Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 29

Ðề tài: Khóa Hư Lục

  1. #1

  2. #2
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    LỜI ĐẦU SÁCH


    Quyển Khóa Hư Lục Giảng Giải này ra đời do lòng nhiệt tình, tâm tha thiết mong muốn có một “Pho Sách Phật Giáo Việt Nam” thật sự Việt Nam của chúng tôi. Bao nhiêu năm rồi, chúng tôi ao ước những tư liệu Phật giáo Việt Nam còn sót lại được dịch ra chữ quốc ngữ để cho người sau có phương tiện tham khảo học tập. Rất hân hạnh được các vị: Thiều Chửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Đăng Thục, Hòa thượng Thanh Kiểm, nhóm Khoa Học Xã Hội đã dịch bộ Khóa Hư Lục. Nương chú giải của quí vị trên, chúng tôi dễ dàng nhiều trong khi giảng giải tập sách này. Quí vị là ân nhân lớn giúp chúng tôi thực hiện được sở nguyện từ lâu.

    Sách Phật giáo Việt Nam vốn dĩ nghèo nàn lại bị mất mát, cần bảo tồn và làm tăng trưởng thêm, chúng tôi cố gắng giảng giải và in ra, hầu mong thêm lớn phần nào cho pho sách Phật Giáo Việt Nam. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam mà không có một Pho Sách Phật Giáo Việt Nam, đây là một thiếu sót lớn. Trước kia Tổng Hội Phật Giáo Bắc Kỳ nhờ trường Viễn Đông Bác Cổ giúp đỡ đã in được Pho Sách Phật Giáo Việt Nam lấy tên là Việt Nam Phật Điển Tùng San để phát hành. Song pho sách này vẫn bằng chữ Hán, tài liệu còn hạn chế và ít nguời đọc được.

    Theo quan niệm chúng tôi “Pho Sách Phật Giáo Việt Nam” là gom góp các quyển sách, văn thơ... của các bậc Tôn túc, các hàng đạt đạo người Việt Nam đã viết còn lưu lại, để thấy tinh thần người xưa tu hành đạt đạo và thâm hiểu Phật giáo như thế nào, cho chúng ta, hàng hậu học, có chút tự hào về Tổ tiên mình và học hỏi theo các ngài.

    Quyển Khóa Hư Lục chúng tôi dùng giảng giải là bản in năm 1943 của Tổng Hội Phật Giáo Bắc Kỳ. Muốn người nghe và người đọc dễ lãnh hội, chúng tôi thay đổi thứ tự những đề mục trong sách chữ Hán, những phần dễ để trước, phần khó để sau, cốt hướng dẫn độc giả nhận được yếu chỉ Thiền tông. Mong thực hiện được bản hoài, chúng tôi không ngại tài đức cạn mỏng, mạnh bạo làm một việc có thể quá sức. Chắc rằng còn lắm điều sai sót, mong quí vị Cao minh tha thứ và chỉ giáo cho.


    Kính mong,
    THÍCH THANH TỪ
    Thiền viện Thường Chiếu, ngày 23/4/96 (6/3 Bính Tý)

  3. #3
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    TRẦN THÁI TÔNG
    Ông Vua Thiền Sư
    (1218 - 1277)


    Trần Thái Tông tên Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, sanh năm Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) triều Lý. Gia thế ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc huyện Mỹ Lộc tỉnh Hà Nam Ninh); ông cha làm nghề đánh cá. Nhờ có công dẹp loạn, họ Trần dần dần có thế lực từ đời Lý Cao Tông. Trần Cảnh mới có tám tuổi được Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu là Thái Tông.

    Năm Thái Tông lên hai mươi tuổi, Lý Chiêu Hoàng mười chín tuổi đang là Hoàng hậu, bị Trần Thủ Độ ép Thái Tông giáng Chiêu Hoàng làm Công chúa, lấy chị bà là Thuận Thiên, vợ Trần Liễu (anh ruột Thái Tông) làm Hoàng hậu. Lý do, vì Thủ Độ nôn nóng Thái Tông có con để kế thừa, mà Chiêu Hoàng chậm con, chị bà đang mang thai. Trần Liễu phẫn uất nổi loạn tháng giêng năm Bính Thân (1236).

    Do nhiều nỗi khổ và lòng ray rứt bất an, lúc mười giờ đêm ngày mồng ba tháng tư năm 1236, vua Thái Tông bỏ ngai vàng, trốn lên núi Yên Tử đi tu. Vua đem theo một số tùy tùng, nói đi để nghe dư luận dân gian, biết rõ sự thật cho dễ bề trị nước. Sang sông, đoàn người đi về phía đông. Bấy giờ vua mới nói rõ ý định đi tu với các người tùy tùng và bảo họ trở về. Mọi người đều ngạc nhiên và khóc lóc. Vào khoảng sáu giờ sáng hôm sau vua đến bến đò Đại Than ở núi Phả Lại. Trời sáng, sợ người nhận ra, vua lấy vạt áo che mặt mà qua đò, rồi theo đường tắt lên núi. Đến tối, vua vào nghỉ trong chùa Giác Hạnh, đợi sáng lại đi. Khó khăn trèo núi hiểm, lội suối sâu, con ngựa đã yếu không thể lên núi được nữa, vua phải bỏ ngựa vịn vào các tảng đá mà đi. Khoảng hai giờ trưa mới đến chân núi Yên Tử. Sáng hôm sau, vua lên thẳng đỉnh núi và vào tham kiến Thiền sư Trúc Lâm (có lẽ Thiền sư Đạo Viên).

    “Thấy Trẫm, Quốc sư mừng rỡ. Người ung dung bảo Trẫm: Lão tăng ở chốn sơn dã đã lâu, xương cứng mặt gầy, ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng đã quen, lòng nhẹ như đám mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ mà nghĩ đến cảnh quê mùa rừng núi, hẳn là muốn tìm cầu gì ở đây cho nên mới đến, phải không? Trẫm nghe lời thầy hỏi, hai hàng nước mắt ứa ra, liền thưa với thầy rằng: Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, trơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường, cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật, chớ chẳng muốn tìm gì khác. Thầy đáp: Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng lặng trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài.”

    (Bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam)


    Hôm sau, Trần Thủ Độ đem các quan lên núi Yên Tử đón vua về kinh. Bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Thái Tông viết: “Thấy Trẫm, Trần Công thống thiết nói: Tôi chịu lời ủy thác của Tiên quân, phụng sự nhà vua trong việc làm chủ thần dân. Nhân dân đang mong đợi bệ hạ như con đỏ trông đợi cha mẹ. Huống chi ngày nay các vị cố lão trong triều đều là họ hàng thân thích, sĩ thứ trong nước ai nấy đều vui vẻ phục tùng, đến đứa trẻ lên bảy cũng biết nhà vua là cha mẹ dân. Vả lại Thái Tổ vừa mới bỏ tôi mà đi, hòn đất trên nắm mồ chưa ráo, lời dặn dò bên tai còn văng vẳng, thế mà bệ hạ đã lánh vào chốn núi rừng ẩn cư để cầu thỏa lấy ý chí riêng của mình. Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng lấy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Bệ hạ nếu không nghĩ lại, quần thần chúng tôi cùng thiên hạ sẽ xin cùng chết cả trong ngày hôm nay, quyết không trở về.

    Trẫm nghe Thái sư và các quần thần bô lão đều không chịu bỏ Trẫm, cho nên mới đem lời Thái Sư mà bạch lại với Quốc sư, Quốc sư cầm tay Trẫm mà nói: Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, và tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên.

    Bởi vậy Trẫm với mọi người trong triều mới trở về kinh, miễn cưỡng mà lên lại ngôi báu. Ròng rã trong mười năm trời, mỗi khi có cơ hội việc nước nhàn rỗi, Trẫm lại tụ họp các bậc kỳ đức để học hỏi đạo thiền. Các kinh điển của các hệ thống giáo lý chánh, không kinh nào là Trẫm không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim Cang, một hôm đọc đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, buông kinh xuống chiêm nghiệm, bỗng hoát nhiên tự ngộ...”

    Thái Tông là ông vua chăm học, trong bài tựa Kinh Kim Cang Tam-muội ông viết: “Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc, quên cả sớm chiều. Công việc thì có hàng vạn thứ mà thì giờ nhàn rỗi không có được bao lăm. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, Trẫm cố học hành thêm. Chữ nghĩa thì chưa biết được bao lăm, cho nên ban đêm đến giờ khuya vẫn còn phải thức để đọc sách; học sách Nho rồi còn học kinh Phật.” Thái Tông quả là ông vua cần mẫn hiếu học, không buông mình theo dục lạc.

    Chẳng những thế, Thái Tông lại là ông vua anh hùng. Năm 1257 giặc Mông Cổ xâm lăng đất nước. Thái Tông đích thân tham gia chỉ huy nhiều trận, có mặt ở cả mọi nơi nguy hiểm, khiến quân sĩ đều nức lòng chiến đấu. Kết quả quân ta đã đánh tan quân xâm lược, giặc Mông Cổ tháo thân chạy về Vân Nam vào đầu năm 1258. Đây là ông vua vừa đạo đức vừa anh hùng, làm sáng rỡ những trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam.

    Sau cuộc chiến, đất nước thái bình, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con năm 1258 lên làm Thái thượng hoàng. Từ đây Thái Tông vừa làm cố vấn cho con, vừa lo nghiên cứu tu Thiền. Đến lúc vua Trần Thánh Tông đủ sức đảm đang việc nước, ông lui về lập am Thái Vi ở vùng rừng núi Vĩ Lâm cố đô Hoa Lư để an dân lập ấp và tu hành.

    Thái Tông bệnh, nhân nuôi bệnh cha, Thánh Tông thưa: “Chân không và ngoan không là đồng hay khác?” Thái Tông bảo: “Hư không là một, chỉ vì tâm mình mê ngộ nên có chân và ngoan. Thí như phòng nhà mở cửa thì sáng, đóng cửa thì tối, sáng tối chẳng đồng mà phòng nhà là một.”

    Hôm sau, Quốc sư Đại Đăng vào thăm thưa: “Bệ hạ bệnh chăng?” Thái Tông nói: “Tứ đại là bệnh, cái này xưa nay sanh tử không can hệ, mà dính kẹt trong bệnh hoạn sao?”

    Khoảng mấy hôm sau, Thái Tông lặng thinh không nói, đuổi hết kẻ hầu hạ, đem việc nước dặn dò Thánh Tông. Thánh Tông muốn nhờ hai Quốc sư Phù Vân (Đạo Viên), Đại Đăng nói pháp xuất thế cho Thái Tông nghe. Thái Tông gằn giọng bảo: “Đến trong đây, bớt một mảy tơ dường trên thịt khoét thương, thêm một mảy tơ như trong mắt để bụi. Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư thối thân có phần. Dù Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết diệu đều là lời thừa, có ích gì đối với cái này?”

    Nói xong, Ngài lặng lẽ thị tịch, nhằm năm Đinh Sửu niên hiệu Bảo Phù thứ năm, thọ sáu mươi tuổi.

    Ngài còn lưu lại những tác phẩm:

    1. Thiền Tông Chỉ Nam
    2. Kim Cang Tam-muội Kinh chú giải
    3. Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi
    4. Bình Đẳng Lễ Sám Văn
    5. Khóa Hư Lục
    6. Thi Tập.

  4. #4
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    Tựa

    THIỀN TÔNG CHỈ NAM


    Trẫm thầm nghĩ: Phật không có nam bắc, mọi người đều có thể tu cầu. Tánh có trí ngu, đồng sẵn giác ngộ. Vì vậy, phương tiện dẫn dụ đám người mê, để sáng tỏ đường tắt sanh tử, là kinh điển của đức Phật chúng ta. Đặt mực thước cho đời, làm mô phạm người sau, là trọng trách các bậc Thánh trước (Tổ). Cho nên Lục Tổ nói: “Những bậc Thánh trước (Tổ) cùng Đại sư (Phật) không khác.” Nên biết giáo pháp của Phật nhờ các bậc Thánh trước truyền bá ở đời. Nay Trẫm đâu thể không lấy trách nhiệm các bậc Thánh trước làm trách nhiệm của mình, giáo pháp của Phật làm giáo pháp của mình.

    Vả lại, thuở Trẫm còn niên thiếu có chút ít hiểu biết, vừa nghe lời dạy của Thiền sư thì tâm tư lóng lặng, bỗng dưng thanh tịnh; nên để tâm nơi nội giáo, tham cứu Thiền tông, dốc lòng tìm thầy, chí thành mộ đạo. Tuy ý hồi hướng đã nẩy mầm, mà cơ cảm xúc chưa thấu suốt.

    Năm mười sáu tuổi, Thái hậu đã chán cõi đời, Trẫm nằm rơm gối đất, khóc ra máu mắt, đau đớn nát lòng; ngoài nỗi đau buồn này, đâu rảnh nghĩ việc khác. Chỉ vài năm sau, Thái Tổ Hoàng đế cũng băng hà. Lòng thương mẹ chưa nguôi, nỗi xót cha càng thống thiết, buồn thảm tràn trề khó bề dẹp được. Trẫm nghĩ: Công cha mẹ đối với con, nuôi nấng vỗ về không thiếu điều gì, dù con phải xương tan thịt nát vẫn chưa đủ đáp đền trong muôn một. Huống nữa, Thái Tổ Hoàng đế khai cơ lập nghiệp rất đỗi gian nan, trị nước giúp đời càng hệ trọng. Người đem đất nước giao cho ta khi còn thơ ấu, khiến ta ngày đêm canh cánh không chút thảnh thơi. Ta lòng riêng tự bảo: Trên đã không còn cha mẹ để tựa nương, dưới ngại chẳng xứng lòng dân mong đợi. Phải làm sao đây? Ta suy đi nghĩ lại: Chi bằng lui về ở chốn núi rừng, tìm học Phật pháp để hiểu rõ việc lớn sanh tử, lấy đó đền đáp công ơn cha mẹ, chẳng hay hơn sao? Thế là chí Trẫm đã quyết định.

    Đêm mùng ba tháng tư năm Bính Thân, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ năm (1236), Trẫm đổi y phục đi ra khỏi cửa cung, bảo tả hữu rằng: “Trẫm muốn đi dạo để ngầm nghe lời dân, biết được chí dân, mới hiểu thấu nỗi khó khăn của họ.” Bấy giờ tả hữu theo Trẫm không quá bảy tám người. Giờ hợi đêm ấy, Trẫm cỡi một ngựa lặng lẽ ra đi; sang sông thẳng về hướng đông, mới nói thật lòng cho tả hữu biết. Tả hữu ngạc nhiên, tất cả đều khóc. Giờ mẹo hôm sau, đến bến đò Đại Than bên núi Phả Lại, sợ có người biết, Trẫm lấy áo che mặt qua sông, đi tắt theo đường núi. Đến tối vào nghỉ chùa Tăng Giác Hạnh, đợi sáng lại đi. Leo trèo lặn lội, núi hiểm suối sâu, ngựa mỏi mệt không thể tiến lên được; Trẫm bèn bỏ ngựa vin vách đá mà lần bước, đến giờ mùi mới tới sườn núi Yên Tử. Sáng hôm sau, Trẫm trèo thẳng lên đỉnh núi, tham kiến vị Đại Sa-môn Quốc sư Trúc Lâm. Quốc sư vừa thấy Trẫm mừng rỡ, ung dung bảo:

    “Lão tăng ở lâu nơi sơn dã, xương cứng mặt gầy, ăn rau đắng cắn hạt dẻ, uống nước suối dạo cảnh rừng, lòng như mây nổi theo gió đến đây. Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, nghĩ đến nơi quê hèn rừng núi, chẳng hay bệ hạ mong cầu điều gì mà đến đây?”

    Trẫm nghe nói, hai hàng nước mắt tự tràn, đáp lại Sư rằng: “Trẫm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước, thịnh suy không thường, cho nên Trẫm đến núi này chỉ cầu làm PHẬT, chớ không cầu gì khác.” Sư bảo:

    “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là Chân Phật. Nay bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài.”

    Bấy giờ ông chú Trần Công, người em họ mà tiên quân gởi gắm đứa con côi, sau khi tiên quân bỏ thế gian và quần thần, Trẫm phong làm Thái sư tham dự quốc chính. Nghe tin Trẫm trốn đi, ông liền sai tả hữu đi mọi nơi dò tìm tung tích, rồi cùng người trong nước lên đến núi này. Gặp Trẫm, ông thống thiết nói:

    “Thần nhận sự ủy thác của tiên quân, tôn bệ hạ làm chúa thần dân. Lòng dân trông đợi ở bệ hạ như con nhỏ mong đợi cha mẹ. Huống nữa, ngày nay các cố lão trong triều đều là bề tôi thân thuộc, dân chúng sĩ thứ ai cũng vui vẻ phục tùng. Cho đến đứa bé lên bảy cũng biết bệ hạ là cha mẹ dân. Vả Thái Tổ bỏ thần mà đi, nấm đất trên mồ chưa khô, lời dặn dò còn vẳng bên tai. Mà nay bệ hạ trốn lánh vào núi rừng, ẩn cư để mong thỏa mãn chí mình. Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu thì có thể được, còn quốc gia xã tắc thì sao? Chỉ để lời dạy suông cho đời sau, chi bằng đem thân mình làm gương trước cho thiên hạ. Bệ hạ nếu không nghĩ lại, chúng thần cùng người trong thiên hạ đồng chết ngay hôm nay, quyết chí không trở về.”

    Trẫm thấy Thái sư cùng các cố lão quần thần không có ý bỏ Trẫm, liền đem lời này tỏ bày với Quốc sư. Quốc sư cầm tay Trẫm bảo:

    “Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ trở về, bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong bệ hạ đừng xao lãng.”

    Vì thế, Trẫm cùng mọi người trở về Kinh, miễn cưỡng lên ngôi. Khoảng hơn mười năm, những khi được rảnh rỗi, Trẫm tập họp các vị kỳ đức để tham cứu thiền, hỏi đạo và các kinh Đại thừa... đều nghiên cứu qua. Trẫm thường đọc kinh Kim Cang đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, trong khoảng để quyển kinh xuống ngâm nga, bỗng nhiên tự ngộ. Liền đem sở ngộ này viết thành bài ca, để tên là “Thiền Tông Chỉ Nam”. Năm này, Quốc sư từ núi Yên Tử về Kinh, Trẫm mời ở chùa Thắng Nghiêm, trông coi việc ấn bản các kinh. Trẫm đem tập sách này trình Sư, Sư xem qua liền tán thán rằng:

    “Tâm chư Phật ở trọn nơi đây, sao không nhân khắc in các kinh, khắc in luôn để dạy kẻ hậu học.”

    Trẫm nghe lời này, sai thợ viết chữ chân phương, ra lệnh khắc bản in. Chẳng những để chỉ đường mê cho hậu thế, mà còn muốn tiếp nối công lớn các bậc Thánh nhân đời trước. Vì thế tự làm lời tựa này.
    Last edited by mynhan; 10-02-2016 at 12:19 PM.

  5. #5
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    NĂM GIỚI

    Dịch

    VĂN GIỚI SÁT


    Phàm các loài sanh từ trứng, thai, ẩm, hóa, tánh vẫn đồng, thấy nghe hiểu biết đâu khác. Chỉ do tạo nghiệp kết oán, nên thọ tên khác hiệu khác. Ngày trước vốn loài người, nay sanh đàn giống khác nhau. Hoặc là bạn bè, hoặc là anh em. Thay đổi áo xiêm đai mũ, biến làm mai vảy cánh lông. Vợ quên chồng, chồng quên vợ, con trái cha, cha trái con. Đã thấy đổi đầu khác mặt, lôi về mổ bụng chặt chân. Luống lo tham sống sợ chết, lại không một lời kêu đau khổ. Ngươi giết nó, nó giết ngươi, hắn ăn mày, mày ăn lại hắn, hằng không ngày dứt, mải tạo oan trái. Kiếp kiếp trả nhau, đời đời thù nhau.

    Người quay đầu liền đến quê nhà, kẻ phóng tâm hằng chìm địa ngục. Sách Nho dạy: “Thi ân bố đức.” Kinh Đạo dạy: “Ái vật hiếu sanh.” Phật chỉ cấm sát là giữ giới, ngươi phải để ý tuân hành chớ phạm.

    Kệ rằng:

    Cánh lông mai vảy trọn hàm linh,
    Sợ chết tham sanh nào khác tình.
    Từ trước Thánh Hiền lòng chẳng nỡ,
    Đâu cam thấy chết vẫn tham sanh.

    VĂN GIỚI TRỘM


    Người làm nhân nghĩa là quân tử, kẻ làm trộm cướp là tiểu nhân. Người quân tử ôm lòng cứu giúp kẻ cô bần, đứa tiểu nhân thì tham lấy tài vật. Vật của người lấy làm của mình, mặc kệ nhiều người trách cứ, chỉ biết lợi ích cho mình. Đâu biết giàu sang tại trời, chỉ thả ý tham cầu. Thuốc chó, đào hầm, đục tường, khoét vách theo gót tướng quân Sơn Dương, tập làm Lương thượng quân tử. Nghịch trời trái đất, dối pháp khinh hình. Khi sống thì pháp luật trừng trị, lúc chết bị Minh Ty khảo tra.

    Không những đống vàng khối ngọc, dầu rằng cọng cỏ mảy lông. Ngửi mùi hương sen trong ao mà Địa thần còn quở, cho vay lấy lời Diêm vương còn phạt. Lưới trời lồng lộng, làm thiện thì thoát, làm ác thì mang. Phép nước thênh thang, làm việc công thì khỏi, làm việc tư thì phạm.

    Kệ rằng:

    Đục vách đào tường ý chẳng thôi,
    Trăm mưu ngàn kế khổ mong cầu.
    Đời này ví được của người đấy,
    Nào biết muôn phen kiếp ngựa trâu.

    VĂN GIỚI SẮC


    Lưng ong tóc mượt hay khiến tâm tánh say mê; sắc én mày ngài làm cho hồn phiêu phách lạc. Đưa mắt liếc chẳng phải dao mài mà ai không đứt ruột. Lưỡi uốn tựa sáo diều, mọi người đều phải lắng nghe. Người mê thì nghĩa thân sơ đều dứt; kẻ tham thì đạo đức tiêu tan. Trên thì phong giáo đắm chìm, dưới thì khuê môn tán loạn. Bất luận phàm phu, học giả đều say áo đẹp thích điểm trang. Kỷ cương quốc gia bị rơi chốn Tô đài; giới thể bị chôn vùi nơi dâm thất.

    Thảy do phóng mắt đuổi theo bên ngoài, nên không xoay đầu nhìn lại bên trong. Cởi hết lụa là che thân chỉ bày làn da bọc thịt. Độc giác gần nữ am mà hoàn tục; Chân quân xa Thán phụ nên thăng thiên. Người chẳng theo sắc được năm thần thông; kẻ mê sắc thì mất các giới hạnh.

    Kệ rằng:

    Má thoảng hương mai, mặt nhụy đào,
    Thấy rồi mắt dán, ý nao nao.
    Thảy đều một đãy da hôi thúi,
    Thầm cắt ruột người chẳng dụng dao.

    VĂN GIỚI VỌNG NGỮ


    Tâm là gốc thiện ác, miệng là cửa họa phúc. Nghĩ một niệm thì hưởng ứng không sai; nói một lời thì bóng theo chẳng lệch. Quân tử trọng lời như biện; cổ nhân ngừa nói như bình. Nói ra thì ngay thẳng công bằng; mở lời thì không cong queo tà vạy. Không nói đây hay kia dở; chẳng bàn mình phải người sai. Đâu dám khua môi múa lưỡi, cần phải giữ miệng gìn lời. Vả nghiệp của thân là nặng, song họa của miệng là trước. Chẳng những kẻ nói là vọng ngôn, còn khiến người nghe làm bậy.

    Đời này bị người khinh rẻ, sau khi chết bị nghiệp kéo lôi. Hoặc kềm sắt kéo lưỡi cam chịu chua cay. Hoặc nước đồng sôi rót vào miệng lòng ôm đau đớn.

    Kệ rằng:

    Kề vai cười nói khua lưỡi môi,
    Cứ mãi làm người vọng ngữ thôi.
    Riêng ý cầu tài, mong người thích,
    Sau cùng khó tránh nghiệp kéo lôi.


    VĂN GIỚI RƯỢU

    Người ưa uống rượu thì đức hạnh suy kém, lời nói nhiều lỗi lầm. Hơi nóng xông nát dạ dày, vị cay xuyên thủng gan ruột. Rối loạn tinh thần, tâm tánh hôn mê. Chẳng nghĩ đến cha mẹ, tội ngũ nghịch chuyên làm. Hoặc ồn náo nơi tiệm quán, hoặc say mèm ngoài đường sá. Khinh trời mắng đất, hủy Phật chê Tăng. Miệng lảm nhảm hát ca, thân trần trụi nhảy múa. Đã không tiếp Phật cúng dường, mà lại theo bọn mũ đen bất chánh. Tan thân mất mạng từ đó mà sanh, mất nước hại nhà từ đây mà có.

    Bỏ rượu thì ngàn điềm lành đồng tới, uống rượu thì trăm họa kéo về. Đại Võ không uống rượu nên muôn họ đều theo. Thái Khang mê rượu nên năm con đều oán. Đâu chỉ hàng phong lưu phải răn, mà bậc đạt giả cũng cần phải tránh. Bao nhiêu người rạng rỡ trên đời, lại bị tối tăm trong rượu.

    Kệ rằng:

    Men bã một vò ủ nấu thành,
    Bao nhiêu người trí mất thông minh.
    Chẳng riêng tăng sĩ không gìn giới,
    Mất nước, tan nhà từ đó sanh.
    Last edited by mynhan; 10-02-2016 at 12:17 PM.

  6. #6
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    BỐN NÚI

    Dịch

    Nguyên là, tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có. Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không. Vọng ấy từ không, không hiện vọng, vọng sanh các sắc. Đã trái không sanh không hóa, mải làm có hóa có sanh. Không sanh hóa thì không hóa không sanh, có hóa có sanh nên có sanh có hóa. Hoặc sanh Thánh Hiền ngu trí, hoặc hóa vảy cánh lông sừng. Luôn luôn chìm đắm nơi bến mê, mãi mãi trôi lăn trong biển khổ. Mờ mờ mịt mịt nào biết nào hay, rối rắm lăng xăng chẳng tỉnh chẳng ngộ. Trọn là buông tâm chạy đi, đều không nắm mũi kéo về. Khiến đến qua lại sáu đường, xuống lên bốn núi. Bốn núi là: sanh, già, bệnh, chết. Nay lần lượt trình bày bốn núi để lại đời sau.

    KỆ BỐN NÚI

    Bốn núi cheo leo vạn khóm tùng,
    Ngộ xong chẳng có, muôn vật không.
    Mừng được ba chân lừa có sẵn,
    Cỡi lên thúc mạnh vượt cao phong.


    NÚI THỨ NHẤT


    NÚI THỨ NHẤT LÀ TƯỚNG SANH. Vì sai một niệm nên hiện đa đoan. Gá hình hài nơi tinh huyết mẹ cha, nương khí âm dương dưỡng nuôi thai nghén. Trong tam tài người đứng giữa, lại hàng chí linh của muôn vật. Chẳng luận kẻ trí người ngu, đều thuộc bào thai bao bọc; hỏi chi một người trăm họ đều trong lò bễ mà ra. Hoặc mặt trời biểu hiện, vua thánh giáng sanh, hoặc các sao ứng điềm, tôi hiền xuất hiện. Văn chương quét sạch ngàn quân, võ lược chiến thắng trăm trận. Trai cậy phong tư ném quả, gái khoe sắc đẹp nghiêng thành. Một trận cười nghiêng nước, hai trận cười đổ thành. Đua danh khoe đẹp, tranh lạ đấu trân, xem ra thảy đều luân hồi, đáo để khó trốn sanh hóa.

    Tướng sanh của người là mùa xuân của năm. Hanh thông đang độ tam dương, muôn vật rực màu tươi tốt. Một trời trong sáng, nơi nơi liễu thắm hoa hồng; muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh kêu bướm lượn.

    Kệ rằng:

    Trời đất nấu nung vạn tượng thành,
    Xưa nay không mống cũng không manh.
    Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,
    Liền trái không sanh nhận có sanh.
    Mũi vướng các hương, lưỡi tham vị,
    Mắt mờ chúng sắc, tai đắm thanh.
    Lang thang làm khách phong trần mãi,
    Ngày cách quê hương muôn dặm trình.


    NÚI THỨ HAI


    NÚI THỨ HAI LÀ TƯỚNG GIÀ. Hình dung thay đổi, khí huyết đã suy, dáng gầy tuổi cao, ăn uống hay sặc thường nghẹn. Tóc xanh má đỏ đổi thành tóc bạc da gà, ngựa trúc áo hoa lại thành gậy cưu xe cói. Dẫu rằng mắt sáng như Ly Lâu cũng khó phân rành màu sắc; dù cho tai thính như Sư Khoáng cũng khôn nhận rõ âm thanh. Tiều tụy như cây liễu lúc thu về, điêu linh như đóa hoa khi xuân hết. Bóng chiều vừa ngả non tây, dòng nước sắp chảy về biển đông.

    Tướng già của người là mùa hạ của năm. Trời nóng đá chảy muôn vật đều khô, nắng nóng sôi vàng trăm sông sắp cạn. Hoa tàn liễu úa, bờ lạch trong vườn há còn lưu giữ. Bướm lượn oanh bay, dưới lá đầu cành già sắp tới.

    Kệ rằng:

    Con người kiếp sống tợ phù âu,
    Thọ yểu người trời chớ vọng cầu.
    Bóng ngả nương dâu, chiều sắp đến,
    Thân như bồ liễu tạm qua thu.
    Phan lang thuở nọ còn xanh tóc,
    Lữ Vọng ngày nay đã bạc đầu.
    Cuồn cuộn việc đời thôi chẳng đoái,
    Vâng ô gác núi, nước trôi xuôi.


    NÚI THỨ BA


    NÚI THỨ BA LÀ TƯỚNG BỆNH. Tuổi đã già khọm, bệnh đến cao hoang. Chân tay mỏi mệt, mạch lạc khó thông, trăm lóng rã rời, nóng lạnh chẳng thuận. Tan mất tánh chân thường, sai lệch nguồn điều sướng. Ngồi đứng khó khăn, co duỗi đau đớn. Mạng dường ngọn đèn trước gió, thân như hòn bọt trên sông. Tâm sanh bóng quỉ lô nhô, mắt thấy không hoa lốm đốm. Hình hài gầy yếu, ai là Biển Thước thuốc thang; thân thể hao mòn, nào kẻ Lư Nhân cứu chữa. Bạn bè luống nhọc viếng thăm, anh em uổng sức nâng đỡ. Bệnh nặng nhiều tháng chẳng lành, nằm liệt nhiều tuần chưa khỏi.

    Tướng bệnh của người là mùa thu trong năm. Gặp khi sương lạnh mới rơi, đến lúc cỏ cây đều héo. Rừng rậm sum sê một trận gió vàng đã lơ thơ; núi biếc non xanh, móc ngọc mới sa liền trơ trọi.

    Kệ rằng:

    Âm dương trái vận vốn xoay vần,
    Gieo rắc tai ương đến thế nhân.
    Đại để có thân thì có bệnh,
    Ví bằng không bệnh cũng không thân.
    Linh đơn chớ cậy trường sanh thuật,
    Lương dược khó mong được sống bền.
    Sớm nguyện xa lìa ma cảnh giới,
    Xoay tâm về đạo, dưỡng thiên chân.


    NÚI THỨ TƯ

    NÚI THỨ TƯ LÀ TƯỚNG CHẾT. Bệnh càng trầm trọng mạng sắp cáo chung. Tuổi thọ mong hưởng trăm năm, thân thế trở thành giấc mộng. Thông minh trí tuệ khó trốn ngày đại hạn sắp sang. Sức mạnh oai hùng đâu chống được khi vô thường đã đến. Thiếp thuận vợ trinh trở thành đau thương đứt ruột; anh nhường em kính vội nên ly biệt suốt đời. Vật mình lăn đất, vỗ trán kêu trời. Tường hoa nhà rộng có làm chi, ngọc đụn vàng kho rồi cũng bỏ. Dạ đài mù tối, luống nghe gió bấc vi vu, tuyền hộ then gài, chỉ thấy mây sầu ảm đạm.

    Tướng chết của con người là mùa đông trong năm. Càn khôn ứng Thái Tuế tròn vòng, nhật nguyệt hướng Huyền Hiều hội tụ. Âm tinh cực thịnh, khắp trời mưa tuyết bời bời, dương khí tan dần, nước tám đức đóng băng càng lạnh buốt.

    Kệ rằng:

    Cào đất đùng đùng trận gió hanh,
    Lão ngư say tít, chiếc thuyền chành.
    Bốn bề mù mịt mây sầm bóng,
    Một dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.
    Theo lớp hạt mưa bay phấp phới,
    Dồn nhau tiếng sét nổ đì đoành.
    Giây lâu tan bụi, bên trời tạnh,
    Trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?

    (NGÔ TẤT TỐ dịch)

    Bão táp cuồng phong đất bụi bay,
    Lão ngư say tít, chiếc thuyền lay.
    Bốn bề mây phủ màu đen kịt,
    Một dãy sóng gầm tiếng vang tai.
    Sầm sập trận mưa ào ạt đổ,
    Ì ầm xe sấm nổ vần xoay.
    Tạm thời bụi lắng, chân trời sáng,
    Trăng lặn lòng sông, canh mấy ai?
    Last edited by mynhan; 10-02-2016 at 12:31 PM.

  7. #7
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    NÓI RỘNG SẮC THÂN

    Dịch


    Hết thảy các người! Thân là gốc khổ, thể chất là nghiệp nhân, nếu tự cho nó là thật, cũng là nhận giặc làm con.

    Các ông nên chín chắn xem, chỉ sắc thân này khi chưa vào bào thai thì nơi nào được có. Bởi do niệm khởi duyên hội, năm uẩn hợp thành, thể mạo vọng sanh, hình dung giả có. Quên thật quên gốc, hiện giả hiện dối, hoặc nữ hoặc nam, hoặc đẹp hoặc xấu. Trọn là buông tâm chạy đi, toàn không một bước trở về, chạy rong trên đường sanh tử, mất tuốt “Bản lai diện mục”. Do đó, giương mắt nhìn bên ngoài, ai biết xoay đầu ngó lại bên trong. Khi lại, sanh là hóa sanh; nơi đến, trong mộng nói mộng. Lăng xăng lộn xộn, vội vội vàng vàng, lấy giả làm chân, trái không đến sắc. Đầu sọ khô cài hoa giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đậy máu tanh, giồi son phấn át thùng phân thúi. Trang sức như thế trọn là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn, lại hướng trong ấy mến yêu.

    Hết thảy các người! Giống hệt con rối, đều nhờ sợi tơ kéo rút, đùa đến đùa đi cùng sanh một thứ, sau khi buông đi, thật là dáng chết. Tự khởi muôn việc tính toán, đều do lục tặc công phá. Chẳng lo già bệnh chết đến, chỉ thích sắc tài rượu thịt. Luống đưa đầu lằng sừng ốc, cam chịu lợi ràng danh buộc. Trọn ngày dồn sức mong cầu, tối lại trở thành mộng tưởng. Chất chứa nghiệp dơ như giếng, chẳng biết tóc bạc như sương. Một hôm bệnh nặng trầm kha, trăm năm trọn về mộng lớn. Tim gan đau đớn dường thể oán thù, thân thể ốm gầy giống như quỉ đói. Còn muốn cầu đảo sống dai, nào biết sát sanh hại mạng. Chỉ mong đời sống dài như tùng bá, đâu ngờ thân thể ví tựa nhà xiêu. Hồn phách tuy về cõi quỉ, thi hài vẫn còn ở nhân gian, tóc lông răng móng chưa kịp tiêu, đàm dãi máu me đều chảy trước. Rữa nát thì máu mủ chảy trào, hôi hám ắt xông trời xông đất, đen nám chẳng dám nhìn, xanh bầm thật đáng tởm. Chẳng luận giàu nghèo đồng vào cõi chết, hoặc để trong nhà thì dòi đục tửa sanh, hoặc ném ra đường quạ ăn chó xé. Người đời đều bịt mũi đi qua, con hiếu thì lấy chiếu mền quấn giấu. Nhặt thu hài cốt, chôn cất thịt xương. Quan quách phó cho đóm lửa ma trơi nơi hoang dã, mả mồ giao cho muôn dặm núi sông. Khi xưa tóc đen má ửng, ngày nay xương trắng tro đen. Khi mưa lệ rơi thì mây sầu thê thảm, lúc gió buồn thổi thì trăng sáng hắt hiu. Đêm vắng thì quỉ khóc thần sầu, năm dài thì ngựa giày trâu đạp. Lửa đom đóm lập lòe trong đám cỏ xanh, tiếng dế ngâm nỉ non cạnh hàng dương liễu. Bia ghi nửa chìm, rêu xanh phủ, tiều phu giậm mãi thành lối mòn. Dầu cho văn chương cái thế, giả sử tài sắc nghiêng thành, chung cuộc đâu có đường khác, cuối cùng cũng chỉ một lối đi. Mắt bị sắc dẫn trèo lên cây kiếm; tai theo tiếng lôi tiến lên núi đao; lỗ mũi ngửi toàn mùi hôi hám; trong lưỡi ăn sắt nóng nuốt hoài; thân khiếp sợ nước đồng sôi nóng giội; ý chua cay vạc dầu sôi nung nấu. Nhân gian trọn một trăm năm, trong địa ngục mới là sáng tối.

    Nếu người tác gia đủ mắt, cần phải sớm gấp hồi quan chuyển thân nhảy khỏi vòng sanh tử, khoảng khảy tay cắt đứt lưới ái ân. Dù là nam hay nữ thảy đều tu được; dẫu rằng trí hay ngu trọn đều có phần. Nếu chưa đạt được Phật tâm, Tổ ý hãy trước nương trì giới tụng kinh. Đến lúc Phật cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải, thì giới gì trì, kinh nào tụng. Nơi sắc huyễn cũng là chân sắc, ở thân phàm cũng là thân Phật. Phá sáu thức làm sáu thần thông, dạo tám khổ thành tám tự tại.

    Tuy nói thế ấy, mà mỗi người vào trong sắc thân rồi, bỏ đó thật khó thay!

    Hết thảy các người! Chỉ sắc thân này lại làm sao giải thoát? Nếu chưa giải thoát, cần phải nghe đây:

    Vô vị chân nhân thịt đỏ au,
    Hồng hồng bạch bạch chớ lầm nhau.
    Ai hay mây cuộn, trời trong lặng,
    Sương biếc tầng không, một núi xanh.


  8. #8
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    RỘNG KHUYÊN

    PHÁT TÂM BỒ-ĐỀ


    Dịch


    Ở đời cái quí tột chỉ là vàng ngọc mà thôi, nhưng xét kỹ chỗ quí tiếc ấy chẳng bằng thân mạng. Ví như có người giàu sang được phong làm đại tướng, dùng vàng ròng làm giáp để che đỡ cho thân. Đến khi lâm chiến binh đao bị thua, hoặc cởi giáp ném gươm mà chạy, mong được thân mạng an toàn mà thôi, giáp vàng ròng đâu rảnh nghĩ tiếc. Mới biết, cái quí vàng ròng chẳng bằng cái quí thân mạng, đây là thật vậy.

    Ngày nay thì không thế, trái lại quí vật kia mà khinh thân này. Chẳng biết thân này khó được có ba. Thế nào là ba?

    1. Trong lục đạo chỉ có người là quí, đến khi nhắm mắt đi rồi, mờ mờ mịt mịt chẳng biết chỗ đến. Hoặc vào đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, a-tu-la chẳng được làm người. Đây là cái khó được thứ nhất.

    2. Đã được làm người, lại sanh nơi mọi rợ, tắm thì đồng sông, ngủ thì chung giường, trật tự tôn ti không có, nam nữ lẫn lộn, chẳng được phong tục nhân thuần, chẳng nghe chư Thánh giáo hóa. Đây là cái khó được thứ hai.

    3. Đã được sanh nơi phồn thịnh mà sáu căn không đủ, thân thể tật nguyền, mù, điếc, câm, ngọng, què, thọt, còng, gù; miệng mũi hôi tanh, thân hình nhơ nhớp. Thầy chẳng được gần, chúng chẳng được thân. Tuy ở nơi phồn thịnh dường thể ở ngoài quê vắng. Đây là cái khó được thứ ba.

    Nay đã làm người, được sanh nơi phồn thịnh lại đầy đủ sáu căn, đâu chẳng là quí sao? Người đời luôn luôn đuổi theo con đường danh lợi, luống nhọc xác tổn thần, đem thân mạng rất quí báu này làm tôi tớ cho tiền của đáng khinh. Sánh với người ăn bánh quên vợ, ngậm cơm quên môi nào có khác gì. Tuy thân mạng thật là quí trọng, vẫn chưa quí trọng bằng đạo tối cao. Cho nên Khổng Tử nói: “Sớm nghe đạo chiều chết cũng vui.” Lão Tử nói: “Tôi sở dĩ có hoạn lớn, vì tôi có thân.” Thế Tôn thuở xưa cầu đạo xả thân cứu cọp đói. Đâu chẳng phải ba bậc Thánh nhân đều khinh thân mà trọng Đạo đó sao? Than ôi! Thân mạng thật là quí trọng còn phải xả để cầu Vô thượng Bồ-đề, huống là vàng ngọc, tiền của đáng khinh mà lại tiếc sao? Ôi trong ấp mười nhà vẫn có người trung tín, huống là cả thế gian há không có người thông minh sáng suốt hay sao? Đã nghe lời này, cần phải gắng học, chớ nên nghi ngờ chậm trễ. Kinh nói: “một phen mất thân người, muôn kiếp chẳng được lại”, thật là thống thiết. Cho nên Khổng Tử nói: “Người không chịu làm, tôi chẳng làm gì, cam đành thôi vậy.”

    Rõ ràng thời gian trăm năm, toàn ở trong sát-na, thân huyễn tứ đại đâu thể lâu dài. Mỗi ngày chìm đắm trong trần lao, mỗi lúc nghiệp thức càng mênh mông vô tận. Chẳng biết một tánh viên minh, luống theo sáu căn tham dục. Công danh cái thế cũng chỉ là một trường đại mộng, phú quí kinh nhân khó khỏi vô thường hai chữ. Tranh nhân tranh ngã rốt cuộc thành không, khoe giỏi khoe hay cứu kính chẳng thật.

    Gió lửa khi tan không già trẻ,
    Núi sông bại hoại mấy anh hùng.

    Đầu xanh chưa mấy lúc tóc bạc đã sớm điểm sương; ngày vui vừa đến thì ngày điếu cũng đi theo. Một bao máu mủ nhiều năm khổ luyến ân tình, bảy thước hình hài buông lòng tham mê tài bảo. Thở ra khó mong được hít vào, ngày nay không bảo đảm ngày mai.

    Sông yêu chìm nổi lúc nào thôi,
    Nhà lửa đốt thiêu bao giờ tắt?

    Chẳng nguyện vượt ra lối nghiệp, chỉ vì chưa có công phu. Vua Diêm-la chợt truy tìm, Thôi tướng công há cho triển hạn. Ngoái đầu nhìn người thân chẳng thấy, đến đây rồi nghiệp báo tự mang. Quỉ vương ngục tốt mặc sức khảo tra, cây kiếm núi đao khôn chống đỡ. Hoặc nhốt dưới ngọn núi lửa, hoặc giam trong núi Thiết Vi. Vào vạc dầu sôi muôn kiếp ngàn đời, bị chặt chém một đao thành hai khúc. Đói nuốt hoàn sắt nóng, khát uống nước đồng sôi. Suốt ngày luôn chịu khổ đau, năm trăm kiếp chẳng thấy hình bóng. Trả xong tội nghiệp, trở vào luân hồi. Bỗng mất thân người khi trước, trở lại mang lấy đãy da. Đội lông mang sừng, hàm sắt dây yên, lấy thịt nuôi người dùng mạng trả nợ. Sanh bị khổ dao bằm chày nện, sống bị nạn nước sôi lửa bỏng. Hằng chứa oán thù, thay nhau ăn nuốt. Khi đó mới hối hận, học đạo không nhân. Chi bằng ngày nay tu tập, chớ để đời này trôi qua.

    Đức Phật Thích-ca trước bỏ hoàng cung đi thẳng vào núi Tuyết. Cư sĩ Bàng Uẩn đem gia tài đổ xuống biển sâu. Chân Vũ chẳng thiết ngôi vua chỉ cầu tu hành. Lữ Công đã làm thần tiên vẫn còn tham vấn. Tô Đông Pha thường gần Phật Ấn, Hàn Văn Công lại lễ Đại Điên, Bùi Công bị đoạt hốt nơi Thạch Sương, Phòng Tướng hỏi pháp ở Quốc Nhất. Diệu Thiện không nhận phò mã, thành Phật chẳng ngờ. Lục Tổ mới gặp khách nghe kinh liền tỉnh ngộ. Đạo Thiền nếu không thú vị, Hiền Thánh sao chịu qui y. Hoa Lâm cảm hóa hai cọp theo luôn. Đầu Tử có ba con chim báo sáng. Lý trưởng giả giải kinh mà thiên trù dâng cơm. Tu-bồ-đề ngồi yên mà Đế Thích tán hoa. Đạt-ma một chiếc dép về Tây. Phổ Hóa rung chuông bay đi. La-hán đến tham vấn với Hòa thượng Ngưỡng Sơn. Nhạc Đế qui y với Thiền sư Tư Đại. Cảnh Sơn đến nay vẫn được Long vương thỉnh cúng. Tuyết Phong ngày xưa hay sai người gỗ phá non. Đây là những nguyên do để nghiệm biết, chớ tự khinh mà lui sụt.

    Chồn hoang còn nghe Bá Trượng nói pháp. Loài ốc sò vẫn biết hộ kinh Kim Cang. Mười ngàn con cá nghe danh hiệu Phật được hóa làm con trời. Năm trăm con dơi nghe tiếng pháp thảy được làm Hiền Thánh. Mãng xà nghe sám hối được sanh thiên. Rồng nghe kinh mà ngộ đạo. Chúng là loài vật còn hay lãnh ngộ, huống là người sao chẳng hồi tâm.

    Hoặc có người vùi đầu trong ăn uống, qua mất một đời. Hoặc có người trên đường tu hành lầm lẫn, mà không thức tỉnh. Đâu biết tánh giác Bồ-đề mỗi mỗi viên thành, nào hay căn lành Bát-nhã người người đầy đủ. Chớ luận đại ẩn tiểu ẩn, thôi phân tại gia xuất gia. Chẳng cuộc người tăng kẻ tục, chỉ cốt nhận được Bản tâm. Vốn không có nam nữ, đâu cần chấp tướng. Người chưa rõ dối chia tam giáo, liễu được rồi đồng ngộ nhất tâm. Nếu hay phản chiếu hồi quang, đều được kiến tánh thành Phật.

    Huống là thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Nếu muốn vượt khỏi vòng quanh lục đạo, chỉ có con đường tắt Nhất thừa. Cần tìm chánh kiến, chớ tin tà sư. Ngộ rồi mới là vào cửa, hành được mới hay thoát tục. Bước bước đạp đến đất thật; đầu đầu đều đội hư không. Khi dùng thì muôn cảnh toàn bày, buông đi thì mảy bụi chẳng lập. Vượt đến chỗ không còn tương quan sanh tử, cơ liễu ngộ quỉ thần nhìn chẳng ra.

    Là phàm là Thánh đồng vào đường này, hoặc oán hoặc thân cùng chung một lỗ mũi. Thật ngộ như thế, còn kẹt giữa đường. Thôi nói tam huyền hướng thượng, cốt rõ một câu rốt sau. Hãy nói hiện nay cái gì là “một câu rốt sau”?

    Non xanh chốn ấy nhìn trời rộng,
    Sen đỏ nở rồi nghe mùi thơm.

  9. #9
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Post

    LUẬN VỀ THỌ GIỚI

    Dịch


    Tịnh giới tiếng Phạn gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa. Sở dĩ chư Phật ba đời được thành đạo không vượt ngoài giới. Nên nói: “Người có phá giới, được gọi là Tỳ-kheo, người không phá giới gọi là ngoại đạo.” Đây là chỉ người có thọ giới cùng người không thọ giới vậy. Thọ giới rồi lại phá còn gọi là Tỳ-kheo; huống là người thọ tất cả tịnh giới, lại kiên trì gìn giữ! Cho nên hiện tại Bồ-tát lấy đây (giới) mà độ sanh; vị lai người tu hành do đây (giới) mà giải thoát. Kinh nói: “Giới như đất bằng, muôn điều lành từ đó mà sanh. Giới như thuốc hay, chữa lành các bệnh. Giới như hòn ngọc sáng, hay phá mờ tối. Giới như chiếc thuyền, hay đưa người qua biển. Giới như chuỗi anh lạc, trang nghiêm Pháp thân.”

    Người có tội phải sám hối, nếu không sám hối thì tội càng sâu. Một phen mất thân này, muôn kiếp chẳng được lại. Ngày nay tuy an, sáng mai khó bảo đảm. Nên giữ giới pháp này, chóng qua sanh tử. Thờ Phật làm thầy, trước phải y theo giới luật. Cổ đức nói: “Qua sông phải dùng bè, đến bờ chẳng cần thuyền.” Đây là cổ nhân dùng giới luật làm thuyền bè. Song người nay chẳng dùng thuyền bè qua sông, mà được đến bờ kia, thật ít thay!


  10. #10
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    LUẬN TỌA THIỀN

    Dịch


    Phàm người học đạo chỉ cầu kiến tánh. Tuy thọ được tất cả tịnh giới, mà không tọa thiền thì định lực chẳng sanh; định lực chẳng sanh thì vọng niệm không diệt, muốn được kiến tánh, thật là khó vậy. Đức Phật Thích-ca vào núi Tuyết, ngồi ngay thẳng sáu năm, chim cáp làm tổ trên đầu, cỏ tranh mọc xuyên qua bắp vế, mà thân tâm thản nhiên. Tử Cơ ngồi tựa ghế, thân như cây khô, tâm tợ tro tàn. Nhan Hồi ngồi quên, tay chân rời rã. Đuổi thông minh, lìa ngu trí, đồng với đại đạo. Đó là các bậc Thánh Hiền trong tam giáo ngày xưa, đã từng ngồi định.

    Song đi đứng nằm ngồi đều là thiền, không phải chỉ riêng ngồi. Nhưng vì đi thì cất bước, đứng thì nhọc nhằn, nằm thì mờ mịt mà yên tĩnh, yên tĩnh thì cái nghĩ sanh, nghĩ sanh thì niệm khởi. Muốn dứt các niệm, nên tập ngồi thiền định. Nếu khi ngồi không dứt các niệm, tâm khỉ đua nhảy, ý vượn chạy rong, hoặc vọng tưởng mà biết tiền trần, hoặc vô ký mà quên tự tánh. Tựa giường, dựa vách, nhắm mắt che tròng ngủ gục, nước miếng chảy, đầu cúi, xương sống cong. Tuy giả danh là tọa thiền, mà ngồi dưới núi đen, trong hang quỉ. Cho nên Thiền sư Hoài Nhượng nói: “mài gạch muốn làm gương” là nói về người này vậy.

    Vả lại, thiền có bốn thứ:

    1. Tạo kế khác, ưa trên chán dưới mà tu, gọi là “Ngoại đạo thiền”.

    2. Chánh tín nhân quả, cũng ưa trên chán dưới mà tu, gọi là “Phàm phu thiền”.

    3. Rõ lý sanh (nhân) không, chứng đạo thiên chân mà tu, gọi là “Tiểu giáo thiền”.

    4. Đạt nhân, pháp đều không mà tu, gọi là “Đại giáo thiền”.

    Nay, người hậu học, cần lấy “Đại giáo thiền” làm chánh. Nơi đây tập tọa thiền dứt niệm, chớ sanh kiến giải.

  11. #11
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    LUẬN VỀ GIỚI ĐỊNH TUỆ

    Dịch


    Phàm tất cả người tu hành đều do hai việc: chán sanh, tử. Bỏ cha mẹ, vợ con, xuất gia cầu đạo, phụng thờ đức Phật làm thầy. Noi theo đường tắt của chư Phật, chỉ có kinh mà thôi. Song trong kinh nói ra không ngoài giới, định, tuệ. Luận Giải Thoát nói: “Giới, định, tuệ gọi là đạo giải thoát.” Giới là nghĩa oai nghi. Định là nghĩa chẳng loạn. Tuệ là nghĩa giác tri. Lấy giới để trừ ác cấu. Lấy định để trừ triền cấu. Lấy tuệ để trừ sử cấu. Cho nên dùng giống thiện này (giới - định - tuệ) mà theo đạo, gọi là: sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Giới là sơ thiện, định là trung thiện, tuệ là hậu thiện. Giới là sơ thiện là, vì tinh tấn trì giới thành tựu bất thối nên mừng. Vì mừng nên hớn hở, vì hớn hở nên cử động, vì cử động nên vui, vì vui nên tâm không định. Định là trung thiện là, do thân cử động nên dừng, do dừng nên tâm trụ, do tâm trụ nên thấy biết như thật, đây là trung thiện. Tuệ là hậu thiện là, do thấy biết như thật nên chán ghét, do chán ghét nên lìa dục, do lìa dục nên giải thoát, gọi là hậu thiện.

    Vì thế dùng giới trừ ác thú, dùng định trừ dục giới, dùng tuệ trừ tất cả cõi. Nương theo giới định tuệ này mà tu, tức là đường tắt của chư Phật, chẳng phải xa vậy.

  12. #12
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    LUẬN GƯƠNG TUỆ GIÁO

    Dịch

    Tuệ sanh từ sức định. Nếu tâm định thì gương tuệ sanh, nếu tâm loạn thì gương tuệ diệt. Cũng như chiếc gương bằng đồng trước phải nhờ mài giũa, sau mới trong sạch soi sáng. Nếu chẳng mài giũa thì tỳ vết bụi nhơ phủ tối. Đã bị bụi nhơ phủ thì ánh sáng làm sao mà sanh? Cho nên trí tuệ do định hiện, định tuệ nương nhau không thể thiếu một.

    Nếu mượn danh tọa thiền, tâm chưa được định mà gương tuệ sanh thì không bao giờ có. Tuy có tánh tuệ mà không tập tọa thiền, tự cho đã có tuệ thì cần tọa thiền làm gì? Người như thế, tuy có tuệ mà không gương thể. Nếu khi thiền định, tâm chưa được định mà muốn cầu tuệ, ví như sóng gió chưa dừng mà mong thấy bóng mặt trăng. Nếu tâm đã định lại sanh tà giải, cầu mong được tuệ, cũng như sóng gió đã lặng, bóng trăng lóng trong mà lại lấy tay vớt trong nước muốn được bóng mặt trăng, khi nào được thấy.

    Tổ sư nói: “Tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch.” Lại nói: “Tịch tịch tỉnh tỉnh phải, tịch tịch vô ký sai. Tỉnh tỉnh tịch tịch phải, tỉnh tỉnh loạn tưởng sai([1]).” Tỉnh tỉnh tịch tịch, tịch tịch tỉnh tỉnh là thuốc, vô ký loạn tưởng là bệnh. Nếu thân có bệnh phải nhờ thuốc đối trị, thân đã bình định còn gì phải trị. Nếu được như thế thì định tuệ thành tựu.


    __________________________

    ([1]) Trong chánh văn “Tịch tịch tỉnh tỉnh thị vô ký, tỉnh tỉnh tịch tịch thị loạn tưởng”. Nguyên bản của Thiền sư Huyền Giác “Tịch tịch tỉnh tỉnh thị, tịch tịch hôn trầm phi. Tỉnh tỉnh tịch tịch thị, tỉnh tỉnh loạn tưởng phi”. Có lẽ ở đây in sót mấy chữ.[/I]

  13. #13
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    LUẬN VỀ NIỆM PHẬT

    Dịch


    Phàm niệm Phật là do tâm khởi. Tâm khởi thiện thì niệm thiện, khởi niệm thiện thì nghiệp báo thiện. Tâm khởi ác là niệm ác, sanh nghiệp ác thì ứng nghiệp ác. Như gương hiện ảnh, tợ bóng theo hình. Cho nên Thiền sư Vĩnh Gia nói: “ai vô niệm, ai vô sanh” là nghĩa này vậy.

    Nay học giả muốn khởi chánh niệm để dứt ba nghiệp, cũng nhờ công niệm Phật. Thế nào là niệm Phật được dứt ba nghiệp? Vì khi niệm Phật thân ngồi ngay thẳng, không làm hạnh tà là dứt thân nghiệp. Miệng tụng chân ngôn, chẳng nói lời tà là dứt khẩu nghiệp. Ý gắng tinh tấn, chẳng khởi niệm tà là dứt ý nghiệp. Song người trí có ba bậc:

    Bậc thượng trí thì tâm tức là Phật, chẳng nhờ tu thêm. Niệm tức là trần, chẳng cho một điểm. Niệm trần vốn tịnh, nên gọi như như bất động, tức là thân Phật. Thân Phật tức là thân ta, không có hai tướng. Tướng tướng không hai, lặng lẽ thường còn, còn mà chẳng biết, đó là Phật sống.

    Bậc trung trí ắt nương niệm Phật. Chú ý chuyên cần, niệm niệm chẳng quên, tự tâm thuần thiện. Niệm thiện đã hiện, niệm ác liền tiêu. Niệm ác đã tiêu, chỉ còn niệm thiện. Do niệm là ý niệm, nên niệm niệm diệt đó. Khi niệm diệt ắt về chánh đạo. Lúc mạng chung được vui Niết-bàn - thường lạc ngã tịnh - là Phật đạo vậy.

    Bậc hạ trí thì miệng siêng niệm lời Phật, tâm muốn thấy tướng Phật, thân nguyện sanh về nước Phật. Ngày đêm siêng năng tu hành, không có thối chuyển. Sau khi mạng chung, tùy niệm thiện đó được sanh về nước Phật. Sau được chư Phật dạy bảo chánh pháp, chứng được Bồ-đề, cũng vào quả Phật.

    Ba bậc trên sâu cạn chẳng đồng, chỗ được là một vậy. Song bậc thượng trí nói thì dễ mà hành thì khó. Người thời nay muốn theo gương học, toàn không có chỗ gá nương, trọn trông bờ rồi lui, rất khó đặt chân. Bậc trung trí nếu hay siêng tu như lời nói ở trên thì tức khắc thành Phật. Nếu như lậu chưa hết mà lâm chung, tùy quả báo kia trở lại thọ sanh ở đời, nhận quả báo thiện. Quả báo thiện đã hết, không có người đánh thức, trở lại rơi vào đường ác. Như thế đó cũng là khó vậy. Bậc hạ trí lấy niệm Phật làm nấc thang, lấy tinh tấn làm cây thang, chú ý duyên lành, nguyện sanh về nước Phật. Siêng năng không lười biếng, tâm tánh thuần thục, sau khi mạng chung, tùy theo sở nguyện, được sanh về nước Phật. Đã sanh về nước Phật thân đó không bao giờ mất.

    Người học thời nay, đã được thân người, ba nghiệp đồng có, mà chẳng dùng niệm Phật, cầu sanh về cõi Phật, đâu chẳng khó sao? Như muốn niệm Phật, tức lấy bậc hạ trí làm trước. Tại sao? - Vì có chú ý vậy. Ví như xây đài ba tầng, mà chẳng dùng tầng dưới làm trước thì không thể có vậy.

  14. #14
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    Tựa

    KHOA NGHI
    SÁU THỜI SÁM HỐI


    Dịch

    Tiện lợi việc đi lại dưới sông trên bộ, là nhờ xe, thuyền; tẩy sạch bụi nhơ nơi thân tâm, là do sám hối. Muốn tẩy sạch thân tâm mà không dùng sám hối, khác nào muốn tiện lợi qua lại mà chẳng dùng xe, thuyền. Thế mới biết công dụng sám hối rất là to. Cho nên kinh Đại Tập nói: “Như áo nhơ hằng trăm năm, có thể trong một ngày giặt được sạch sẽ. Như thế, trong trăm ngàn kiếp đã tích tập các nghiệp chẳng lành, do nhờ lực Phật, khéo thuận tư duy, có thể trong một ngày hay một giờ, trọn hay tiêu diệt.”

    Vả lại, chúng sanh từ trước đến nay tánh giác thanh tịnh tròn sáng, trong trẻo như hư không chẳng có mảy bụi. Do bọt vọng chợt dấy, cõi uế hiện thành, năng và sở nương nhau, Phật với chúng sanh thấy hai. Căn tánh sai biệt, ngu trí phân chia, chỉ cho một cửa, khó được ngộ nhập. Vì thế, đức Phật chúng ta trí nguyện rộng lớn, mở cửa phương tiện, tùy lối chỉ đường về, đúng bệnh cho thuốc. Biết huyễn cấu của chúng sanh từ vọng mà sanh, khuyên họ một niệm kính thành qui y sám hối, khiến thân tâm thanh tịnh, trong sạch như xưa. Gió yên thì sóng lặng, bụi sạch thì gương sáng. Sao thế? Vì trước khởi tâm ác, như mây che mặt trăng, sau sanh tâm thiện, như đuốc sáng tan bóng tối. Ôi! công dụng sám hối lớn lao há chẳng vậy sao?

    Trẫm nhờ quyến thuộc nhà Trời, ở ngôi chí tôn, nên việc dân gian, quốc chánh phiền rộn. Phồn hoa dụ dỗ bên ngoài, thị dục mê hoặc ở trong. Miệng thì chán ngán vị ngon, thân phải đeo mang vàng ngọc. Thấy nghe đuổi theo thanh sắc, ở ăn toàn chốn gác đài. Lại nữa, thói đời khinh bạc, nhân pháp suy vi, học giả mù độn, căn lành kém mỏng. Ngày thì căn trần va chạm, lưới nghiệp kéo lôi; đêm thì mê ngủ che đậy, dây lười trói buộc. Ngày đêm dính mắc, đâu không phải là lỗi chuốc họa gây thù. Trẫm vì lẽ đó, ôm ấp trong lòng, thương cảm xen lẫn, quên ăn mất ngủ. Nhân khi việc triều rảnh rỗi, xem khắp Kinh, Luận và các văn nghi lễ, tuyển chọn pháp có được tự lợi lợi tha, dùng để chỉ dạy cho người. Trăn trở suy đi nghĩ lại, xưa tạo nghiệp trọn do sáu căn. Vì thế đức Phật Thích-ca khi chưa thành đạo, trước vào núi Tuyết sáu năm tu khổ hạnh, là do sáu căn đó vậy. Phỏng theo ý ấy, lấy sáu căn phân làm sáu thời, mỗi thời lễ sám một căn. Chính Trẫm chế nghi văn sám hối này, gọi là “Khoa nghi sáu thời lễ Phật sám hối”.

    Văn thì rườm rà, nói thì lời xa xôi. Nếu văn rườm rà thì người lười sám hối, lời xa xôi thì dễ sanh nghi. Cho nên không dùng lời phù phiếm dồn cho đầy quyển, cốt khiến người đọc tụng vui vẻ, người nghe thấy dễ ngộ. Mới mong những kẻ có lòng tin, ngày đêm phát tâm chí thành, theo khoa nghi này làm lễ sám hối. Đây là chẳng phụ chí nguyện tự lợi lợi tha của Trẫm.

    Người sáng mắt thời sau, chớ xem nghi văn này mà phát cười. Tuy nhiên như thế:

    Không nhân ngõ tía hoa cười sớm,
    Đâu có hoàng oanh đậu liễu xanh.

  15. #15
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    KHÓA LỄ
    SÁU THỜI SÁM HỐI


    Dịch

    KỆ CẢNH SÁCH CHÚNG GIỜ DẦN

    (3g - 5g)


    Phương đông tờ mờ sáng,
    Mặt đất tối tan dần.
    Tâm chạm trần cảnh dấy,
    Mắt lòa sắc tưng bừng.
    Xác thối đừng ôm mãi,
    Đầu vùi, sớm ngưỡng lên.
    Ân cần chuyên sáu niệm,
    Hầu mong hợp cơ chân.
    (Lễ Tam Bảo ba lạy)

    DÂNG HƯƠNG BUỔI SÁNG

    Cúi mong, phương Tây mặt trăng vừa lặn, hướng Đông vầng nhật hiện dần. Chiếu phạn họp dòng thanh tịnh, cõi không lễ bậc Thánh Hiền. Mong thấu lòng thành, kính dâng hương báu.

    Hương này, trồng từ rừng giới, tưới bằng nước định, chặt từ vườn tuệ, vót bằng đao giải thoát. Chẳng do sức người, rìu, búa, hình thế xuất tự thiên nhiên. Đốt lên từ lò báu tri kiến, kết đài mây sáng rỡ. Khi bay khắp chốn ngạt ngào, tan ra đầy trời thơm phức. Vừa lúc rạng đông, thắp hương cúng dường.

    KỆ DÂNG HƯƠNG

    Trầm thủy, rừng thiền hương sực nức,
    Chiên-đàn, vườn tuệ đã vun trồng,
    Đao giới vót thành hình non thẳm,
    Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.

    KỆ DÂNG HOA


    Đất tâm mở ra, hoa nở rộn,
    Trời có mưa hoa vẫn kém thơm.
    Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,
    Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

    PHÁT NGUYỆN


    Nguyện mây hương hoa này
    Khắp cả mười phương cõi
    Cúng dường tất cả Phật,
    Tôn Pháp, chư Bồ-tát,
    Vô lượng chúng Thanh văn
    Và tất cả Thánh Hiền.
    Vừa rời đài quang minh
    Qua cõi nước vô biên
    Trong vô biên cõi Phật
    Nhận dùng làm Phật sự.
    Xông khắp các chúng sanh
    Đều phát tâm Bồ-đề.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    TÂU BẠCH


    Kính bạch, mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư. Soi đuốc tuệ nơi đường tối, thả thuyền từ trong biển khổ.

    Trộm nghe, canh gà vừa qua, bóng thỏ mới lặn. Khói mù nơi sông núi chớm tan, xe ngựa xa gần đều chuyển động. Tiếng mai hoa trên lầu vừa tàn, chén trúc diệp trước song mới tỉnh. Mày liễu thập thò bày nắng sớm, mặt hoa e thẹn đọng sương mai. Gặp khi bừng sáng, thương kẻ ngu mê. Trong đêm giấc mộng đã lờ mờ, sáng đến tâm hồn còn rộn rịp. Mắt tai đuổi theo thanh sắc, mũi lưỡi dính mắc vị hương. Nhà lửa hằng cam thiêu đốt, sông ái mãi chịu đắm chìm. Mặc dù sáng nay ông thức giấc, cũng như người đang ngủ đêm qua. Chẳng lo sanh già bệnh chết đuổi gấp, chỉ chăm vợ con tiền của buộc ràng.

    Các Phật tử! Gốc thân chẳng bền, cành mạng khó yên. Mọi người trên đầu đội trời, khó khỏi mắt sáng rơi đất. Một sớm chợt sẩy tay, muôn kiếp thân khó được. Cần phải mau mau gieo giống lành, chớ có khư khư cầu quả ác. Người người sớm tỉnh, mỗi mỗi siêng tu. Chuyên tâm lễ Vô thượng Từ Dung, chạm mắt thấy Đại quang minh tạng.

    Đệ tử chúng con, kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ buổi sáng.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)

  16. #16
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    SÁM HỐI TỘI CĂN MẮT


    Chí tâm sám hối,
    Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay;
    Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
    Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm.
    Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

    NGHIỆP CĂN MẮT LÀ:


    Nhân ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh.
    Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.
    Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh giành;
    Chợt mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến.
    Trắng qua xanh lại, tía phải vàng sai;
    Nhìn lệch các thứ, nào khác kẻ mù.
    Gặp người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang;
    Lòa mắt chưa sanh Bản lai diện mục.
    Thấy ai giàu có, giương mắt mải nhìn;
    Gặp kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái.
    Người dưng chết chóc, nước mắt ráo khô;
    Thân quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.
    Hoặc đến Tam Bảo, hoặc vào chùa chiền;
    Gần tượng thấy kinh, mắt không thèm ngó.
    Phòng Tăng điện Phật, gặp gỡ gái trai;
    Mắt liếc mày đưa, đam mê sắc dục.
    Không ngại Hộ pháp, chẳng sợ Long thần;
    Trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.
    Những tội như thế, vô lượng vô biên;
    Đều từ mắt sanh, phải sa địa ngục.
    Trải hằng sa kiếp, mới được làm người;
    Dù được làm người, lại bị mù chột.
    Nếu không sám hối khó được tiêu trừ.
    Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH


    Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật
    Và chư Bồ-tát, Thánh Hiền Tăng.
    Mở rộng tâm từ bi vô lượng
    Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).

    CHÍ TÂM TÙY HỈ


    Nay con theo Phật sanh hoan hỉ
    Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm.
    Thềm thang Thập địa nguyện sớm lên.
    Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.

    CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG


    Chúng con hồi tâm nương Thánh chúng
    Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.
    Nguyện đem công đức đến quần sanh
    Nhờ thắng nhân này thành Chánh giác.
    (Lễ một lạy)

    CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN


    Một nguyện rộng mở sáng chánh kiến,
    Hai nguyện lau sạch bụi trần mù,
    Ba nguyện nhìn hình không đắm mến,
    Bốn nguyện thấy sắc chẳng bận lòng.
    Năm nguyện quên đầu cần kíp nhận,
    Sáu nguyện mắt tuệ tự tròn đầy,
    Bảy nguyện hiện nay sớm tỉnh mộng,
    Tám nguyện hằng được sáng xưa nay.
    Chín nguyện khi nhìn trừ mắt bệnh,
    Mười nguyện chỗ thấy dứt không hoa,
    Mười một nguyện trông xa mây chướng cuốn,
    Mười hai nguyện chớp mắt nghiệp băng trong.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    KỆ VÔ THƯỜNG BUỔI SỚM


    Đêm tối vừa rạng sáng
    Ánh dương dần hiện không.
    Tóc bạc thầm tới điểm
    Má hồng dần đổi thay.
    Chẳng biết tuổi xuân ngắn
    Vẫn tranh nghiệp quả hùng.
    Thân như băng gặp nắng
    Mạng tợ đuốc gió đùa.
    Chớ mải mê làm khách
    Quay về sớm chiếu soi.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    DÂNG HƯƠNG BUỔI TRƯA

    Cúi mong, ánh dương rực rỡ, bầu trời chói chang. Nhìn lại ngày cứ trôi qua, đến Phật khấn cầu. Lòng tin tỏ bày dưới tòa báu, thắp nén hương trầm cắm lò châu. Hương này hun đúc bởi tiên thiên, chẳng phải Bồng đảo châu sản xuất; ngát thơm quả đất, nào do chiên-đàn sanh ra. Danh phẩm hơn cả trầm tiên, mùi vị vượt xa lan xạ. Chỗ tỏa khói lành, bởi lửa tam-muội đốt; mây hương bủa khắp, vốn từ khí nhất nguyên tan. Mỗi mỗi trên đảnh đều thấu triệt, người người trong mũi thảy ngửi mùi.

    Đây do Nghi sám hối, làm lễ dâng hương. Nay giờ ngọ thắp hương cúng dường.

    KỆ DÂNG HƯƠNG


    Trầm thủy rừng thiền hương sực nức,
    Chiên-đàn vườn tuệ đã vun trồng,
    Đao giới vót thành hình non thẳm,
    Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.

    KỆ DÂNG HOA


    Tâm địa mở ra, hoa nở rộn,
    Trời có mưa hoa, vẫn kém thơm.
    Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,
    Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

    HIẾN DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH

    Nguyện mây hương hoa này, qua đầy mười phương cõi, cúng dường tất cả Phật, tôn Pháp, chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh văn và tất cả Thánh Hiền; từ đài Quang minh dậy, qua vô biên thế giới, trong vô biên cõi Phật, thọ dụng làm Phật sự; khắp huân các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.
    Cúng dường rồi, chí tâm qui mạng lễ, mười phương Vô thượng Tam Bảo.
    (Lạy một lạy)


    TÂU BẠCH
    (Lại niêm hương quì bạch)


    Kính bạch: Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư, chuyển sáu đạo thành sáu thần thông, nhiếp chín loài về chín phẩm. Trộm nghe: gà xóm gáy trưa, mặt trời đứng bóng. Vòm trời cao ánh dương vừa đến giữa, khắp nơi dương liễu bóng đứng ngay. Nắng rọi sân hoa vờn ngọc, gió đưa rặng liễu lay vàng. Long lanh rực rỡ chiếu dao đài, lấp lánh chập chờn soi thềm ngọc. Lò nghê hương quyện, trời xanh vầng nhật chói chang. Gối tiên giấc nồng, trên gác tía ngày dài đêm ngắn. Hè cao độ thì chảy vàng nứt đá. Đông cực hàn thì sương phủ tuyết rơi. Nắng trưa bụi mù trong sạch, bóng xế mây tối quét tan. Đối cảnh tánh thiên rỗng suốt, ngay đó tâm địa sáng ngời. Nơi nơi thảy có quang minh, bước bước trọn không hắc ám.

    Chư Phật tử! Mặt trời đúng ngọ rồi phải xế, con người có thạnh ắt có suy. Thân thể chẳng bền lâu, giàu sang khó giữ mãi. Nhanh chóng như nước chảy trên sông, lẹ làng tợ mây qua đỉnh núi. Bình sanh chẳng tạo nhân lành ngày khác ắt về đường khổ. Quyết khởi tin sâu, trừ sạch nghi ngờ. Sớm nở tâm châu chư Phật, chiếu phá thùng sơn chúng sanh.

    Đệ tử chúng con kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ buổi trưa.

    Tâu bạch rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương ba đời Vô thượng Tam Bảo.
    (một lạy)
    Last edited by mynhan; 10-02-2016 at 02:19 PM.

  17. #17

    Mặc định

    Mynhan có tài liệu về Phật hoàng Trần Nhân Tông không?

  18. #18
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Thumbs up

    Gởi: Itdepx

    MN cũng không có.

    _______________________________________________


    SÁM HỐI TỘI CĂN TAI


    Chí tâm sám hối,
    Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,
    Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
    Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
    Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

    NGHIỆP CĂN TAI LÀ:


    Ghét nghe chánh pháp, thích lắng lời tà;
    Mê mất gốc chân, đuổi theo ngoại vọng.
    Sáo đàn inh ỏi, bảo khúc long ngâm;
    Văng vẳng mõ chuông, coi như ếch nhái.
    Câu ví bài vè, bỗng nhiên để dạ;
    Lời kinh câu kệ, không chút lắng tai.
    Thoảng nghe khen hão, khấp khởi mong cầu;
    Biết rõ lời lành, đâu từng ưng nhận.
    Vài ba bạn rượu, năm bảy khách chơi;
    Tán ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích.
    Hoặc gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh;
    Những điều hiếu trung, che tai bỏ mặc.
    Hoặc nghe tiếng xuyến, bỗng nảy lòng dâm;
    Nghe nửa câu kinh, liền như tai ngựa.
    Những tội như thế, vô lượng vô biên;
    Đầy ắp bụi trần, kể sao cho xiết.
    Sau khi mạng chung, rơi ba đường ác;
    Hết nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc.
    Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ;
    Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH


    Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật,
    Và chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
    Mở rộng tâm từ bi vô lượng,
    Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).
    (Lễ Tam Bảo một lạy)

    CHÍ TÂM TÙY HỈ


    Nay con theo Phật sanh hoan hỉ,
    Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm.
    Thềm thang thập địa nguyện sớm lên,
    Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)

    CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG


    Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
    Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.
    Nguyện đem công đức đến quần sanh,
    Nương thắng nhân này thành Chánh giác.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN


    Một nguyện nghe tiếng liền ngộ đạo,
    Hai nguyện nghe khổ sớm tu hành,
    Ba nguyện nghe suốt khắp bốn phương,
    Bốn nguyện nghe vui vô sanh tột.
    Năm nguyện lời tà tai không dính,
    Sáu nguyện chánh ngữ chóng nghe rành,
    Bảy nguyện tiếng pháp thường gần gũi,
    Tám nguyện trống pháp cần lắng nghe.
    Chín nguyện Quán Âm cùng tay nắm,
    Mười nguyện Khánh Hỷ đồng nổi danh,
    Mười một nguyện nhóm điếc thường phá chướng,
    Mười hai nguyện hai tai hằng suốt thông.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)

    KỆ VÔ THƯỜNG THỜI NÀY


    Chớp mắt vầng ô vừa mới mọc,
    Quay đầu bóng nhật giữa vòm trời.
    Trọn tham gỗ mục say mê ngủ,
    Nào tỉnh bóng hòe đã đổi đời.
    Phút chốc hoa tươi lần rơi rụng,
    Dần dà mạng nấm thạnh rồi suy.
    Mọi người sớm tỉnh xoay soi lại,
    Tự khổ ruổi rong khắp nẻo đường.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    DÂNG HƯƠNG BUỔI MẶT TRỜI LẶN


    Cúi mong, chân trời ráng hiện, khói tụ non xa. Thân đến đàn tràng thanh tịnh, đầu lễ Hiền Thánh từ bi. Mong thấu lòng thành, kính đốt hương báu. Hương này, danh cao ở Bồng đảo, phẩm lạ ở Lục Dương. Nào phải trầm thủy dâng từ Lâm Ấp, chẳng như tô du cống hiến của Đại Tần. Mùi hơn xạ hương ở Phong huyện, vị quá Ô trành long não. Riêng chiếm giá cao bậc nhất, mùi thơm vượt hẳn các hương. Hương báu vừa bay, chiếu phạm huân thành Đàn thế giới. Lò vàng mới đốt, xoay vần kết tụ Thận lầu đài. Tìm đến, Càn thành tan ảo hóa; ngửi mùi, địa ngục hết chua cay. Nay mặt trời lặn, thắp hương cúng dường.

    KỆ DÂNG HƯƠNG

    Trầm thủy, rừng thiền hương sực nức,
    Chiên-đàn, vườn tuệ đã vun trồng,
    Đao giới vót thành hình non thẳm,
    Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.

    KỆ DÂNG HOA


    Tâm địa mở ra, hoa nở rộn,
    Trời có mưa hoa, vẫn kém thơm.
    Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,
    Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

    HIẾN DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH


    Nguyện mây hương hoa này, khắp cả mười phương cõi, cúng dường tất cả Phật, tôn Pháp chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh văn và tất cả Thánh Hiền; vừa rời đài Quang minh, qua cõi nước vô biên trong vô biên cõi Phật, nhận dùng làm Phật sự, xông khắp các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.

    Cúng dường rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng Tam Bảo.
    (một lạy)


    TÂU BẠCH

    (Lại niêm hương quì bạch)


    Kính bạch: Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư. Vung kiếm tuệ ở rừng tà, quạt gió từ vào nhà lửa. Trộm nghe: ráng đỏ phủ đầu non, mặt trời vừa gác núi. Đầu thành giọng ốc thổi buồn thiu, chày nện ngoài rèm nghe ảm đạm. Thuyền chài quay lại bến cất tiếng hát chiều, chim bay trở về rừng nhẹ nhàng vỗ cánh. Phờ phạc đàn cò đậu bãi cát; tiêu sơ bờ liễu dế ngâm sầu. Đồng rộng lập lòe vài đóm lửa, trời cao lơ lửng trăng lưỡi liềm. Cửa phên hờ khép gà vào chuồng; đèn lửa chưa lên trâu lại ngõ. Lữ khách thúc ngựa chạy như tên bắn; thuyền về chèo gấp nhanh tợ thoi đưa. Thương thay kẻ mê lại vào đường tối. Ngày sáng trưng còn chẳng biết lối đi, đêm càng tối lối về nhà quên bẵng. Nhóm kia như người không đủ mắt, cảnh này quyết hẳn kẻ quên đường.

    Các Phật tử! Phải nhớ vô thường nhanh chóng, chớ tham phù thế xa hoa. Cần kíp kéo mũi xoay đầu, chớ để buông tâm phóng chạy. Mỗi người soi sáng bên trong, không cho theo cảnh tìm ngoài. Nếu là tri âm, hãy mau tiến bước.

    Đệ tử chúng con kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ mặt trời lặn.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)

  19. #19
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    SÁM HỐI TỘI CĂN MŨI


    Chí tâm sám hối,
    Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,
    Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
    Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
    Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

    NGHIỆP CĂN MŨI LÀ:


    Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào;
    Chẳng thích chân hương, năm phần thanh tịnh.
    Lan xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi;
    Giới định hương huân, chưa từng để mũi.
    Trầm đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài;
    Nghểnh cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói.
    Theo dõi hương trần, Long thần chẳng nể;
    Chỉ thích mùi xằng, trọn không chán mỏi.
    Mặt đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa;
    Cây giác hoa tâm, xoay đi không đoái.
    Hoặc ra phố chợ, hoặc vào bếp sau;
    Thấy bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt.
    Chẳng ngại tanh hôi, không kiêng hành tỏi;
    Mê mải không thôi, như lợn nằm ổ.
    Hoặc chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng;
    Bôi cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch.
    Hoặc say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng;
    Hai mũi thở hơi, xông kinh nhơ tượng.
    Ngửi sen thành trộm, nghe mùi thành dâm;
    Không biết không hay, đều do nghiệp mũi.
    Những tội như thế, vô lượng vô biên;
    Sau khi mạng chung, đọa ba đường khổ.
    Trải ngàn muôn kiếp, mới được làm người;
    Dù được làm người, quả báo bệnh mũi.
    Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ;
    Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH


    Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật,
    Và chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
    Mở rộng tâm từ bi vô lượng,
    Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).

    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM TÙY HỈ

    Nay con theo Phật sanh hoan hỉ,
    Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm.
    Thềm thang thập địa nguyện sớm lên,
    Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG


    Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
    Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.
    Nguyện đem công đức đến quần sanh,
    Nương thắng nhân này thành Chánh giác.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)

    CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN


    Một nguyện ra hết tà khí loạn,
    Hai nguyện nhận vào tuệ hương huân,
    Ba nguyện đóng thành cửa vô lậu,
    Bốn nguyện ho tan trần hữu duyên.
    Năm nguyện lôi về đường Tam Bảo,
    Sáu nguyện ngáp nát xóm tứ sanh,
    Bảy nguyện thở trừ chướng phiền não,
    Tám nguyện ngửi được hoa giác tươi.
    Chín nguyện thường thông giống các pháp,
    Mười nguyện hằng lấp nhân ngũ tân,
    Mười một nguyện kéo về dạo biển tánh,
    Mười hai nguyện lôi ra khỏi bến mê.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    KỆ VÔ THƯỜNG THỜI NÀY


    Cảnh giục trời gác núi,
    Tấc bóng có tiếc chăng?
    Chỉ chạy theo ý ngựa,
    Tâm khỉ chịu dừng đâu?
    Mặt trời mọc rồi lặn,
    Thân nổi trở lại chìm.
    Già đến ngu cùng trí,
    Chết đi xưa và nay.
    Chẳng khỏi vô thường đến,
    Hạn lớn tránh được nào?
    Mỗi nên đi đường chánh,
    Chớ để vào nẻo tà.

    KỆ KHUYÊN CHÚNG BUỔI HOÀNG HÔN


    Cảnh giục nương dâu tối,
    Non tây ô lặn rồi.
    Ngày giờ đâu dừng mãi,
    Già bệnh dễ kề người.
    Chết đến ai hay giữ,
    Hạn lại sao cấm ngăn.
    Mọi người nên để mắt,
    Hôn tán chớ vương tâm.
    KỆ TÁM KHỔ


    Sanh đến thành người thân khổ nhọc,
    Già sang lụ khụ ý mê mờ,
    Bệnh xâm thân thể đau khôn nhẫn,
    Chết đọa ba đường nghiệp dễ lôi.
    Ân ái xa lìa buồn khó tả,
    Oán thù gặp lại giận không cùng,
    Ngàn cầu chẳng được thêm phiền não,
    Năm ấm tranh nhau đấu sức hùng.
    (Lễ Tam Bảo ba lạy)


    DÂNG HƯƠNG BUỔI ĐẦU HÔM


    Cúi mong, lửa đom đóm điểm không, đèn thuyền chài rọi nước. Bạn tịnh trên đàn đều tới, trong lò mới thắp tín hương. Hương này, sản phẩm chẳng ở Lạc sơn, chủng loại không phải trầm thủy. Đâu bởi Thần Long dâng cúng, chính do Bồ-tát cất dành. Trong rừng Ngưu Đầu khó so bì, nơi vườn Kê Thiệt suy tôn bậc nhất. Gươm tuệ chặt, vót bằng đao giới rất mực thanh kỳ; nước định rửa, lửa tam-muội đốt mùi thơm ngào ngạt. Đâu chỉ đàn tràng ngửi được, mọi nơi khắp chốn đều thơm. Một nén hương xông nhiều đời nghiệp sạch. Nay buổi đầu hôm, đốt hương cúng dường.

    KỆ DÂNG HƯƠNG


    Trầm thủy rừng thiền hương sực nức,
    Chiên-đàn vườn tuệ đã vun trồng,
    Đao giới vót thành hình non thẳm,
    Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.
    KỆ DÂNG HOA

    Đất tâm mở ra, hoa nở rộn,
    Trời có mưa hoa, vẫn kém thơm.
    Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,
    Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

    PHÁT NGUYỆN


    Nguyện mây hương hoa này
    Khắp cả mười phương cõi
    Cúng dường tất cả Phật,
    Tôn Pháp, chư Bồ-tát,
    Vô lượng chúng Thanh văn
    Và tất cả Thánh Hiền.
    Vừa rời đài Quang minh
    Qua cõi nước vô biên
    Trong vô biên cõi Phật
    Nhận dùng làm Phật sự.
    Xông khắp các chúng sanh
    Đều phát tâm Bồ-đề.
    TÂU BẠCH


    Kính bạch: Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư, mở rộng đèn tuệ chư Phật, soi khắp nhà tối quần sanh. Trộm nghe: kèn lầu vừa thổi, trống cấm mới truyền, nhà nhà đèn sáp sáng trưng, chốn chốn mỡ rồng cháy rực. Ngựa báu thôi hí ngoài ngõ tía, cá vàng ngưng nhảy dưới ao trong. Lưa thưa mặt nước đom đóm bay, lấp ló đầu non ngậm vầng nguyệt. Bên đài Phượng Hoàng say sưa tiệc rượu liên hoan, trước lầu Anh Vũ tham đắm mê hoa thủ lạc. Hoặc vịnh trăng cợt gió, hoặc thổi sáo đánh đàn. Người người chăm chăm duyên trước mắt, kẻ kẻ đâu quên việc sau thân.

    Các Phật tử! Phải tỉnh đường trước khó tiến tới, chớ tham gối cao mặc ngủ say. Lên giường khó bảo đảm xuống giường, đêm nay đâu thể biết đêm mai. Cửa đệ nhất nghĩa nên thẳng vào, nơi ba đường ác chớ tiến bước. Quay đầu nhận về gia hương mình, mở mắt chớ ham mộng phù thế. Đệ tử chúng con, chỉ tưởng giờ này, lấy làm khóa lễ đầu hôm.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)

  20. #20
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    SÁM HỐI TỘI CĂN LƯỠI


    Chí tâm sám hối,
    Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,
    Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
    Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
    Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

    NGHIỆP CĂN LƯỠI LÀ:


    Tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở;
    Nếm hết các thứ, biết rõ béo gầy.
    Sát hại sanh vật, nuôi dưỡng thân mình;
    Quay rán cá chim, nấu hầm cầm thú.
    Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông;
    Ăn rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.
    Hoặc đến đàn chay, cầu thần lễ Phật;
    Cố cam bụng đói, đợi lúc việc xong.
    Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều;
    Giống hệt người đau, gắng nuốt thuốc cháo.
    Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan;
    Rượu chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.
    Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con;
    Giết hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.
    Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm;
    Hai lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.
    Chửi mắng Tam Bảo, nguyền rủa mẹ cha;
    Khinh khi Hiền Thánh, lừa dối mọi người.
    Chê bai người khác, che giấu lỗi mình;
    Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ.
    Khoe khoang giàu có, lăng nhục người nghèo;
    Xua đuổi Tăng, Ni, chửi mắng tôi tớ.
    Lời gièm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn;
    Tô vẽ điều sai, nói không thành có.
    Oán hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông;
    Tán dóc Tăng phòng, ba hoa Phật điện.
    Những tội như thế, vô lượng vô biên;
    Ví như cát bụi, đếm không thể cùng.
    Sau khi mạng chung, vào ngục bạt thiệt;
    Cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.
    Quả báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh;
    Dù được làm người, lại bị câm bặt.
    Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ;
    Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH


    Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật
    Và chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
    Mở rộng tâm từ bi vô lượng
    Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM TÙY HỈ


    Nay con theo Phật sanh hoan hỉ,
    Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm,
    Thềm thang thập địa nguyện sớm lên,
    Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG


    Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
    Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.
    Nguyện đem công đức đến quần sanh,
    Nương thắng nhân này thành Chánh giác.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN


    Một nguyện ăn no vị vô thượng,
    Hai nguyện nhả hết vị trần tanh,
    Ba nguyện biện tài trừ các hoặc,
    Bốn nguyện thích nói độ quần sanh.
    Năm nguyện đọc hết kho vô tận,
    Sáu nguyện sông pháp uống cạn khô,
    Bảy nguyện sớm nhận Đại Ngu nói (thổ lộ),
    Tám nguyện nhanh đồng Lâm Tế thanh (tiếng hét).

    Chín nguyện lưỡi dài cùng Phật phủ,
    Mười nguyện trong sạch như trời xanh,
    Mười một nguyện thế gian không câm ngọng,
    Mười hai nguyện địa ngục hết trâu cày (cày lưỡi).
    (Lễ Tam Bảo một lạy)

    KỆ VÔ THƯỜNG THỜI NÀY


    Ngày sáng mất rồi đêm tối đến,
    Đường đêm mờ mịt lại mịt mờ,
    Uổng công đốt đuốc cho người khác,
    Chẳng chịu mồi đèn chính nhà mình.
    Chầm chậm vầng ô vừa khuất núi,
    Từ từ bóng thỏ biển đông lên,
    Chết sống xoay vần đều như thế,
    Sao chẳng qui y Phật Pháp Tăng.

    DÂNG HƯƠNG NỬA ĐÊM

    Cúi mong, đồng hồ canh ba chuyển, muôn tiếng nhạc lặng im. Chúng Tăng hòa hợp trước nghiêm đàn, một nén hương thơm trùm pháp giới. Hương này trời đất sanh thành, công vun trồng chẳng phải một đời, do trăm thần bảo hộ mà được. Cội rễ tốt tươi, mãi nhờ mưa pháp thấm nhuần. Thể chất thanh cao, hằng được mây từ che mát. Giống lạ, chớ đem cây thường so sánh, mùi thơm nào phải kẻ phàm hay. Lư vàng nâng lên, mảnh mảnh vừa châm vào ngọn lửa; kết thành lọng báu, tầng tầng bay thẳng tận mây ngàn. Dùng làm lễ nghi trước Phật, mong nêu lòng tin kẻ phàm. Nay lúc nửa đêm, thắp hương cúng dường.

    KỆ DÂNG HƯƠNG


    Trầm thủy, rừng thiền hương sực nức,
    Chiên-đàn, vườn tuệ đã vun trồng,
    Đao giới vót thành hình non thẳm,
    Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.

    KỆ DÂNG HOA


    Tâm địa mở ra, hoa nở rộn,
    Trời có mưa hoa, vẫn kém thơm.
    Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,
    Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

    HIẾN DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH


    Nguyện mây hương hoa này, khắp cả mười phương cõi, cúng dường tất cả Phật, tôn Pháp chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh văn và tất cả Thánh Hiền; vừa rời đài Quang minh, qua cõi nước vô biên, trong vô biên cõi Phật, nhận dùng làm Phật sự, xông khắp các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.

    Cúng dường rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng Tam Bảo.
    (một lạy)


    TÂU BẠCH

    (Lại niêm hương quì bạch)


    Kính bạch, mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư. Duỗi tay vàng tiếp độ quần sanh, phóng sáng ngọc soi cùng các cõi. Trộm nghe, giờ vừa sang tý, đêm đã nửa rồi. Ngọn đèn dĩa bạc đã hầu tàn, đường sá trong thành đều lắng bụi. Mấy trận gió mây sanh muôn dặm; một vầng trăng sáng rọi canh ba. Lưa thưa rừng trúc rây vàng, lấp lánh hoa sân vờn ngọc. Hạc oán lặng thinh nơi trướng tuệ, vượn buồn kêu mãi chốn rừng tùng. Xa xôi Sâm, Đẩu trải Ngân hà, vắng vẻ quỉ thần khóc đồng nội. Cuốc kêu thống thiết, mộng điệp say mê. Thân huyễn lẻ loi trong rừng rậm, mộng hồn rong ruổi ngàn dặm trường. Cam chịu ma ngủ quấy rầy luôn, đâu biết đuốc trí hằng sáng rực. Ngoài nhà thần phách lạc hồn bay, trong hang quỉ tròng che mắt nhắm. Chỉ thích tham mê ngủ nghỉ, đâu biết nếm vị Chân như. Ham ưa một giấc ngon đến sáng, nào ngại trăm năm cơn chết chờ.

    Các Phật tử! Phải nhớ bốn rắn bức bách, chớ quên hai chuột gặm mòn. Luân hồi ba cõi chừng nào thôi, quanh quẩn bốn loài bao giờ hết? Đường vãng sanh nên bước, cần vin xe dẫn ra. Chỗ lao quan đó, quyết định đêm nay phá vỡ. Đệ tử chúng con, kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ nửa đêm.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •