I. Các Định nghĩa :
1). Cao Đài : là một cái đài cao nơi Linh Tiêu Bảo Điện, trong Ngọc Hư Cung, ở cõi Thiêng liêng, là nơi ngự của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế mỗi khi đại hội triều đình của Ngài.
Vào năm 1927, trong một đàn cầu cơ tổ chức tại Cần Thơ (miền Nam Việt Nam), Đức Chí Tôn giáng cho 4 câu thơ giải thích 2 chữ CAO ĐÀI :
Linh Tiêu nhất tháp thị Cao Đài,
Đại hội quần Tiên thử ngọc giai.
Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,
Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.
Nghĩa là :
- Nơi Linh Tiệu Điện có một cái tháp gọi là Cao Đài,
- Đại hội các vị Tiên nhóm tại bệ ngọc ấy.
- Muôn trượng hào quang từ nơi đó chiếu ra,
- Tên xưa, cảnh quý báu đó là Lạc Thiên Thai.
Thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ mở đạo, lấy đài ngự của Ngài là CAO ĐÀI làm danh hiệu.
Do đó, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế là Đấng Cao Đài, nên cũng gọi là Cao Đài Thượng Đế hay gọi là Đấng Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát., và nền Đại Đạo do Ngài mở ra vào thời Tam Kỳ Phổ Độ được gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, cũng gọi là Cao Đài Đại Đạo, hay vắn tắt là Đạo Cao Đài.
Danh xưng Cao Đài cũng được Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế giải thích trong 4 câu Thánh ngôn sau đây:
Nhiên Đăng Cổ Phật thị Ngã,
Thích Ca Mâu Ni thị Ngã,
Thái Thượng Nguyên Thủy thị Ngã,
Kim viết Cao Đài.
Nghĩa là :
- Nhiên Đăng Cổ Phật là Ta,
- Thích Ca Mâu Ni là Ta,
- Thái Thượng Nguyên Thủy là Ta,
- Nay gọi là Cao Đài.
Do đó, từ ngữ Cao Đài còn có ý nghĩa là Đấng đã khởi tạo ra các vị Phật, Tiên : Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Thái Thượng Lão Quân và Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn. Cho nên, Đấng Cao Đài chính là Đại Từ Phụ của toàn cả chư Thần Thánh Tiên Phật trong càn khôn Vũ trụ.
2). Cao Đài Đại Đạo : là một con đường rộng lớn (Đại Đạo) hướng dẫn chúng sinh tiến hóa, tiến hóa mãi cho đạt đến các phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, và sau đó tiến hóa tiếp tục lên phẩm vị cao nhất cuối cùng là Thượng Đế để hiệp nhất vào Thượng Đế.
Cao Đài Đại Đạo là một nền tôn giáo lớn, có một Giáo lý và một Triết lý rất đầy đủ, bao quát và dung hợp được tất cả các nền Tôn giáo và Triết lý của loài người đã có từ trước tới nay, do một Đấng Tối Cao, Chúa tể Càn khôn Vũ trụ là Đấng Cao Đài lập nên. (Đây không phải là lời nói ngoa có tính cách phô trương quá đáng, mà là sự thật, khi chúng ta nghiên cứu kỹ lưỡng và sâu xa Giáo lý và Triết lý của Đạo Cao Đài, chúng ta sẽ thấy rõ).
Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài cho nhân sinh tu hành vào thời Hạ nguyên. Do đó, Đức Chí Tôn khai đạo vào ngày Rằm Hạ nguyên (15-10 ÂL) năm Bính Dần, vì khởi đầu một Nguyên là năm Giáp Tý, kế đó là năm Ất Sửu, tiếp theo là năm Bính Dần, hợp với Thiên cơ : Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhân sinh ư Dần.
Đạo Cao Đài sẽ truyền bá phổ độ nhân sinh trong 700.000 năm (thất ức niên) thì mới chấm dứt, chuyển qua một Nguyên Hội khác với một nền tôn giáo khác.
Bài thơ của Đức Chí Tôn về Tịch đạo Nam phái nói rõ điều đó :
Thanh đạo tam khai thất ức niên,
Thọ như Địa quyển, thịnh hòa Thiên.
Vô hư qui phục nhân sinh khí,
Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.
Nghĩa là :
- Đạo Cao Đài mở ra lần thứ 3 kéo dài 700 ngàn năm,
- Lâu dài như Trái đất, thịnh vượng cùng Trời.
- Đem trở lại cõi Hư Vô các chân linh của nhân sinh,
- Tạo ra từ muôn xưa đàn cúng để soi sáng những người có duyên với Phật.
Thuở mới Khai đạo, năm Bính Dần, các vị Tiền bối mở Đạo đã báo cáo với nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ, Đạo Cao Đài là Thần Linh Học Việt Nam (Spiritisme Viêtnamien) cũng gọi là Phật Giáo Chấn Hưng (Bouddhisme Renové) có thờ Đức Phật Thích Ca và Đức Quan Âm Bồ Tát, để cho người Pháp tạm hiểu đây là một tôn giáo mới mở ra trong nước Việt Nam đang là thuộc địa của Pháp và yêu cầu cho tôn giáo này được tự do truyền bá.
Nhưng thật sự Đạo Cao Đài được mở ra do Đấng Thượng Đế dùng hiện tượng Thần Linh Học để giáng cơ dạy đạo, có mục đích không những chấn hưng Phật giáo, mà còn chấn hưng cả Khổng giáo, Lão giáo, và cả Ngũ Chi Đại Đạo.
Do đó, có nhiều người lầm tưởng Đạo Cao Đài là tôn giáo tổng hợp, hay nói nặng hơn là một tôn giáo hỗn tạp, vì họ thấy Đạo Cao Đài thờ các Đấng Giáo chủ của các tôn giáo khác như : Đức Phật Thích Ca, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức Chúa Jésus, lại thờ cả Quan Âm, Quan Thánh, nhà thơ Lý Bạch và cả Ông Khương Thượng nữa; còn Giáo luật thì lấy một ít của Phật giáo (như Ngũ Giới Cấm, luật Ăn chay), lấy một ít của Lão giáo (như Tam bảo Tinh Khí Thần), lấy một ít của Khổng giáo (như Tam cương, Ngũ thường, Tam tùng, Tứ đức), lấy một ít của Thiên Chúa giáo (như tôn thờ Thượng Đế).
Nhưng nếu nghiên cứu sâu xa thì người ta sẽ thấy rằng : Các Giáo lý và Triết lý của Tam giáo và Ngũ Chi chỉ là một phiến diện, một khía cạnh của Đạo Cao Đài, bởi vì Đạo Cao Đài là nguyên căn của tất cả các nền tôn giáo, và Đấng Giáo chủ của Đạo Cao Đài là nguyên căn của tất cả các Đấng Giáo chủ khác.
Do đó, Giáo lý và Triết lý của Đạo Cao Đài rất hoàn chỉnh, giải quyết một cách đầy đủ, thông suốt, hợp lý tất cả các vấn đề mà các tôn giáo khác còn mắc mứu.
- Phật giáo thì còn vướng mắc về vấn đề Linh hồn, Vũ trụ, Thượng Đế, có lối tu hoàn toàn xuất thế, và các tăng ni Phật giáo sống nhờ sự bố thí của nhân sinh.
- Lão giáo thì có lối tu vô vi, yếm thế, độc thiện kỳ thân.
- Nho giáo hay Khổng giáo thì nhập thế giúp đời, nhưng lại thiếu phần tâm pháp thượng thừa, tu giải thoát.
Để hiểu về sự dung hợp của Đạo Cao Đài với các tôn giáo khác, chúng ta lấy thí dụ sau đây :
Việc xây nhà : Phật giáo ví như sắt thép, Lão giáo ví như cát đá, Nho giáo ví như gạch ngói, Thánh giáo Gia Tô ví như gỗ ván. Nếu đem 4 thứ ấy chất thành đống chung lại thì nó không thể thành một cái nhà, và nó chỉ là một thứ hỗn tạp không có giá trị gì cả. Ông chủ nhà còn phải lo mua xi măng, rồi tự phát họa ra đồ án kiến trúc, dùng một số thợ chuyên nghiệp đến phụ với ổng để xây cất nhà, đúc bê tông, xây tô vách tường, lót gạch, làm cửa, sơn phết trang trí, vv . . .
Rốt cuộc cái nhà đẹp đẽ mới được hoàn thành.
* Hỏi vậy cái nhà này có phải là sắt thép không ?
Đáp : Nhà này không phải là sắt thép, nhưng trong nhà ấy có sắt thép làm sườn.
* Hỏi vậy cái nhà này có phải là gạch ngói không ?
Đáp : Nhà này không phải là gạch ngói, nhưng trong nhà ấy có dùng gạch để làm vách và dùng ngói để làm mái che.
vv . . . . . . . . . . . . . . .
Nhìn vào ngôi nhà, chúng ta không thấy sắt thép, đá cát, . . . vì chúng đã được xếp đặt vào nhau một cách thích hợp, tạo thành một vật thể hoàn toàn mới do các bàn tay khéo léo của ông thợ lành nghề.
Ngôi nhà đó là Đạo Cao Đài, và ông chủ nhà ấy là Đấng Tạo Hóa, Đấng Thượng Đế.
Cho nên, Đạo Cao Đài không phải là Phật giáo, nhưng Phật giáo là một thành phần của Đạo Cao Đài, giống như những cây sắt thép nằm trong cột và đà của ngôi nhà.
Đạo Cao Đài không phải là Lão giáo hay Tiên giáo, nhưng Lão giáo là một thành phần của Đạo Cao Đài, giống như cát đá trong các vách và cột của ngôi nhà.
Đạo Cao Đài không phải là Nho giáo hay Khổng giáo, nhưng Nho giáo là một thành phần của Đạo Cao Đài, giống như các thứ gạch ngói có trong ngôi nhà. vv . . . .
Nói như thế để chúng ta nhận định rằng : Nếu Tam giáo và Ngũ Chi Đại Đạo (trong đó có Thánh giáo Gia Tô) có kết hợp lại cũng chưa thể tạo thành Đạo Cao Đài, nó chỉ là một mớ hỗn tạp hổ lốn mà thôi, phải cần có một số vật liệu phụ khác và nhất là bàn tay tài giỏi của người thợ tạo thì mới tạo thành ngôi nhà Cao Đài được.
Một số vật liệu phụ khác, đó là những cái mới mà chúng ta tìm thấy không có trong Tam giáo và trong Ngũ Chi. Khi khảo sát kỹ, chúng ta sẽ thấy đó là sự thực.
Như vậy Đạo Cao Đài có phải là Chân lý không ?
Đáp : Đạo Cao Đài không phải là Chân lý, mà Đạo Cao Đài chỉ là một con đường tốt đẹp rộng rãi dẫn dắt con người đi thẳng đến Chân lý. Cái Chân lý ấy thì tuyệt đối và tối thượng, gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế lập ra và làm Giáo chủ.
Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài mà Ngài không cần giáng sinh xuống cõi trần để mang lấy xác phàm như các vị Giáo chủ khác, Ngài vẫn ở cõi Hư Linh vô hình, dùng hiện tượng Thần Linh Học, với cây bút của chiếc Ngọc Cơ, viết ra những lời dạy bảo, tạo ra một mối Đạo hoàn hảo, cao thượng, vĩ đại về hình thức, vĩ đại về nội dung, để tận độ nhân sinh.
Nhiệm vụ quan trọng của Đạo Cao Đài là :
- Qui nguyên Tam giáo, Phục nhất Ngũ Chi :
Đem 3 nền tôn giáo lớn ở Á Đông (Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo) và đem 5 nhánh đạo (Nhân đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo) trên toàn thế giới qui về một mối duy nhất do Đức Chí Tôn Thượng Đế chưởng quản, để nhân loại không còn có sự khác biệt nhau về tôn giáo và tín ngưỡng mà chia rẽ nhau, tiến đến thống nhất tư tưởng và xây dựng một xã hội đại đồng.
- Cứu độ 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị :
Hai kỳ Phổ Độ trước chỉ cứu độ được 8 ức nguyên nhân trở về ngôi vị cũ nơi cõi Thiêng liêng, còn lại 92 ức nguyên nhân đang trầm luân nơi cõi trần. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có nhiệm vụ cứu độ cho hết 92 ức nguyên nhân này.
- Tận độ chúng sinh trong thời Mạt kiếp của Hạ Nguyên Tam Chuyển để lập đời Thánh đức của Thượng Nguyên Tứ Chuyển.
Trước khi lập đời Thánh đức, nhân loại phải trải qua một cuộc Đại Phán Xét để tuyển chọn người đạo đức tham dự Đại Hội Long Hoa. Đây là một kỳ thi chung kết mà đề tài khảo thí là “Công quả Phụng sự chúng sinh”. Đức Chí Tôn giao cho Đức Di-Lạc Vương Phật làm Chánh Chủ Khảo Hội thi chung kết này.
Các nhiệm vụ kể trên thật vô cùng trọng đại, nhưng chắc chắn Đạo Cao Đài hoàn thành được, vì Đấng Giáo chủ Đạo Cao Đài là Đức Chí Tôn Thượng Đế. Đấng ấy là vua của Nhật Nguyệt Tinh Tú, là chủ của chư Thần Thánh Tiên Phật, và là Đại Từ Phụ của toàn cả chúng sinh, nên quyền pháp của Ngài tuyệt đối bao trùm lên khắp cả Càn Khôn Vũ Trụ.
Vì những nhiệm vụ trọng đại này, Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài rất đặc biệt, đặc biệt về Giáo lý, Triết lý, cũng như đặc biệt về tổ chức Giáo hội.
3). Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ : là một nền đạo lớn mở ra kỳ thứ 3 để cứu giúp toàn cả chúng sinh nơi cõi trần thoát khỏi khổ cảnh luân hồi mà trở về cõi Thiêng Liêng Hằng sống.
Gọi là Đại Đạo, một nền Đạo lớn, bởi vì nền Đạo này có qui mô rất lớn, được Đức Thượng Đế khai mở và làm Giáo chủ, với tôn chỉ : Qui nguyên Tam giáo, Phục nhất Ngũ Chi. Đức Chí Tôn làm một cuộc Tổng Pháp Tông, gom tất cả tôn giáo đã có từ trước đến nay do các Đấng Thần Thánh Tiên Phật mở ra, thống nhất lại thành một mối, dưới sự chưởng quản của Đức Chí Tôn Thượng Đế.
Gọi là Tam Kỳ Phổ Độ bởi vì trước đây đã mở ra 2 kỳ Phổ Độ : Nhất Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ.
- Nhất Kỳ Phổ Độ mở ra vào thời thái cổ của nhân loại, gồm các tôn giáo : Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo, Đức Brahma Phật mở Đạo Bà-La-Môn, Đức Thái Thượng mở Tiên giáo, Đức Phục Hy mở Nho giáo, Thánh Môi-se (Moise) mở Thánh giáo Do Thái.
- Nhị Kỳ Phổ Độ mở ra vào thời Thượng cổ của nhân loại, gồm các tôn giáo : Đức Phật Thích Ca mở Phật giáo ở Ấn Độ, Đức Lão Tử mở Lão giáo và Đức Khổng Tử mở Nho giáo ở Trung hoa, Đức Chúa Jésus mở Thánh giáo ở Do Thái, Đức Khương Thượng cầm Bảng Phong Thần đứng đầu Thần đạo Trung hoa.
- Tam Kỳ Phổ Độ là thời đại hiện nay, ứng với cuối Hạ Nguyên Tam Chuyển, bước qua Thượng Nguyên Tứ Chuyển. Đức Chí Tôn Thượng Đế không cho mở ra nhiều tôn giáo như 2 thời kỳ trước, vì ngày nay nhân loại đã văn minh, Càn khôn dĩ tận thức, Năm Châu chung chợ, Bốn biển chung nhà, nên chỉ cần mở ra một nền Đại Đạo, bao gồm cả Tam giáo và Ngũ Chi, thống nhất thành một mối, để nhân loại không còn bị chia rẽ nhau vì khác tôn giáo, vì khác tín ngưỡng, để tiến đến một xã hội đại đồng.
Đức Chí Tôn xác định rằng, đây là kỳ Phổ Độ cuối cùng, trước khi mở Đại Hội Long Hoa, ấy là một cuộc Phán Xét cuối cùng, để tận độ nhân sinh, cứu giúp tất cả, không để sót một ai. Đức Chí Tôn Khẳng định : “ Gặp Tam Kỳ Phổ Độ này mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.”
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chính thức khai đạo vào ngày Rằm Hạ nguyên (15 tháng 10 âm lịch) năm Bính Dần (1926), và Đức Chí Tôn chọn dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam để khai đạo, lấy Tây Ninh làm Thánh Địa, để từ đó truyền bá ra khắp hoàn cầu.
Vấn đề 1 : Tại sao có Tam giáo rồi mà Đức Chí Tôn còn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ?
Đức Phạm Hộ Pháp (Phạm Công Tắc) thuyết đạo tại Đền Thánh đêm 22-6-Mậu Dần (1938) giảng giải như sau :
“ Do Tam giáo thất Chân truyền, Nho, Thích, Đạo hiện nay đã trở nên Phàm giáo. Chư đệ tử trong 3 nhà đạo không giữ y luật lệ qui điều, canh cải Chân truyền, bày ra các điều giả cuộc, làm cho Tam giáo biến thành dị đoan.
Đệ tử nhà Đạo chẳng tùng Pháp giáo của Đức Thái Thượng Lão Quân, tuy ở trong nhà Đạo mà dị đoan mê tín.
Đệ tử nhà Thích không thuận theo lời giảng dạy của Đức Phật Thích Ca thì đệ tử nhà Thích dị đoan mê tín.
Đệ tử nhà Nho chẳng thật hành điều mục của Đức Văn Tuyên Khổng Thánh thì đệ tử nhà Nho dị đoan bất chính.
Tóm lại, 2 chữ DỊ ĐOAN nghĩa là đồ theo không trúng kiểu cái qui giới thể lệ Chân truyền của Tam giáo.
Tiên giáo (Đạo giáo), Đức Thái Thượng dạy Tam Bảo Ngũ Hành, tu tâm luyện tính, thủ cảm ứng công bình.
Phật giáo, Đức Thích Ca dạy Tam Qui Ngũ Giới, minh tâm kiến tính, thực hành Bác ái, Từ bi.
Nho giáo, Đức Khổng Tử dạy Tam cương Ngũ thường, tồn tâm dưỡng tính, giữ theo 2 chữ Trung Hiếu mà làm tiêu chuẩn cho mọi hành vi.
Cả luật pháp khuôn viên điều mục của 3 nhà tôn giáo từ buổi sơ khai có đủ phương diện quyền năng dìu đời thống khổ, nhân sinh trong thời kỳ Thượng cổ, còn tính đức biết giữ Chân truyền, chuẩn thằng quy củ của 3 nhà Nho Thích Đạo, làm lành lánh dữ, dưỡng tính tu tâm, nên mới chung hưởng đời thái bình, an cư lạc nghiệp.
Nay đến thời kỳ Hạ Nguyên cuối cùng, thế đạo suy vi, nhân tâm bất cổ, đạo đức đổi dời, luật Tam cương chẳng giữ, phép Ngũ thường không noi, Tam giáo thất Chân truyền, bỏ phép công bằng, tranh danh trục lợi, cướp giật hiếp đáp, giết hại lẫn nhau, không tưởng cốt nhục, chẳng tưởng đồng bào, thù nghịch lẫn nhau, thành ra một trường náo nhiệt, luân lý suy đồi, nên gọi là đời Mạt Kiếp.
Các vì Giáo chủ đời xưa tiên tri rằng : Buổi sau này, Tam giáo quy phàm, nên có để lời bí tích trong Sấm Truyền :
- Như Phật Tông Nguyên Lý, Đức Phật có nói : Lục vạn dư niên Thiên khai Hoảng Đạo.
- Còn Nho giáo, Đức Thánh có nói : Mạt hậu Tam Kỳ Thiên khai Hoàng đạo.
- Đức Chúa Jésus khi bị đóng đinh trên cây Thánh giá có nói tiên tri với các môn đồ của Ngài rằng : Trong 2000 năm Tận Thế, Ta sẽ đến phán xét cho nhân loại một lần nữa. Và Ngài nói : Còn nhiều chuồng chiên sau Đức Chúa Cha sẽ qui về một mối.
Nay Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đúng theo lời Sấm Truyền của các vị Giáo chủ ngày xưa.
Chỉ có 2 phương diện là do nơi Tam giáo thất Chân truyền, chính mình Đức Chí Tôn giáng cơ lập đạo để quy nguyên phục nhất, gọi là Chấn hưng Tam giáo lại cho hoàn toàn, lập luật pháp khuôn viên cho phù hợp theo dân trí buổi này, mới tìm phương độ rỗi nhân sinh, hiệp cả tinh thần của các dân tộc, biết nhìn nhau một Cha chung để thuận hòa cùng nhau, thực hành chủ nghĩa thương yêu, chung thờ một nền tôn giáo đại đồng, thì nhân loại mới được gội nhuần ân huệ, và đời tranh đấu tự diệt sẽ trở nên đời mỹ tục thuần phong, thì vạn loại mới chung hưởng hòa bình, phục lại đời Thượng cổ, là do nơi Thiên thư tiền định, buổi Hạ Nguyên chuyển thế , hóa cựu duy tân.
Tóm lại, Đức Chí Tôn khai Đạo Kỳ Ba này là thuận theo lẽ tuần hoàn, châu nhi phục thủy.”
Vấn đề 2 : Từ ngữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do Đấng nào giáng cơ dạy cho biết lần đầu tiên vào ngày nào và ở nơi đàn cơ nào ?
Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển I, trang 14, Đức Phật Thích Ca giáng cơ dạy về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ lần đầu tiên vào ngày 8-4-1926 (ÂL 26-2-Bính Dần) tại đàn cơ nơi Vĩnh Nguyên Tự, Cần Giuộc.
Bài Thánh Ngôn này, xin chép ra sau đây :
“ Thích Ca Mâu Ni Phật giáng cơ :
THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Chuyển Phật đạo, Chuyển Phật pháp, Chuyển Phật tăng, quy nguyên Đại Đạo. Tri hồ chư chúng sinh ?
Khánh hỷ ! Khánh hỷ ! Hội đắc TAM KỲ PHỔ ĐỘ.
Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đại hỷ phát đại tiếu.
Ngã vô lự Tam đồ chi khổ.
Khả tùng giáo Ngọc Đế, viết Cao Đài Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. “
Bài Thánh ngôn Nho văn trên nghĩa là :
Đức Phật Thích Ca nói rằng : Chuyển toàn thể Phật đạo, Phật Pháp, Phật Tăng trở về gốc là nền Đại Đạo. Chư chúng sinh biết chăng ?
Vui mừng ! Vui mừng ! Hội được vào Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Chư Thần Thánh Tiên Phật quá vui mừng, phát ra tiếng cười lớn.
Ta không còn lo lắng về Ba đường khổ. Khá tùng theo lời dạy bảo của Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, nay gọi là Đấng Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
Bookmarks