.........Vào thuở một trăm ngàn kiếp[1] và bốn a-tăng-kỳ, có thành phố tên Amara[2] là đáng nhìn, xinh xắn.

(Thành phố này) dồi dào thức ăn nước uống và nhộn nhịp với mười loại âm thanh như tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trống, tiếng tù và vỏ ốc, tiếng xe cộ.
Và còn được giới thiệu về thức ăn nước uống: “Xin hãy nhai, xin hãy uống.” Thành phố được đầy đủ về mọi yếu tố và thành tựu tất cả hoạt động về nghề nghiệp.

(Thành phố) có đầy đủ bảy loại châu báu, đông đảo với đủ hạng người, thịnh vượng, tương tợ như thành phố của chư thiên, là nơi cư ngụ của những người có được thiện nghiệp.

Vị bà-la-môn tên Sumedha ở thành phố Amaravatī là có được nhiều koṭi[3] tiền tích lũy, có tài sản và lúa gạo dồi dào.

Là vị chuyên về phúng tụng, nắm vững chú thuật, thông thạo ba bộ Vệ Đà, đã đạt đến sự toàn hảo về khoa tướng số, về truyền thuyết, và về phận sự chánh yếu (của vị bà-la-môn).

Khi ấy, sau khi ngồi xuống ở nơi thanh vắng ta[4] đã suy nghĩ như vầy: “Sự tái sanh, sự tiêu hoại của xác thân là khổ.
Sự mê mờ, sự chết, bị đày đọa bởi sự già là khổ. Và trong khi còn có trạng thái sanh, trạng thái già, trạng thái bệnh hoạn, ta sẽ tầm cầu sự không già, sự không chết, sự an ổn, Niết Bàn.

Hay là ta nên từ bỏ tấm thân hôi thối chất chứa đủ loại chất phế thải này và trở thành người không vướng bận, không mong cầu?
Đạo lộ ấy là có và sẽ xuất hiện. Đạo lộ ấy không thể không có nguồn cội. Ta sẽ tầm cầu đạo lộ ấy để hoàn toàn giải thoát khỏi hiện hữu.
Cũng giống như khi khổ đau được tìm thấy thì điều gọi là an lạc cũng được tìm thấy, tương tợ như thế khi hiện hữu được tìm thấy thì phi hữu cũng là điều cần được mong mỏi.

Cũng giống như khi sự nóng được tìm thấy thì điều khác là sự lạnh cũng được tìm thấy, tương tợ như thế khi ba loại lửa (tham sân si) được tìm thấy thì Niết Bàn cũng là điều cần được mong mỏi.
Cũng giống như khi điều ác được tìm thấy thì điều thiện cũng được tìm thấy, tương tợ y như thế khi sanh được tìm thấy thì vô sanh cũng là điều cần được mong mỏi.

Giống như người bị dính phẩn nhìn thấy hồ nước đầy không tìm đến hồ nước ấy; việc sai trái ấy không phải là của hồ nước.
Tương tợ như vậy, khi hồ nước Bất Tử được tìm thấy cho việc gột rửa bợn nhơ phiền não, người không tìm đến hồ nước thì không phải là điều sai trái của hồ nước Bất Tử.

Giống như người bị vây hãm xung quanh bởi những kẻ đối nghịch, khi con đường thoát ra được tìm thấy, người ấy không tẩu thoát thì việc sai trái ấy không phải là của con đường.

Tương tợ như vậy, người bị vây hãm toàn diện bởi phiền não, khi đạo lộ thánh thiện được tìm thấy, người không chịu tìm đến đạo lộ ấy thì không phải là điều sai trái của đạo lộ thánh thiện.

Cũng giống như người bị bệnh, khi vị thầy thuốc được tìm thấy, người không để cho (vị thầy thuốc) chữa trị căn bệnh ấy thì việc sai trái ấy không phải là của vị thầy thuốc.

Tương tợ như vậy, người bị khổ đau bị hành hạ toàn diện bởi những căn bệnh phiền não (nhưng) không chịu tìm đến vị thầy thì điều sai trái ấy không phải là của vị thầy hướng dẫn.

Hay là ta nên từ bỏ tấm thân hôi thối chất chứa đủ loại chất phế thải này và trở thành người không vướng bận, không mong cầu?
Cũng giống như người sau khi rủ bỏ thây chết ghê tởm vướng ở cổ có thể đạt đến an lạc, sống tự tại, theo ý muốn.

Tương tợ y như thế, sau khi từ bỏ tấm thân hôi thối tập hợp đủ loại chất phế thải này ta có thể trở thành người không vướng bận, không mong cầu.
Giống như những người nam hoặc nữ sau khi thải bỏ phẩn ở nhà tiêu rồi ra đi không vướng bận, không mong cầu.

Tương tợ y như thế, sau khi từ bỏ tấm thân được chất chứa đủ loại phế thải này ta sẽ ra đi giống như người sau khi đi tiêu rồi thì (rời khỏi) nhà xí.
Cũng giống như những chủ nhân sau khi quăng bỏ con thuyền cũ kỹ, rã rời, có sự rò rỉ nước, thì không còn vướng bận, không mong cầu

Tương tợ y như thế, sau khi từ bỏ tấm thân có chín khiếu thường xuyên tiết ra chất dơ này, ta sẽ ra đi giống như những chủ nhân quăng bỏ con thuyền cũ kỹ.

Giống như người mang theo hàng hóa đi cùng bọn trộm cướp, sau khi nhận thấy nỗi lo sợ bởi việc cướp giật hàng hóa liền tách biệt ra đi

Tương tợ y như thế, thân này được ví như tương đương với kẻ cướp lớn, ta sẽ chối bỏ thân này và ra đi, không còn nỗi sợ hãi về việc bị cướp đoạt thiện pháp.”

Sau khi suy nghĩ như thế, ta đã bố thí của cải hàng trăm koṭi [6] đến những người có nơi nương tựa lẫn những người không nơi nương tựa rồi đã đi đến Hy-mã-lạp sơn.

Ở không xa Hy-mã-lạp sơn có ngọn núi tên là Dhammika, khu ẩn cư khéo được tạo lập dành cho ta có ngôi nhà lá khéo được xây dựng.[7]
Ở nơi ấy ta đã tạo lập đường kinh hành không vi phạm vào năm điều sai trái.[8] Ta đã đạt được năng lực của thắng trí hội đủ tám đức tính.[9]

Ở nơi ấy ta đã quăng bỏ tấm vải choàng liên quan đến chín điều sai trái.[10] Ta đã mặc y phục vỏ cây có được mười hai đức tính.[11]
Ta đã từ bỏ ngôi nhà lá dính líu tám điều sai trái.[12] Ta đi đến ngụ ở gốc cây có được mười đức tính.[13]

Ta đã hoàn toàn từ bỏ mễ cốc đã được gieo đã được trồng. Ta đã thọ dụng trái cây rơi rụng được hội đủ vô số đức tính.

Tại nơi ấy, ta đã ra sức nỗ lực trong khi ngồi, đứng, đi kinh hành. Trong thời gian bảy ngày, ta đã đạt được năng lực của thắng trí

Trong khi ta đạt được sự thành tựu (năm thắng trí, ngũ thông) và có sự an trú trong pháp tu tập (của đạo sĩ), đấng Chiến Thắng tên Dīpaṅkara, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đã hiện khởi

Đắm chìm trong sự thỏa thích của thiền, ta đã không chứng kiến bốn điều báo hiệu sự nhập thai, đản sanh, giác ngộ, và thuyết giảng Giáo Pháp.

Sau khi thỉnh mời đức Như Lai, những người dân ở khu vực biên địa với tâm tư mừng rỡ đã dọn sạch sẽ con đường ngự đến của Ngài.

Vào lúc bấy giờ, ta rời khỏi khu ẩn cư của bản thân rồi vừa đi ở trên không trung vừa chỉnh lại bộ y phục bằng vỏ cây.

Nhìn thấy dân chúng tràn ngập niềm phấn khởi, hớn hở, vui mừng, hoan hỷ, ta đã từ không trung đáp xuống rồi lập tức hỏi mọi người rằng

“Dân chúng được tràn ngập niềm phấn khởi, hớn hở, vui mừng, hoan hỷ. Đạo lộ, con đường, lối đi, ngõ vào được dọn sạch sẽ cho ai vậy?”
Được ta hỏi, họ đã đáp rằng: “Đức Phật, bậc Tối Thượng ở thế gian, đấng Chiến Thắng, vị Lãnh Đạo Thế Gian tên là Dīpaṅkara đã hiện khởi. Đạo lộ, con đường, lối đi, ngõ vào được dọn sạch sẽ cho vị ấy.”

Khi nghe rằng: “Đức Phật,” pháp hỷ đã sanh khởi đến ta ngay lập tức. Ta đã bày tỏ tâm hoan hỷ, thốt lên rằng: “Đức Phật! Đức Phật!”

Đứng tại nơi ấy, với tâm tư hớn hở rộn ràng ta đã suy nghĩ rằng: “Ta sẽ gieo các nhân lành ở nơi đây (đức Phật). Đương nhiên chớ để thời khắc trôi đi.”
(Nói rằng): “Nếu các người dọn sạch sẽ vì đức Phật. Xin các người hãy nhường cho tôi một khu vực. Tôi cũng sẽ dọn sạch sẽ con đường, lối đi, ngõ vào.”

Khi ấy, họ đã nhường cho ta dọn sạch sẽ con đường ở một khu vực. Rồi ta làm sạch sẽ con đường trong lúc nghĩ tưởng đến “Đức Phật! Đức Phật!”
Khi khu vực của ta còn chưa hoàn tất, bậc Đại Hiền Triết Dīpaṅkara, đấng Chiến Thắng, đã bước lên con đường cùng với bốn trăm ngàn vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có sáu thắng trí (lục thông) như thế ấy.

Nhiều người di chuyển từ phía đối diện. Họ vỗ kêu những chiếc trống. Chư thiên và nhân loại vui mừng đã thốt lên tiếng “Lành thay!”
Chư thiên ngắm nhìn loài người. Loài người nhìn ngắm chư thiên. Cả hai nhóm ấy cũng đã chắp tay lên đi theo sau đức Như Lai.

Chư thiên với nhạc khí thiên đình, loài người với nhạc khí của nhân gian, cả hai nhóm ấy vừa trình tấu vừa đi theo sau đức Như Lai.
Ở trên bầu trời, chư thiên di chuyển trong không gian rải rắc hoa mạn-đà-la, hoa sen, hoa san hô của thiên đình xuống khắp các phương hướng.
Ở trên bầu trời, chư thiên di chuyển trong không gian rải rắc toàn là bột gỗ đàn hương và hương thơm quý báu của thiên đình xuống khắp các phương hướng.

Loài người di chuyển ở trên mặt đất ném các bông hoa chăm-pa, bông hoa salaḷa, bông hoa nīpa, bông hoa nāga, punnāga, và ketaka ra khắp các phương hướng.

Tại nơi ấy, sau khi xõa tóc ta đã trải ra bộ y phục vỏ cây và da thú ở trên bãi bùn lầy rồi ta đã nằm sấp xuống (nói rằng):
“Xin đức Phật hãy bước lên (người) con. Xin Ngài cùng các đệ tử hãy tiến bước. Xin các vị chớ bước đi ở bãi bùn lầy ấy; (việc này) sẽ đem lại sự lợi ích cho con.” (53)
Khi đang nằm ở trên mặt đất, tư tưởng như vầy đã khởi đến ta: “(Nếu) mong muốn ta có thể thiêu đốt các phiền não của ta ngày hôm nay

Ta có được gì ở đây khi chứng đắc Giáo Pháp theo phương thức không được tiếng tăm? Ta nên thành tựu quả vị Toàn Tri và trở thành đức Phật ở thế gian có cả chư thiên.
Ta có được gì khi là người biết được sức mạnh (của bản thân) lại vượt qua chỉ một mình? Ta nên thành tựu quả vị Toàn Tri và giúp cho thế gian luôn cả chư thiên vượt qua

Với hành động hướng thượng này của ta đã được thực hiện đến bậc Tối Thượng Nhân, ta sẽ thành tựu quả vị Toàn Tri và sẽ giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

Sau khi cắt đứt giòng chảy luân hồi và phá hủy ba cõi (tái sanh), ta sẽ ngự lên con tàu Chánh Pháp và sẽ giúp cho thế gian luôn cả chư thiên vượt qua.”

Sự phát nguyện được thành tựu nhờ vào sự tổng hợp của tám pháp: [Bản thân là loài người, thành tựu nam căn, có chủng tử, nhìn thấy bậc Đạo Sư,] là vị xuất gia, hội đủ đức hạnh, có hành động hướng thượng, và lòng ước muốn.

Đấng Thông Suốt Thế Gian Dīpaṅkara, vị thọ nhận các vật cúng dường, đã đứng kề cận đỉnh đầu của ta và đã nói lời này:

[15]“Các người hãy nhìn đạo sĩ tóc bện có khổ hạnh cao tột này. Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, (người này) sẽ trở thành vị Phật ở thế gian.
Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).

Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).

Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy hưởng dụng món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.

Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.

Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.

Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.

Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh.

Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’ Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.
Nandamātā và Uttarā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”

Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại mừng rỡ (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, nở nụ cười, chắp tay cúi lạy (nói rằng):

“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Giống như những người băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”

Đấng Thông Suốt Thế Gian Dīpaṅkara, vị thọ nhận các vật cúng dường đã công bố về hành động của ta rồi đã hướng vai phải nhiễu quanh.[17]
Những vị là Thinh Văn của đấng Chiến Thắng ở tại nơi ấy, tất cả các vị đã đi nhiễu quanh (ta). Chư thiên, nhân loại, A-tu-la, và các Dạ-xoa đã đảnh lễ (ta) rồi ra đi.

Vào lúc vị Lãnh Đạo Thế Gian cùng hội chúng đã đi khỏi tầm nhìn của ta, khi ấy ta đã từ chỗ nằm vươn dậy rồi xếp vào thế kiết già.
Khi ấy, ta được an lạc với sự an lạc, mừng rỡ với sự mừng rỡ, được tràn ngập với pháp hỷ, và ta đã xếp vào thế kiết già

Sau khi ngồi xuống với tư thế kiết già, khi ấy ta đã suy nghĩ như vầy: “Được tự tại trong pháp thiền, ta đã đạt đến sự toàn hảo về thắng trí.
Ở trong (mười) ngàn thế giới, các ẩn sĩ ngang bằng với ta là không có.

có vị nào bằng về các phép thần thông. Ta đã đạt được sự an lạc như thế ấy.”

Khi ta đã xếp vào tư thế kiết già, cư dân thuộc mười ngàn (thế giới) đã phát ra lời nói vang dội rằng: “Chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
..........