7 ngày họ có một lần biến dị sanh tử, cũng chính là nói họ cứ 7 ngày thì có một lần rất đau khổ, vào ngay lúc này tụng kinh niệm Phật cho họ, hoặc là tu sám pháp cho họ, hồi hướng cho họ, thì có thể giảm nhẹ đau đớn của họ. Đó là trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn nguyện đã nói. Cho nên làm thất là từ trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn nguyện mà ra, bạn đi đọc kinh này thì liền biết.

    Cho nên con người nhất định không nên tự sát. Tự sát thì vô cùng thống khổ, vì sao vậy? Hễ là người tự sát mà chết thì thân trung ấm mỗi 7 ngày một lần, nó lại phải tự sát một lần, nó không phải làm một lần rồi xong đâu, mà mỗi 7 ngày thì phải diễn lại một lần, rất khổ sở. Thí dụ như treo cổ mà chết, mỗi lần cách 7 ngày họ lại phải treo cổ một lần. Uống thuốc độc mà chết thì cách 7 ngày họ lại phải uống độc một lần. Cho nên vào ngay lúc này, thân bằng quyến thuộc tu phước cho họ thì có thể giảm ít đau khổ cho họ. Hoặc giả là họ không bị đau khổ, nếu như không có thân bằng quyến thuộc tu phước cho họ, thì họ nhất định sẽ không thể tránh khỏi. Việc này là Phật nói cho chúng ta nghe, nếu bạn là người hiểu Phật pháp thì bảy cái thất đều phải làm, không thể nói chỉ chọn vài thất, còn các thất khác thì có thể không làm, không thể được, vì sao vậy? Họ trong bảy ngày có một lần đau khổ thay đổi, chúng ta ở trong Kinh Điển hiểu được đạo lý này, cho nên niệm Phật lợi ích rất lớn. Cúng thất, trên kinh nói rất rõ ràng, bảy phần công đức, người làm thất chúng ta chính mình được sáu phần, vong giả chỉ có thể được một phần, cho nên khi làm thất, tốt nhất là nên mời 7 pháp sư. Công đức của 7 vị pháp sư thì họ chỉ có thể được một phần. Cúng tuần thất muốn có thể chân thật có được lợi ích lớn, những người làm pháp sự này, không luận là xuất gia tại gia, đều phải dùng tâm chân thành mà làm thì họ được lợi ích lớn. Nếu như chiếu theo nghi thức tụng kinh bái sám, trong lòng không thành thì họ được lợi ích rất ít.

    Thế nào là trong lòng không thành? Một mặt tụng kinh, bái sám, một mặt trong lòng khởi vọng tưởng, lòng để đâu đâu thì lợi ích mà họ được sẽ rất ít. Nếu như vong giả này lúc ở đời tánh tình rất dữ, lòng dạ không tốt, người tụng kinh không thành khẩn thì họ sẽ tìm đến gây phiền phức. Quỷ cùng người như nhau, một số người lợi hại nếu bạn đắc tội với họ, họ sẽ tìm bạn gây phiền phức, họ báo thù bạn. Người tánh tình ôn hòa thì sẽ bỏ qua, thì sẽ không tìm. Cho nên mọi việc đều có nhân quả, nghiệp nhân quả báo không sót mảy trần, đây là chân lý. Trong Phật pháp thường giảng “vạn pháp giai không, nhân quả bất không”. Nhân quả vì sao mà bất không? Nhân quả có chuyển biến bất không, nhân sẽ biến thành quả, quả lại biến thành nhân, như chúng ta trồng cây ăn trái, mọi người sẽ rất rõ ràng. Bạn trồng xuống cây đào, hột đào là hạt giống, là nhân, nhân trồng xuống rồi nó sẽ lớn thành cây, nhân liền biến thành quả, quả lại biến thành nhân, trong trái đào lại có hạt đào, đó là “chuyển biến bất không”, “tuần hoàn bất không”, nhân quả tuần hoàn. Đó là nói cái này bất không, “tiếp nối bất không”, cho nên nó có ba hiện tượng là chuyển biến, tiếp nối và tuần hoàn, đó là tất cả pháp thế xuất thế gian đều không rời khỏi nhân quả.

    Chúng ta đọc kinh đại thừa, trong kinh đại thừa đã nói, kinh Hoa Nghiêm có ngũ châu nhân quả, không rời nhân quả, kinh Pháp Hoa có nhất thừa nhân quả. Phật pháp xuất thế gian cũng không rời khỏi nhân quả, nhân quả là chân lý giữa vũ trụ này, thiện có thiện báo, ác có ác báo. Người xưa nói rất hay, “không phải không báo, thời giờ chưa đến”. Nhân gặp duyên, đó chính là thời giờ đã đến, chưa gặp được duyên thì đó là thời giờ chưa đến, gặp được duyên nhất định quả báo hiện tiền. Cho nên khi hiểu được đạo lý này, đặc biệt là giữa người và người qua lại với nhau, người xưa nói rất hay là oan gia nên giải không nên kết. Bạn phải ghi nhớ tuyệt đối là không nên kết oán thù với người. Kết oán thù thì phiền não rất lớn, oan oan tương báo, đời đời kiếp kiếp không hề ngừng dứt, kia đây đôi bên đều đau khổ. Mỗi người chúng ta ở thế gian này không phải là một đời, bạn có kiếp trước, bạn có đời trước, đời quá khứ của bạn, ngay trong đời đời kiếp kiếp bạn kết oán thù với bao nhiêu chúng sanh? Cho nên ngày tháng của đời này làm gì trải qua được tốt?

    Bạn gặp được một người lạ đang đi trên đường, xưa nay chưa từng quen, họ tức giận trợn mắt nhìn bạn, đó là nghiệp đã kết trong đời quá khứ. Người học Phật chúng ta hiểu rõ, họ trợn nhìn ta một cái thì ta niệm A Di Đà Phật, ta cũng không nên nhìn họ mà cúi đầu xuống, niệm một câu Phật hiệu đáp lại họ thì liền hóa giải. Không thể nói họ trợn mắt nhìn bạn một cái, thì bạn cũng trợn mắt nhìn họ lại một cái, vậy thì phiền phức sẽ lớn. Người gặp mặt cúi đầu mỉm cười với bạn, đó là thiện duyên trong đời quá khứ. Cho nên nghiệp duyên phải từ trong nội tâm mà hóa giải, đó là chúng ta thường nói, nhất định không nên đối lập với tất cả người và sự vật, phải đem ý niệm đối lập hóa giải, phải bình đẳng đối đãi, hòa thuận cùng ở, vậy thì tốt, cái điểm này hy vọng mọi người đặc biệt chú ý. Nếu như chúng ta gặp phải oan gia trái chủ (việc này thường hay gặp phải), hoặc là có ý, hoặc là vô ý hủy báng chúng ta, nhục mạ ta, thậm chí còn hãm hại ta, chúng ta phải tường tận, quyết định không nên có tâm sân hận, nhất định không nên có tâm báo thù.

    Bạn thấy kinh Kim Cang mọi người đọc qua rất nhiều, trên kinh Kim Cang nói Nhẫn Nhục Tiên Nhân bị Ca Lợi Vương cắt xẻo thân thể, đó là nhục mạ rất lớn, tổn hại rất lớn, thế nhưng Nhẫn Nhục Tiên Nhân dùng thái độ gì vậy? Không hề có chút ý niệm sân hận nên Nhẫn Nhục Ba La Mật viên mãn, không hề có chút ý niệm báo thù, chỉ trì giới Ba La Mật viên mãn. Hơn nữa còn phát tâm, ta tương lai sau khi thành Phật thì người độ đầu tiên là ông nên Bố Thí Ba La Mật viên mãn. Việc này phải nên học, việc này người thông thường không làm được, người thông thường nhất định khởi sân hận, khởi ý niệm báo thù, vậy thì phiền phức sẽ lớn. Báo thù sẽ đời đời kiếp kiếp không hề ngừng dứt, cho nên không nên kết oán thù với người, nhất định phải hóa giải. Oán thù vạn nhất không nên kết, quyết định không nên thiếu nợ người, việc này cần phải cận trọng. Ngay trong một đời này, nếu như là gặp phải đòi nợ nhất định phải trả, cường đạo đến cướp của bạn, trộm vặt đến trộm đồ bạn, bạn có tổn thất, bạn đều phải nên có ý nghĩ trả nợ thì sẽ không việc gì. Họ trộm tiền của của ta, đại khái ngay trong đời quá khứ ta đã trộm của họ, hiện tại họ đến trộm lại, một báo trả một báo thì xong rồi, hoan hỉ vui mừng. Quyết định không nên có ý niệm chiếm tiện nghi của người vì chiếm tiện nghi của người khác chính là trộm, tương lai đều phải trả. Cho nên nếu bạn chân thật thông đạt thấu hiểu sự lý của nhân quả báo ứng rồi thì tâm của bạn liền sẽ rất an. Một người ở ngay trong một đời, báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ đều có nhân quả đời trước. Bạn liền sống được rất tự tại, cho dù là oan gia trái chủ đối đầu rất nhiều cũng rất tự tại, vì sao vậy? Ngay đời này từng món từng món đã tính sổ hết rồi, đời sau gặp mặt đều là bạn tốt. Oán thì giải, nợ thì trả, người khác thiếu ta thì ta không cần, bố thí luôn, càng thí phước báo càng lớn.

    Hôm qua tôi ở Tuyết Lê nói với các đồng tu, người hiện tại đều tham tài, đều muốn phát tài, bởi vì mấy ngày trước tôi xem thấy một tờ quảng cáo trên đài truyền hình Phụng Hoàng nói “có trí thì có tiền của”. Câu nói này không đúng. Khi tôi còn trẻ đã gặp qua rất nhiều giáo thọ rất nổi tiếng, chân thật có trí tuệ, có tài năng nhưng rất nghèo, tiền mua sách cũng không có, là giáo thọ nghèo. Cho nên lời của Phật nói với chúng ta là đúng, “có thí thì có tiền tài”. Bố thí tài thì được tài phú, càng thí càng nhiều, bố thí pháp được thông minh trí tuệ, bố thí vô úy được khỏe mạnh sống lâu. Cho nên tiền của, thông minh trí tuệ, khỏe mạnh sống lâu đều là từ bố thí mà ra, bố thí là nhân. Bố thí tài là nhân, tiền của là quả báo, pháp bố thí là nhân, thông minh trí tuệ là quả báo, bố thí vô úy là nhân, khỏe mạnh sống lâu là quả báo.

    Cho nên hôm những đồng tu bên Tuyết Lê, có một số cũng không phải là tín đồ Phật giáo, thế nhưng họ đã làm việc tốt là tổ chức một đội y bác sĩ đến Tây Tạng trị bệnh đục thủy tinh thể cho người Tây Tạng. Họ nói bệnh đục thủy tinh thể của người Tây Tạng rất nghiêm trọng, rất là nhiều, bởi vì họ ở nơi cao nguyên, tia tử ngoại tuyến rất mạnh, cho nên bệnh đục thủy tinh thể rất nhiều, rất phổ biến, rất nhiều người do bệnh đục thủy tinh thể mà bị mù. Họ tổ chức một đoàn y bác sĩ đến bên đó giúp đỡ cho những người này, còn mang theo thiết bị mới, nghe nói hiệu quả rất tốt, hơn nữa cũng rất mau, đại khái trị liệu cho một người mà nói, dường như chỉ cần mười mấy phút thì hoàn thành thủ thuật, hơn thế nữa tỷ suất thành công là 99%. Đội này của họ đến Tây Tạng dự định là một tuần lễ, khám bệnh miễn phí một tuần, có mười bác sĩ, 5 bác sĩ nhãn khoa và 5 bác sĩ thông thường, ngoài ra còn có nhân viên hộ lý, tổng cộng 15 người, chúng ta đều gặp mặt. Việc làm này là thuộc về bố thí vô úy, quả báo bố thí vô úy là khỏe mạnh sống lâu. Đại hội hôm qua cũng mời tôi diễn giảng, sau khi tôi giảng xong, bên dưới cúng dường cũng không ít, đều đưa bao thư đến cúng dường, toàn bộ tôi đều cho đi Tây Tạng. Mỗi một người đều đã tu bố thí vô úy, hy vọng mỗi một người đều khỏe mạnh sống lâu, vậy thì chân thật viên mãn rồi.

    Tốt rồi! Chúng ta đến chỗ này cũng đã giảng viên mãn. A Di Đà Phật!

    Cẩn dịch: Vọng Tây cư sĩ

    Biên tập: Phật tử Diệu Hiền



    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  10. #10
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Kinh sách là để ĐỌC - HIỂU rồi THỰC HÀNH... chứ không phải để đem ra tụng la làng cả nhà cả xóm, cũng không phải để gõ cóc cóc beng beng để chứng tỏ mình... tu!

    Mỗi ngày, nếu quá bận rộn, chỉ cần dành ra 30' - 1h để lấy kinh sách ra đọc. Đọc một câu rồi thì tư duy, nghiền ngẫm xem Phật dạy cái gì, rồi thực hành. Chứ không phải xách cuốn kinh ra bàn thờ ngồi "trả bài" cho Phật, thì gọi là Tu!

    "Kinh điển Ta dạy cho Nó nghe
    Nào ngờ Nó tụng, bắt Ta nghe
    Tuổi già tám mươi ngồi gì nổi
    Đọc lâu mỏi mệt sụm bánh chè" (HT.Thích Từ Thông)

    => Quan trọng là cái giữ GIỚI, vì nó là hàng rào bảo vệ cho người hành giả tránh được các bất thiện pháp chưa sanh, cũng như làm tiêu trừ nó nếu nó đã sanh. Giữ GIỚI làm cho thiện pháp chưa sanh được trổ sanh, thiện pháp đã sanh được sung mãn. Giới không giữ được thì dù có niệm Phật thụt lưỡi, lạy Phật đến liệt người, ngồi thiền chai đít như đít khỉ thì cũng không ăn thua gì hết!


  11. #11

    Mặc định




    PHÁP MÔN NIỆM PHẬT

    Pháp sư: HT. TỊNH KHÔNG
    Biên dịch: Vọng Tây cư sĩ
    Biên tập: PT Giác Minh Duyên
    Giảng tại cư sĩ Lâm Phật giáo Singapore, tháng 10- 2003


    Tất cả chư Phật Như Lai, không vị nào không khuyên người cầu sinh Tịnh Độ. Các vị đều không chút lòng riêng tư, không chút tâm thiên lệch mong muốn chúng ta mau chóng thành Phật.

    Phương pháp thù thắng nhất chính là cầu sinh Tây Phương tịnh độ, nhanh hơn so với bất cứ pháp môn nào, thù thắng ngay trong thù thắng. Thế nhưng, thực tế có một số người nghiệp chướng sâu nặng nên không tin tưởng. Phật Bồ Tát cũng từ bi, tùy hỷ dạy pháp môn khác mà chúng ta thường gọi “tám vạn bốn ngàn”. Vậy “tám vạn bốn ngàn” là gì? Là do không tin tưởng pháp môn này, không tình nguyện học tập, không muốn cầu sinh Tây Phương Cực Lạc, chư Phật liền mở ra tám vạn bốn ngàn pháp môn. Phật mở ra vô lượng pháp môn vì những người nghiệp chướng sâu nặng.

    Tường tận thông suốt đạo lý này chúng ta mới cảm nhận sự may mắn khi gặp được pháp môn của Phật, nhất định sẽ không xả bỏ, không nghi hoặc, mà một môn thâm nhập, tuyệt đối không động tâm. Với pháp môn khác, chúng ta có thể tán thán nhưng không cùng học. Thiện Tài Đồng tử có năm mươi ba lần tham học, pháp môn nào ngài cũng tham quan, cũng đều lướt qua. Thế nhưng ngài không học theo mà chân thành niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ. Cuối cùng ngài cũng về được thế giới Tây Phương Cực Lạc.

    “Thọ dụng cụ túc đệ thập cửu”

    Phẩm kinh này giới thiệu với chúng ta từ dung mạo đoan chính trang nghiêm, phước đức vô lượng, trí tuệ thông suốt, thần thông tự tại, tuổi thọ dài lâu, cho đến hoàn cảnh sinh hoạt thường ngày của người ở thế giới Tây phương Cực lạc. Đó là đích đến mà tất cả chúng sinh trên thế gian ngày đêm đang mong cầu. Nếu cầu phước, cầu trí tuệ, tự tại, thọ mạng, thì thế giới cực lạc mới được viên mãn. Chúng ta không thể cầu được ở thế giới này. Trong tám khổ có “cầu bất đắc khổ”, sau khi đã cầu chúng ta vẫn khổ. Người thế giới Tây Phương cực lạc không hề có ý niệm như vậy, tất cả đều tự nhiên, đều lưu xuất từ tánh đức, cho nên thân tâm của chánh báo thanh tịnh quang minh, y báo phước đức thù thắng, như trên đã nói “siêu thế hy hữu”. Trong kinh, Thế Tôn nói pháp phương tiện khéo léo, tuy nói nhưng “ứng niệm hiện tiền, vô bất cụ túc”. Người thế gian thường hay nói “tâm nghĩ sự thành”, nếu không chú tâm, chăm chỉ nỗ lực, sự việc không thể thành. Thế giới Tây Phương cực lạc cũng vậy, vừa nghĩ đến thì liền thành tựu.

    “Phục thứ cực lạc thế giới, sở hữu chúng sanh”

    Cái “sở hữu” này ý nghĩa rất dài, phía sau kinh văn có câu “hoặc dĩ sanh, hoặc hiện sanh, hoặc đương sanh”. “Dĩ sanh” là đã sanh đến thế giới Tây Phương cực lạc của Phật A Di Đà, thành Phật đã mười kiếp. “Hiện sanh” là hiện tại sanh đến thế giới Tây Phương cực lạc. “Đương sanh” chính là chúng ta, hiện tại chưa đi nhưng chắc chắn sẽ đi. “Đương sanh” là sự khẳng định đương nhiên. Khi chính mình hạ quyết tâm, không chút nghi ngờ cũng không lo nghĩ đã tạo nghiệp gì trong đời quá khứ, hiện tại thì chỗ “đương sanh” này, chúng ta sẽ có phần. Sau khi gặp được pháp môn, chỉ nghĩ đến Phật A Di Đà, không nên nghĩ những thứ khác. Trong kinh Đại thừa, đức Phật thường nói “niệm một câu Nam mô A di đà Phật tiêu hết tám mươi ức kiếp sinh tử trọng tội”. Chúng ta niệm có thể tiêu được hay không? Không thể! Khi chúng ta niệm “đau mồm rát họng chỉ uổng công”. Vậy phải như thế nào khi niệm mới có sức mạnh lớn như vậy? Chính là người không có chút lòng nghi hoặc, trong tâm ngoài Phật hiệu không có bất cứ một tạp niệm nào. Niệm được như vậy sẽ tiêu hết tám mươi ức kiếp sinh tử trọng tội. Không nên khởi vọng tưởng, thậm chí thế gian pháp, chúng ta cũng không nghĩ đến, không nghĩ quá khứ không nghĩ hiện tại cũng không nghĩ tương lai mà chỉ nghĩ “A Di Đà Phật”, chỉ nghĩ kinh Vô Lượng Thọ, như vậy mới tiêu được tám mươi ức kiếp sinh tử trọng tội. Chỉ cần khởi một vọng niệm, công phu của chúng ta hoàn toàn bị phá hỏng. Do đó phải triệt để buông bỏ, vạn duyên buông bỏ, đương sanh ngay trong một đời này nhất định thành tựu, nhất định vãng sanh.

    “Giai đắc như thị, chư diệu sắc thân, hình mạo đoan nghiêm, phước đức vô lượng, trí tuệ minh liễu, thần thông tự tại”

    Câu “giai đắc như thị, chư diệu sắc thân” là tổng thuyết. Diệu sắc thân chính là “hình mạo đoan nghiêm”. Chúng ta đã đọc phần trước bài kinh, sinh đến thế giới Tây Phương cực lạc, thế giới đó là hóa thân, không phải là thai sinh nên rất khó tưởng tượng. Người thế gian luôn từ nhỏ lớn dần tuổi tác theo thời gian, mỗi năm đều thay đổi. Trong khi đó, thế giới Tây Phương không như vậy. Thân người ở thế giới Tây Phương hoàn toàn giống đức Phật A Di Đà, giống từ tướng mạo thân thể đến phước đức vô lượng. Tuổi thọ ở ngay trong phước đức, tuổi thọ là phước đức đệ nhất, là vô lượng thọ, trí tuệ thông suốt, viên mãn.

    Quá khứ, hiện tại, vị lai, quá khứ vô cùng, tương lai vô tận, cõi này phương khác, tất cả các pháp không gì là khó thông đạt. Kinh Hoa Nghiêm và kinh Lăng Nghiêm cũng đã nói qua vấn đề này. Trước đây chúng tôi cũng thường hay giảng “chư pháp sở sanh”, chư pháp là tất cả pháp thế xuất thế gian, sanh là sanh khởi. Tất cả pháp từ đâu mà ra?, đức Phật nói “do tâm hiện ra”, tâm đó là tự tánh, là chân tâm của chúng ta. Chúng ta “minh tâm kiến tánh” thì làm sao không biết được tác dụng của tâm tánh. Hư không, vũ trụ, vô lượng vô biên tinh cầu, và tất cả chúng sanh từ đâu mà ra?, từ trong tự tánh của chúng ta biến hiện ra. Khi minh tâm kiến tánh rồi, đương nhiên thứ gì cũng thông suốt tường tận, không cần phải học.

    Đức Phật nói “sở tri chướng”, cái sở tri chướng này đã chướng ngại chúng ta, vốn dĩ chúng ta phải biết nhưng hiện tại lại không biết. Cho nên ý nghĩa của “sở tri chướng” và “phiền não chướng” không giống nhau. Bản thân phiền não là chướng ngại, còn sở tri thì không chướng ngại. Có loại chướng ngại chúng ta nhận biết, nhưng không phiền não. Tất cả chúng sinh đều có “trí tuệ đức tướng Như Lai”, nhưng vì sao hiện tại chúng ta không có trí tuệ thông suốt này? Kinh Phật thường nói, các tổ sư đại đức cũng thường nói: “sở tri chướng” là do khởi tâm động niệm. Kinh Lăng Nghiêm, tôn giả Phú Lâu Na hỏi rất hay: “tất cả chúng sinh có vô minh, vô minh bất giác sinh ba cõi, vậy vô minh này có từ lúc nào, do nguyên nhân gì mà ra?”. Đức Phật đáp cũng rất diệu: “vô minh chính là sở tri chướng”, “tri kiến lập tri là vô minh bổn”. Tri kiến chính là trí tuệ thông suốt. Sai sót chính ở chúng ta muốn lập tri. Lập tri là phân biệt, khởi tâm động niệm, liền chướng ngại trí tuệ thông suốt.

    Chư Phật Như Lai thường ở trong định, không phải ngồi xếp bằng tĩnh tọa như người thường vẫn nghĩ. Trong định chính là tâm định, không kể đến thân, “đi đứng nằm ngồi” đều trong định, đó mới gọi là thiền định. Định là không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước. Định sinh huệ, tác dụng của định chính là trí tuệ thông suốt. Chúng ta không có trí tuệ bởi vì tâm động. Cho nên, nếu muốn cầu trí tuệ, không khó, chúng ta chỉ cần tận lực giữ gìn tâm, không để cho cảnh giới bên ngoài xoay chuyển, phiền não dao động. Chúng tôi thường khích lệ các vị đồng tu bằng mười sáu chữ cần buông bỏ “tự tư tự lợi, danh vọng lợi dưỡng, năm dục sáu trần, tham sân si mạn”. Sau khi buông bỏ, chúng ta liền ở ngay trong định. Tuy định này không sâu nhưng có thể sinh trí tuệ. Có công phu thì khi mở bất cứ kinh điển gì, chúng ta sẽ không có chướng ngại, mà trên tinh thần “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa” như kệ khai kinh đã nói, mặc dù dĩ nhiên sự hiểu của chúng ta vẫn chưa đủ sâu, chưa đủ viên mãn. Tuy nhiên, sự hiểu đó lại chính xác, không sai, vì khi đó, chúng ta đã có sức định.

    Nếu không buông bỏ mười sáu chữ vừa nêu, một chút định cũng không có, thì không những đức Phật giảng chúng ta sẽ không hiểu, mà chú giải của tổ sư chúng ta xem cũng không hiểu. Sở tri chướng ở ngay đó. Tâm càng thanh tịnh, trí tuệ càng lớn. Lời nói của cổ đức rất có đạo lý: tu hành Phật pháp chính là một chữ “buông”. Buông bỏ, từ sơ phát tâm đến quả vị Như Lai không hề khác biệt. Buông bỏ một phần, chúng ta liền có thể nhìn thấu một phần, nhìn thấu là trí tuệ thông suốt. Chúng ta liền có thể được một phần tự tại, thần thông tự tại, đều có thể có được người của thế giới Tây Phương cực lạc, vi diệu không thể nói hết.

    Chữ “đương sanh” rất vi diệu. Ngày nay, chúng ta hạ quyết tâm tu Tịnh Độ, một lòng một dạ, đó chính là đương sanh, ngay đời này nhất định sẽ không còn luân hồi, nhất định được sinh Tịnh Độ. Bản thân tràn đầy tín tâm, sinh đến thế giới Tây Phương cực lạc những thứ này thảy đều có được, thậm chí còn viên mãn. Bồ Tát Thất Địa tiếp cận viên mãn, lên trên Bát Địa, Cửu Địa, Thập Địa Đẳng Giác đều viên mãn. Ngôi thứ năm chính là quả vị Như Lai cứu cánh.

    Lý do của việc lựa chọn pháp môn niệm Phật

    Vừa rồi đến Trung Quốc, chúng tôi gặp rất nhiều vị đồng tu Phật giáo trách móc rằng tại sao chúng tôi chỉ tuyên dương pháp môn Tịnh Độ mà không nói đến các pháp môn khác. Họ lo lắng chẳng lẽ tương lai chỉ có Tịnh Độ, còn các tông phái khác đều không có.

    Kỳ thật họ không hiểu cách thức giảng kinh. Giảng bộ kinh nào, nhất định phải tán thán bộ kinh đó. Chúng tôi giảng Tịnh Độ mà lại tán thán Thiền chẳng phải làm trò cười hay sao? Đây là một nguyên tắc cơ bản. Bất cứ tông phái nào, khi giảng giải, chúng ta phải tán thán để người nghe mới có thể sinh tín tâm, có thể thọ dụng, y giáo phụng hành, chân thật được lợi ích.

    Trước đây, một nữ tu của Thiên Chúa Giáo cho biết cô rất thích nghe chúng tôi giảng Mai Quế Kinh ở trường. Chúng tôi cũng đã hứa sẽ tìm thời gian thích hợp, cố gắng giảng qua một lượt trong phòng thu rồi tặng các vị phổ biến bên Thiên Chúa Giáo. Khi giảng Mai Quế Kinh, chúng tôi cũng tán thán Thiên Chúa Giáo, tán thán GiêSu, không thể so sánh họ không bằng đức Phật A Di Đà. Cho nên chúng ta cần hiểu, đây là qui củ của giáo học. Không luận giảng bộ kinh điển nào, không luận giảng pháp môn gì, nhất định phải tán thán. Chúng ta gặp đệ tử Phật môn tu học pháp môn tông phái khác, đều tán thán, không nên hủy báng, xem thường.

    Trong “Du Già Bồ Tát giới bổn”, có một điều trọng giới, “khen mình chê người”, dường như xếp ở điều thứ nhất. Trọng giới thứ nhất là tán thán chính mình, hủy báng các tông phái khác. Tất cả pháp môn có trong nhà Phật không luận Đại thừa, Tiểu thừa, tông môn giáo hạ, hiển giáo mật giáo, kinh điển mà chúng ta y theo đều là Thích Ca Mâu Ni Phật nói. Nếu hủy báng kinh điển là báng Phật báng pháp. Có không ít người y theo pháp môn này tu hành thành tựu, chẳng phải như vậy là báng cả tăng sao? Cho nên có thể tán thán chính mình nhưng không được hủy báng Tam Bảo, vì hủy báng Tam Bảo, quả báo địa ngục A Tỳ, không thể vãng sinh.

    Người tu Tịnh Độ chúng ta đối với bất kỳ tông phái nào cũng đều tán thán. Chúng ta cung kính Tam Bảo, không những tán thán Tam Bảo, mà cần tán thán cả các tôn giáo khác. Mặc dù tôn giáo không giống nhau, nhưng họ đều “do tâm hiện ra, do thức hiện bày”. Chúng ta và họ đồng một gốc, đồng một nguồn cội, đồng một tự tánh, vì vậy không nên xem thường, hủy báng. Không tường tận đạo lý này, thì việc học Phật chỉ là học suông, Phật hiệu cũng là niệm suông, làm sao có thể thành tựu. Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa còn ở đời, đối với rất nhiều tôn giáo khác của Ấn Độ, Thế Tôn không hề hủy báng, không hề xem thường. Chúng ta cũng nên theo đó mà học. Căn tính tuy không giống nhau, không luận thuộc tôn giáo nào cũng đều khuyên người làm thiện, lánh ác.

    Thời đại này là loạn thế, tai nạn triền miên, chúng ta trải qua ngày tháng rất khổ đau. Mọi người trên toàn thế giới bất luận tôn giáo, chủng tộc, quốc gia đều một mong cầu khẩn thiết “xã hội an định, thế giới hòa bình”. Do đó, những năm gần đây, chúng tôi ở Singapore, Úc Châu vẫn đang tiếp tục làm công tác đa nguyên văn hóa, đoàn kết tôn giáo, chủng tộc, hóa giải hiểu lầm, xung đột, hy vọng mọi người toàn tâm toàn lực cống hiến vì an định xã hội, thế giới hòa bình.

    Chúng tôi có đưa ra tổng cương lĩnh gói gọn trong tám chữ “đối đãi bình đẳng, hòa thuận cùng sống”. Không nên phân tôn giáo, không phân chủng tộc, không phân quốc gia, không phân văn hóa, cũng không phân giàu nghèo sang hèn, chúng ta đều mong cầu đối đãi bình đẳng với nhau, hòa thuận cùng sống. Ngoài ra chúng tôi còn có năm cụm từ mười chữ “bao dung, tôn trọng, kính yêu, quan tâm, chăm sóc”. Sau cùng tổng kết lại, chúng ta “hợp tác lẫn nhau”. Chỉ với mấy câu như vậy, chúng tôi đi khắp nơi trên thế giới, đến đâu cũng khuyên mọi người thực tiễn triệt để, bản thân quyết làm được, sau đó tiến thêm một bước yêu cầu người trong đạo tràng làm được, dần dần yêu cầu người trong thị trấn nhỏ thảy đều làm được

    Chúng tôi ở Úc châu trong một trấn nhỏ chỉ có tám ngàn người đều làm thành công, vì mỗi cá nhân đều có lòng tự trọng, đều hy vọng trấn nhỏ này trở thành trấn mô phạm bình đẳng, đối đãi hòa thuận. Chúng tôi dự đoán khoảng vài năm nữa, trấn nhỏ này sẽ trở nên nhất nhì thế giới về hòa bình an định. Người dân xem người già như cha mẹ mình, xem người trẻ như con em ruột thịt mà tôn trọng, kính yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.

    Xây dựng thế giới hòa bình là việc không dễ dàng. Hội nghị hòa bình của Liên Hiệp Quốc tổ chức ở Thái Lan vừa qua, sau khi tham gia, chúng tôi cảm thấy không thực tiễn. Từ đó mới thấy, thật may mắn khi ở Toowoomba hình thành một mô phạm hòa bình, mà người Trung Quốc gọi là kiểu mẫu. Đó chính là mở rộng của thôn Di Đà, trấn nhỏ này đầy đủ điều kiện thiên nhiên, cư dân bao gồm hai loại người: trí thức, đa số có trình độ văn hóa rất cao, chiếm một phần tư nhân khẩu; ba phần tư còn lại phần lớn đã về hưu, và người về hưu ở các nơi đến đây dưỡng lão. Do điều kiện thiên nhiên ưu đãi nên nơi này còn gọi là trấn về hưu dưỡng lão. Cứ cuối tuần, chúng tôi thường tổ chức buổi tiệc ấm cúng dành cho khách thập phương tề tựu. Số lượng khách ngày càng tăng là điều đáng mừng. Mục đích buổi tiệc nhằm giáo dục, dẫn dắt nhân dân thực tiễn đối đãi bình đẳng, hòa thuận, cùng thực hiện bao dung, tôn trọng, kính yêu, quan tâm, chăm sóc, hợp tác lẫn nhau. Hy vọng lãnh đạo các tôn giáo trong trấn nhỏ này, từ dẫn đầu đến thúc đẩy để trở thành trấn nhỏ hòa bình nhất thế giới.

    “Hình mạo đoan nghiêm, phước đức vô lượng, trí huệ minh liễu, thần thông tự tại”, đều là đức năng tự tánh vốn đủ. Chúng ta có trí tuệ, có sức định sẽ khai mở được trí năng này vô tận vô lượng vô biên. Mọi người đều có thể khai mở.

    “Thọ dụng chủng chủng, nhất thiết phong túc”

    Tám chữ này chứa đựng muôn hình vạn vẻ. Ngày nay chúng ta có đời sống tinh thần, đời sống vật chất không những đủ mà còn rất đầy đủ, rất phong phú, không hề kém khuyết. Kinh nêu ra một vài ví dụ các thứ thọ dụng.

    Thứ nhất là nơi ở, “cung điện”. Cung điện không có nghĩa là nơi ở của đế vương thời xưa mà đó chính là nhà ở cá nhân cùng nơi họat động đoàn thể.

    Thứ hai, “phục sức” là điều kiện ăn mặc sung túc. Người thế gian ưa thích trang sức. Chư Phật Bồ tát cũng thường đeo anh lạc, gọi là “chúng bảo trang nghiêm”. Những thứ này đều tự nhiên, không do con người thiết kế chế tạo. Thế giới Tây Phương vốn mọi thứ đều tự nhiên, do nghĩ mà sinh ra.

    Thứ ba, “hương hoa”, mười phương pháp giới tất cả chúng sinh không ai không thích hương hoa. Người ta rất chú trọng đến vườn tược. Người giàu sang Trung quốc thời xưa đặc biệt chú trọng đến hoàn cảnh nơi ở. Đến tham quan Trung quốc, chúng ta sẽ thấy còn lưu giữ lại rất nhiều khu vườn với những kiến trúc đẹp mắt ở Tô Châu, Dương Châu, Bắc Kinh. Không cần chờ đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, “do nghĩ mà sinh”, chỉ cần chúng ta quán tưởng, thế giới Tây phương liền hiện tiền trong cuộc sống của chúng ta.
    “Phan cái trang nghiêm chi cụ, tùy ý sở tu, tất giai như niệm”

    Câu nói này đã bao gồm hết tất cả vật chất đồ dùng trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, không thiếu thứ nào. Khi nào cần dùng, nó tự nhiên hiện ra; khi không cần nữa, nó liền biến mất. Cho nên, đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, vào nhà của mỗi người đều thấy sạch sẽ, bóng láng không chút bụi trần, đồ dùng của họ cũng không cần phải cất chứa, vô cùng vi diệu. Bởi vì tất cả chúng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc đều có năng lực chuyển đổi năng lượng vật chất, có thể đem năng lượng biến thành vật chất, khi cần dùng thì thảy đều đầy đủ, khi không cần dùng thì chuyển biến vật chất này quay trở về thành năng lượng nên không cần phải cất chứa.

    Trong kinh điển nhà Phật đã giới thiệu rất nhiều cảnh giới không thể nghĩ bàn, được khoa học gia hiện tại chứng thực. Thế nhưng hiện tại họ không biết dùng phương pháp gì để làm cho năng lượng và vật chất tùy tâm mà chuyển biến. Người thế giới Tây Phương Cực Lạc sớm đã biết được. Những năm đầu khi giảng bộ kinh này, chúng tôi đã khuyên các khoa học gia nên đến thế giới Cực Lạc “du học”. Nếu không, kiến thức họ học được sẽ rất có hạn. A Di Đà Phật là nhà khoa học vĩ đại nhất giữa vũ trụ này, cho nên học khoa học thì cần đi đến thế giới Cực Lạc.

    “Tùy ý sở tu tất giai như niệm”, tất cả đều do tâm nghĩ sự thành, không như thế gian đời sống gian nan khổ sở. Thích Ca Mâu Ni Phật nói, sáu cõi của chúng ta là biển khổ. Có ba loại khổ lớn, “khổ khổ, hoại khổ, hành khổ”. Kinh Hoa Nghiêm nói “ba cõi đều khổ”, dục giới ba loại khổ này thảy đều đầy đủ, không ai có thể tránh khỏi được. Người cõi trời sắc giới công phu thiền định sâu, không có “khổ khổ”, nhưng họ có “hoại khổ”, “hành khổ”, vẫn không được coi là tự tại. Đến được cõi vô sắc, ngay đến thân thể này cũng không cần, không có “hoại khổ”, nhưng họ vẫn có “hành khổ”. Hành khổ vì cảnh giới này của họ không thể giữ được mãi. Họ có hạn chế của thọ mạng. Cõi trời Vô Sắc giới cao nhất, trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tuổi thọ tám vạn đại kiếp. Người thông thường không ấn tượng sâu về con số tám vạn đại kiếp, nhưng đối với người con Phật thì tương đối dễ hiểu hơn. Trong kinh luận đức Phật dạy, thế giới này, một lần “thành, trụ, hoại, không” là một đại kiếp. Tám vạn đại kiếp là “thành, trụ, hoại, không” tám vạn lần. Thế nhưng rốt cuộc, nó vẫn là số lượng, cùng với thời không vô tận mà so sánh, vẫn rất ngắn ngủi. Tám vạn đại kiếp cũng qua nhanh, khi mất định lực vẫn bị đọa xuống sáu cõi luân hồi, không được cứu cánh. “Ba cõi đều khổ”, không hề có những ngày tháng tốt đẹp, muốn trải qua ngày tháng tốt đẹp, chúng ta hãy hướng đến, xem thế giới Tây Phương Cực Lạc kỳ diệu dường nào.

    (Trích Lục Kinh Vô Lượng Thọ, Phẩm thứ 19)



    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  12. #12

    Mặc định

    Xin được tán thán huynh smc nhắc nhỡ vđ giữ giới.

    Giữ giới không trộm cắp, cho dù mình vào nhà ai, vào shopping, tiệm, quán xá, vật dù nhỏ tới đâu, 1 xu, 1 đồng, cũng không vì nghĩ rằng nhỏ không đáng rồi lấy. Với đạo thì phạm giới trộm cắp, với đời cũng vậy, dù nhỏ tới chỉ đáng giá vài đồng, vài xu, nếu bị bắt được, cũng vẫn bị ghép tội ăn cắp, xử theo nặng nhẹ từ cảnh cáo, phạt, tới tù tội.

    Giới nào cũng tương tự như giới trộm cắp cả, dù chỉ là 1 chút xíu cũng phạm giới rồi. Giới không uống rượu và các chất say cũng vậy. Mình thấy nhiều vị, nhất là các anh, các chú, thậm chí là các chị, các cô, là Phật tử "thuần thành", đi chùa, tham gia cả ban hộ tự, hộ tăng. Mỗi ngày, mỗi tuần đều vái lạy Tam Bảo, nguyện giữ gìn "Ngũ Giới." Chiều tối, lại thấy các chú, các bác đó, cả các cô dì nữa, ngồi chung với nhau, lúc thì quán xá, khi thì sau sân, tiệc tùng, ăn uống, "nâng ly." Dẫu chỉ 1 ly, 1 chút, 1 ngụm bia thôi, các cô thì hay "ăn chút đồ biển, nhấp 1 ngụm bia ...," mà quên rằng dù là 1 giọt thì cũng là phạm giới rồi. Nếu các vị đó nghĩ rằng,với giới không trộm cắp, dù lấy 1 xu 1 đồng, nhỏ bao nhiêu cũng là trộm cắp, thì giới nào cũng vậy. Dẫu 1 chút, 1 li, giới nào cũng là phạm. Nhiều khi, phạm giới mà bản thân mình cũng không biết, không ý thức, vì lúc đó, tâm không còn Chánh Niệm, mà hòa theo với những cuộc vui, tham sân si.

    Giới Trộm Cắp là dễ thấy nhất, nhưng cũng không chắc giữ được rốt ráo, nếu không đủ Chánh Niệm, tỉnh giác quán sát.

    Nhiều anh, chị, cô chú, các bác, ở chỗ làm hay lấy ít đồ ở hãng, ở sở làm, như giấy, bút, viết, thước, vv... "cầm thêm" về cho con cháu nó xài. Ai cũng biết những vật dụng "nho nhỏ", stationary, là hãng chỉ cung cấp cho nhân viên xài vào công việc của hãng. Chứ không cung cấp để "đem về" cho con, cháu, anh chị em, cháu chắt, bà con của nhân viên xài. "Vô tư", tâm không Chánh Niệm, ý thức, lấy về cho con cháu gia đình xài, mà không biết đã, đang phạm giới 'ăn cắp.'

    Nếu chúng ta đã là Phật tử, xin quy y Tam Bảo, nguyện giữ gìn Ngũ Giới. Giới nào cũng trọng, cũng như nhau.

    Kính xin các anh, các chú, các bác, quý chị, cô, dì nên từ tâm cẩn trọng, chánh niệm thủ giới.

  13. #13

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi smc Xem Bài Gởi
    Kinh sách là để ĐỌC - HIỂU rồi THỰC HÀNH... chứ không phải để đem ra tụng la làng cả nhà cả xóm, cũng không phải để gõ cóc cóc beng beng để chứng tỏ mình... tu!

    Mỗi ngày, nếu quá bận rộn, chỉ cần dành ra 30' - 1h để lấy kinh sách ra đọc. Đọc một câu rồi thì tư duy, nghiền ngẫm xem Phật dạy cái gì, rồi thực hành. Chứ không phải xách cuốn kinh ra bàn thờ ngồi "trả bài" cho Phật, thì gọi là Tu!

    "Kinh điển Ta dạy cho Nó nghe
    Nào ngờ Nó tụng, bắt Ta nghe
    Tuổi già tám mươi ngồi gì nổi
    Đọc lâu mỏi mệt sụm bánh chè" (HT.Thích Từ Thông)

    => Quan trọng là cái giữ GIỚI, vì nó là hàng rào bảo vệ cho người hành giả tránh được các bất thiện pháp chưa sanh, cũng như làm tiêu trừ nó nếu nó đã sanh. Giữ GIỚI làm cho thiện pháp chưa sanh được trổ sanh, thiện pháp đã sanh được sung mãn. Giới không giữ được thì dù có niệm Phật thụt lưỡi, lạy Phật đến liệt người, ngồi thiền chai đít như đít khỉ thì cũng không ăn thua gì hết!
    heeeee, smc có đến các chùa tu theo nguyen thủy ko vậy. Nếu đến thì sẽ thấy các thầy tụng cả xóm đều nghe. Vạy các thầy phải bái smc này làm sư phụ rồi. A di đà Phật!
    Lên hệ trao đổi phật pháp qua nick sky: hieubuikhuong hoặc facebook https://www.facebook.com/profile.php?id=100009987160842

  14. #14

    Mặc định

    Đầu tiên là về vong linh, vong linh đúng thực ra là 1 loài trong cõi ngạ quỹ, cõi ngạ quỹ tồn tại song song thế giới loài người, thế thì cái mình nghĩ là nhà mình chắc gì ở cõi giới đó có tường blah blah blah, nên cái định nghĩa sở hữu là nhà của mình là sai nhé. Người ta thích đi đâu là việc của người ta trừ những nơi có các bậc chân tu có hàng thiên long hộ pháp nghiêm ngặt như các tịnh xá, thiền thất.
    Tiếp đến là việc tụng kinh, việc tụng kinh là việc nhắc lại đọc lại những lời pháp quý báu những lời pháp chân thực của Thế Tôn để nhắc nhở bản thân và nếu có các hàng phi nhân ở đó họ cũng được cảnh tỉnh, bạn đang làm 1 việc tốt cho mình cho người mà sợ sệt cái điều chi ?

    Bài viết trên còn mang nhiều tà kiến và tính chủ quan thiếu logic và kiến thức.
    Facebook: https://www.facebook.com/namo.bhaisajyaguru
    Skype: hung.tranvan2209

  15. #15
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi phapchieumt Xem Bài Gởi
    heeeee, smc có đến các chùa tu theo nguyen thủy ko vậy. Nếu đến thì sẽ thấy các thầy tụng cả xóm đều nghe. Vạy các thầy phải bái smc này làm sư phụ rồi. A di đà Phật!
    - Dạ, lần sau có châm chích thì hãy tác ý chân chính bạn ạ. SMC đang bám sát chủ đề, và chủ đề là "tụng kinh ở nhà, nên SMC đang nói đến việc Phật tử tụng kinh ở nhà.

    => Hãy luôn tác ý chân chính về thân khẩu ý, phòng hộ 6 căn trong trao đổi khi chúng ta cọ sát 5 uẩn với nhau.

  16. #16

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi smc Xem Bài Gởi
    - Dạ, lần sau có châm chích thì hãy tác ý chân chính bạn ạ. SMC đang bám sát chủ đề, và chủ đề là "tụng kinh ở nhà, nên SMC đang nói đến việc Phật tử tụng kinh ở nhà.

    => Hãy luôn tác ý chân chính về thân khẩu ý, phòng hộ 6 căn trong trao đổi khi chúng ta cọ sát 5 uẩn với nhau.
    heeeee, chính SMC là người châm chích phật tử tụng kinh ở nhà, mình thấy nhiều phật tử tu theo nguyên thủy họ cũng tụng kinh ở nhà mà, ko có thầy nào ko cho phật tử tụng kinh ở nhà trừ ngài SMC. A di đà Phật!
    Lên hệ trao đổi phật pháp qua nick sky: hieubuikhuong hoặc facebook https://www.facebook.com/profile.php?id=100009987160842

  17. #17

    Mặc định

    Có 1 số bài kinh nguyên thuỷ vẫn tụng ở nhà như Paritta chẳng hạn, bạn smc hơi căng thẳng với đại thừa nhỉ ? thừa nào cũng dc, miễn bản thân mình hành theo Phật dạy thân tâm mình an lạc, gia đình mình hạnh phúc là cái cốt tuỷ của tại gia cư sĩ, đừng vì định kiến và chấp kiến do ngã mà lại sinh ra tâm sân nhuế, việc họ hành đại thừa cũng chả liên quan gì ráo đến bản thân bạn, bạn bảo vệ chi để cho bạn sân và ng đó cũng sân chỉ gây tổn hại chứ chả thấy lợi lạc gì,hay nói cách khác bạn đang bảo vệ chánh Pháp hay đang bảo vệ cái tự ngã của mình ? Nếu là bảo vệ chánh Pháp thì nếu đã là thánh Pháp tức là chân lý, đã là chân lý thì ko cần chứng minh, hiển nhiên nó đúng ko cần đi cãi chày cãi chối cãi ra cơm ra cháo làm gì, còn việc bạn bảo vệ bản ngã thì khỏi nói gì thêm :3
    Facebook: https://www.facebook.com/namo.bhaisajyaguru
    Skype: hung.tranvan2209

  18. #18
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi phapchieumt Xem Bài Gởi
    heeeee, chính SMC là người châm chích phật tử tụng kinh ở nhà, mình thấy nhiều phật tử tu theo nguyên thủy họ cũng tụng kinh ở nhà mà, ko có thầy nào ko cho phật tử tụng kinh ở nhà trừ ngài SMC. A di đà Phật!
    - SMC nói chỗ nào là "không cho Phật tử tụng kinh ở nhà" ạ?

    Đơn giản, mỗi người có khái niệm "tụng kinh". SMC cũng tụng tại nhà đó thôi. Nhưng không có gõ mỏ, không có cóc cóc beng beng... Chỉ là đọc và nghiền ngẫm, tư duy lời dạy thôi. Ai thích cóc cóc, beng beng thì cứ làm... => Cuối cùng vẫn là: không phải do cóc cóc beng beng mà MA tới nhà, "vong" theo quấy phá... Chứ SMC không nói chuyện Tụng Kinh là ĐƯỢC hay KHÔNG ĐƯỢC! (Đang nói về chuyện tụng kinh mà Vong theo phá)! Làm ơn tác ý bám sát chủ đề đang bàn luận ạ!

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Người học Phật Xem Bài Gởi
    Có 1 số bài kinh nguyên thuỷ vẫn tụng ở nhà như Paritta chẳng hạn, bạn smc hơi căng thẳng với đại thừa nhỉ ? thừa nào cũng dc, miễn bản thân mình hành theo Phật dạy thân tâm mình an lạc, gia đình mình hạnh phúc là cái cốt tuỷ của tại gia cư sĩ, đừng vì định kiến và chấp kiến do ngã mà lại sinh ra tâm sân nhuế, việc họ hành đại thừa cũng chả liên quan gì ráo đến bản thân bạn, bạn bảo vệ chi để cho bạn sân và ng đó cũng sân chỉ gây tổn hại chứ chả thấy lợi lạc gì,hay nói cách khác bạn đang bảo vệ chánh Pháp hay đang bảo vệ cái tự ngã của mình ? Nếu là bảo vệ chánh Pháp thì nếu đã là thánh Pháp tức là chân lý, đã là chân lý thì ko cần chứng minh, hiển nhiên nó đúng ko cần đi cãi chày cãi chối cãi ra cơm ra cháo làm gì, còn việc bạn bảo vệ bản ngã thì khỏi nói gì thêm :3
    - SMC đã nói bên trên, SMC đang nói đến việc "đừng có lo sợ mấy cái chuyện tào lao, đừng có nghĩ tụng kinh ở nhà là vong theo", chứ SMC có nói gì tới PG Nguyên Thủy hay PG Phát triển đâu ạ! Ngược lại, SMC lại thấy nhiều người cứ đem hai chữ Tiểu Thừa, Đại Thừa phán "như đúng rồi" thôi!

    Và SMC cũng đâu có nói cái gì đến chuyện tụng kinh là NÊN hay KHÔNG NÊN, ĐƯỢC hay KHÔNG ĐƯỢC.... hay nói gì tới việc tụng kinh trong chùa đâu nhỉ!

    SMC có bực chứ không phải không có bực! Vì một số người không đọc từ đầu đến cuối, không nắm được nội dung đang được trao đổi, chỉ đọc một comment bất chợt nào đó rồi nói nhặn xị lên! Rồi nhảy vào Đại Tiểu... trong khi SMC chẳng nói gì liên quan đến chúng!

    Tóm lại, SMC không nói đến chuyện "tụng kinh ở nhà được hay không", mà là đang nói đến "đừng tào lao khi nghe mấy ông cố hay hù dọa là tụng kinh ở nhà thì kéo ma quỷ tới nghe", rồi trong đám ma quỷ cũng có quỷ hiền quỷ ác. Quỷ hiền thì theo bảo vệ, còn có quỷ dữ thì nó hại ta, phá gia đình ta! <--- SMC đang nói đến mấy cái tào lao như thế này, chứ không nói đến chuyện ĐƯỢC hay KHÔNG ĐƯỢC tụng kinh ở nhà (hay ở chùa) !

    Mong bạn tác ý chân chánh và hiểu rõ ý của SMC muốn diễn đạt.

    Trân trọng.

    Chúc an lạc. Mong hoan hỷ !

  19. #19

    Mặc định

    Hè hè, cái gì cũng có nhân quả của nó, chớ có nhìn phiến diện mà phán xét.
    Có những đứa trẻ mới sinh ra đã kinh động quỷ thần. Có lúc đùa giỡn, ngồi trên bàn thổ địa, thổ địa còn phải né ra cho nó ngồi. Đời thật buồn cười, kẻ chân trần mà chẳng có chút chông gai, kẻ mình đầy đủ khiên giáp mà vẫn te tua. Người ngu hỏi "Thiên lý ở đâu?". Há há.
    Người đọc tụng hơn ngàn lần cũng chẳng được viên giác, kẻ lước qua đôi câu thì lại đại ngộ. Thiên lý ở đâu? Há há.
    Last edited by Itdepx; 15-03-2018 at 08:57 PM.
    Cư trần lạc đạo

  20. #20
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Itdepx Xem Bài Gởi
    Có những đứa trẻ mới sinh ra đã kinh động quỷ thần. Có lúc đùa giỡn, ngồi trên bàn thổ địa, thổ địa còn phải né ra cho nó ngồi.
    Nhà cạnh SMC trước kia có thờ thổ địa. Xong thì bán đi nơi khác, chủ mới là người đạo Chúa, không có bàn thờ thổ địa!

    SMC thấy tội nghiệp ông thổ địa nhỉ... không chốn dung thân!

    À, còn ông Táo nữa... gia đình 3 người nhà táo cũng ra đường ở với thổ địa luôn...

    Lỗi tại ai.... :)

    Đọc comment này nhớ lại một thời trẻ con vô minh hồn nhiên với: cò bay ngựa chạy, cá chép vượt vũ môn hóa rồng... Ôi tuổi thơ ùa về !!!
    Last edited by smc; 16-03-2018 at 10:29 AM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 25-07-2013, 06:13 AM
  2. Nhờ các thầy giúp: Vong phá cơ sở kinh doanh mới mở
    By nguyenthao.csm in forum Hỏi Đáp, Tư Vấn
    Trả lời: 26
    Bài mới gởi: 31-03-2012, 09:48 AM
  3. Nhờ các thầy giúp: Vong phá cơ sở kinh doanh mới mở
    By nguyenthao.csm in forum Hỏi Đáp, Tư Vấn
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 06-03-2012, 08:44 PM
  4. Trả lời: 31
    Bài mới gởi: 07-08-2011, 12:28 PM
  5. Vong nhập là lừa bịp, thần kinh
    By chaovietnam in forum Tâm linh – Tín ngưỡng – Siêu hình học – Ngoại cảm
    Trả lời: 39
    Bài mới gởi: 05-06-2011, 12:57 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •