ĐỨC ĐALAI LAMA XIV
Hồng Như chuyển Việt ngữ
TINH TÚY
BÁT NHÃ TÂM KINH
ESSENCE OF THE HEART SUTRA
Chương 4
Phật giáo Ðại thừa
ÐẠI THỪA
Muốn hiểu Tâm Kinh cho thấu đáo, chúng ta cần xác định chỗ
đứng của Tâm Kinh trong toàn bộ kinh điển Phật giáo. Tâm
Kinh thuộc hệ Bát nhã, là kinh Ðại thừa thuần túy. Hệ kinh
Bát nhã là nền tảng của thời kỳ chuyển bánh xe chánh pháp
thứ hai, nội dung của giáo lý Ðại thừa được Phật thuyết trên
đỉnh Linh thứu. Trong thời kỳ chuyển bánh xe chánh pháp thứ
nhất, Phật nhấn mạnh về khổ và sự chấm dứt của khổ. Trong
thời kỳ chuyển bánh xe chánh pháp thứ hai, Phật thuyết về
tánh không.
Ðại thừa còn một số giáo thuyết thuộc về thời kỳ chuyển
bánh xe chánh pháp thứ ba. Bao gồm hai thành phần chính:
luận giải các bộ kinh Bát nhã và giáo thuyết về Phật tánh
(tiếng Phạn gọi là Tathagatha-garbha
i
). Vì hệ kinh Bát nhã
nhấn mạnh về tánh không, nên luận giải của thời kỳ chuyển
bánh xe chánh pháp thứ ba chủ yếu dành cho những người tuy
có khuynh hướng Ðại thừa nhưng chưa đủ căn cơ để nghe
giảng về tánh không. Nếu các vị này chấp vào ngôn từ trước
khi thâm nhập ý thật của Phật, sẽ dễ rơi vào đoạn kiến, thấy
mọi sự rỗng rang hư vô. Ðây là điều quan trọng cần luôn ghi
nhớ: Phật giáo không phải là chủ nghĩa hư vô, theo nghĩa
thường thấy trong triết học, và tự tánh không trong Phật giáo
hoàn toàn không có nghĩa là không có gì hiện hữu.
Có một cách để khỏi rơi vào đoạn kiến, đó là xét về tánh
không liên quan đến một hiện tượng nhất định nào đó. Nói ví
dụ, trong kinh Giải Thâm Mật
i
(Samdhinirmochana Sutra)
Phật có dạy phương pháp tiếp cận tánh không qua khái niệm
Không là không có đặc tính (8).
LONG THỌ VÀ ÐẠI THỪA
Ðối với Phật giáo Tây Tạng, Ðại thừa là giáo pháp Phật dạy.
Có nhiều học giả thuộc nhiều tông phái khác nhau trong quá
khứ đã nêu lên nghi vấn về nguồn gốc của Phật giáo Đại thừa,
một vài học giả đương thời cũng vậy. Hình như trước thời ngài
Long Thọ (một cao tăng Ấn Độ sống vào khoảng thế kỷ thứ
hai) đã có nhiều ý kiến mâu thuẫn về vấn đề này. Vì vậy trong
nhiều bộ Luận của ngài Long Thọ, ví dụ như trong Bảo Hành
Vương Chính Luận
ii
(Ratnavali), có một phần riêng để chứng
minh kinh điển Ðại thừa là Phật giáo chính thống. Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận
i
(Mahayanasutralamkara) của đức
Di Lạc, Nhập Bồ Đề Hành Luận
ii
(Bodhicharyavatara) của
ngài Tịch Thiên và Trung Quán Tâm Luận Tụng
iii
(Madhyamakahridaya) của ngài Thanh Biện cũng đều có
những lý luận tương tự.
Hãy thử nhìn lại luận cứ của ngài Long Thọ về vấn đề này.
Ngài Long Thọ nói rằng nếu giáo lý của thời kỳ chuyển bánh
xe chánh pháp thứ nhất, bao gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo,
là con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, vậy sẽ không có sự
khác biệt giữa đường dẫn đến vô thượng bồ đề của Phật và niết
bàn giải thoát của A la hán. Nói cách khác, một người đạt đến
niết bàn (giải thoát khổ đau cho chính mình) xét trên cả hai
lãnh vực Trí và Dụng, sẽ hoàn toàn giống như người đạt đến
trí toàn giác của Phật. Nếu hai quả vị giác ngộ này giống nhau,
vậy điểm khác biệt duy nhất chỉ nằm ở thời gian tu: muốn đạt
quả vị Phật cần phải tích lũy tư lương tương đương với ba thời
kỳ vô số
iv
, trong khi thời gian đòi hỏi để đạt quả vị A la hán
ngắn hơn vậy nhiều. Theo ngài Long Thọ, quả vị giác ngộ
bằng nhau nhưng thời gian tu lại khác nhau xa, lý luận này
không thể đứng vững.
Ngài Long Thọ có đề cập đến một quan niệm phổ biến
trong các truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, cho rằng khi
Phật nhập niết bàn - gọi là vô dư niết bàn - nói theo nghĩa thế
tục là lúc Phật qua đời – lúc ấy dòng tâm thức của Phật tận
diệt. Ngài Long Thọ phân tích nếu thật đúng như vậy, thời
gian Phật có thể độ giúp chúng sinh sau khi đạt vô thượng bồ
đề thật quá ngắn ngủi, trong khi giúp chúng sinh lại chính là
mục tiêu khiến Phật vất vả tích lũy phước trí trên cả ba thời kỳ
vô số. Phật rời nếp sống hoàng cung vào năm hai mươi chín
tuổi, đạt giác ngộ năm ba mươi sáu, nhập diệt năm tám mươi
hay tám mươi mốt tuổi, đếm lại thời gian Phật độ chúng sinh
chỉ được vài mươi năm. Theo ngài Long Thọ, sự chênh lệch
quá lớn giữa thời gian tu [ba thời kỳ vô số] và thời gian độ
sinh sau khi thành đạo [vài mươi năm], là điều không hợp lý.
Ngài Long Thọ cho rằng nếu khẳng định tâm thức sẽ tận
diệt sau khi đạt niết bàn thì khẳng định như vậy hoàn toàn
thiếu cơ sở, vì [thật ra] không gì có thể kết thúc được dòng tâm
thức. Ngài nói thuốc giải nếu đủ liều lượng sẽ có khả năng hóa
giải toàn bộ tác dụng của độc dược, đối với hiện tượng hay sự
kiện cũng vậy, cứ đúng thuốc giải, đúng liều lượng, thuốc giải
sẽ là nhân tố chấm dứt hiện tượng hay sự kiện đó. Tuy nhiên,
không nhân tố nào có khả năng khiến tâm thức tận diệt. Ngài
Long Thọ nói Tâm bản nhiên
i
và phiền não ô nhiễm áng ngữ
tính chất trong sáng tự nhiên của Tâm là hai điều hoàn toàn
khác nhau. Ðộc tố của Tâm là nhiễm tâm và phiền não, đều có
thể tận diệt nhờ chữa bằng liều thuốc Phật pháp. Thế nhưng
chính dòng tâm thức thì lại không có kết thúc.
Ngài Long Thọ cho rằng kinh điển Ðại thừa tiếng Phạn sâu
rộng hơn kinh điển Pa-li, đồng thời không mâu thuẫn với kinh
điển Pa-li. Trên một góc độ nào đó, có thể nói rằng Phật giáo
Ðại thừa giải thích cặn kẽ hơn những chủ đề đã được nêu lên
trước đó. Ðó là luận cứ của ngài Long Thọ về vấn đề chính
thống của Phật giáo Ðại thừa.
Trong pháp môn “Ðạo Quả”
i
của dòng Sakya
ii
có một
phương pháp xét đoán rất hữu hiệu, có thể dùng để thẩm định
giá trị của một pháp tu. Dòng Sakya nói về bốn nguồn trí tuệ
vững chắc, đó là kinh, luận, đạo sư và kinh nghiệm chân
chính. Xét theo lịch sử thì bốn yếu tố này diễn tiến như sau:
trước tiên có kinh, vì kinh là lời giáo huấn của Phật. Từ kinh
mà có luận, giải thích về ý nghĩa thâm thúy nhất của kinh, ví
dụ như luận của ngài Long Thọ. Sau đó, nhờ dựa vào luận để
học hỏi tu tập mà hành giả thâm nhập ý nghĩa kinh luận, trở
thành vị đạo sư đáng tin cậy. Sau cùng, nhờ lời dạy của đạo sư
mà kinh nghiệm chân chính phát triển trong tâm người tu.
Tuy vậy, Phật tử có thể tự mình thẩm định giá trị của bốn
nguồn trí tuệ này theo một quá trình diễn tiến khác: để có được
lòng tin vững chắc nơi lời Phật dạy, Phật tử trước hết cần chút
kinh nghiệm tối thiểu về Phật pháp. Nói như vậy, yếu tố đầu
tiên là kinh nghiệm chân chính. Kinh nghiệm chân chính có
hai loại, thông thường và phi thường. Trong hiện tại có thể
chúng ta chưa có được kinh nghiệm phi thường, nhưng loại
kinh nghiệm thông thường thì ai ai cũng có thể có. Như khi
suy nghiệm về lòng từ bi, tâm trí chúng ta biến chuyển, nghe
dấy lên cảm giác xốn xang sâu thẳm. Hoặc như khi suy
nghiệm về tánh không và vô ngã, quan niệm của chúng ta
trong đời sống hàng ngày dần dần biến chuyển. Những biến
chuyển này đều là kinh nghiệm chân chính.
Khi có được kinh nghiệm như thế, dù chỉ là kinh nghiệm
thông thường, Phật tử nếm được chút mùi vị và có thể đoán
biết giác ngộ thật sự sẽ như thế nào. Nhờ đó, khi đọc kinh,
luận, đọc tiểu sử của những vị đại hành giả, hay khi nghe tả về
cảnh giới giác ngộ, lòng tin của Phật tử không còn mù quáng
mà trở nên vững chắc, có cơ sở. Bắt đầu bằng kinh nghiệm bản
thân, dựa vào đó để kiểm chứng và đánh giá kinh, luận và đạo
sư, quá trình tu chứng theo thứ tự như vậy thật vô cùng quan
trọng. Có thể nói đây là con đường duy nhất mở ra cho chúng
ta bước vào.
Trong Trung Quán Luận
i
, ngài Long Thọ tán dương đức
Phật là bậc đại đạo sư, là người dạy về chân tướng của thực
tại, là hiện thân của lòng đại bi và là người mà mọi việc làm
đều phát sinh từ năng lực của lòng từ bi đối với chúng sinh,
vén mở con đường chiến thắng tà kiến. Hãy dựa lên kinh
nghiệm bản thân mà quán chiếu cho thật sâu xa, rồi sẽ có lúc
chúng ta hiểu được điều ngài Long Thọ nói ở đây, để có thể tự
mình xác định được chân giá trị của Phật giáo Ðại thừa.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)

Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này




Bookmarks