kết quả từ 1 tới 9 trên 9

Ðề tài: bản tính hay bản tâm

  1. #1

    Mặc định bản tính hay bản tâm

    Lược trích Đại nhật như lai mahavairocana nhập chân ngôn môn trụ tâm(đại tỳ lô giá na thành phật thần biến gia trì kinh)
    Như vậy tôi nge, một thời đức bạc già phạm ngự tại cung kim-cang pháp giới rộng lớn của như lai gia trì, tất cả các bậc trì kim cang đều đến dự hội. do pháp tín giả du hí thần biến của ngư lai sỉnh a bảo vương làm thành lầu gác lớn, cao không thấy bờ giữa. Các đại diệu bảo vương này âm thầm zùng mọi thứ trang sức cho thân bồ tát làm tòa sư tử.
    Tên của 20 vị đại ziên cho một vạn kim cương là:
    1. hư không vô cấu chấp kim cương
    2. hư không zu bộ chấp kim cương
    3. hư không sinh chấp kim cương
    4. bị tạp sắc y chấp kim cương
    5. thiện hành bộ chấp kim cương
    6. trụ nhất thiết pháp bình đẳng chấp kim cương
    7. ai mẫn vô lượng chúng sinh chấp kim cương
    8. na na ziên lực chấp kim cương
    9. đại la na ziên lực chấp kim cương
    10. ziệu chấp kim cương
    11. thắng tấn chấp kim cương
    12. vô cấu chấp kim cương
    13. như lai giáp chấp kim cương
    14. như lai cú sinh chấp kim cương
    15. chú vô hý luận chấp kim cương
    16. như lai thập lực sinh chấp kim cương
    17. trú vô hý luận chấp kim cương
    18. vô cấu nhãn chấp kim cương
    19. kim cương thủ bí mật chủ
    20. bảo kim viên thành bí mật chủ kim cương
    đức phật bảo kim cương bí mật chủ rằng: này bí mật chủ hãy lắng nge! Tâm tính chúng sinh có 60 loại cơ bản, đi khắp 6 lẻo luân hồi mà thành một vòng tròn 360 tâm.
    1. tính tâm tham là tùy thuận theo pháp nhiễm
    2. tính tâm không tham là tùy thuận theo pháp không nhiễm
    3. tính tâm sân là tùy thuận theo pháp giận giữ
    4. tính tâm từ là tùy thuận tu hành theo pháp từ
    5. tính tâm si là tùy thuận tu theo pháp chẳng xem xét
    6. tính tâm trí là tùy thuận tu theo pháp thù thắng cao thượng
    7. tính tâm quyết định là phụng hành y theo pháp mệnh của tôn giáo
    8. tính tâm ngi là tu trì các điều bất định
    9. tính tâm tối là đối với pháp chẳng nên ngi ngờ thì phát sinh tri kiến ngi ngờ
    10. tính tâm sáng là đối với pháp chẳng nên ngi ngờ thì cứ theo đó mà tu hành
    11. tính tâm gom chứa là bản tính gom vô lượng vô số làm một
    12. tính tâm tranh hơn thua là bản tính hay hỗ trợ các điều thị phi
    13. Tính tâm kiện cãi là bản tính tự mình đã phát sinh phải trái, đúng sai
    14. Tính tâm không kiện cãi là luôn bỏ các điều phải trái
    15. Tính tâm thuận trời là tùy theo niệm mà thành tựu
    16. Tính tâm atula là vui thú ở trong nơi sinh tử
    17. Tính tâm loài rồng là nhớ ngĩ đến những tài sản rộng lớn
    18. Tính tâm loài người là nhớ ngĩ làm lợi cho kẻ khác
    19. Tính tâm nam nữ là tùy thuận theo pháp zục
    20. Tính tâm tự tại là suy tư muốn được tất cả mọi điều như ý
    21. Tính tâm thương nhân là ban đầu thu góp sau đó mới phân tích
    22. Tính tâm nông zân là ban đầu nge nhiều sau đó mới mong cầu pháp
    23. Tính tâm zòng sông là thuận tu theo pháp nhị biên
    24. Tính tâm ao đầm là không biết zứt ham muốn
    25. Tính tâm cái giếng là suy tư đã sâu mà lại muốn suy tư sâu hơn nữa
    26. Tính Tâm hồ ngi là chỉ cho mình thật còn kẻ khác không thật
    27. Tính tâm keo kiệt là chỉ biết vì mình mà không vì người
    28. Tính tâm loài chồn là tu theo pháp tiến từ từ
    29. Tính tâm loài chó là mới đạt được chút ít mà vui vẻ cho là đấy đủ
    30. Tính tâm loài ca lâu la<kim sí điểu> là bè đảng, phe cánh
    31. Tính tâm loài chuột là su tư cắt đứt mọi sự ràng buộc
    32. Tính tâm ca vịnh là muốn người khác nge chính pháp qua âm thanh
    33. Tính tâm nhảy múa là muốn bay lên cao, hiện ra các món thần biến
    34. Tính tâm đánh trống là ưa nơi ồn ào sôi động
    35. Tính tâm nhà ở là ưa phòng vệ bảo vệ thân
    36. Tính tâm loài sư tử là tu hành tất cả các pháp không khiếp nhược
    37. Tính tâm loài cú mèo là thường suy niệm trong đêm tối
    38. Tính tâm loài quạ là suy niệm sự kinh sợ ở khắp mọi nơi
    39. Tính tâm la sát là khởi điều chẳng lành ở ngay trong điều lành
    40. Tính tâm cây gai là khởi các hành động ác ở khắp mọi nơi
    41. Tính tâm hang hốc là khám phá các nơi bí hiểm như hang hốc
    42. Tính tâm gió là khởi tự do ở khắp mọi nơi
    43. Tính tâm nước là tu tẩy rửa tất cả các pháp bất thiện
    44. Tính tâm lửa là tu nóng nảy hừng hực
    45. Tính tâm bùn là mờ mịt chẳng có thể gi nhớ phân biệt
    46. Tính tâm hiển sắc là bản tâm giống như vật hiển sắc
    47. Tính tâm tấm ván là thuận theo pháp tùy lượng, xả bỏ các điều lành khác
    48. Tính tâm mê là còn sở chấp khác, sở ngĩ khác
    49. Tính tâm thuốc độc là tu theo pháp không có phần sinh
    50. Tính tâm sợi zây là trói buộc bản ngã ở khắp mọi nơi
    51. Tính tâm gông cùm là là tính bắt buộc hai chân phải đứng yên
    52. Tính tâm mây là thường nhớ ngĩ việc mưa rơi
    53. Tính tâm ruộng đồng là thường lo ngĩ việc cho bản thân
    54. Tính tâm muối là nhớ lại làm tăng sự nhớ ngĩ
    55. Tính tâm dao cạo là chỉ ngĩ đến cắt tóc xuất gia
    56. Tính tâm tu di lô là tư zuy có tính vươn cao
    57. Tính tâm hang huyệt là thường quyết định trước rồi lại thay đổi
    58. Tính tâm thọ sinh là tu tập hành ngiệp rồi sinh tâm tính như vậy
    59. Tính tâm khỉ vượn là tính tâm tán loạn chẳng yên
    60. Tính tâm biển cả là thường thọ zụng tự thân như vậy mà trụ

    Luôn giữ tâm vọng chấp của thế gian thì nảy sinh tâm nhập thế gian, biết được hữu ngã. Vượt qua tâm vọng chấp của thế gian thì nảy sinh tâm ra tâm xuất thế gian. Khi hiểu rõ như vậy thì chỉ có uẩn vô ngã(các uẩn không có tự ngã riêng biệt). rồi liền vận dụng căn-cảnh-giới tu hành lâu dài nhổ sạch nền gốc phiền não của ngiệp. Hạt giống vô ngã sinh ra 13 nhân zuyên. Xa lìa các tông kiến tập, đều vắng lặng sâu xa như vậy, tất cả các ngoại đạo đều chẳng thể biết được. Cho nên điều trước tiên đức phật khuyên rằng:”hãy xa lìa tất cả các lỗi lầm”
    Này bí mật chủ! Tâm xuất thế gian ấy chú ẩn trong các uẩn, có như thế trí tuệ mới tùy sinh.
    Tui đã trì niệm kinh này vượt qua một trăm linh tám biến và phát hiện ra một số thứ dị biệt và một số tri kiến khác biệt so với kinh. Tui cung cấp một lượng nhỏ ở dạng lược dịch và bổ túc để CTV tham khảo. Phần này có ở quyển một trong bẩy quyển.
    - Luôn giữ tâm vọng chấp của thế gian thì nảy sinh tâm nhập thế gian, biết được hữu ngã. Đây là phần tri kiến riêng biệt của tui, là kinh nghiệm thực thành của tui. Nếu hành giả không nhập thế gian sẽ không có kinh nghiệm tri kiến này.
    - Hạt giống vô ngã sinh ra 13 nhân zuyên. ở đây tui đồng quan điểm với vị “vozanh” cho rằng có 13 nhân duyên. ở kinh này cho rằng vô minh, tui không cho là vô minh mà là vô ngã. Hành giả nếu chịu lương theo con đường nhân duyên này mà đi thì mới hiểu được thuyết nhân duyên hết mực sâu xa, hết sức sâu xa. một đời của mỗi con người đều vô thức đi trên con đường nhân duyên này, không ngoại trừ bất kỳ ai. Chỉ có người phật tử chân chính, đã gieo vô lượng nghiệp lành, được tam bảo soi đường thì ý thức được con đường nhân duyên màu nhiệm này. Chúng ta như những kẻ mộng du, đi đi lại lại trên con đường nhân duyên kia đến chết vẫn không tỉnh giấc mộng đó. Một người không đủ sức thấy được 13 nhân duyên kia thì một dân tộc thấy được, một triều đại sau khi quả kết thì làm ví dụ kiểm chứng được. ví dụ nhà nguyễn 13 vua là con đường nhân duyên đủ, nhà thanh 12 vua là con đường nhân duyên thiếu (vì hán quan niệm 12 nhân duyên, tưởng thế nào thì thực như thế, dù thực ấy chẳng phải đúng đắn).
    - kinh này viết có 160 tâm, tui tri kiến khác là 360 tâm(60*6=360). Không thể tính toán thế nào mà đi đi lại lại 5 lần của 60 mà đẻ ra 160 tâm được.
    -ở đây tâm thứ 18 tui tri kiến là tâm loài người nói chung. Không phải tâm nam, chỉ kẻ nào đã thoát khỏi tâm ngã mới thấy tâm loài người, còn nếu bản ngã quá lớn thì ích kỷ hại nhân lấy đâu ra tâm “nhớ ngĩ làm lợi cho kẻ khác”.
    -ở đây tâm thứ 19 tui tri kiến là tâm nam nữ vì dù nam hay nữ chúng đều tham dục cả. chứ đầu chỉ một mình tâm nữ, ngày nay nam lộ mặt thật ra là còn tham dục hơn nữ kia.
    -ở đây tui thay đổ tâm 59 là tâm khỉ vượn vì 9 là con khỉ trong địa chi; 60 là tâm biển cả vì 60 là số lớn nhất trong hệ thống 60 tâm này, đi càng về sau tâm càng rộng lớn thêm.
    -ở đây tâm theo nghĩa đen là quả tim(心); nhưng nghĩa tôn giáo thì không phải thế. Nếu đối chiếu 60 tâm này với bộ môn tâm lý thì thuật ngữ “bản tâm” của tôn giáo trùng với “bản tính” hay tính cách của môn khoa học tâm lý là một. ai cũng có một cá tính hay tính cách riêng, tức bản tâm riêng của họ. chính vì cái tôi to lớn vĩ đại của mỗi người mà họ vạn kiếp chẳng giảI thoát, tham, sân, si càng ngày càng tăng trưởng. ai đã đạt được 360 tâm kia thì đó mới là tâm phật, tâm rỗng không(360 độ chẳng là cái vòng tròn không bất tử thì là cái gì). Mong rằng mỗi chúng ta cả đời có được một chút tâm phật từ bi hỉ xả này. Mỗi con người dù muốn dù không muốn thì bản tâm vẫn cứ biến đổi. tâm khi làm con cái khác, tâm khi làm cha mẹ khác, tâm khi là ông bà khác. Tâm khi làm sát nhân khác, tâm khi cứu người khác. Một người cả đời đóng nhiều vai:con-cha-ông-sát nhân-cứu người đúng không?
    -tui cũng cảm nhận được các thứ tự này không thật đúng, nhưng đầu óc còn ngu dốt chỉ tri kiến được một số vị trí ứng với cơ sở nào đó, kinh nghiệm của tui là nhận tất cả các bản tâm này là mình rồi thực hành tri kiến, dần dần từ bi hỉ xả tăng trưởng, thấy người có tâm atula cũng thương họ luôn. Nếu mọi người khởi tâm niệm “tui nguyện đem điều tốt đẹp nhứt tui có đến một người khác hay đem lại hạnh phúc nhiều nhất có thể đến một người khác” thì đây có lẽ là tâm yêu thương phải không?
    -CTV cố gắng tình thuật ngữ phổ thông trong tiếng việt để làm đối ngữ tương thích với thuật ngữ phật đạo. để có cái nhìn cơ sở hơn về ý nghĩa nguyên thủy của một thuật ngữ trước khi được nâng cấp nên quá cao siêu bởi tôn giáo đến khó hiểu. ví dụ bản tâm=bản tính; thiền=tư duy=suy nghĩ; đạo=con đường.
    Đây là món quà đầu năm khi tui đến thăm mọi người, hi vọng năm sau còn thanh bình mà được gặp nhau nữa thì vui biết mấy. chúc mọi người năm con khỉ tâm an lạc không bị nhiễu loạn. xin cảm ơn diễn đàn và các thành viên trong diễn đàn nhiều nhiều vì nhờ có diễn đàn mà tui học hỏi được nhiều thứ, nhờ diễn đàn mà mới biết được câu “bản tâm nếu tịnh không, mặt trời trí huệ tự chiếu”.

  2. #2

    Mặc định

    Ông này vừa ở bên kia bảo tôi ko dám nói gì, chỉ lắng nghe quý vị. Quay đi quay lại đã thấy copy paste tạo ngay một chủ đề mới. Ghê thật!

  3. #3

    Mặc định

    Đây là tài liệu chứng minh kinh kim cương xuất hiện từ việt nam ít nhất từ thời giao chỉ thuộc địa “tangchao” 686, và có thể trước xa nữa đã có kinh này. Tui không tìm được bằng chứng cụ thể trước đó. Nhưng tui cho rằng người việt đã biết đến kinh kim cương từ thời sĩ-nhiếp(187). dù sao thì cũng phải thấy người việt tuy chậm tiến nhưng siêng năng học phật pháp dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào:độc lập-thuộc địa-tự trị-tự chủ-tái độc lập-đàn áp tôn giáo-tự do tôn giáo, rất hợp với hàng thanh văn(hàng thứ nhất của tứ thánh quả): biết đời khổ đau, tâm cầu niết bàn, theo phật học pháp, rộng(ruộng) phước thế gian. Vậy tui cấp tư liệu này hầu các thành viên rộng đường xem xét
    Thiền sư Thanh Biện (?–686) là Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ tư, nối pháp Thiền sư Huệ Nghiêm.
    Cơ duyên và hành trạng
    Sư họ Đỗ, người hương Cổ Giao, mười hai tuổi thụ nghiệp với thiền sư Pháp Đăng, chùa Phổ Quang. Sau Sư đến trụ trì chùa Kiến Dương thuyết pháp giảng hóa cho tông đồ. Sư quy tịch năm Bính Tuất, niên hiệu Đường Thùy Củng thứ 2 (686).
    Khi thiền sư Pháp Đăng sắp thị tịch, sư hỏi: "Hòa thượng đi rồi, đệ tử sẽ nương nhờ vào ai?"
    Pháp Đăng nói:"Chỉ sùng nghiệp mới xong!"
    Sư mờ mịt không hiểu ý. Sau khi Pháp Đăng tịch diệt, sư chuyên tâm trì tụng kinh Kim Cang.
    Một hôm, có vị Thiền khách đến thăm, hỏi sư:"Kinh này là mẹ của các Phật tam thế, thầy hiểu mẹ Phật nghĩa là thế nào?"
    Sư đáp:"Tôi từ trước đến nay trì tụng kinh này nhưng cũng chưa hiểu ý ấy."
    Khách hỏi:"Trì tụng đã bao lâu?"
    Sư đáp:"Tám năm."
    Khách nói:"Tám năm chỉ trì tụng một kinh mà chưa hiểu ý nghĩa thì dẫu trì tụng cả trăm năm nào có công dụng gì!"
    Sư bèn sụp xuống xin khách chỉ giáo. Khách bảo sư phải tìm sưHuệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp mà thỉnh vấn.
    Sư tỉnh ngộ nói:"Nay tôi mới biết hòa thượng Pháp Đăng nói đúng."
    Sư bèn theo lời của vị thiền khách lên đường đi yết kiến Huệ Nghiêm. Khi đến nơi, Huệ Nghiêm hỏi:"Ngươi đến có việc gì?"
    Sư đáp:"Đệ tử trong tâm có điều chưa ổn."
    Huệ Nghiêm hỏi:"Chưa ổn cái gì?"
    Sư thuật lại đối thoại với vị thiền khách bữa trước. Huệ Nghiêm than rằng:"Ngươi quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ trong kinh có nói: "Các Phật tam thế cùng lối pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ đề đều xuất xứ ở kinh Kim Cang", thế chẳng phải là "mẹ của Phật" hay sao?"
    "Quả thật đệ tử còn mê muội!"
    Huệ Nghiêm lại hỏi:"Thế kinh ấy là ai nói?"
    Sư đáp:"Chẳng phải lời thuyết pháp của Như Lai sao?"
    Huệ Nghiêm nói:"Trong kinh kinh nói "Nếu nói Như Lai thuyết pháp điều gì tức là phỉ báng Phật". Câu ấy người ta không giải thích được. Cái nghĩa ta vừa nói, ngươi nghĩ thử xem, nếu nói kinh ấy không phải là lời thuyết pháp của Phật thì thế là phỉ báng kinh; nếu nói đó đúng là lời thuyết pháp của Phật thì lại là phỉ báng Phật. Sao ngươi cứ đòi ta phải trả lời ngay?"
    Sư nghĩ ngợi, định hỏi thêm, Huệ Nghiêm bèn cầm phất trần đánh vào miệng. Sư đột nhiên tỉnh ngộ.

  4. #4

    Mặc định

    Khảo sát số lượng vua trung hóa và việt nam qua các triều đại
    Tui cũng thử tìm hiểu một chút về lịch sử trung hóa từ thời nhà hán đến nay để xem có sự tượng thích nào đó giữa số lượng vua với nhân duyên phật đạo không
    Phần một: trung hóa
    1. Hán cháo: tây hán(202bc-25ac) 15 vua/ đông hán(25-220) 14 vua//
    2. Tấn cháo: tây tấn(266-316) 5 vua// đông tấn(317-420) 11 vua
    3. Tùy cháo(581-618) 3 vua
    4. Đường cháo: tiền đường(618-684) 5 vua//hậu đường(705-907) 16 vua
    5. Sung cháo:bắc sung(960-1127) 9 vua// nam sung(1127-1279) 9 vua
    6. Nguyên mông(1271-1368) 11 vua
    7. minh cháo: nam minh(1368-1421) 2 vua// bắc minh(1421-1644) 14 vua
    8. thanh cháo:1644-1912) 12 vua
    9. trung hóa(1949-nay) đang quốc gia chủ tịch thứ 7: 习近平
    tiểu kết:
    - các triều đại 1,2,5 có sự chuyển kinh đô theo tây-đông hoặc bắc-nam
    - số lượng vua họ lưu của hán cháo là 15+14=29 ứng với một tháng âm lịch thiếu
    - số lượng vua họ lý của tháng cháo là 5+16=21 không biết ứng với gì?
    - Sung cháo bắc và nam đều 9 vua, có thể ứng câu: cùng tắc biến
    - Thanh cháo 12 vua, trong phật giáo có kinh 12 nhân duyên
    - Bắc kinh là kinh đô của 4 triều đại: nguyên mông+minh+thanh+trung hóa
    Phần 2: việt nam(chỉ tính từ 938)
    1. nhà ngô tiền(938-944):1 vua
    2. nhà dương(944-950):1 vua
    3. nhà ngô hậu(950-965):3 vua
    4. nhà đinh(968-981):2 vua<>tương đương sung cháo
    5. nhà lê tiền(981-1009): 3 vua<> tương đương sung cháo
    6. nhà lý(1009-1225):9 vua<> tương đương sung cháo
    7. nhà trần tiền(1225-1400): 13 vua(tính cả trần nhật lễ)<>tương đương nguyên mông
    8. nhà hồ(1400-1407): 2 vua<> minh cháo
    9. nhà trần hậu(1407-1413): 2 vua<> minh cháo
    10. nhà lê hậu(1428-1527): 14 vua<>minh cháo
    11. nhà mạc(1527-1677): 6 vua(tính cả mạc toàn)<>minh cháo
    12. nhà lê trung hưng(1533-1789) 16 vua<>thanh cháo
    13. nhà nguyễn tiền(1744-1777) 3 vua<>thanh cháo
    14. nhà tây sơn(1778-1802) 3 vua<>thanh cháo
    15. nhà nguyễn hậu(1802-1945) 13 vua<>thanh cháo
    16. việt nam(1945-nay) chủ tích nước thứ 9+tổng bí thư thứ 13
    tiểu kết:
    - các nhà việt tuổi thọ ngắn hơn các cháo của hán: ba nhà đinh+lê tiền+lý=sung cháo; bốn nhà hồ+trần hậu+lê hậu+mạc=minh cháo; bốn nhà lê trung hưng+nguyễn tiền+tây sơn+nguyễn hậu=thanh cháo
    -nhà zương được tui quy kết là một nhà dù chỉ một vua và tồn tại 5 năm. vì rõ dàng dương bình vương dù có cướp ngôi nhà ngô thì vẫn cứ chính danh. Cũng như nhà hồ cướp ngôi nhà trần tiền mà thôi.
    -nhà lý 9 vua, ứng với cùng tắc biến, nhà lý là nhà khi sụp đổ thê thảm nhất trong các nhà
    -nhà trần và nhà nguyễn đều 13 vua, ứng với 13 nhân duyên của phật đạo(nếu theo vị vozanh)
    -nếu không phân biệt chi nhánh mà đánh đồng một họ thì họ lê có 3+14+16=33 vua ứng với dị mộc của người việt hay trời 33 đao lợi của người việt.
    -nhà nguyễn tiền được tính từ khi chúa nguyễn phúc khoát xưng vương nguyễn vũ vương năm 1744; về mặt chính danh nhà nguyễn tiền tương đương với ngô tiền(ngô vương, không phải hoàng đế); về mặt cương thổ tương đương với giai đoạn chiến tranh nam bắc triều lê-mạc, quy kết được như vậy thì thấy đúng là nhà nguyễn là “phụ nguyên chính thống hẳn hoi), nhà tây sơn tiêu diệt nhà nguyễn tiền đang chính danh.
    Tạm kết :
    - người hán lấy hán cháo làm tên dân tộc hán, vậy linh hồn của họ phải là họ lưu, người việt lấy quốc hiệu làm tên dân tộc, vậy linh hồn của họ phải là tổ quốc.
    -người hán có câu: “làm việc lớn không câu lệ tiểu tiết” với họ các cháo dạng như vương mãng, võ tắc thiên không đáng tính vì họ là đế quốc rộng lớn; còn việt nam là nước nhỏ phải câu lệ từng tiểu tiết một. dù sao “méo mó có hơn không”.
    -Nếu không phân biệt chi họ thì họ lê việt nam đi được xa nhất 3+14+16=33 vua. ứng với trời 33 đao lợi đầy đủ vì các vua lê đều chính danh, người ấn độ lấy con giáp thứ 3 là con sư tử hay sư tử ba mặt; họ lưu có 29 vua, trong kinh đại nhật tâm thứ 29 là tâm loài chó. Nên dùng sức mạnh của vua sư tử để chế ngự nó. Tức dựa vào lê dân thì đắc thắng, mất lòng lê dân thì đắc thua. Thực tiễn cách mạng việt nam đều dựa vào lê dân mà được công ngiệp, chưa có triều đại nào của người việt không vì lê dân mà thọ cả.
    -các họ phong kiến hán(tính từ hán cháo 202bc) các họ phong kiến việt (tính từ nhà ngô tiền 938) đều không vượt được qua 16 vua thì biến chuyển.
    -người việt xây nhà mang tính chắc chắn, kiên cố; người hán dựng cháo mang tính tạm bợ
    -người hán dân sợ lãnh đạo như sợ cọp, còn người việt coi lãnh đạo cũng thường thôi, làm không được thì dân chửi cho vuốt mặt không kịp. có vẻ người việt “dân chủ” hơn!
    - nếu xét về địa lý bổ dọc từ rusia đến asean theo thứ tự thượng-trung-hạ(kiểu ba cõi nhà phật) thì nước nga sẽ là cõi thượng; trung hóa sẽ là cõi trung và toàn bộ asean là cõi hạ. có lẽ vậy nên hán gọi mình là cõi trung. vì phật là thầy của ba cõi thượng-trung-hạ, một mình đi lại ba cõi nên gọi phật là đấng thượng-trung-hạ-thiên thì vô cùng hợp lý.
    PS. trên đây là vai khảo cứu còn sơ sài của tui, mong các bậc trưởng thượng, các bậc chuyên môn sử không câu chấp, con như là tài liệu tham khảo thêm cho vui. Việc liên hệ với phật pháp quả là khập khiễng nên xin các bậc đặc biệt nghiêm túc càng đại xá bỏ qua vì thật khó mà chứng minh sự đúng đắn của mối liên hệ đó. Chúc mọi người vui vẻ!
    vui long khach den, vua long khach di, khach cuoi khanh khach::

  5. #5

    Mặc định

    Giới thiệu tổ sư huệ viễn tổ thiền tịnh độ tông Vị đại sư sáng lập Tịnh độ tông

    Là người được đào luyện Nho, Lão, Trang từ khi tóc còn để chỏm rồi trở thành người thông thạo cả lục kinh, nắm rõ cả Lão Đam lẫn Trang Chu thế nhưng chỉ ít lâu sau đó, chàng thanh niên xuất chúng họ Giả khăng khăng đòi xuất gia làm sư và nói rằng: “So với đạo Phật, học thuyết Khổng Mạnh, Lão, Trang chỉ như tro tàn, cặn bã”…

    Chàng thanh niên họ Giả đó sau này chính là người sáng lập nên phái Tịnh độ tông, một trong những tông phái Phật giáo còn phổ biến nhất tại Trung Quốc cho đến thời hiện tại – Đại sư Huệ Viễn.



    Vị đại sư sáng lập phái Tịnh độ tông

    Sư Huệ Viễn sinh năm 334 mất năm 416, vốn là người họ Giả, vốn quê ở Lâu Phiền, Nhạn Môn, nay thuộc Ninh Vũ, tỉnh Sơn Tây. Ngay từ nhỏ, Huệ Viễn đã tỏ ra là người thông minh, hiếu học vì vậy, khi mới 13, Huệ Viễn đã được cha đưa đến các vùng Hứa Xương, Lạc Dương du học. Mặc dù lúc bấy giờ, thời thế nhiễu nhương không yên ổn nhưng tư tưởng, học thuyết các nhà đã được truyền bá rộng rãi và rất có quy củ. Vốn thông minh lại hiếu học, nên chỉ ít năm sau đó, Huệ Viễn đã thông thạo cả lục kinh, nắm rõ cả học thuyết của Lão, Trang cùng trăm nhà. Danh tiếng Huệ Viễn cũng vì thế mà nổi tiếng khắp vùng.

    Năm Huệ Viễn 21 tuổi, cảm thấy các học thuyết sở đắc của mình không thể giải quyết được những vấn đề về sống chết luân hồi mà trong tâm hằng thao thức, Huệ Viên đã dự định cùng với một người bạn là Phạm Tuyên Tử đi ngao du tìm đạo. Tuy nhiên, thời bấy giờ chiến tranh liên miên, lại thêm đường xá khó khăn nên Huệ Viễn đành phải gác lại ý định này.

    Một thời gian sau đó, có vị sư tên là Đạo An đến chùa Nghiệp Trung núi Thái Hành thuộc dãy Hằng Sơn thuyết pháp. Rất nhiều trí thức, vua quan cho tới dân thường nghe tiếng đều tìm về nghe vị sư này giảng giải kinh điển nhà Phật. Huệ Viễn cũng theo dòng người mộ đạo tìm đến chùa Nghiệp Trung. Sau khi đến đỉnh Thái Hành, gặp đúng lúc sư Đạo An đang giải giải cho chúng tăng về “Kinh Bát Nhã”, Huệ Viễn nghe Đạo An giảng xong, thông suốt ngay, thấy đạo Phật cao diệu, mới ngửa mặt lên trời than rằng: “Đạo Phật thật bao la, so với nó, Nho Đạo các nhà chẳng khác nào như tro tàn, cặn bã”. Từ đó, Huệ Viễn quyết tâm bỏ hết sở học, xuất gia làm sư, bái Đạo An làm thầy.

    Sau khi xuất gia, Huệ Viễn chuyên tâm sớm hôm tụng đọc kinh Phật, không hề ngại khó, ngại khổ. Với bản chất thông minh, lại từng là người thông hiểu tư tưởng Nho, Đạo trăm nhà, Huệ Viễn không chỉ thấu hiểu rất nhanh giáo lý nhà Phật mà còn tự tìm cho mình cách lý giải riêng. Vì vậy, mới 24 tuổi Huệ Viễn đã lập đàn giảng kinh thuyết pháp. Mỗi lần giảng đến đoạn nào các đệ tử không hiểu, Huệ Viễn lại sử dụng những tư tưởng Lão Trang hay Nho giáo để liên hệ so sánh giúp người nghe dễ dàng thông hiểu. Vì vậy, lúc bấy giờ, các buổi giảng kinh của Huệ Viễn thu hút rất đông các tăng chúng khắp nơi về nghe. Thấy đệ tử của mình không chỉ thông minh lanh lợi mà còn tự có cách lý giải riêng, Đạo An mừng lắm, ngầm khen ngợi Huệ Viễn rằng: “Đạo Phật sau này có được lưu truyền rộng rãi trên đất Trung Quốc có lẽ là nhờ Huệ Viễn này đây”.

    Sau nhiều năm theo thầy tu hành, đến một hôm, Đạo An bắt đầu cho các đệ tử của mình tự đi truyền bá Phật pháp. Mỗi khi có một đệ tử nào đó quyết định ra đi, Đạo An cũng ân cần chỉ bảo những điểm cần phải ghi nhớ. Nhưng đến khi Huệ Viễn ra đi thì Đạo An không nói gì cả. Huệ Viễn tự nhiên cảm thấy tủi thân vì tự nghĩ bản thân mình từ khi theo thầy đã rất chăm chỉ không hề quản ngại điều gì, tu tâm học Phật nhưng khi dời đi thì thầy không hề nhắn nhủ như những đệ tử khác, lẽ nào thầy xem mình không xứng đáng được chỉ bảo? Huệ Viễn băn khoăn lắm, cuối cùng quỳ xuống trước mặt Đạo An nói rằng: “Đệ tử đợi mãi mà không nghe thầy nhắn nhủ điều gì cả… phải chăng đệ tử chẳng đủ khả năng để được thầy giao phó?”.

    Đạo An lúc này mới mỉm cười đáp rằng: “Người như thầy đây thì lão tăng còn gì để lo lắng nữa… Ta cũng không còn gì để nói cho thầy! Từ nay về sau nhất định thầy sẽ làm rạng rỡ Phật pháp. Thôi! Thầy hãy đi đi, rất nhiều Phật sự đang chờ thầy hoàn thành”.

    Chia tay Đạo An ở Tương Dương, Huệ Viễn đi về hướng nam đến Kinh Châu và dừng chân tại chùa Thượng Minh. Kế đó, ngài lại muốn dời đến núi La Phù nhưng khi đi qua Lô Sơn, thuộc tỉnh Giang Tây thấy cảnh vật núi này thanh tịnh rất thích hợp cho việc hành đạo của mình, nên quyết định ở lại, xây dựng tịnh xá Long Tuyền. Người ta kể rằng, khi Huệ Viễn mới đến Lô Sơn, thấy chỗ đó thiếu nước mới cầm tích trượng dằn xuống đất khấn nguyện. Bỗng nhiên, một con rồng trắng bay vọt lên, rồi chỉ một lát sau, mưa to xối xả ba ngày ba đêm không dứt, hình thành những con sông uốn lượn trong khu vực này. Cũng vì thế, Huệ Viễn mới đặt tên cho tịnh xá của mình là Long Tuyền (Suối con rồng).

    Huệ Viễn ở Lô Sơn suốt 30 năm, chân không dời khỏi núi. Tuy nhiên, tăng chúng và những người mộ đạo thì từ khắp nơi tìm về Lô Sơn để nghe Huệ Viễn thuyết pháp ngày càng đông hơn. Chính nhờ Huệ Viễn mà chùa Đông Lâm ở Lô Sơn trở thành trung tâm Phật giáo lớn nhất ở phía nam của Trung Quốc. Đến năm Thái Nguyên thứ 15 nhà Đông Tấn, tức năm 390, Huệ Viễn cùng các đệ tử và người mộ đạo lập ra Bạch Liên Xã, lấy thành khẩn tu cầu làm tiêu chí và phương tiện để về cõi Niết Bàn Tịnh Độ. Chính Bạch Liên Xã với 123 người ban đầu do Huệ Viễn lập ra sau này đã trở thành phái Tịnh độ tông rất phổ biến ở Trung Quốc.

    Và chuyến thỉnh kinh trước Đường Tam Tạng

    Lâu nay, người ta chỉ nhắc đến Đường Tam Tạng một nhân vật rất nổi tiếng với bộ tiểu thuyết lừng danh “Tây Du Ký” với chuyến thỉnh kinh ở Thiên Trúc như một sự kiện trọng đại trong quá trình truyền bá và chuyển dịch kinh điển Phật giáo vào Trung Quốc. Tuy nhiên, ít người biết rằng, trước Đường Tam Tạng hàng nhiều thế kỷ, chính sư Huệ Viễn đã tổ chức những chuyến “thỉnh kinh” và chuyển dịch kinh điển Phật giáo với quy mô rất lớn.

    Chuyện kể rằng, khi ở Lô Sơn, sư Huệ Viễn thấy ở phương Đông Phật pháp phát triển rất nhanh song kinh sách thì lại rất thiếu. Những bộ kinh sách được các nhà sư Ấn Độ mang vào Trung Quốc thường không đầy đủ và đã được dịch ra ngôn ngữ của người Trung Quốc để tiện cho việc truyền giáo vì vậy thường không chính xác. Nhiều chuyến thỉnh kinh của các nhà sư từ Trung Quốc trước đó cũng không đem lại nhiều kết quả vì đường xá xa xôi, cách trở, ngôn ngữ lại bất đồng.

    Huệ Viễn nghĩ rằng, nếu như muốn truyền bá đạo Phật thì nhất định phải có những bộ kinh sách được dịch một cách đầy đủ và chính xác. Vì vậy, ông đã bàn với những người đệ tử của mình tổ chức một chuyến “tây du” để “thỉnh kinh”. Cuối cùng, Huệ Viễn sai các đệ tử là Pháp Tịnh và Pháp Lĩnh cùng nhiều người khác vượt ngọn núi Thông Lãnh cao ngất sang đất Tây Thiên lấy về những bộ kinh nguyên bản bằng tiếng Phạn. Sư Huệ Viễn lúc đó cũng muốn tự mình sang Thiên Trúc cùng với các đệ tử, tuy nhiên, vì tuổi đã cao, đường xá lại quá xa xôi và nguy hiểm nên Huệ Viễn đành giao trọng trách này cho hai người đệ tử thân tín nhất của mình. Trải nhiều năm vượt suối băng ngàn, dãi nắng dầm sương, chịu đủ mọi nỗi khó khăn trở ngại, đoàn thỉnh kinh từ chùa Đông Lâm của Bạch Liên Xã cũng đã trở về mang theo một số lượng lớn những sách kinh điển từ quê hướng đức Phật.

    Tuy nhiên, khi đã có được những kinh sách nhà Phật thì một vấn đề khác lại nảy sinh, đó là tất cả những kinh sách này đều bằng tiếng Phạn vậy ai sẽ là người có thể dịch được những kinh sách này một cách chính xác nhất. Bản thân Huệ Viễn khong phải là một người thạo tiếng Phạn, hơn nữa, Huệ Viễn cho rằng, những người có thể dịch kinh sách Phật giáo chính xác nhất chính là những nhà sư Ấn Độ đến Trung Quốc truyền giáo. Chính vì vậy, Huệ Viễn không quản khó nhọc tìm kiếm khắp nơi trên cả nước để mời các đại sư Ấn Độ về Đài Bát Nhã tại Lô Sơn mà ông lập ra để tổ chức biên dịch kinh sách nhà Phật. Đây cũng là trung tâm dịch thuật tư nhân đầu tiên trong lịch sử.

    Chuyện kể rằng, khi nghe tin một vị đại sư của Ấn Độ đến Trung Nguyên, từ tận vùng Lô Sơn xa xôi nhưng Huệ Viễn đã tức tốc sai đệ tử của mình là Đàm Ung vượt đèo lội suối đến Trường An để tìm vị đại sư nọ. Bản thân Huệ Viễn còn viết một lá thư dài khẩn thiết nhờ vị đại sư này đến Lô Sơn giúp mình dịch kinh sách nhà Phật nhằm truyền bá Phật pháp cho các thế hệ sau. Chính nhờ sự nhiệt tình và hết lòng cho sự nghiệp xiển dương Phật pháp, Huệ Viễn đã lấy được lòng rất nhiều các đại sư đến từ Ấn Độ cũng như những người Trung Nguyên từng đến Trung Quốc và biết tiếng Phạn. Công lao của Huệ Viễn đối với sự nghiệp phiên dịch và truyền bá các kinh sách Phật giáo vì vậy không hề kém so với công lao của Đường Tam Tạng sau này.

    Năm sư Huệ Viễn 83 tuổi, ông bị bệnh nặng và qua đời. Người ta khoác lên cái chết của Huệ Viễn nhiều lớp vỏ thần kỳ, nói rằng, ông đã trông thấy đức Phật trước khi viên tịch. Đức Phật nói với ông rằng: “Sau bảy ngày nữa ngươi sẽ được sinh về nơi cực lạc”. Đúng bảy ngày sau đó, Huệ Viễn qua đời. Chẳng biết chuyện này đúng sai ra sao nhưng có một điều chắc chắn rằng, nó chứng tỏ Huệ Viễn có một sức ảnh hưởng vô cùng lớn đối với các tín đồ của Phật giáo.
    <> xin nhắc lại lời xác quyết của một tổ sư chân gốc người hán đã kinh qua học thông khổng-mạnh; lão-trang là tổ huệ viễn: “So với đạo Phật, học thuyết Khổng Mạnh, Lão Trang chỉ như tro tàn, cặn bã”…
    Sự tỉnh giác của một tổ sư nên được hậu thế nhìn nhận một cách cẩn thận. vì muốn kiểm định lại nhận xét này của tổ thì hậu thế bắt buộc phải thong thạo khổng-mạnh; lão-trang; thích-phật. Hiện nay có một số tôn giáo phát sinh trong nội tại việt nam, thờ phật, dụng kinh phật nhưng không chịu thừa nhận mình là một pháp môn của phật, e có phần ngã mạn quá lớn. Nếu mình xuất chúng thế thì nên tự sáng lập một tôn giáo mới mà trong đó không có gì dính dáng đến phật. Bởi chỉ cần một chút dính dáng đến phật, mượn danh phật nhưng lại cho mình là một cái gì đó rất khác thì có khác gì mắc tội chộm cướp và mao danh đâu, rồi những ngiệp mình gieo thì nhân thế lãnh đủ mà chư phật cũng bị liên đới. ví dụ phật giáo hòa hảo có đức huỳnh giáo chủ. Ô hay phật đạo chỉ có phật tổ thích ca là giáo chủ duy nhất. đến phật điều ngự giác hoàng đạo lực thâm viễn cũng chỉ giám nhận là tổ của thiền phái trúc lâm yên tử. Việc ngài huỳnh phú sổ được tôn xưng là huỳnh giáo chủ chẳng phải là ngang hàng với giáo chủ thích ca hay sao. Vậy trong phật đạo có hai giáo chủ cơ à?
    Còn về phía cao đài, họ cho rằng thời kỳ tam kỳ phổ độ, quy nguyên tao giáo nho-lão-thích ? đấy là chủ chương của họ. Thử hỏi còn cơ đốc giáo, hồi giáo, ấn độ giáo do thái giáo thìở vị trí nào? Hay không thể quy nguyên? Trong khi đó ấn độ giáo còn gần gũi phật giáo hơn cả nho-lão? Thôi thì để các vị Cao-Siêu làm, còn tui chỉ cấp tài liệu góp vui cho các thành viên. Chúc mọi người vui vẻ!

  6. #6

    Mặc định

    Cập nhật lúc 08:36 04/04/2016 (GMT+7)

    Nepal xây dựng bức tượng Bồ tát Liên Hoa Sinh ở Bhutan lớn nhất thế giới
    (PGVN)
    Raj Kumar Shakya là một nghệ nhân Nepal đặc trưng khiêm tốn, nhưng anh rất tự hào về đất nước mình bằng việc xây dựng bức tượng Bồ tát Liên Hoa Sinh (蓮華生- Padmasambhava) ở Bhutan lớn nhất thế giới.
    Sau 5 năm Raj Kumar Shakya từ Nepal ở Lhuntse Dzong, Bhutan, nơi anh chỉ đạo đội ngũ 19 người Nepal, 30 người Bengal và 8 người Buhtan để thi công xây dựng bức tượng Bồ tát Liên Hoa Sinh với chiều cao 49 mét và nặng 255 tấn.

    Đức Bồ tát Liên Hoa Sinh là một Đại sư Ấn Độ, sống cùng thời vua Tây Tạng Ngật-lật-song Đề- tán (755-797). Ngài truyền Phật giáo sang Tây Tạng, Buhtan và sáng lập tông Ninh-mã, một trong bốn tông phái lớn của Tây Tạng và được các đệ tử gọi là "Phật thứ hai." Ngài hay sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái và thiên tai. Cách tu hành của Ngài rất đa dạng, từ cách sử dụng đao truỷ thủ đến tu tập các phép thiền định theo hệ thống Đại cứu cánh. Ngài thuộc dòng của các vị Đại thành tựu (sa. mahāsiddha), để lại rất nhiều truyện thần thoại cho đời sau và ở các nước vùng Hi-mã-lạp sơn, người ta tôn thờ gọi Ngài là "Đạo sư quý báu" (Quỹ Phạm Sư Bảo 軌范師寶, Sư Tôn Bảo 師尊寶, bo. guru rinpoche གུ་རུ་རིན་པོ་ཆེ་).

    Tương truyền rằng, Liên Hoa Sinh sinh ra trong một hoa sen, tại Tây Bắc Kashmir, sớm thông tất cả kinh sách, nhất là Mật giáo (sa. tantra). Vào thế kỷ thứ 8, Ngài đến Tây Tạng, một vương quốc còn bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo thiên nhiên. Ngài đến đây chinh phục ma quỷ, thiên tai và ảnh hưởng của giáo phái Bôn. Ngài cho xây tu viện Tang-duyên năm 775 và thời gian hoạt động tại Tây Tạng xem như chấm dứt tại đó. Có nhiều tài liệu cho rằng Ngài hoằng hoá ở Tây Tạng lâu hơn, truyền giáo cho 25 đệ tử, trong đó có nhà vua Tây Tạng và giáo thuyết quan trọng nhất là "Tám tuyên giáo". Ngoài ra, Ngài còn để lại nhiều bài dạy được dấu trong rừng núi (bo. gter ma), chỉ được khám phá ra vào một thời điểm nhất định. Một trong những bài dạy đó là bộ Tử thư. Đệ tử quan trọng và là người viết lại tiểu sử của Ngài là bà Yeshe Tsog-yel.

    Đức Lạt Ma Buhtan Khenpo Karpo cảm nhận sâu sắc sự cần thiết phải xây dựng tôn tượng Bồ tát Liên Hoa sinh khổng lồ để mang lại hòa bình và thịnh vượng cho thế giới. Năm 2002, Ngài bắt đầu lập kế hoạch và đề xuất với vua Buhtan và được nhà vua phê chuẩn, nhiệt tình ủng hộ một hành động cao thượng vì lợi ích chung cho quốc gia Buhtan và thế giới.


    Năm 2004, Ngài thành lập Druk Odiyana Foundation để tạo điều kiện cho việc xây dựng công trình tôn tượng Bồ tát Liên Hoa Sinh.

    Năm 2007 đức Lạt Ma Buhtan Khenpo Karpo bắt đầu đi du hóa khắp nơi trên thế giới cho Dự án Hòa bình, đó là công trình xây dựng bức tôn tượng Bồ tát Liên Hoa Sinh lớn nhất thế giới tại Buhtan.

    Nghệ nhân Raj Kumar Shakya chia sẻ rằng: ” Đức Lạt Ma Buhtan Khenpo Karpo đã tin tưởng và chọn tôi làm Quản lý Dự án.


    Trước đây tôi chưa từng bao giờ nhận nhiệm vụ Quản lý một công trình lớn lao như thế, với trách nhiệm Quản lý công trình lớn, tôi cảm thấy tự hào cho nghệ nhân Nepal.

    Năm 2005 tôi đã hoàn thiện việc thiết kế tôn tượng Bồ tát Liên Hoa Sinh. Một kỹ sư Buhtan dành thời gian sáu tháng ở Kathmandu để quy hoạch kết cấu kim loại của bức tượng và sẽ nâng lên trên đỉnh đồi Takilia của Lhuntche Dzong”.

    Vân Tuyền (Nguồn: Nepalitimes)
    Cập nhật lúc 11:47 04/04/2016 (GMT+7)

    Nepal: Xây dựng bức tượng Phật cao nhất thế giới tại vùng Damak
    (PGVN)
    Các nhà đầu tư từ Trung Quốc dự kiến sẽ xây dựng bức tượng lớn nhất thế giới tại vùng Damak, quận Jhapa, Nepal. Họ cũng vừa thông tin đến Thủ tướng Nepal về việc xây dựng một Trung tâm Văn hóa Phật giáo Quốc tế tại khu vực này.
    Các nhà đầu tư Trung Quốc trong một cuộc họp vào hôm thứ Bảy, 02/04 với Ông KP Sharma Oli, Thủ tướng thứ 38 của Nepal tuyên bố rằng họ đều mong muốn hỗ trợ Nepal tái tạo lại trận động đất tàn phá tài sản công cộng và đảm bảo an ninh việc làm cho trận động đất gia đình người dân bị ảnh hưởng ở Nepal.

    Sushil Gyanwali, Giám đốc Tổng công ty Tái thiết Nepal nói với báo chí rằng các nhà đầu tư sẽ chuyển quỹ Nepal từ Quỹ Tái thiết của tỉnh Tứ Xuyên.

    Trong buổi tiếp kiến Ông KP Sharma Oli, Thủ tướng thứ 38 của Nepal, phía Trung Quốc cũng khẳng định quận Jhapa sẽ có những bước chuyển mình và sẽ trở thành khu kinh tế đặc biệt. Phát biểu tại cuộc họp, Thủ tướng thứ 38 của Nepal, KP Sharma Oli khi so sánh với Mecca cho biết: “Đối với Phật giáo đồ trên toàn thế giới, Nepal cũng không khác so với những Thánh địa của những người Hồi giáo.

    Tôi rất hạnh phúc khi quý bạn đã chọn Nepal để xây dựng bức tượng Phật lớn nhất thế giới”.

    Thỏa thuận đã đạt được giữa hai bên, có sự hiện diện của Thủ tướng hai Quốc gia.

    Dự kiến tổng kinh phí xây dựng trung tâm văn hóa và công trình tượng Phật sẽ lên đến 170 triệu USD.

    Vân Tuyền (Nguồn: Telegraphnepal)
    vui long khach den, vua long khach di, khach cuoi khanh khach::

  7. #7

    Mặc định

    Cập nhật lúc 09:26 07/11/2013 (GMT+7)

    Không tin vào nhân quả thì xã hội sẽ vô cùng tối tăm
    (PGVN)
    Nhân quả thiên về xây dựng niềm tin! Nếu con người không tin vào nhân quả nữa thì xã hội đã vô cùng tăm tối! Để còn hy vọng vào sự công bằng tuyệt đối ở luật nhân quả!
    Nhân quả về phương diện vật lý từ 4 quy luật: lượng đổi chất đổi, bảo toàn vật chất và năng lượng, phủ định của phủ định, mâu thuẫn giữa các mặt đối lập. Nhưng nhân quả nhân gian thì:
    1. Thân mỗi người gồm: Thể (quá khứ) , Tâm (hiện tại), Thần (tương lai), từng giây phút sống đều hội vào cả ba thì đó, xuyên kiếp...
    2. Cách của mỗi người đi vào Hành (hoạt động), Sinh (cách sống), Hỗ (tương tác) với Thiên địa Nhân, quán xuyến là chính đạo chỉ có ba từ: Chân Thiện Mỹ… và Nhân Quả Nhân Gian.
    Nhân quả thiên về xây dựng niềm tin! Nếu con người không tin vào nhân quả nữa thì xã hội đã vô cùng tăm tối! Để còn hy vọng vào sự công bằng tuyệt đối ở luật nhân quả!
    Luật nhân quả vốn là chủ thuyết của đạo Phật
    Thực ra căn cơ, hiện tượng của luật này dễ dàng tìm được các chứng nghiệm trong sự vật hiện tượng mang tính ‘vật lý’ diễn ra trong đời sống ngắn hạn của nó với các yếu tố tự thân và với môi trường bên ngoài. Ví dụ
    ‘trồng cây chăm chỉ tất có ngày hái quả’ / ‘oan oan tương báo, oán oán tương phùng’/ ‘Ác giả ác báo’ / Phá rừng thì lũ lụt hoành hành bất thường…. Còn luôn là một nghi vấn trong dài hạn của đời người, đặc biệt là hành vi của từng người lại gắn với hệ thống xã hội mà họ đã góp phần tạo ra, trong đó sự vụ lợi nhờ hệ thống đó là không công bằng (ví dụ sao tham nhũng nhiều đến thế, tội ác cao như núi mà vẫn được vinh thân phì gia nhiều đời, được chết êm ái đến như vậy. Trong khi có bao nhiêu người hiền lương lại thiệt thòi, đau khổ đến như thế….. ). Chính vì thế mà Đạo Phật giải thích bằng khái niệm ‘xuyên kiếp’ ngụ ý rằng Quả có thể là rất nhiều đời sau mới chứng nghiệm…
    Nhưng luật nhân quả được khẳng định ở hiệu ứng sau:
    - Những gì đã xảy ra luôn còn dấu vết để lại. Những gì sẽ xảy ra luôn có dấu hiệu trước về nó
    Điều đó được Huy Minh (tác giả của luận thuyết "nhờ tin học có thể lý giải được Thế giới" – tôi tạm gọi như vậy) viết rất chí lý rằng: Điều quan trọng nhất là hiệu ứng trên chỉ được ghi lại trong dòng thông tin - thời gian của sự vật - hiện tượng (SVHT), có hay không? Ai ghi?
    Tôi cho rằng, bản thân SVHT theo cách hoạt động của nó, tự ‘thải loại’ ra môi trường chung, ảnh hưởng vào SVHT khác mà làm nên ‘sự ghi nhận lại được’ của hiệu ứng nói trên về chính những gì của SVHT đó đã từng diễn ra, rồi đến một ngày nào có sự cộng hưởng của 4 quy luật vật lý tôi nêu trên, mà tác động ngược lại SVHT đó, gây ảnh hưởng đến nó…gọi là ‘nhân quả’ vậy.

    ‘Nhân quả’ theo 4 quy luật vật lý là dễ nhận thấy. Ví dụ với việc trồng Lúa như thế nào, thì ‘Nhân Quả’ nhận thấy trong 3 tháng. Ta đấm vào tường cứng, ngay lập tức thấy nhân quả làm tay đau liền, bằng chính lực ta đấm!
    Nhưng có nhiều kẻ trồng lúa lười lại được ăn nó hơn người làm chăm, thì nhân quả thế nào? Đấm rất mạnh vào bị bông thì tay ta như không thấy đau, rồi bị bông đó phình trở lại, cũng dường như chả có dấu vết gì, tổn hại gì bởi bị đấm (như chẳng thấy nhân quả gì hết, mãi chưa thấy là sao?)…
    Sở dĩ như thế là do việc ‘pha loãng’ hành vi của SVHT này vào môi trường chung và vào SVHT khác xảy ra ở mức độ như thế nào... Kẻ trồng Lúa lười biếng nhưng hành vi ấy bị pha loãng vào muôn điều lao động xấu khác của kẻ khác!

    Tội lỗi của một quan tham ác bá (đã không bị trừng phạt lại khiến đời con cháu vẫn được hưởng lợi) bởi bị pha loãng vào cách quản lý xã hội chung (ai cũng có một tí can dự…) thì ‘Nhân Quả’ về phương diện xã hội là rất khó nhận thấy
    Chưa hết. Một chiếc ô tô đi trước phụt khó bẩn tưởi (Nhân), làm những xe, dòng người đi sau phải nhận lấy độc hại (Quả), trong khi Nó đã vù đi xa về phía trước hưởng không khí trong lành tươi mát...
    Thế nên để nhân quả là xác thực thì còn cần một cơ chế nữa là ‘Cách định vị SVHT như đúng là Nó, như Nó đã gây ra, và đòi Nó phải trả giá’. Nghĩa là quá trình ghi chép, sao bản thông tin có thể bị sai lạc, bị virus phá hủy… Khoa học quản lý gọi là ‘minh bạch, giải trình, đối chứng, quy trách nhiệm pháp lý’…. để xác định đúng mức độ Nhân của từng SVHT dựa trên Quả nó đã gây ra cho Xã hội, lan nhiễm, pha loãng vào môi trường…đồng thời làm rõ tính mục tiêu của hành vi…( trồng lúa để làm gì, tại sao lại đấm, tham nhũng phá hoạt những mục tiêu chung như thế nào….).

    Bởi vậy nhân quả về mặt xã hội có hy vọng được chứng nghiệm ở xã hội để cao pháp luật nghiêm minh và văn minh. Nên pháp luật không ra gì là thất vọng lớn cho Nhân Tâm Xã tắc.
    Cùng với Hiệu ứng nói trên, với đời sống của từng người thì các biểu hiện, việc làm, hành vi từ Quá khứ, Hiện tại và Tương lai luôn hội lại trong từng lát cắt thời gian trong dòng đời sống của họ…đi tiếp…xuyên kiếp…nên tôi có bài thơ :
    Luật nhân quả trong nhân gian

    Với bọn tham quan ác bá:
    Sống liều bất chấp Đạo Trời
    Mất mình vì cố hơn người bon chen
    Được nhiều mà cứ giành thêm
    Đắm vào oán nghiệt triền miên hại đời
    Tạo ra trăm sự rối bời
    Sau này muôn kiếp tả tơi đọa đày
    Cho dù tránh được hôm nay
    Trốn sao cho được lưới dày Nhân Gian
    Với người dân Hiền lương:
    Tu Tâm, luyện Thể, hoạt Thần
    Trí Minh sáng láng trong ngần Vị Lai
    Huệ năng qua vạn đúng sai
    Chân hành, sinh Thiện, Mỹ đài tọa Sen
    Nhân Lành Quả Ngọt báo đền
    Lập nên công tích, Thánh Hiền vô vi…


    Tác giả: Nguyễn Tất Thịnh
    Nguồn: http:/chungta.com/tulieu/tu-lieu-tra-cuu/noi-them-ve-nhan-qua/default.aspx
    Phật Thuyết Kinh Nhân Quả Ba Đời
    Lúc bấy giờ, Tôn giả Khánh Hỷ cùng với 1.250 vị Bhikṣu ở trên Pháp hội Linh Sơn.

    Khi ấy ngài Khánh Hỷ chắp tay đỉnh lễ, rồi đi nhiễu Phật ba vòng, gối phải quỳ, chắp tay, và thưa hỏi Đức Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật:

    "Bạch Thế Tôn! Vào thời Mạt Pháp, tất cả chúng sinh ở Nam châu Thắng Kim sẽ khởi sinh rất nhiều nghiệp chẳng lành. Họ không tôn kính Tam Bảo, không kính trọng cha mẹ, và không có mối quan hệ giữa quân thần, cha con, hay vợ chồng. Năm mối quan hệ sẽ rối ren và hỗn loạn. Họ bần cùng hạ tiện, sáu căn không hoàn chỉnh, suốt ngày chỉ sát sinh hại mạng. Tầng lớp cũng không bình đẳng, có người thì giàu sang, có kẻ thì nghèo túng. Nhân duyên gì đã dẫn đến những quả báo này? Ngưỡng mong Thế Tôn hãy từ bi giảng giải tường tận cho chúng đệ tử."

    Phật bảo ngài Khánh Hỷ và các vị đại đệ tử:

    "Lành thay, lành thay! Các ông hãy lắng nghe. Bây giờ Ta sẽ nói rõ cho các ông. Hết thảy nam nữ già trẻ trong thế gian, có kẻ bần tiện, có người phú quý, có kẻ thọ khổ tột cùng, có người hưởng phúc bất tận, tất cả việc này đều là do quả báo của đời trước.

    Muốn được quả báo lành thì phải nên làm gì? Trước tiên là hiếu kính cha mẹ. Kế đến là kính tin Tam Bảo. Thứ ba là đừng giết hại và hãy phóng sinh. Thứ tư là ăn chay và bố thí. Những việc như thế mới có thể gieo trồng phúc điền cho đời sau."



    Khi ấy Đức Phật nói bài kệ nhân quả rằng:

    "Giàu sang đều do mạng
    Đời trước tu nhân lành
    Ai thọ trì lời này
    Đời đời phúc lộc thâm

    Thiện nam tín nữ nghe cội nhân
    Nghe nhớ Tam Thế Nhân Quả Kinh
    Nhân quả ba đời chẳng phải nhỏ
    Phật nói lời thật chớ xem khinh

    Đời này làm quan là nhân gì?
    Đời trước lấy vàng tô tượng Phật
    Đời trước tu tạo đời này hưởng
    Gấm bào nịt vàng cầu trước Phật
    Lấy vàng đắp Phật tức cho mình
    Phủ áo cho Phật là cho ta
    Chớ nói làm quan rất dễ dàng
    Đời trước không tu sao nó đến

    Cưỡi ngựa ngồi kiệu là nhân gì?
    Đời trước xây cầu sửa đường sá

    Áo gấm lụa đào là nhân gì?
    Đời trước lấy áo cho kẻ bần

    Ăn mặc dư giả là nhân gì?
    Đời trước cơm nước thí người nghèo

    Ăn mặc thiếu thốn là nhân gì?
    Đời trước nửa đồng chẳng hề cho

    Nhà lớn lầu cao là nhân gì?
    Đời trước lấy gạo cho chùa chiền

    Phúc lộc dồi dào là nhân gì?
    Đời trước xây chùa dựng miếu đình

    Tướng mạo đoan trang là nhân gì?
    Đời trước hoa tươi dâng cúng Phật

    Thông minh trí tuệ là nhân gì?
    Đời trước tụng Kinh siêng niệm Phật

    Vợ hiền đẹp xinh là nhân gì?
    Đời trước Phật môn kết duyên lành

    Vợ chồng hạnh phúc là nhân gì?
    Đời trước tràng phan cúng dường Phật

    Cha mẹ đầy đủ là nhân gì?
    Đời trước kính trọng người đơn côi

    Mồ côi cha mẹ là nhân gì?
    Đời trước do bởi thích bắn chim

    Con cháu đầy đàn là nhân gì?
    Đời trước mở lồng thả chim muông

    Nuôi con không lớn là nhân gì?
    Đời trước do bởi oán hận người

    Đời này không con là nhân gì?
    Đời trước oán ghét con cháu người

    Đời này sống lâu là nhân gì?
    Đời trước động vật mua phóng sinh

    Đời này chết yểu là nhân gì?
    Đời trước xẻo thịt giết chúng sinh

    Đời này không vợ là nhân gì?
    Đời trước thông gian vợ người ta

    Đời này ở góa là nhân gì?
    Đời trước khinh rẻ chồng của mình

    Đời này tôi tớ là nhân gì?
    Đời trước vong ân phụ nghĩa tình

    Đời này mắt sáng là nhân gì?
    Đời trước lấy dầu thắp đèn Phật

    Đời này mù lòa là nhân gì?
    Đời trước khoái xem sách khiêu ***

    Đời này sứt miệng là nhân gì?
    Đời trước ưa thích nói thị phi

    Đời này câm điếc là nhân gì?
    Đời trước ác khẩu mắng song thân

    Đời này gù lưng là nhân gì?
    Đời trước chê cười ai lạy Phật

    Đời này tay cong là nhân gì?
    Đời trước đánh đập cha mẹ người

    Đời này chân khiễng là nhân gì?
    Đời trước phá ai sửa cầu đường

    Đời này trâu ngựa là nhân gì?
    Đời trước thiếu nợ không chịu trả

    Đời này lợn chó là nhân gì?
    Đời trước rủ rê chuyên lừa đảo

    Đời này lắm bệnh là nhân gì?
    Đời trước mong người bị tai ương

    Đời này khỏe mạnh là nhân gì?
    Đời trước cho thuốc cứu bệnh nhân

    Đời này ngồi tù là nhân gì?
    Đời trước thấy nguy mà không cứu

    Đời này chết đói là nhân gì?
    Đời trước cười mắng kẻ xin ăn

    Bị người thuốc chết là nhân gì?
    Đời trước ngăn sông độc chết cá

    Côi cút lẻ loi là nhân gì?
    Đời trước ác tâm xâm chiếm lời

    Đời này lùn xủn là nhân gì?
    Đời trước khinh bỉ kẻ làm công

    Đời này hộc máu là nhân gì?
    Đời trước khêu chọc gây chia rẽ

    Đời này tai điếc là nhân gì?
    Đời trước nghe Pháp chẳng tin thật

    Đời này ghẻ lở là nhân gì?
    Đời trước ngược đãi với động vật

    Thân thể hôi hám là nhân gì?
    Đời trước đố kỵ người giàu sang

    Đời này chết treo là nhân gì?
    Đời trước hại người lợi cho mình

    Cô độc ở góa là nhân gì?
    Đời trước vợ con chẳng thương yêu

    Sét đánh lửa thiêu là nhân gì?
    Đời trước hủy báng người tu hành

    Hổ vồ rắn cắn là nhân gì?
    Đời trước kết tạo nhiều oán thù

    Muôn nghiệp mình làm tự gánh lấy
    Địa ngục thọ khổ oán trách ai
    Chớ cho nhân quả không ai thấy
    Xa thì con cháu gần là ta

    Không tin Tam Bảo làm bố thí
    Hãy nhìn trước mắt người thọ phúc
    Đời trước tu thiện đời này hưởng
    Đời này tích đức hậu thế nhờ

    Nếu ai hủy báng Kinh Nhân Quả
    Đời sau đọa lạc mất thân người

    Nếu ai tín thọ Kinh Nhân Quả
    Sao phúc lộc thọ chiếu đến nhà

    30 câu nói của thiền sư Thích Nhất Hạnh giúp bạn sống hạnh phúc hơn
    (PGVN)
    Thiền sư Thích Nhất Hạnh là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Thầy đi khắp thế giới để truyền dạy và viết hơn 100 cuốn sách về Phật giáo. Những lời dạy của thầy đầy tính chiêm nghiệm, rất gần gũi, thiết thực với đời.
    Cuối năm ngoái, ở tuổi 88, sức khỏe thiền sư Thích Nhất Hạnh đột ngột đi xuống. Tin này làm phật tử rất lo lắng. Hiện, thầy đã trở về Làng Mai để dưỡng bệnh sau thời gian dài nằm viện do tai biến mạch máu não.

    Thiền sư Thích Nhất Hạnh dành thời gian cả cuộc đời mình cho Phật giáo, với mong muốn mang lại hạnh phúc cho mọi người. Hãy cùng đọc những lời thầy dạy để khiến bạn sống hạnh phúc hơn:


    1. Thấu hiểu nỗi đau của người khác là món quà to lớn nhất mà bạn có thể trao tặng họ. Thấu hiểu là tên gọi khác của yêu thương. Nếu bạn không thể thấu hiểu, thì bạn chẳng thể yêu thương.

    2. Cũng như một người làm vườn biết cách dùng phân bón để cho ra những bông hoa tươi đẹp, người tu tập biết tận dụng nỗi đau khổ để tạo ra hạnh phúc.

    3. Tự do có được nhờ tu tập và thói quen. Bạn phải rèn luyện mình cách bước đi như một người tự do, ngồi như một người tự do và ăn như một người tự do. Chúng ta phải rèn luyện bản thân về cách sống như thế nào.

    4. Nói “Tôi yêu bạn” có nghĩa là “Tôi có thể mang tới cho bạn sự bình yên và hạnh phúc”. Để làm được điều đó, trước tiên, chính bạn phải là người có được những điều đó đã.

    5. Một người tức giận là do không giải quyết được những đau buồn của mình. Họ là nạn nhân đầu tiên của sự đau buồn đó, còn bạn là người thứ hai. Hiểu được điều này, lòng tư bi sẽ nảy nở trong tim và sự tức giận sẽ tan biến. Đừng trừng phạt họ, thay vào đó, hãy nói gì đó, làm gì đó để vơi bớt nỗi đau buồn.

    6. Chúng ta được tạo ra từ ánh sáng. Chúng ta là những đứa trẻ của ánh sáng. Chúng ta là con cái của thần mặt trời.

    7. Tĩnh lặng là điều cốt lõi. Chúng ta cần tĩnh lặng như chúng ta cần không khí, như cái cây cần ánh sáng. Nếu tâm trí chúng ta lúc nào cũng đầy những từ ngữ và suy nghĩ, thì lấy đâu ra không gian cho chính chúng ta.

    8. Mỗi người chúng ta nên tự hỏi mình: Tôi thật sự muốn gì? Trở thành người thành công số 1? Hay đơn giản là người hạnh phúc? Để thành công, bạn có thể phải hi sinh hạnh phúc của mình. Bạn có thể trở thành nạn nhân của thành công, nhưng bạn không bao giờ là nạn nhân của hạnh phúc.

    9. Hãy bước đi như thể bạn đang hôn trái đất bằng bàn chân của mình.

    10. Khi một người làm bạn đau khổ, ấy là vì ẩn sâu bên trong, nỗi đau khổ của anh ta đang tràn trề. Anh ta không đáng bị trừng phạt. Anh ta cần sự giúp đỡ.

    11. Đôi khi niềm vui mang tới nụ cười. Nhưng cũng đôi khi, chính nụ cười mang tới niềm vui.

    12. Hạnh phúc là được là chính mình. Bạn không cần phải được thừa nhận bởi người khác. Chỉ cần chính bạn thừa nhận mình là được rồi.

    13. Bởi vì bạn đang sống nên mọi thứ đều có thể thành sự thật.

    14. Hãy cười, thở và bước đi thật chậm.

    15. Mỗi sáng thức dậy, tôi lại mỉm cười. Hai mươi tư tiếng mới mẻ đang ở trước mắt tôi. Tôi nguyện sống trọn cho từng phút giây và xem xét mọi thứ bằng ánh nhìn từ bi.

    16. Những mầm mống khổ đau trong bạn có thể thật mạnh mẽ, nhưng đừng đợi cho đến khi mọi khổ đau đi hết rồi mới cho phép mình được hạnh phúc.

    17. Nhiều người cho rằng sự náo nhiệt là hạnh phúc. Nhưng khi quá náo nhiệt, sẽ không có bình yên. Hạnh phúc thật sự dựa trên sự bình yên.

    18. Hành động của tôi nói lên tôi là ai.

    19. Niềm hi vọng là điều rất quan trọng. Nó giúp cho hiện tại bớt khắc nghiệt. Nếu ta hi vọng rằng ngày mai sẽ tốt đẹp hơn, ta sẽ chịu đựng được khó khăn của hôm nay.

    20. Nếu bạn yêu ai đó nhưng hiếm khi dành thời gian cho họ thì đó không phải tình yêu thật sự.

    21. Tình yêu của bạn phải khiến cho người yêu cảm thấy tự do.

    22. Thời khắc hiện tại tràn ngập niềm vui và hạnh phúc. Chỉ cần bạn để tâm, bạn sẽ nhìn thấy chúng.

    23. Tôi tự hứa với lòng mình rằng tôi sẽ vui sống từng phút giây mà đời ban cho tôi.

    24. Tất cả suy nghĩ, lời nói, hành động của bạn đều mang dấu ấn của riêng bạn.

    25. Con người đau khổ là vì các thành kiến. Khi nhìn mọi thứ cởi mở hơn, chúng ta sẽ tự do và chẳng còn khổ đau nữa.

    26. Nếu chúng ta bình an, chúng ta hạnh phúc, chúng ta có thể cười. Và mọi người trong gia đình, trong xã hội có thể hưởng niềm vui từ chính sự bình an của ta.

    27. Cội nguồn của tình yêu nằm sâu trong mỗi chúng ta. Chúng ta có thể giúp người khác hạnh phúc. Một lời nói, một hành động, một suy nghĩ cũng có thể làm vơi nỗi buồn và tăng hạnh phúc cho người khác.

    28. Tôi đã tới. Tôi đang ở nơi cần ở. Điểm đến của tôi nằm trên mỗi bước đi.

    29. Chúng ta cần học cách nghỉ ngơi và thư giãn. Nó giúp ta phòng chống bệnh tật và giảm ngừa căng thẳng. Nó giúp ta có tâm trí sáng suốt để tập trung giải quyết các vấn đề.

    30. Mỗi hơi thở, mỗi bước đi của chúng ta có thể lấp đầy bởi bình an, hạnh phúc và sự thanh thản.

    TVP sưu tầm
    vui long khach den, vua long khach di, khach cuoi khanh khach::

  8. #8

    Mặc định

    Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton tập ngồi thiền, ăn chay
    Cập nhật lúc: 12:44 22/01/2013

    TIN LIÊN QUAN
    Theo một bản tin trên thebuddhism.net, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã mời một vị Tăng sĩ Phật giáo đến hướng dẫn cho riêng cá nhân ông phương pháp hành thiền.


    Hiện ông Bill Clinton đang học thiền và đã chuyển sang một chế độ ăn chay. Sở dĩ có những thay đổi này là do ảnh hưởng bởi mối lo ngại về bệnh tim của ông, vào tháng Hai năm 2004 ông được đưa vào Bệnh viện Columbia Presbyterian ở thành phố New York vì bị những cơn đau tim khủng khiếp. Trong thời điểm đó, ông đã phải trải qua nhiều lần phẫu thuật tim. Trong năm 2010, ông có một động mạch bị tắc và các bác sĩ phẫu thuật đã mở lại được trong đợt phẫu thuật tim thứ hai của ông.

    Sự căng thẳng được cho là một trong những tác nhân quan trọng nhất đối với bệnh tim. Do công việc, ông di chuyển rất nhiều và công việc của ông vốn rất căng thẳng. Từ việc học thiền định, ông học được cách để thư giãn, và ông đang làm tốt hơn sau hai quyết định thay đổi cuộc đời mình.

    Ông cũng có một câu thần chú yêu thích và thích trì tụng nó, cả khi công việc bận rộn. Và ông nói rằng, việc hành thiền thực sự giúp ông cảm thấy thư giãn và tư duy sáng suốt hơn nhiều. Ông đã sử dụng nhiều thức ăn nhanh nhưng bây giờ đã quyết định từ bỏ tất cả và thay thế bằng nhiều loại trái cây và rau quả…

    Trong năm 2010 và 2011 cho chúng ta thấy rằng, thiền của Phật giáo và chế độ ăn uống lành mạnh đang trở thành một xu hướng đối với mọi người. Ngày càng có nhiều người nhận thấy được những lợi ích thiết thực từ nếp sống thiền thư giãn và ăn uống lành mạnh và đang dần thay đổi cuộc sống của họ.

    Từ Tiger Woods đến Steve Jobs, Phật giáo bắt đầu được đánh giá rất cao. Thực tập thiền sẽ giúp chúng ta có được đời sống bình an và thư giãn, và có sức khỏe tốt. Mọi người cũng có thể có được lợi ích từ những thay đổi tương tự như ông Bill Clinton đã làm và đem lại tốt đẹp cho ông ấy.

    Hình ảnh cựu tổng thống Myanmar, cư sĩ Thein Sein xuất gia
    (PGVN) Cập nhật lúc 09:44 06/04/2016 (GMT+7)

    Cư sĩ Thein Sein đã trở thành Tăng sĩ Phật giáo Myanmar, và bắt đầu khóa tu 5 ngày tại Tu viện Dhamma Dipati Monastery bên ngoài Pyin Oo Lwin, một địa điểm nằm gần Mandalay ở miền Trung của Myanmar.
    Cư sĩ Thein Sein, mới bàn giao chức Tổng thống Myanmar vào thứ Năm tuần trước.

    Theo Bộ Truyền thông và Công nghệ Thông tin Myanmar nước này; cựu Tổng thống vừa rời nhiệm sở của Myanmar, cư sĩ Thein Sein đã thế phát xuất gia, mặc áo cà sa tại thiền viện của Ngài Nandamalabhivamsa, viện trưởng Trường đại học Hoằng Dương Phật Giáo Nguyên Thủy Quốc Tế (Int'l Theravada Buddhist Missionary University), Pin Oo Lwin, Mandalay, Myanmar để bắt đầu một khóa tu ngắn.


    Cư sĩ Thein Sein đã trở thành Tăng sĩ Phật giáo Myanmar, bắt đầu khóa tu 5 ngày tại Tu viện Dhamma Dipati Monastery bên ngoài Pyin Oo Lwin, một địa điểm nằm gần Mandalay ở miền Trung của Myanmar.

    Cựu Tổng thống Myanmar không đưa ra lời bình luận cá nhân nào về lựa chọn tạm thời này, nhưng thông báo cho hay ông đã cân nhắc việc này ít nhất bắt đầu từ tháng Giêng năm nay, khi ông tham dự một Hội nghị Phật giáo ở Myanmar.

    Theo thông báo của Bộ Truyền thông và Công nghệ Thông tin Myanmar cho biết: "Gần đây, Hòa thượng đáng kính nhất của đất nước, ngài Sitagu, đã hối thúc cựu Tổng thống Thein Seain đi tu khi ông (Thein Sein) tham dự một Hội nghị Phật giáo.

    Cư sĩ Thein Sein đã nói với Hòa thượng Sitagu rằng ông còn bận với các công việc của một Tổng thống và hứa sẽ đi tu sớm nhất có thể sau khi ông kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống."

    Gần đây, Hòa thượng đáng kính nhất của đất nước, ngài Sitagu, đã hối thúc cựu Tổng thống Thein Seain đi tu khi ông (Thein Sein) tham dự một Hội nghị Phật giáo.

    Hôm thứ Ba, một phóng viên của Ban BBC Miến Điện cho hay việc người dân là phật tử chọn một thời điểm trong đời của mình để xuống tóc đi tu là 'bình thường' theo truyền thống của nước này.


    "Đây là một việc làm bình thường và theo truyền thống, bất cứ một người trưởng thành nào theo Phật giáo cũng có thể chọn một thời điểm trong đời của mình để thực hiện việc này.

    "Cư sĩ Thein Sein trước đó còn làm Tổng thống, nay ông đã nghỉ và ông đã tìm ra thời gian của mình để làm công việc này," vẫn theo phóng viên của Ban BBC Miến Điện.

    Ông Thein Sein, 71 tuổi, một cựu tướng lĩnh, đã đảm nhận vai trò Tổng thống trong một nhiệm kỳ 5 năm vào năm 2011 để lãnh đạo một chính phủ có danh nghĩa dân sự, sau khi phe quân sự chấm dứt một nửa thế kỷ nắm quyền bính toàn bộ.

    Tháng 11 năm ngoái, Myanmar lần đầu tiên tổ chức bầu cử tự do sau nhiều thập niên và Đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung Sang Suu Kyu đã giành thắng lợi 'long trời lở đất'.

    Cư sĩ Htin Kyaw đã được đảng NLD của bà Aung Sang Suu Kyu chọn tiếp quản chiếc ghế Tổng thống Myanmar từ tay Cư sĩ Thein Sein.

    Cư sĩ Thein Sein tiếp tục lãnh đạo cuộc chuyển giao quyền lực cho tới khi Tổng thống Htin Kyaw, người được bà Suu Kyi lựa chọn, lên nắm chiếc ghế quyền lực này vào hôm thứ năm tuần trước.

    Nữ Cư sĩ Suu Kyu đã đảm nhận các vị trí đặc biệt trong tân chính phủ dân sự, do bà không được phép làm Tổng thống với lý do có con cái có quốc tịch nước ngoài, theo Hiến pháp hiện hành của Myanmar.


    Tại Hội nghị Hòa bình Tôn giáo Thế giới tại Học viện Quốc tế Sitagu, Myaanmar, Cư sĩ Thein Sein, Tổng thống Myanmar trân trọng tiếp đón hàng trăm Đại biểu Phật giáo khắp nơi trên thế giới về dự lễ khai mạc Hội nghị Hòa bình Tôn giáo Thế giới tại thành phố Sagaing, Tổng thống Myanmar kêu gọi các nhà lãnh đạo đoàn kết lên án chủ nghĩa cực đoan càng ngày gia tăng khi đối mặt với phân cực Tôn giáo.

    Trong những gì có thể đóng góp cho tiếng nói chung của Tôn giáo Dân tộc, và một trong những lần phát biểu cuối cùng của ông, bài phát biểu công khai của Nhiệm kỳ của ông kết thúc vào cuối tháng 03/2016, cư sĩ Thein Sein, Tổng thống Myanmar cho biết: “Tôi rất hoan hỷ và thúc giục các nhà lãnh đạo Tôn giáo trên thế giới, các nhà lãnh đạo Chính trị và các nhà lãnh đạo Quốc gia trên thế giới, đồng tham gia góp phần hướng dẫn tín đồ tôn giáo tránh xa chủ nghĩa cực đoan”.






    Vân Tuyền (nguồn: khaosodenglish
    #phụ thích: như vậy thế giới đã có ít nhất hai ông tổng thống thích theo phật, một ông là Clinton cựu tổng thống mỹ quốc, là nước văn minh hiện đại nhất thế giới đương thời, một ông là theinsein cựu tổng thống nước myanma, một quốc gia thuần phật giáo. Hi vọng có nhiều ông quốc gia chủ tịch lẫn tổng thống trên thế giới chịu xả bớt tham-si-sân quyền lực để loài người đỡ khổ nạn. như thế thì rất vui!
    vui long khach den, vua long khach di, khach cuoi khanh khach::

  9. #9

    Mặc định

    Ông tổng giám đốc cọ nhà vệ sinh để học chánh niệm
    (PGVN)
    Đây không phải là một bài báo. Đây là một bài viết từ những gì tôi, một phật tử trực tiếp nhìn thấy, trực tiếp cảm nhận và viết. Có những điều nói có thể có người không tin. Nhưng là câu chuyện thật 100%, tôi mắt thấy, tôi tai nghe, tôi mũi ngửi, tâm tôi cảm nhận.
    Đây là câu chuyện về chánh niệm có thật và được thực hành rất ngạc nhiên. Cả tuần nay tôi ngẫm về câu chuyện chánh niệm này và đang thực tập theo.

    Chuyện là thế này: Chúng tôi tham gia khóa thiền tích cực 10 ngày ở một ngôi chùa tại tỉnh Quảng Nam. Kẻ bắc người nam thêm các phật tử Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nghệ An nữa tham gia. Khá đông. Cả các quý sư xuất gia cũng như quý cư sĩ tại gia cùng thực hành thiền tập trong 4 tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi.
    Tôi đến khóa tu sớm. Tối hôm trước ngày khai mạc khóa tu tôi thấy một người đàn ông mặc quần ka ki, áo khoác xanh đeo ba lô bước vào hỏi thăm và được dẫn đi nhận phòng. Anh ấy ở phòng ở khu khác, xa chúng tôi. Anh ấy đi ngủ sớm và không nói chuyện với ai.
    Tôi đến sớm và công nhận rằng trong chùa không sạch lắm, nhất là nhà vệ sinh nam khá hôi hám và bẩn. Sáng hôm sau khai mạc và tất cả chính thức bước vào khóa thiền tích cực: không giao tiếp kể cả ra tín hiệu, không ăn sau 12 giờ trưa, các thời thiền liên tục từ sáng đến tối. Chuyện này tôi đã quen vì đã tham gia vài khóa thiền Vipassana trước đó.
    Tuy nhiên điều tôi ngạc nhiên là hôm nay nhà vệ sinh sạch bong. Sạch và thơm tho. Tôi nghĩ trong đầu: Chắc có các phật tử trong chùa đến dọn.
    Đến giờ nghỉ chiều lúc 17h tôi đi vệ sinh thì phát hiện ra người đàn ông hôm trước mặc áo khoác xanh quần ka ki đang cọ nhà vệ sinh. Hôm nay anh ấy mặc bộ quần áo nâu và đang cọ bồn cầu. Tôi liếc qua thấy anh cọ rất nhẹ nhàng, cẩn thận và chuyên nghiệp. Tôi đi tiểu tiện và quay ra tiếp tục đi thiền hành.
    Hôm sau, lúc tôi đi đánh răng rửa mặt lại thấy người đàn ông này đang cọ bồn đi tiểu. Anh cọ rất chăm chỉ, cần mẫn, tập trung. Trong nhà thiền chúng tôi gọi là chánh niệm. Nhìn là biết rằng anh rất chánh niệm khi làm công việc này. Liếc qua khuôn mặt thấy rất bình thản, thư thái, nhẹ nhàng.
    Trong 10 ngày của khóa thiền tôi ít nhất gần 10 lần thấy cảnh anh lau nhà vệ sinh: lau sàn nhà, cọ bồn cầu, cọ bồn tiểu tiện, cọ các ngóc ngách, dọn mạng nhện. Có hôm tôi thấy anh quét dọn phía trước và xung quanh nhà vệ sinh. Anh đưa các nhát chổi rất nhẹ nhàng đều đặn. Thật sự chánh nhiệm. Tôi ấn tượng về phong cách ung dung và bình thản của anh. Trong đầu nghĩ: không biết anh ấy làm nghề gì.
    Tôi quan sát thấy anh nhẹ nhàng nhặt từng đầu mẩu thuốc lá quanh nhà vệ sinh, từng tờ giấy bẩn, từng vỏ hộp sữa, từng bịch ni lông,… Anh ấy nhặt rất bình thản và an lạc. Tôi tranh thủ quan sát anh ấy dọn chùi nhà vệ sinh và khu vực xung quanh và thực tập luôn: quán sát cái thấy cảnh này và tâm dừng lại. Không suy luận thêm. Không đặt các câu hỏi trong đầu như bữa trước nữa: anh ấy là ai, tên là gì, đến từ đâu, tại sao lại chăm dọn chùi nhà vệ sinh đến vậy. .. Tôi quan sát và tập không yêu thích, không chán ghét, độc lập, không hệ lụy.
    Người đàn ông này được phân công ngồi thiền hàng trên cùng. Anh ngồi thiền rất nghiêm túc. Anh thường đến trước giờ, bao giờ cũng lạy Phật vài lạy và mới ngồi xuống thiền. Anh ngồi thiền không dùng bồ đoàn. Trong lúc đi kinh hành anh cũng rất tập trung. Hầu như anh ta tận dụng mọi cơ hội, mỗi phút giây để thực tập thiền. Tôi cảm nhận rất rõ sự chánh niệm trong anh ấy.
    Ngày cuối cùng của khóa tu chúng tôi được tham gia lễ cúng dường trai tăng. Thí chủ của bữa này lại chính là người đàn ông đã kiên trì cọ nhà vệ sinh và dọn dẹp 10 ngày nay. Đến lúc này tôi vẫn chưa biết anh là ai. Tôi chỉ thấy anh quỳ gối và lễ Phật rất thành tâm và đúng cách. Lại rất đẹp và nhẹ nhàng uyển chuyển nữa.
    Chiều ngày cuối cùng của 10 ngày khóa thiền tích cực, sau phát biểu bế mạc của Hòa thượng trụ trì là phát biểu của một vị sư và sau đó là anh. Anh phát biểu rất hay, rất ngắn gọn súc tích và sâu sắc. Tôi nghe rất chăm chú và ấn tượng. Nhiều câu bây giờ tôi vẫn nhớ.


    Vẫn cái anh cọ nhà vệ sinh này đề nghị các phật tử ở lại họp để bàn duy trì tu tập tiếp theo sau khi về nhà. Thì ra anh ấy là tiến sĩ, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty sách Thái Hà. Anh ấy tên là Nguyễn Mạnh Hùng. Tôi hoàn toàn bị sốc. Anh này rất nổi tiếng mà và chính tôi cũng đọc nhiều sách Phật giáo do công ty Thái Hà của anh ấy xuất bản. Nhưng không thể nghĩ rằng anh ấy bỏ hơn chục ngày từ Hà Nội vào đây hành thiền. Tôi không thể tin rằng bận bịu ở chức cao như vậy mà anh ấy vẫn dành thời gian dài cho tu tập. Đặc biệt tôi không hiểu tại sao ngày nào vị lãnh đạo cao thế, vị có học hàm học vị cao vậy mà đi chùi nhà vệ sinh đều như sáng mặt trời mọc tối mặt trời lặn.
    Hóa ra là thực hành lời Phật dạy. Hóa ra là tâm không phân biệt. Hóa ra là chánh niệm. Hóa ra là anh Hùng ứng dụng rất tốt những gì đã học, đã đọc, đã nghe giảng vào cuộc sống. Tôi thật sự khâm phục và xin học theo.
    Về đến nhà tôi vào mạng và tìm hiểu thêm về anh ấy. Tôi tìm được một cảnh anh Nguyễn Mạnh Hùng nấu ăn, nấu bún yêu thương chay cho cả công ty ăn. Anh tự tay rửa chén bát cho công ty. Có cả bức ảnh vị tiến sĩ, vị chủ tịch này lau văn phòng công ty. Tự nhiên tôi nhớ đến một câu chuyện. Người ta hỏi “Người mạnh nhất là gì?”, Đức Phật trả lời “Là hiền lương”.
    Câu chuyện xảy ra cách đây đúng một tuần. Tôi rất vui rằng tôi đã học theo tấm gương của anh. Một tuần nay, hàng ngày tôi cũng lau cọ nhà vệ sinh trong chánh niệm. Tôi cũng nấu cơm và rửa chén trong chánh niệm. Chuyện này chưa từng xảy ra trước đây. Và tôi đã biết thực hành thiền trong cả ngày. Và tôi đã biết sống chánh niệm khi cọ bồn cầu, khi rửa chén. Như người đàn ông mặc áo khoác xanh mặc quần ka ki. Như vị phật tử mặc bộ đồ nau trong khóa thiền. Như vị tiến sĩ - Tổng giám đốc Nguyễn Mạnh Hùng.
    Tuấn Thanh
    #chú thích: Chính niệm (zh. 正念, pi. sammā-sati, sa. samyag-smṛti): Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý;
    #phụ thích: bản chất chúng sinh vì tạp niệm mà nhiễu loạn không yên, vì tà kiến mà sinh ra tư duy lệch lạc. Thấy cái vỏ xấu tưởng ruột cũng tệ, thấy vỏ đẹp tưởng ruột cũng tốt, đâu biết trong đá có ngọc, trong thân xác đẹp là bể phân thối. Nên phải có cái nhìn toàn diện để chuyển tà kiến thành chính kiến<cái này có trong kinh thập thiện>. Lại vì tam độc tham-si-sân mỗi ngày thêm nặng nên việc ác ngày một tăng trưởng, việc thiện ngày một thui chột. Chưa hết do không chính ngữ mà bệnh vọng ngữ, vọng tưởng được thể tăng trưởng, đâu biết ngôn ngữ chỉ là phương tiện để phật giảng pháp. Nói tà ngụy thì đầy đủ phải là tà ma quỷ ngụy, từ cắt gọt ghép thành hai âm nên vọng ngữ sai lệch. Nhìn gia đình bốn người kia kìa, đã chót vọng ngữ thì phải vọng đủ như thế này: “mẹ mê lầm, hài si ngu, cha chả lỗi, con mù mờ”. Lòng vả cũng như lòng sung thôi, chả nhẽ lại nghe bố già bảo “mẹ mày mê lầm chứ cha mày chẳng có lỗi gì sất”. Còn thằng anh bảo thằng em “chú mày là ngu si lắm, chứ anh mày có mù mờ gì” Ôi trời đất ạ! Phải hiểu khi mới tu học ai cũng mê lầm cả, phải siêng năng tụng niệm để giác mê tâm đã, giác mê rồi thì vẫn cứ siêng năng tụng niệm để tăng trưởng thiện trí nhớ, thiện trí tuệ, kẻo tụng tám năm rồi, khi giác mê chuyển cảnh lại tự chưởi mình là tám năm qua tụng kinh chẳng có ích gì, sao mình ngu si quá vậy, đâu biết vừa mới dứt mê thì đi vào cảnh ngu si, còn phải tu hành bao đời bao kiếp. Không biết có đấng giác ngộ(Buddha) nào đưa ra pháp giản-kiệm(đơn giản, tiết kiệm) giúp chúng sinh diệt được tam độc này thì vui biết mấy?
    Tự nhiên tui phụ thích dài quá, thấy mình đã ngu dốt lại cố tỏ ra nguy hiểm, vậy kính mong các bậc cao quý, các bậc tu học bài bản cứ là không chấp trước, bỏ quá cho tui. Xin chân thành cảm ơn!
    vui long khach den, vua long khach di, khach cuoi khanh khach::

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •