Hôm nay ghé nhà một cậu bé và giựt mình. Đã biết từ lâu về cái chí của cậu, biết cái dũng của cậu, nhưng hôm nay lại thật vui mừng vì thấy được một chút trong cái trí của cậu ta. Mình phải chép lại ở đây, cũng là để giới thiệu với các bạn mình một cách suy nghĩ của một con người bình thường trước các xúc phạm đến niềm tin của mình.
Dạy cho Đông A vô thần và chungta20 ngu xuẩn biết thế nào là Tôn giáo và Công giáo đích thực.
Blackwiki cũng nên tham khảo để biết thế nào thực sự là đức tin và tôn giáo nhé. Hi vọng sau khi đọc bài này, rồi đọc lại kinh thánh, bạn sẽ có những cảm nhận và suy nghĩ mới.
Bạn chungta20 đã chạy qua nhà mình để vứt đống rác này:
chungta20 wrote on Jan 10
Nhiều danh nhân trí thức tên tuổi thế giới đã đưa ra những nhận định trung thực và chính xác về sự bất lương, xấu xa và hèn hạ của Ki Tô Giáo trong quá trình truyền đạo. Sau đây là vài trường hợp điển hình:
Voltaire (1694-1778), Văn hào, Triết gia Pháp: Ki-Tô giáo là tôn giáo lố bịch nhất, vô lý nhất và đẫm máu nhất làm nhiễm độc thế giới. (Christianity is the most ridiculous, the most absurd and bloody religion that has ever infected the world); Trong 1700 năm, Ki Tô giáo không làm gì khác ngoài việc gây hại cho nhân loại (For 1700 years, the Christian sect has done nothing but harm)
Arthur Schopenhauer (1788-1860), Triết gia Đức: Những hoa trái của Ki Tô giáo là chiến tranh tôn giáo, những cuộc tàn sát, những cuộc chiến tranh thập giá, những tòa án xử dị giáo, sự tiêu diệt các thổ dân Mỹ, và đưa những nô lệ Phi Châu vào thay thế (The fruits of Christianity were religious wars, butcheries, crusades, inquisitions, extermination of the natives in America, and the introduction of African slaves in their place)
William E. H. Lecky (1838-1903), Sử gia Ái Nhĩ Lan: Hầu hết Âu châu, trong nhiều thế kỷ, đã bị ngập máu, máu đổ do sự chủ mưu trực tiếp hoặc với sự hoàn toàn chấp thuận của những người có quyền trong giới giáo sĩ [Công giáo] (Almost all Europe, for many centuries, was inundated with blood, which was shed at the direct instigation or with the full approval of the ecclesiastical authorities).
George Santayana (1863-1952), Triết gia Mỹ: Ki Tô giáo [xin hiểu là Công giáo] đàn áp tôn giáo, tra tấn và thiêu sống con người. Như một con chó săn, tôn giáo này đánh hơi và truy lùng kẻ lạc đạo. Tôn giáo này gây nên những cuộc chiến tranh, và nuôi dưỡng thù hận và tham vọng. Tôn giáo này thánh hóa sự tận diệt và sự chuyên chế (Christianity persecuted, tortured, and burned. Like a hound it tracked the very scent of heresy. It kindles wars, and nursed furious hatred and ambitions. It sanctified extermination and tyranny..)
Học giả Công Giáo Joseph D. Daleiden, cũng viết trong cuốn The Final Superstition, xuất bản năm 1994, trg. 169:
"Nói tóm lại, những bằng chứng tràn ngập cho thấy sự truyền bá Ki Tô Giáo xưa và nay phần lớn dựa vào sự cưỡng bách, bạo hành và đàn áp. Xuyên suốt lịch sử, từ những cuộc diệt trừ những người lạc đạo ngay từ thuở đầu, cho tới những cuộc thánh chiến, những tòa án xử dị giáo, sự trấn áp những nền văn hóa khác trên khắp thế giới, Ki Tô Giáo đã chứng tỏ những tiêu chuẩn có tính cách hủy diệt và chống loài người của tôn giáo này."
(In summary, the evidence is overwhelming that the propagation of Christianity in both the Old World and the New was due in large measure to coercion, persecution and suppression. Throughout its history, from the earliest purges of heretics, through the crusades, the Inquisition, and repression of other cultures throughout the world, Christianity has demonstrated its destructive antihuman values.)
Còn Đông A, ông ấy viết như sau:
Bao giờ người Công giáo hết dối trá?
Tôi đọc thấy thông tin về việc chính quyền cho dỡ bỏ cây thánh giá trên đỉnh núi Chẽ mà giáo dân Công giáo đã tự ý dựng lên trái phép trên các trang web của người Công giáo. Các trang web đưa những thông tin kiểu như: "Những ngày giáo dân dựng thánh giá, chính quyền huyện Mỹ Đức đã tới chứng kiến việc dựng thánh giá và không hề có ý kiến gì." Trong khi đó ngay từ những ngày đầu tiên dựng thánh giá trái phép (tháng 3 năm 2009), chính quyền đã yêu cầu giáo dân phải dỡ bỏ, nhưng giáo dân đã nại rằng: "không giáo dân nào dám lên đỉnh núi để di dời cây thánh giá", mặc dù đã thừa nhận rằng việc dựng thánh giá trên đỉnh núi Chẽ là trái pháp luật. Việc dựng thánh giá trên đỉnh núi Chẽ là một bằng chứng cho thấy người Công giáo đích thị là một thứ kiêu dân đang hoành hoành trong xã hội Việt Nam. Không những là kiêu dân, người Công giáo luôn bày những trò dối trá và bội tín. Tôi cảm thấy dường như dối trá là một song hành với Công giáo và điểm này thật ra cũng không phải là khó hiểu bởi vì trong mười điều răn của Chúa không có điều răn nào cấm dối trá. Việc dỡ bỏ cây thánh giá trên đỉnh núi Chẽ là việc làm đúng đắn để lập lại kỷ cương pháp luật của đất nước. Trong một quốc gia văn minh không một tôn giáo nào có quyền tự ý xây dựng những biểu tượng tôn giáo ở những nơi công cộng mà không được sự cho phép của chính quyền. Một tôn giáo văn minh phải là một tôn giáo có những giáo dân biết tôn trọng pháp luật.
Đây là 10 điều răn của Chúa trong Kinh Thánh. Chỉ có cấm làm chứng dối trá chứ không cấm dối trá như nói dối, viết sai sự thật, nói sai sự thật:
2 I am the Lord your God, who brought you out of the land of Egypt, out of the house of slavery;
3 Do not have any other gods before me.
4 You shall not make for yourself an idol, whether in the form of anything that is in heaven above, or that is on the earth beneath, or that is in the water under the earth.
5 You shall not bow down to them or worship them; for I the Lord your God am a jealous God, punishing children for the iniquity of parents, to the third and the fourth generation of those who reject me,
6 but showing steadfast love to the thousandth generation of those who love me and keep my commandments.
7 You shall not make wrongful use of the name of the Lord your God, for the Lord will not acquit anyone who misuses his name.
8 Remember the Sabbath day and keep it holy.
9 For six days you shall labour and do all your work.
10 But the seventh day is a Sabbath to the Lord your God; you shall not do any work—you, your son or your daughter, your male or female slave, your livestock, or the alien resident in your towns.
11 For in six days the Lord made heaven and earth, the sea, and all that is in them, but rested the seventh day; therefore the Lord blessed the Sabbath day and consecrated it.
12 Honor your father and your mother, so that your days may be long in the land that the Lord your God is giving you.
13 You shall not murder.
14 You shall not commit adultery.
15 You shall not steal.
16 You shall not bear false witness against your neighbor.
17 You shall not covet your neighbor’s house; you shall not covet your neighbor’s wife, or male or female slave, or ox, or donkey, or anything that belongs to your neighbor.
Thượng đế ban cho con người quyền tự do tuyệt đối để quyết định mọi việc họ làm. Chính vì vậy mà những kẻ suy nghĩ kiểu Đông A và chungta20 đây mới còn nhởn nhơ nói bá láp bá xàm như thế đấy.
Kinh thánh có rất nhiều sai sót, bởi vì nó không phải là sấm truyền của Thượng Đế đích thực mà chỉ là những gì con người ghi chép lại. Những con người cho rằng họ thừa hành mệnh lệnh của Thượng Đế để viết ra Thánh Kinh cho thiên hạ học theo. Dĩ nhiên, từ cái thời xa xưa còn bán khai ấy, việc những nhận định, những xu hướng sai lầm là không thể tránh khỏi. Thượng Đế cũng không can thiệp vào chuyện đó vì Ngài cho con người quyết định tất cả mọi thứ và dĩ nhiên cũng phải tự chịu trách nhiệm mọi thứ mình làm. Kinh thánh không phải là sản phẩm của Thượng Đế, do vậy nó cũng không thể hiện được nguyện vọng của Ngài, nhưng nó là sản phẩm của lòng tin của con người.
Tại sao kinh thánh có nhiều sai lầm như vậy nhưng hội thánh vẫn không sửa đổi nó. Thực ra không phải là không ai dám đụng đến kinh thánh vì quá sùng kính nó, trong quá khứ và ngay cả hiện tại vẫn có những cuộc cải cách kinh thánh cho phù hợp. Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao những người có chức trách đó không bỏ đi những điển tích, sự kiện sai lầm trong kinh thánh mà vẫn lưu giữ lại để cho những kẻ như bạn chungta20 và những kẻ nổi tiếng mà bạn ấy đã nêu đả kích Kinh thánh và công giáo như thế?! Ấy là bởi vì Công giáo chấp nhận công khai những sai lầm trong quá khứ, cũng như nhìn đó để làm bài học mà khắc phục, sửa đổi, tránh đi theo vết xe đổ cũng như để cảnh tỉnh con chiên. Chính vì vậy, ngày nay những điển tích ấy vẫn còn được lưu giữ trong kinh thánh nhưng sẽ không được truyền giảng trong thánh lễ. Bởi lẽ đó không phải là ý nguyện của Thiên Chúa.
Thiên Chúa cho con người tự do toàn vẹn, những ai tin vào người thì sẽ được ánh sáng đức tin ngự trị và có Ngài ở trong tâm hồn. Chính vì vậy, đọc kinh thánh thì phải đọc bằng trái tim của Chúa và đọc bằng cái đầu lý luận được soi chiếu ánh sáng đức tin, chứ đọc kinh thánh với cặp mắt và bộ óc vô thần thì hẳn nhiên là bới bèo ra bọ rồi, bởi những gì sai lầm người ta lưu lại đó làm dấu tích nhắc nhở con chiên thì kẻ đọc lại quy ngay đó là ý Chúa!
Và Thiên đàng là gì? Phải chăng đó là 1 sự lừa dối? Nhưng vì sao, kinh thánh vẫn gìn giữ và truyền dạy cho con người về nó?! Không ai có thể khẳng định Thiên đàng là hiện hữu, và thực ra, điều mà 1 người tín hữu đạt được cho cuộc đời mình cũng sẽ chẳng bao giờ là Thiên đàng, mà sẽ là sự thanh thản lúc ra đi vì đã được sống là đích thực 1 con người. Vậy tại sao Thiên đàng phải tồn tại, đó có phải là 1 sự dụ dỗ, lừa gạt mà theo như Lê-nin vô thần đã khẳng định, rằng "tôn giáo là thuốc phiện" hay không? Xin thưa, Sphinx không hề biết Thiên đàng có tồn tại hay không, nhưng nếu có, Sphinx cũng chẳng mong sau cái chết mình sẽ được ở an nhàn trong đó, nhưng Sphinx vẫn khẳng định Lê-nin là 1 thằng láo toét, là 1 thằng ngu nhưng tưởng rằng mình trí trùm thiên hạ.
Một lần nữa, Sphinx nhắc lại vì sao lại có Thiên đàng theo kinh thánh?
- khi não trạng con người u mê, muốn họ tin và nghe theo 1 điều gì đó thì chỉ có 2 cách: 1 là dùng bạo lực để khuất phục, 2 là hứa hẹn điều mà những kẻ đó hằng thèm muốn và khao khát. Để không phải khai trí cho con người bằng bạo lực, hội thánh đã sử dụng Thiên đàng như 1 món quà vô giá và thiêng liêng nhất mà lòng tham con người mong muốn tới. Từ đó, người ta nghe theo hội thánh, chấp nhận học tập giáo lý, lắng nghe lễ giảng để mong được nước thiên đàng. Và mục đích ban đầu của kẻ theo Ki-tô giáo chỉ là để được thiên đàng, nhưng chính quá trình tiếp nhận giáo lý, thánh kinh, bài giảng mà trình độ tri thức của Ki-tô hữu được phát triển và nâng cao. Ban đầu, họ đến với Chúa vì thiên đàng để rồi sau đó họ tiếp tục tôn thờ Ngài vì nhận thấy giá trị cho đi và tinh thần trách nhiệm, hướng tới đạo đức, thánh thiện mà Thiên Chúa mong muốn. Và cho đến tận ngày nay, các linh mục và những người hữu trách vẫn truyền giảng về nước Thiên đàng, là bởi vì vẫn còn nhiều kẻ đi theo Chúa với đầu óc còn mê muội và thiếu sáng suốt.
Hay như điển tích Chúa giáng sinh, chính những nhà nghiên cứu Ki-tô giáo, các vị chức trách tôn giáo đã nghiên cứu và khẳng định Chúa Giê-su không phải sinh vào đêm 24 tháng 12. Giáo hội công giáo cũng khẳng định, công bố rộng rãi điều này nhưng vẫn lấy ngày 24 tháng 12 làm ngày kỉ niệm mừng Chúa sinh ra đời. Tại sao? Tại sao họ biết đó là sai nhưng vẫn làm như thế? Là bởi vì cái sai ấy không hề có hại cho ai cả, không những thế nó còn tạo ra được 1 khoảng thời gian, 1 thời điểm mà con người nhìn ngẫm lại mình và giá trị của mình trong cuộc sống, cùng nhau hướng tới những giá trị tốt đẹp và cao cả. Chính những kẻ vô thần là những kẻ lợi dụng ngày kỷ niệm đó để kinh doanh, kiếm chác, công nghiệp hoá và tầm thường hoá 1 nghi thức cao trọng nhưng cũng chính họ lại lên án rằng ngày đó là bịa đặt. Song hội thánh vẫn không can thiệp, vì ai được ánh sáng đức tin và ơn thánh hoá sẽ tự cảm nhận được giá trị của ngày lễ kỷ niệm này.
Thiên Chúa không muốn con người yêu Ngài 1 cách mù quáng, cực đoan mà Ngài muốn con người cảm nhận Ngài bằng lý trí. Không ai có thể tìm thấy và mô tả chính xác Thiên Chúa, kể cả những người phụng sự hội thánh như linh mục, hồng y, giáo hoàng... đều không ai đối diện và trò chuyện được với Ngài. Nhưng niềm tin ấy không phải là ảo giác và con người sẽ cảm nhận được Ngài bằng lý trí và bằng sự thông minh. Thiên Chúa thực sự không tồn tại? Không, Ngài chắc chắn hiện hữu. Sphinx dùng từ Thiên Chúa vì Sphinx theo đạo Thiên Chúa, nhưng nói cho chính xác thì phải gọi là thượng đế. Thượng đế tồn tại, nhưng ngài chẳng bao giờ xuất hiện và can thiệp bất cứ chuyện gì vì Ngài cho thế gian sự tự do tuyệt đối, và cũng để thế gian đi tìm Ngài mà hiểu rằng con người chỉ là những sinh linh nhỏ bé, có những khát vọng sẽ không bao giờ đạt được. Con người sẽ chẳng bao giờ tìm được Thiên Chúa, cả giám mục, hồng y, giáo hoàng cũng vậy, nhưng trí thông minh cho họ đức tin và lòng hướng thượng cao cả. Và đi tìm Ngài đồng nghĩa rằng sống thật tốt với tha nhân vì Thiên Chúa ngự trị trong mỗi con người và Chúa dạy hãy đón nhận anh em mình như đón nhận chính Ngài. Đó là giá trị đích thực của tôn giáo mà loài người hướng đến.
Những cuộc thập tự chinh là vết nhơ của Công giáo, đúng. Nhưng giáo hội thừa nhận điều đó chứ không giấu giếm, bưng bít. Hơn nữa, nguyên nhân của những cuộc thập tự chinh này là do sự u mê của con người, thực chất, các nhà truyền giáo đã đi đến phương đông để rao giảng rất hoà bình, nhưng do sự khác biệt về nhiều thứ và ý thức hệ, họ đã bị giết chết và công giáo bị các xứ phương đông miệt thị, đả kích. Điều đó đã kích động những nhà truyền giáo và hội thánh công giáo, khi đó, hội thánh là người đứng bên cạnh chính phủ nên những cuộc thập tự chinh đã ra đời. Tại Việt Nam cũng còn đó gương 117 thánh tử đạo để ghi nhớ cho việc truyền giáo của đạo Đức Ki-tô. Ngày nay rất nhiều nhà làm phim khai thác vấn đề này để đưa lên màn bạc nhưng giáo hội công giáo thừa nhận chứ không chối bỏ, hay rất nhiều bọn vô thần (trong đó có Đông A và chungta20 đây) lợi dụng những điều đó để bôi bác công giáo thì hội thánh cũng chả chấp chắt gì mấy kẻ tiểu nhân đó. Phải đối diện với lỗi lầm của mình để thức tỉnh và thay đổi, âu đó cũng là điều mà Thiên Chúa muốn nhắn gửi đến con cái của Ngài. Việc lấy lỗi lầm của thế gian để quy kết cho Thiên Chúa và lý tưởng của Ngài là 1 hành động ngu xuẩn và đáng xấu hổ, nhưng chắc chắn Thiên Chúa cũng chẳng chấp đâu.
Như sinh viên Albert Enstein đã tranh luận với giáo sư của mình về sự dữ, thì bất kỳ ai khi đọc kinh thánh đừng để thiếu đức tin và sự sáng suốt. Thiên Chúa không dạy con người yêu Ngài 1 cách mù quáng mà hãy yêu và cảm nhận Ngài bằng lý trí. Ngài ở ngay trong anh em, nhưng chính anh em sẽ quyết định việc tìm thấy Ngài ngự trị.
•Vị Giáo sư Đại học hỏi thách sinh viên mình : " Mọi vật hiện hữu đều do Chúa tạo thành ?"
•Một sinh viên mạnh dạn đáp : " Chính Ngài vậy !"
•Giáo sư gặng : " Nghĩa là Chúa tạo thành mọi sự ?"
•Sinh viên nọ vẫn : " Vâng ạ !"
•Giáo sư bèn :"Nếu Chúa tạo thành mọi sự hẳn Chúa cũng đã tạo ra sự dữ, bởi sự dữ (đang) hiện hữu, và theo nguyên tắc muốn biết một người ra sao, cứ nhìn vào việc họ làm, thì Chúa cũng là sự dữ vậy." (... bởi Chúa đã tạo nên sự dữ -Judas (*) thêm vào).
•Sinh viên nọ nín thinh trước lập luận ấy. Vị Giáo sư hả hê, "nổ " với đám sinh viên rằng lại một lần nữa, ông ta đã chứng minh được đức tin Kitô giáo chỉ là chuyện hoang đường.
•Một sinh viên khác giơ tay : "Giáo sư có thể cho em hỏi một câu ?"
•"Xin mời !", Giáo sư đáp.
•Sinh viên ấy đứng lên : "Thưa Giáo sư, vậy (sự) lạnh có hiện hữu không ạ ?"
•"Sao lại không, hỏi hay nhỉ, anh chưa bị lạnh lần nào chắc ?". Câu hỏi của chàng sinh viên trẻ làm đám sinh viên còn lại khúc khích.
•Chàng sinh viên ung dung : "Thưa Giáo sư, thật ra lạnh không hiện hữu. Theo các quy luật vật lý, cái được gọi là lạnh chẳng qua là sự thiếu nhiệt lượng (nóng). (Cũng theo đó) các vật thể hoặc đối tượng được đưa vào nghiên cứu (vật lý) khi chúng có năng lượng hoặc truyền được năng lượng, và nhiệt năng chính là nguồn tạo cho vật thể có - hoặc truyền được năng lượng. Zero độ tuyệt đối (-460 độ F) chính là sự thiếu hoàn toàn nhiệt lượng, ở nhiệt độ ấy mọi vật thể đều trơ và không có phản ứng. Vậy (sự) lạnh không hiện hữu, chúng ta chỉ tạo ra khái niệm ấy để mô tả cảm giác khi chúng ta thiếu nhiệt lượng."
•
•Chàng sinh viên tiếp : " Thưa Giáo sư, bóng tối có hiện hữu ?"
•Giáo sư trả lời : " Tất nhiên là có."
•Chàng sinh viên đáp lại : " E rằng Giáo sư lại lầm, cả bóng tối cũng chẳng hiện hữu. Bóng tối thật ra chỉ là (sự) thiếu ánh sáng. Ánh sáng thì chúng ta có thể nghiên cứu, còn bóng tối thì không. Thực tế là chúng ta có thể cho ánh sáng trắng khúc xạ qua lăng kính Newton thành nhiều màu sắc, và nghiên cứu độ dài sóng khác biệt của từng màu. Người ta không thể đo lường bóng tối, nhưng một tia đơn sắc của ánh sáng có thể xuyên vào và làm bóng tối ửng sáng. Điều đó cho biết làm sao người ta có thể xác định độ tối của một không gian nào đó : bằng cách đo (ngược lại) lượng ánh sáng tại chỗ. Đúng không ạ ? Vậy bóng tối chỉ là thuật ngữ được con người sử dụng để mô tả trạng thái không có ánh sáng."
•
•Sau cùng chàng sinh viên hỏi vị Giáo sư : " Vậy thưa Thầy, sự dữ hiện hữu chứ ?"
•Giờ thì đã kém cả quyết, Giáo sư gượng : " Tất nhiên là có, như tôi đã nói. Chúng ta thấy sự dữ hằng ngày, trong chứng cứ thường nhật về xử sự bất nhân giữa người và người, trong vô vàn tội ác và bạo lực khắp thế giới. Những biểu thị ấy là gì, nếu không là sự dữ ?"
•Đáp lại, chàng sinh viên nói : " Xin thưa : sự dữ không hiện hữu, hoặc chí ít cũng chẳng hiện hữu cho chính nó (câu " or at least it does not exist unto itself " này Judas chưa nghĩ ra cách dịch hay hơn, cúi xin các cao nhân Anh Em chỉ giáo thêm...). Như đã nói về lạnh và bóng tối, sự dữ chỉ là việc thiếu sự hiện diện của Chúa, chỉ là từ ngữ con người tạo ra để diễn tả việc Chúa không ngự đến. Chúa không tạo ra sự dữ. Sự dữ là hậu quả khi Tình Yêu của Chúa không hiện diện trong tim chúng ta, hệt như cơn lạnh ùa đến khi ta không còn hơi ấm, hệt như bóng tối bủa vây khi ta mất đi ánh sáng."
•
•Vị Giáo sư ngồi phịch.
•Tên của chàng sinh viên trẻ tuổi ấy là Albert Einstein ***
Và trước khi chết, Albert Einstein đã cầu xin được sự cứu rỗi của Thiên Chúa. Có lẽ, nhà bác học này đã tìm được thiên đàng trong cái phút giây cuối cùng của cuộc sống ấy. Thiên đàng đây chính là cảm giác thanh thản, bình yên và vô trần.
Đạo Phật thì hơi khác công giáo 1 chút, vì Phật không phải là thượng đế. Mời các bạn xem 1 bài khá phù hợp với quan điểm của Sphinx về tín ngưỡng và tôn giáo, nói về đạo Phật:
Phật giáo - YOGA và sự tự do tư tưởng
Đừng tin vào kinh sách cổ viết bằng tay, đường tin vào một điều mà dân tộc mình hay làm cho mình tin từ lúc nhỏ. Đối với tất cả mọi người, đều phải áp dụng lý trí. Sau khi phân tích, nếu thấy điều đó tốt cho mọi người và cho mỗi người, thì hãy tin nó, sống cho nó và giúp cho người khác cũng sống như vậy. (Phật Thích Ca)
Con người hơn con vật ở chỗ biết tư tưởng và nhờ có tư tưởng nên con người đã biết quan sát vũ trụ và nghiên cứu khám phá ra các định luật vũ trụ và tìm cách chế ngự vũ trụ. Hiểu biết được nghĩa là có quyền điều khiển được, chính nhờ hiểu biết luật hấp dẫn mà con người đã khống chế lực hấp dẫn mà chế tạo ra máy bay. Nhờ có tư tưởng nên con người mới tiến bộ, loài vật không có tư tưởng nên không tiến bộ. Nhưng có tư tưởng không chưa đủ mà phải có tự do tư tưởng nữa, không có tự do thì cái gì cũng chết chớ đừng nói chi con người. Một cái cây lúc mọc lên, người ta sợ con nít và súc vật phá hoại nên mới lập hàng rào quây nó lại, nhưng khi cây đã lớn rồi thì thì sự bảo vệ không cần thiết nữa, trái lai hàng rào này là một sự trở ngại cho sự trưởng thành của cây.
Một đứa trẻ con nhà giàu, khi đi học luôn có người đưa đón, mỗi một bước đi đều có người chỉ dẫn, đứa trẻ ấy bị mất tự do ấy sẽ thiếu óc quan sát, nên hễ không có người đưa đón một bữa thì sẽ khóc lóc, hoặc là đi lạc đường, hoặc là sẽ bị xe cán
Sự tự do cần thiết cho con người, mà có tự do mới có tư tưởng dị đồng, và nhờ có sự dị đồng nên người ta mới tìm ra cái mới. Chính vì vậy mà ta bắt buộc phải tôn trọng ý kiến của của người khác, ý kiến đó có khi không đúng hay ít đúng, nhưng nó cũng có thể giúp cho người khác tìm ra một ý mới hơn, đúng hơn. Trong một bài tập suy luận, một câu hỏi được nêu lên: Nếu bây giờ đứng trên một chiếc tàu chiến, thấy một trái thủy lôi đang trôi lại gần tàu thì phải làm gì? Có người cho rằng phải lầy súng bắn vào để làm chệch hướng trái thủy lôi. Ý kiến này không thực tế nhưng làm cho người khác nảy ra ý kiến: "Lấy vòi chữa lữa xịt vào thủy lôi cho nó đi hướng khác". Ý kiến này đã được áp dụng trong cuộc chiến Trriều Tiên và tránh được một thảm họa
Sự tư do tư tưởng liên quan đến tiến bộ của con người như vậy, nên ngày nay ai bảo chúng ta là không nên suy luận sẽ bị mỉm cười chế nhạo.
Sự thực nhiều khi lại trái ngược, bởi vì nếu chúng ta suy luận, thì có người bảo chúng ta suy luận tức là nghi ngờ, mà nghi ngờ tất phải xuống địa ngục. Chúng ta phải tin rằng không chồng cũng có thể có con được. Nói như vậy hơi khó chấp nhận vì nó phản với khoa học, phản với lý trí, nó bắt chúng ta đi nguợc dòng thời gian để trở thành mê tín dị đoan. Chắc chắn con ngoáo ộp địa ngục không còn ma lực để uy hiếp chúng ta nữa và bắt chúng ta từ bỏ lý trí, từ bỏ tư tưởng, Vinh dự con người là ở trong tư tưởng.
Nếu ngày nay có ai nói rằng, tất cả quá khứ đều tốt đẹp, đầy đủ, vì vậy chúng ta không nên có tư tưởng mới mà phải hành động theo những quan niệm do tiền nhân để lại, thì chắc chắn là chúng ta sẽ nhảy chồm lên để phản đối, mà la lối rằng người đó phát ngôn hoặc là vô trách nhiệm, hoặc là người điên.
Lý trí đã giúp chúng ta tiến bộ, vậy thì chúng ta hãy dùng lý trí mà tim hiểu tôn giáo. Tại sao chúng ta có thể dùng lý trí mà tim hiểu tôn giáo được? Bởi vì từ ngày ra đời đến nay, tôn giáo đã trải qua bao nhiêu sự giải thích của con người, mà đã là con người thì ai cũng có những khuyết điểm nên không thể nao sáng suốt, để giải thích đúng như ý của đấng khai sinh ra tôn giáo. Xin lấy một ví dụ:"Các con sẽ không giết người", câu này phải hiểu như thế nào? Và riêng 1 câu này đã có ít nhất 3 phái chống đối nhau:
1. Phái thứ nhất như Tolstoi hay Gandi thì cho rằng: Tất cả mọi người trên thế gian, không phân biệt màu da, tôn giáo, đều cùng một nguồn gốc mà ra, đều là anh em với nhau, nên phải thương yêu nhau và tuyệt đối không được giết nhau
2. Phái thứ 2 cho rằng: Để bảo vệ tổ quốc, binh sĩ cần phải giết địch
3. Phái thứ 3 cho rằng: Giết người ngoại đạo là cần thiết để người khác đạo sợ, mà phải theo đạo mình
Đâu là chân lý? Chỉ có 1 câu mà người ta đã hiểu nhiều nghĩa khác nhau, thì trong cả một quyển kinh sách cổ, nếu đem ra phân tích thì sẽ gây ra nhiều vụ cãi lộn. Nếu quyển kinh do Đấng giáo chủ tự tay mình viết ra, điều này trên thực tế không nơi nào có, thì đến đời sau những lời giảng của Đấng giáo chủ cũng sẽ bị hiểu sai lạc đi
Mỗi người, tùy theo trình độ tri thức mình, sẽ hiểu một cách khác nhau. Có người cho rằng, chính vì hiểu sai nghĩa, nên mới có những người chuyên môn nghiên cứu tôn giáo để giảng lại cho cho đúng những lời của đấng giáo chủ, những người chuyên môn ấy ta gọi là những ông thầy tu. Nhưng ta có chắc chắn rằng những ông thầy tu đó hiểu đúng nghĩa không? Ông thầy tu cũng là 1 người có những ưu khuyết như ngư người khác, và cũng có ông giỏi ông dốt, gặp ông dốt thì nguy quá.
Chính vì biết trong tương lai, có người sẽ hiểu sai nghĩa giáo lý đi, nên khi Đức Phật lúc sinh thời, Ngài đã cho người ta 1 cái thước đo: Đứng tin vào kinh sách cổ viết bằng tay, đối với tất cả mọi điều đều phải áp dụng lý trí, và chỉ tin vào những cai gì tốt cho mọi người và mỗi người. Lời giảng của Đức Phật bao hàm một sự khuyến khích tự do tư tưởng, Đức Phật không bảo con người tin tưởng mù quáng, mà trái lại, chỉ tin tưởng khi thấu hiểu vấn đề. Nói về kinh sách cổ thì có bao nhiêu kinh sách cổ: Kinh sách cổ Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, nếu không lấy lý trí mà suy xét, thì bằng cớ vào đâu mà nói kinh sách này sai, kinh sách kia đúng. Người này nói kinh sách của tôi đúng hơn kinh sách anh, và rốt cuộc 2 người đánh nhau để chứng minh kinh sách của mình là đúng.
Thượng đế hữu hình hay vô hình?
1. Nếu thương đế hữu hình thì Thượng đế không thể khai sinh ra vũ trụ. Trước hết Thượng đế đứng vào đâu mà khai sinh ra vũ trụ, nó cũng hoang đường như người đứng trên Trái đất lấy tay nâng trái đất lên vậy. Thứ 2, nếu Thượng đế hữu hình là một thượng đế bị hạn chế về không gian và thời gian, nghĩa là khi Thượng đế hữu hình có mặt ở Việt Nam thì không có mặt ờ nước Pháp, và Thượng đế ấy sẽ bị thời gian tiêu diệt, cho nên Thượng đế hữu hình không có quyền năng vô biên.
2. Trong vũ trụ này, nói chung, số lựng vật chất vẫn y nguyên, không tăng lên và cũng không mất đi, nếu tăng lên thi ở đâu mà ra, nếu mất đi thì mất về đâu? Ví dụ như nước, sự tuần hoàn của của nước trong thiên nhiên ai củng biết, nước bốc hơi tư đại dương, ngưng tụ thành mây, thành mưa, mưa xuống đất, chảy ra sông, ra biển, cứ thế mà luân chuyễn mãi
Con số không, nếu thêm vào đấy con số không nữa thì cũng vẫn là không, cái gì đã không thì không thể có. Cho nên khi bảo Thượng đế khai sinh ra vũ trụ từ con số không thì cũng có nghĩa là không giải thích gì cả, rồi vì không giải thích được nên ông thầy tu mới đem địa ngục ra hăm dọa những người thắc mắc muốn tim hiểu. Thực ra nếu để mà hỏi như thế chắc ông thầy tu phải giải nghệ.
Đọc đến đây có nghười cho rằng nếu cứ suy luận như vậy thì sẽ không còn Thượng đế nào cả, người ta còn có thể hỏi:"Nếu có Thượng đế tại sao tôi không biết, không trông thấy Thượng đế? Và theo luận điệu của Cộng Sản, người ta có thể nói: Nếu có THượng đế tại sao khi cần mưa để làm ruộng, mà cầu mãi không ra mưa, muốn có nước không cần cầu thì chỉ việc đào giếng"
Về câu hỏi thứ nhất, Người ta dùng lý luận để trả lời:
Vũ trụ của con người là vũ trụ củ 5 giác quan, tai, mắt, mũi, lưỡii và tay. Bây giờ ví dụ kể chuyện rằng xứ của người mù là có thật thì những người ở nơi này chỉ còn 4 giác quan, tầm nhận thức của họ nhỏ hẹp hơn chúng ta, những người có 5 giác quan. Ngược lại nếu ta thêm 1 giác quan nữa là giác quan thư 6, thì vũ trụ của người có 6 giác quan sẽ dồi dào phong phú hơn. Chưa nói đến giác quan thứ 6 vội, xét về thị giác của chúng ta, mắt chúng ta chỉ nhin thấy ánh sáng có bước sóng từ 0,00004-0.0007cm, còn những ánh sáng có buớc sóng nằm ngoài dải này là tia hồng ngoại và tử ngoại chúng ta không nhìn thấy
Nói tóm lại, sự hiểu biết của con người bị hạn chế vào ngũ giác quan, nên trong vũ trụ có những hiện tượng khác mà con người không hay biết. Điều luận trên chứng minh rằng, sự không biết của chúng ta không chứng minh được rằng cái đó không có, nó chỉ chứng minh được là ta không biết mà thôi, nên việc ta không biết thượng đế không chứng minh được rằng Thượng đế không có.
Về câu hỏi thứ 2, thì trước hết chúng ta đã đã kích một Thượng đế hữu hình trị vì Thiên hạ, như 1 ông quan cai trị, một ông vua hay 1 Đảng trưởng. Chúng ta bác bỏ và chế giễu một Thượng đế ban ơn ban phước chiếu theo các cầu xin nịnh bợ. Vũ trụ này biến chuyển theo những luật lệ, một trong những luật lệ đó là luật nhân quả. Nguyên nhân và kết quả bao giờ cũng đi đôi như hình với bóng, vì vậy con người bao giờ cũng chịu trách nhiệm về việc làm của mình.. Nếu tôi không nhầm thì kinh sách Phật có câu:" Ở trên trời hay dưới đáy biển, trong hang sâu, không nơi đâu mà con ngườicó thể tim được nơi trú ẩn để tránh những việc làm xấu của minh. Ngày nay thế giới có chiến tranh, có đau khổ thì con người hãy tự trách mình chứ đừng có trách trời trách đất, chính con người gây ra chiến tranh chớ không phải Thượng đế, nếu con người mồm nói hòa bình và hành động hòa bình thì tự nhiên có hòa bình. Con người có thể tự cứu mình cũng như có thể tự làm hại mình. Nhưng thường người ta hay nghĩ đến kết quả mà không nghĩ đến nguyên nhân. Có anh ngồi tù vì ăn cắp, lúc ngồi tù mới nghĩ giá nhhư ta không ăn cắp thì lấy gì ngồi tù.
Nguyên nhân thế nào thì kết quả thế ấy, và chỉ có con người mới quyết định được số phận của con người. Từ nãy đến giờ tác giả chưa trình bày sự hiện diện của Thượng đế.
Muốn biết Thượng đế ra sao, phải làm việc theo một đường lối, đường lối ấy được gọi là"" Khoa học tôn giáo". Khoa học tôn giáo chỉ là môn tu YOGA. Nếu không học hỏi, không tìm hiểu, rồi cứ nhắc đi nhắc lại rằng: Tôi không trong thây Thượng đế nên không tin là có Thượng đế, nếu có Thượng đế sao không cầu được ra mưa thì chỉ tỏ ra rằng chúng ta đang cố chấp. Nếu cầu gì được nấy thì người đi cầu mưa là một người dại, tại sao không cầu cho có xe hơi, nhà lầu v.v. Quý vị chắc đã thây cái vô lý của sự cầu xin và câu hỏi tại sao không cầu được mưa là một câu hỏi vô lý.
Nếu con người chịu trách nhiệm về việc làm của mình thì có thể tu thiền định để tìm thấy Thượng đế, thì thờ Phật để làm gì? Giáo lý của Phật đã nói rõ. Phật không phải ông thần để ban phước. Phật đã tu và thoát khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử nên Phật chỉ cho thế gian con đường phải theo để tự mình giải thoát lấy mình. Mục đích chúng ta thờ Phật là để:
1. Trước hết là để tỏ lòng tôn kính sự hy sinh cao cả của ngài
2. Thứ hai là để luôn luôn nhớ đến lời Ngài chỉ dạy mà noi theo gương sáng của ngài
Cho nên chúng sinh tu tại gia cũng có thể thành chính quả. Nêu không tu mà chỉ lạy Phật, thì ơn phước không có, tác giả xin nhấn mạnh một lần nữa rằng:
1. Phật không phải là một ông Thần
2. Phật không phải là một Đảng Trưởng
3. Phật không phải là một ông vua của các ông vua khoác lên mình danh từ Thượng đế để ban ơn ban phước cho người theo theo Phật và nịnh bợ Phật, có người khi nhìn thấy sự cầu xìn đã than: Các người chỉ cúng có một nải chuối mà cầu xin nhiều quá.
Biết Phật hay không biết Phật cũng không sao, Phật không trừng phạt, không làm mất linh hồn để trả thù, điều cần thiết mà người tập YOGA nên nhớ là luật nhân quả và nên tin chắc rằng:
Con người làm chủ tương lai của mình
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin mượn lời của nhà văn quá cố Phan Khôi khi cụ viết để đả kích chế độ độc tài Miền Bắc:
Nhược bằng phải bắt mọi người viết theo ý mình thì một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết.
Trần Văn Kha - 1972
Sau những gì đã trình bày ở trên thì có lẽ là Đông A và chungta20 đã tự nhận thấy suy nghĩ và hành động của mình là láo toét và xấc xược rồi nhỉ. Đừng như những kẻ vô thần ngông cuồng, con người thực sự chỉ là tạo vật, không phải là chủ của vũ trụ để mà vỗ ngực xưng hùng đâu.
Nguồn:http://hongdwc.multiply.com/journal/item/126/126
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks