kết quả từ 1 tới 15 trên 15

Ðề tài: CHỮ “KHÔNG” TRONG NHÀ PHẬT

  1. #1

    Mặc định CHỮ “KHÔNG” TRONG NHÀ PHẬT

    CHỮ “KHÔNG” TRONG NHÀ PHẬT


    Trong Phật giáo thiền được xem là pháp môn phổ biến của đạo Phật, nhưng trên thực tế thiền được áp dụng trong tất cả mọi sinh hoạt của cuộc sống mà con người không hề để ý đến. Thí dụ trong các lãnh vực khoa học hiện đại thì danh từ thiền được hiểu là sự nghiên cứu để vận dụng tất cả mọi tư duy từng giai đoạn với mục đích tìm ra phương thức ứng dụng để phục vụ cho đời sống con người. Nếu sự nghiên cứu này có kết quả rốt ráo, thành tựu mỹ mãn có thể đem ra ứng dụng làm lợi ích cho cuộc đời thì sự nghiên cứu đó được gọi là “phát minh”.

    Nhưng tất cả những sự phát minh của khoa học, kỷ thuật là để phục vụ con người đối với thế giới vật chất để có cuộc sống dễ dàng, tiện nghi và đưa con người gần gủi với nhau hơn. Thí dụ khi các khoa học gia khám phá và phóng những vệ tinh vào quỷ đạo của địa cầu nên ngày nay ai ai cũng có điện thoại di động, có thể xem trực tiếp truyền hình trận đá banh vô địch thế giới trên TV ở bất cứ nơi nào. Chẳng hạn có một vị bác sĩ trước khi cho thuốc thì phải suy tư, thẩm xét để suy tìm ra căn bệnh của thân chủ mình do vậy chính vị bác sĩ này hằng ngày đã vô tình vào thiền định rất nhiều lần mà không hề hay biết. Một học sinh đang suy nghĩ để tìm cách giải một phương trình toán học, một bà nội trợ đang suy nghĩ phải nấu món ăn gì cho bửa cơm gia đình tối nay. Tóm lại thiền là sự tư duy, quán chiếu để thấu biết rốt ráo một đối tượng nào.

    Tu thiền trong Phật giáo cũng vậy, nhưng thay vì tư duy, quán chiếu để tìm những phát minh cho thế giới vật chất thì hành giả xoay ngược vào tâm để thấy biết con người thật của mình. Có vào trong thiền định hành giả mới có thể thật sự sống trong tỉnh thức của tánh giác của mình để biết thấu suốt thế gian là vô thường, khổ, không và bất tịnh. Cho dù hành giả tu theo thiền Tứ Niệm Xứ (thiền minh sát,), tổ sư thiền (Như Lai thanh tịnh thiền) thì cứu cánh tối hậu vẫn là phát minh về mặt trí tuệ. Cũng như nếu một khoa học gia cả đời tận tụy nghiên cứu mà cuối cùng không tìm ra được một phát minh nào thì sự nghiên cứu kia cũng không đến đâu cả, không có lợi ích gì cho mình và cho đời. Do đó dựa theo tinh thần đạo Phật thì thiền định phải phát sinh trí tuệ để nhận biết thấu suốt thật tướng của nhân sinh vũ trụ. Tâm của chúng sinh ví như ngọn đèn vốn sáng tỏ, nhưng vì gió vọng trần lay động làm ánh sáng lý trí bị lu mờ. Bây giờ nếu đi vào thiền định ví cũng như chụp cái bóng che gió vào thì ngọn đèn tâm bây giờ sẽ bừng sáng tức là có định thì trí tuệ sẽ phát sinh.

    Bây giờ dưới cái nhìn của Phật giáo nguyên thủy thì tam pháp ấn “Vô thường, khổ, vô ngã” là những chất liệu chính để giúp họ vượt thoát ra khỏi sinh tử mà đạt đến cứu cánh tột đỉnh là thanh tịnh Niết bàn. Họ dùng “Tích không quán” để quán rằng thế gian vô thường, tứ đại khổ, không và ngũ uẩn vô ngã (ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức của đại thừa và cũng chính là thân, thọ, tâm, pháp của tiểu thừa) nên thế gian vạn pháp dưới ánh mắt của họ không có gì đáng quý, không có gì đáng tham luyến, say mê, không có gì đáng giữ gìn, bảo thủ ngay cả tấm thân tứ đại của họ. Do đó cái “không” của hàng Thanh văn là vạn pháp không tồn tại, trường cửu, không bền không chắc của sự vô thường nên họ chứng được ngã không. Nói cách khác đối với sự vật hiện tượng của thế giới hữu vi như trời trăng mây nước, chim bay cá lặn thì không có vật gì thoát khỏi luật vô thường nên tất cả vạn pháp trong thế gian dưới ánh mắt của họ thì tât cả đều là không. Vì vậy “ngã không” ở đây chính là nhất thiết pháp vô ngã. Vô ngã nghĩa là vạn pháp ngay cả tấm thân của họ không có tự thể cố định, trường tồn, vĩnh cửu bởi vì chữ “ngã” trong đạo Phật là tự tại, thường nhất, bất biến mà vạn pháp trong thế gian nầy không có cái gì là bất biến, thường nhất, cố định cả. Khi đạt được chân lý ngã không thì các vị trở thành bậc A la hán.

    Vậy tư tưởng đại thừa về chữ “không” như thế nào?

    Đối với Bồ tát thì chẳng những họ thấy thế giới vạn pháp là vô thường, ngã không và khổ như các vị Thanh văn mà Bồ tát còn thấy thực tướng của vạn pháp là vô tướng. Thế nào là vô tướng? Vô tướng dưới cái nhìn của Bồ tát là thế giới vạn pháp là huyễn hóa, không thật, tuy có mà như không. Đó chính là “đương thể tức không” nghĩa là vạn pháp tuy sờ sờ ra đó, nhưng tâm Bồ tát không chấp cái có của nó nên tuy có mà vẫn như không. Do đó cái khác biệt của Bồ tát là thấy cả “ngã không và pháp không” chứ không nhất thiết chỉ biết ngã không như các vị A la hán. Vì thế tư tưởng đại thừa là “vạn pháp giai không, duyên sanh như huyễn” nên không chấp vào sự hiện hữu của thế gian vũ trụ nghĩa là tuy vạn pháp có đó mà trong tâm vẫn cứ như không. Vì không chấp nên Bồ tát không cần xa lánh thế gian mà vẫn không hề bị thế gian đắm nhiễm, tâm hằng tự tại, thanh tịnh niết bàn. Thí dụ các vị Thanh văn thấy con người sinh ra rồi già yếu, bệnh tật và sau cùng là chết nên các vị ấy sợ sinh tử, chán ngán cuộc đời. Ngược lại đối với Bồ tát quán pháp vô sanh nghĩa là khi tư duy quán chiếu để nhìn vạn pháp vô sanh thì cũng có nghĩa là nhìn vạn pháp vô diệt. Thí dụ khi nhìn một nụ hoa thì làm sao biết được tánh vô sanh của nó? Khi nhìn đóa hoa mới nở thì chắc chắn là nụ hoa sanh và vài tuần sau, hoa tàn thì nói rằng nụ hoa diệt. Nhưng đây chỉ là cái nhìn thiển cận của phàm nhân, còn cái nhìn của Bồ-tát ngộ được vô sanh là ngay trong lúc nụ hoa mới nở thì cái sinh đã có diệt trong đó rồi. Ngược lại trong lúc nó tàn úa thì các vị Bồ-tát lại nhìn cái diệt là bắt nguồn cho cái sinh khác. Đó là hiện tượng quy về bản thể và bản thể duyên khởi thành ra hiện tượng cho nên có cái gì là thật sinh hay cái gì là thật diệt đâu. Nói cách khác sinh để rồi diệt, diệt rồi lại sinh, sinh sinh diệt diệt vô cùng vô tận nên sinh diệt, sống chết là chuyện thường, chẳng có gì quan trọng nên không còn lo sợ, khổ đau. Chúng sinh khi thấy mình già yếu, bệnh tật thì đau khổ buồn phiền. Ngược lại, đối với Bồ-tát sống chết là chuyện bình thường, tử sanh là trò dâu biển nằm trong chu kỳ bất biến tùy duyên rồi tùy duyên bất biến thế thôi. Vì vậy với tuệ nhãn của Bồ-tát hay Phật nhãn của chư Phật thì nhìn vạn pháp sanh mà không thật sanh và diệt nhưng không phải là mất hẳn nghĩa là sinh để rồi diệt và diệt rồi để lại sanh, sinh sinh diệt diệt vô cùng vô tận.

    Tóm lại dưới nhãn thức của tiểu thừa thì cuộc đời vô thường, hoại diệt, nay có mai không nên họ cố tu để chứng đắc Niết bàn, giải thoát sinh tử luân hồi. Ngược lại dưới tuệ nhãn của Bồ tát thì vạn pháp giai không nghĩa là thế gian vũ trụ tuy có mà vẫn như không, sinh rồi lại diệt, diệt để rồi sinh vô cùng vô tận. Không sợ sinh tử nên họ sống an vui tự tại, không chấp có chấp không nên lòng họ không tham luyến. Khi biết hóa giải hết tham đắm dục tình (tập đế hay thập triền thập sử) nghĩa là không còn dính mắc thì tâm hằng thanh tịnh, Phật tánh hiển bày mà không cầu chứng đắc gì hết. Do đó người tu theo đại thừa thì không có vấn đề chứng đắc là ở chỗ này vì còn ý niệm chứng đắc cho dù là vi tế thì tâm vẫn còn tham tức là chưa dứt được thập sử vậy.

    Có người tu thiền cố ngồi suy tư quán chiếu để biến tất cả thế gian thành ra không thì đây không phải là thiền của Phật giáo, càng tu càng khổ càng mê muội. Thế gian, nhà cửa, xe cộ, nam thanh nữ tú sờ sờ ở đó mà quán thành không, chẳng còn gì hết thì thế gian còn cái gì để sống, để tu. Cái không của nhà Phật là “không chẳng khác sắc” nghĩa là “không là sắc và sắc là không”. Nói cách khác tất cả mọi vật thể trong thế gian này dù to lớn như mặt trời, mặt trăng hay nhỏ như hạt cát như vi trần đều do duyên khởi tác tạo mà thành chớ không vật nào tự nó sinh khởi hay tồn tại được cho nên vật thể là vô ngã, không có tự thể nên tuy là có, là thấy sờ sờ ở đó nhưng một ngày nào đó nó sẽ bị biến hóa, tiêu hoại nên gọi là không. Vì thế cái không của Phật giáo là không tham đắm, si mê, không chấp thủ chạy theo hình sắc sinh diệt chớ không phải dùng thần thông hay quán làm biến đi tất cả. Ngày xưa Đức Phật cũng sống trong cái thế giới có đầy đủ vật chất như chúng ta hiện nay, nhưng dưới mắt của người giải thoát giác ngộ là tuy có nhưng tất cả đều là không nên Ngài không dính mắc vào bất cứ cái gì ngay cả Bồ Đề, Niết Bàn. Vì vậy chán cái khổ vì có nên cố tìm cầu cái không thì kết quả cũng khổ như nhau tức là vẫn còn chấp bên này bên kia, chưa tự tại.

    Trí tuệ của chúng sinh là thật tánh để có khả năng trực nhận chân lý mà Tự tánh thanh tịnh hay Phật Tánh là có sẵn trong tất cả mọi người. Tự tánh luôn vắng lặng thanh tịnh thì cần gì phải chứng đắc Niết bàn. Bồ-đề, Phật Tánh là có sẳn chớ đâu phải tu hành đắc đạo mới có. Khi mê vọng điên đảo thì không biết mình có Phật Tánh thanh tịnh. Lúc thức tỉnh thì nó hiện ra cũng như trong túi luôn có viên ngọc quý Ma ni mà không biết, chỉ cần thò tay vô lấy thì sẽ hết nghèo đói, điên đảo khổ đau ngay. Trong tánh Không tức là Tự Tánh thanh tịnh bản nhiên thì không có trí tuệ hay chứng đắc gì cả. Vì thế Tâm Kinh mới có câu : ”Vô trí diệc vô đắc” và “Dĩ vô sở đắc cố” là vậy. Trong Chân Không Diệu Tánh, Phật Tánh thì luôn sẳn có cho nên chứng đắc chỉ là cách nói, là giả danh để tìm thấy được con người thật tức là Bản Lai Diện Mục của mình mà thôi.

    Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật Thích Ca dạy rằng “Như Lai không chứng đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác gì cả”. Sở dĩ Ngài không chứng mà thế gian đều tôn trọng Ngài là vì Như Lai không có tướng ngã, không có tướng nhơn, không có tướng chúng sinh và cũng không có tướng thọ giả. Như Lai nhìn vạn pháp đều bình đẳng không thương, không ghét, không giận không hờn, không thiên không vị. Và Như Lai luôn sống trong thiện pháp chớ không lọt vào trong qũy đạo của ác pháp cho nên người đời gọi Như Lai chứng quả Vô thượng Bồ-đề chớ thật ra Như Lai có chứng đắc gì đâu. Tuy Như Lai nói không chứng đắc mà thật ra Như Lai có chứng đắc. Cái chứng đắc nầy là vô thực và vô hư tức là không phải thật và cũng không phải là không. Tại sao không là thật? Bởi vì cái mà Như Lai chứng đắc thì không có hình tướng, không có màu sắc, không có kích thước, nặng nhẹ, không có văn tự ngôn ngữ để diễn tả. Thế thì cái mà Như lai chứng đắc là không thật có. Nhưng nếu không thật thì phải là hư. Vậy mà cái quả chứng đắc của Như Lai lại là vô hư. Tại sao? Là vì Như Lai có đầy đủ trí tuệ để nhận thức chân lý hoàn toàn đúng, đúng theo tự tánh Bồ-đề và tự tánh thanh tịnh Niết bàn của sự vật hiện tượng, đúng theo Thật Tánh của con người, đúng theo Pháp Tánh của vạn pháp cho nên Như Lai không bao giờ có vô minh phiền não khổ đau, tâm luôn thường trụ Niết bàn. Thế thì quả chứng đắc chính là vô hư tức là không phải là không có. Cho nên Tâm Kinh mới có câu : ”Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” có nghĩa là Có tức là Không và Không mới chính là Có vậy.

    Tu hành trong Phật giáo thì gọi là hồi đầu thị ngạn. Vì sao? Phật ví như người đã ở trên bờ còn phàm phu chúng sinh thì vốn cũng đã ở trên bờ như Phật nhưng họ vì sự tham đắm sắc dục và vô minh che lấp trí tuệ nên đã lên thuyền vượt ra biển cả mênh mông mà phải bị sóng dập gió biển trùng trùng. Bây giờ nếu nghe lời Phật dạy, nương theo chánh pháp mà chịu quay thuyền trở lại thì cũng có thể lên bờ và được an vui tự tại như Phật. Đó chính là hồi đầu thị ngạn tức là có hồi thuyền mới có ngày đến bến. Người học Phật nếu thấu hiểu đạo lý nầy để cảm nhận được chân lý huyền diệu của Thế Tôn mà không rơi vào mê tín dị đoan. Tuy Phật và Bồ-tát thương tất cả chúng sinh như con một của các Ngài, nhưng chính chúng sinh phải tự mình thức tỉnh và biết áp dụng những chân lý nhiệm mầu của Phật. Đó chính là ba từng kinh điển giáo pháp. Đừng hiểu lầm chỉ đường để chúng sinh quay về bờ không có nghĩa là Phật ra biển đưa chúng sinh về bờ mà chúng sinh phải tự mình chèo lái dựa theo tấm hải đồ mà Đức Phật đã ban cho. Nói một cách khác là Phật không độ hiểu theo nghĩa cầu nguyện, cúng lạy cho ai hết mà Phật chỉ độ hiểu theo nghĩa y giáo phụng hành mà thôi. Chèo nhanh, chèo chậm là tùy theo căn cơ, sở nguyện của chúng sinh, nhưng hễ có chèo là có ngày đến bến. Tóm lại quả vị vô thượng Bồ-đề không phải dành riêng cho Như Lai, nếu tất cả chúng sinh chịu hướng về với tự tánh thanh tịnh tức là Phật tánh của mình thì sẽ có Bồ-đề ngay.

    Vì thế tất cả trăm vạn phương tiện của Phật giáo cũng không ngoài mục đích giúp chúng sinh hồi đầu thị ngạn để quay thuyền trở lại bến xưa mà sống với chơn tâm, Phật tánh thanh tịnh thường hằng sáng suốt trong ta. Thuyền về lại bến xưa thì chơn tâm hiển bày, Phật tánh biểu lộ và từ đây chúng sinh sẽ sống rất sáng suốt thanh tịnh an bình đầy phúc lạc.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

    Lê Sỹ Minh Tùng

    Liên đài thanh khiết phủ màu quan
    Hoa vườn tịnh độ chẳng khó sang
    Tiên nga vũ khúc thiên thủ nhãn
    Tử báo ơn trời, vạn pháp an !

  2. #2

    Mặc định

    "Sắc – Không" trong Tâm kinh qua Trí Tuệ Bát Nhã

    Thích Minh Đức

    Sắc thân, cảnh vật, cảm xúc, nhận thức, suy tư và phân biệt chỉ có trong một giai đoạn nào đó của hợp duyên qua lộ trình nhân quả sinh trụ dị diệt mà thôi nên gọi là không thực ngã, không thực tánh.

    Trên đỉnh cao của tâm thức suy tư quán triệt về thân phận con người và thế giới ngoại tại vẫn còn triền miên mỗi ngày càng mở rộng, mỗi ngày một khám phá mới.

    Nhận thức xưa nay về con người qua cái nhìn tổng thể, như một tổng hợp của "ngũ uẩn" (sắc thọ tưởng hành thức). Sắc như thế giới ngoại tại và tự thân con người bao gồm đất nước gió lữa không, còn thọ tưởng hành thức như tính sinh động con người gồm buồn vui, tư tưởng, vận hành tâm tư và nhận thức.

    Khi còn nhận thức trong thế giới đối đải có không, sanh diệt, dơ sạch, tăng giảm v.v. . là còn sống trong khổ dau muôn màu.

    Vậy nhận thức như thế nào về có và không để nhận diện và vượt qua khổ ách trùng trùng miên viễn hiện hữu trên hành tinh này ?

    Vô thường là lẽ hiển nhiên : con người sanh lão bệnh tử. Thế giới chung quanh và vạn vật thành trụ hoại không hay sanh trụ dị diệt . Tất cả đều theo diễn biến bởi duyên mà thay đổi theo định luật nhân quả nên con người hiện hữu theo nghiệp lực ở trong giai đoạn định hạn của chu trình nhân quả qua hợp duyên, nên không có thực ngã còn gọi là vô ngã, cũng thế ở thọ tưởng hành thức sinh động phát khởi cũng không có thực tánh.

    Ngài Quan Thế Âm tham thiền thẩm thầu phát sinh trí tuệ nhận thức chính thân này do hợp duyên và cảm xúc, tư tưởng, hành hoạt tâm tư cùng nhận thức cũng theo một tiến trình bởi nhân quả duyên sanh nên Ngài vượt qua uẩn khúc của có và không.

    Thể nghiệm tự thể bản Tâm kinh đã chứng minh hùng hồn, từ hạ tầng đến thượng tầng của cảnh vật và tâm thức qua lộ trình chứng nghiệm rất rõ ràng :

    Sắc thân, cảnh vật, cảm xúc, nhận thức, suy tư và phân biệt chỉ có trong một giai đoạn nào đó của hợp duyên qua lộ trình nhân quả sinh trụ dị diệt mà thôi nên gọi là không thực ngã, không thực tánh.

    Ranh giới và định vị của mắt tai mũi lưỡi thân nhận thức tiếp xúc cảnh vật, âm thanh, hương vị, chạm xúc, cảnh tượng phát sinh phân biệt của sáu thức cũng trong chu trình giai đoạn bởi duyên sinh nên có hạn định, nên gọi không thực thể, không thực tánh.

    Biến chuyển thay đổi yếu tố và diều kiện của mỗi vật thể đều có tương quan tương duyên tương tức lẫn nhau cái này có trong cái kia trong trắng có đen trong đen có trắng, trong tăng có giảm, trong sinh có diệt, trong sạch có dơ hoặc ngược lại. Sự tương duyên tương sinh tương tức này qua lộ trình thành trụ hoại không, nên gọi là không thực thể, không thực tướng.

    Tứ Đế là đạo lý căn bản khổ tập diệt đạo nghe mà ngộ đạo của hàng Thanh văn : đây là khổ, đây là nguyên nhân gây ra đau khổ của con người, để thăng tiến qua đoạn đường trầm luân này Tứ Đế đưa ra niềm an vui cảnh giải thoát cần phải hành trì để đạt đến an lạc thật sự. Kinh Pháp Hoa ví đây là phương tiện huyền xão, vậy đạt rồi thì không bám víu.

    Thập nhị nhân duyên là giáo lý cho hàng Duyên Giác nghe mà tự quán triệt từ vô minh đến sinh lão tử diệt là bước tiến không dừng chân, bởi đây là duyên khởi hay duyên diệt nên quá trình tu tập còn vi tế pháp chấp cũng cần cỡi bỏ vượt qua.

    Con đường Lục độ, Trí huệ cuối cùng để đạt được là lý tưởng của Bồ tát đạo qua một quá trình tới đỉnh để vượt qua, chỉ còn nhảy hay phóng khỏi đỉnh của Trí huệ để về được đến Nhà.

    Thong dong tự tại trên thuyền Bát nhã quán sát không thời gian ảnh hiện không có thực tánh toàn triệt mà đợi chờ rơi rụng không e dè hay ngại ngùn đến khi công thành danh toại dù phải đợi chờ đến khi Phật Di Lặc ra đời dưới cội Long Hoa cũng nên đợi chờ, còn không thì im lặng mĩm cười như đức Thế Tôn giơ cành hoa sen mà trong đạo tràng hội Linh sơn không một ai hiểu chỉ trừ ngài Ca Diếp thấu triệt mĩm cười : "Phật yên lặng trao y bát pháp tạng cho Ngàỉ".

    Quá siêu việt nên ví như thần chú lớn cho hành giả mới phát tâm bồ tát mà giữ tâm không cho vọng tưởng điên đảo thất thoái đạo nghiệp. Ví như bản văn trong sáng cho hành giả nghe pháp căn bản hướng đến an vui giải thoát. Ví như pháp tu cao cả khi quán triệt toàn thể pháp duyên sinh hướng đến an vui giải thoát tự thân và ví như sự im lặng không còn gì để so sánh như bậc Bồ tát thệ nguyện chưa độ hết chúng sanh thệ không thành Phật như Bồ tát Địa Tạng hay lòng từ bi lớn của Bồ tát Quan âm lắng nghe cứu khổ chúng sanh.

    Chỉ khi nào nhận thức "Tánh Không" toàn triệt thì mới thật hết khổ :

    "Là lời chân thật không ngoa

    Hãy nghe rõ hãy nghĩ xa không này

    Hãy hành pháp tạng không đây

    Hãy cùng thể nghiệm không này vượt qua"


    http://www.daophatngaynay.com/vn/pha...e-Bat-Nha.html

    Liên đài thanh khiết phủ màu quan
    Hoa vườn tịnh độ chẳng khó sang
    Tiên nga vũ khúc thiên thủ nhãn
    Tử báo ơn trời, vạn pháp an !

  3. #3

    Mặc định

    KHÔNG=TẬP HỢP NHỮNG TẬP TIN RỖNG MÀ TRONG ĐÓ CÓ CÁC CẶP ĐỐI TRỊ NGƯỢC HƯỚNG NHAU. CHÚNG NÓ LIÊN KẾT NHAU, ĐẤU ĐÁ NHAU, TRIỆT TIÊU NHAU,...MÀ THÀNH CÓ.
    HI!

  4. #4
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Chữ KHÔNG này, phải được hiểu rằng: các pháp do duyên sanh, nên không có thực tướng của chính nó. Chứ không có nghĩa là "không có gì cả", không có thực. Đây cũng là tinh yếu trong toàn hệ thống Bát Nhã.

    Tuy nhiên, tôi có sự nghi ngờ về giai thoại bên trên. Theo thiển ý cá nhân của tôi, câu chuyện NIÊM HOA VI TIẾU của Trung Hoa là một câu chuyện lừa bịp để cho phật tử Á châu đều qui ngưỡng về TÀU. Câu chuyện muốn chứng tỏ rằng "Giáo Pháp nhãn tạng” của Phật đã được rinh hết về TÀU. Đó cũng do cái tinh thần bá quyền muốn dùng tôn giáo như một "sức mạnh mềm" để chinh phục thiên hạ. Các đế quốc Tây phương cũng đã xử dụng Kitô giáo để đi xâm lăng các thuộc địa cũng cùng một chiến thuật như vậy.

    Nói tóm lại, đạo Phật là ĐẠO TRÍ TUỆ mở rộng ra cho tất cả chúng sanh (mà Đức Phật gọi là bàn tay ngữa-không có gì giấu diếm) chứ không phải là một môn phái võ lâm mà có sự truyền thừa. Biết đâu để chấm dứt tệ nạn này mà LỤC TỔ đã ra đời để chấm dứt sự truyền y bát của Thiền Tông? Để ý rằng LỤC TỔ không chứng đạo từ NGỦ TỔ mà ngài đã chứng đạo trước rồi (qua kinh Kim Cang), trước khi đến với NGỦ TỔ để nhận y bát, rồi sau đó chấm dứt sự trao truyền.

    Đã là ĐẠO TRÍ TUỆ thì phải như KHOA HỌC, khi lý thuyết đã trình bày ra đầy đủ, thì bất cứ ai, ở bất cứ phương trời góc bể nào, đều có thể theo đó mà trở thành bác học một cách bình đẳng như nhau.
    Đó chính là lý do Đức Phật đã nhấn mạnh: "Các Thầy hãy tự thắp đuốc lên mà đi với chánh pháp, không nương tựa vào một ai khác, một nơi nào khác, ngoài các Thầy". Trong đoạn kinh sau đây Đức Phật còn khẳng định rằng: Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: "Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta". Như vậy thì làm sao có chuyện ngài trao lại y bát cho ai làm giáo chủ.

    Nhân tiện tôi cũng xin đưa ra sự so sánh giữa VÔ NIỆM của TỔ SƯ THIỀN (thiền công án), VÔ NIỆM của LỤC TỔ và CHÁNH NIỆM của thiền TỨ NIỆM XỨ.

    1) VÔ NIỆM của thiền công án hay tổ sư thiền là không cho niệm sinh ra. Vì họ cho rằng có niệm sinh ra là rơi vào tri kiến, là rớt vào nhị biên. Tu như vậy tôi không biết khi họ đạt được VÔ NIỆM như họ muốn, thì họ có biết VÔ NIỆM hay không? Nếu biết, thì chẳng còn VÔ NIỆM, nếu không biết thì vẫn còn VÔ MINH.

    2) VÔ NIỆM của LỤC TỔ là "ở trong niệm mà không niệm" (lời nguyên văn trong kinh Pháp bảo đàn của LỤC TỔ). Nói như vậy có nghĩa là vẫn có niệm mà chỉ "vô trụ" (không dính) với niệm sinh ra. Đó là đúng theo ý nghĩa "ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Tức tâm không có chủ trương gì với niệm sinh ra cả.

    3) CHÁNH NIỆM trong TỨ NIỆM XỨ với đơn cử ví dụ này: "Khi tâm tham nổi lên, tuệ tri (biết) tâm tham nổi lên. Khi tâm sân nổi lên, tuệ tri (biết) tâm sân nổi lên". Như thế cũng có nghĩa là không chủ trương ngăn chận (tâm) niệm sinh ra, nhưng cũng chẳng dính mắc (attached) với các niệm nổi lên, vì chỉ "tuệ tri" chúng một cách khách quan.

    Như vậy thì cái VÔ NIỆM của LỤC TỔ thật ra là CHÁNH NIỆM của Phật. Nhưng chẳng qua vì LỤC TỔ sinh ra trong cái xã hội VÔ NIỆM của tổ sư thiền, nên ngài phải dùng ngôn ngữ của họ đó thôi, Chứ thật ra VÔ NIỆM của LỤC TỔ chẳng chủ trương dẹp bỏ niệm (tri kiến) như TỔ SƯ THIỀN. Còn với CHÁNH NIỆM của TỨ NIỆM XỨ, thì khi Phật đã dạy chỉ "TUỆ TRI" mà thôi, thì có nghĩa là khách quan với những gì xảy ra, tức cũng chẳng dính mắc với niệm khởi.

    Nói một cách chính xác, Phật dạy pháp thiền TỨ NIỆM XỨ là để thường trực sống trong CHÁNH NIỆM tức là luôn luôn sống trong sự TỈNH THỨC của GIÁC TRI. Sống như vậy là thường trực tĩnh lặng "TUỆ TRI" trên chính mình. Có như thế CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY mới càng ngày càng phát triển để VÔ MINH càng ngày càng tan biến. Có như thế mới đến một ngày khi thực tướng VÔ NGÃ của ta và KHÔNG TÁNH của tất cả các pháp hoàn toàn được phơi bày, thì đó là lúc chấm dứt "mọi khổ đau ách nạn" (kinh Bát Nhã). Vì lúc đó vô minh chấp ngã không còn nữa.

    Pháp tu như thế mới xứng danh là của ĐẠO TRÍ TUỆ, của một bậc "CHÁNH BIẾN TRI". Chứ không phải tu để đi đến cái tâm "VÔ PHÂN BIỆT" chẳng biết mình đã giác ngộ hay còn vô minh?

  5. #5

    Mặc định

    @smc : Chứ không phải tu để đi đến cái tâm "VÔ PHÂN BIỆT" chẳng biết mình đã giác ngộ hay còn vô minh? >>>>> đi tới chỗ này rồi mới nói nha khoan hãy nói sớm trước .
    Ta bà du hý.

  6. #6
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Ghann Xem Bài Gởi
    @smc : Chứ không phải tu để đi đến cái tâm "VÔ PHÂN BIỆT" chẳng biết mình đã giác ngộ hay còn vô minh? >>>>> đi tới chỗ này rồi mới nói nha khoan hãy nói sớm trước .
    - Phiền đạo hữu:
    1- Đọc lại toàn bộ bài post của tôi
    2- Tư duy, thiền định ý tôi muốn nói

    ===> Tôi không hiểu ý đạo hữu muốn nói gì. Và tôi thực tri rằng đạo hữu không hiểu đúng nghĩa cái câu đạo hữu đã trích dẫn.

    Thân. Chúc an lạc. Mong hoan hỹ !

  7. #7

    Mặc định

    Đức Phật nói " những kẻ hủy hoại giáo pháp của Như Lai sau này ko ai khác hơn là những môn đồ Phật Giáo "
    https://youtube.com/@ngodaohuy

  8. #8
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi binhthuongtam Xem Bài Gởi
    Đức Phật nói " những kẻ hủy hoại giáo pháp của Như Lai sau này ko ai khác hơn là những môn đồ Phật Giáo "
    - Xin cho biết kim ngôn Đức Phật nói câu này trong kinh nào ạ ?

  9. #9

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi smc Xem Bài Gởi
    - Xin cho biết kim ngôn Đức Phật nói câu này trong kinh nào ạ ?
    “Trong giấc mơ thứ bảy, con nhìn thấy cái chết của con sư tử, chúa sơn lâm. Những cánh hoa quý rơi trên xác con sư tử nhưng muôn thú lại sợ hãi bỏ chạy. Không lâu sau, các con bọ xuất hiện bên trong cái xác và ăn thịt nó. Điều này ngụ ý rằng không ngoại đạo phá hoại Phật Pháp. Chỉ có các đệ tử của ta, cả những phật tử tại gia và người xuất gia mới có thể là nguyên nhân làm huỷ hoại Pháp này.”

    Trích câu truyện 7 giấc mơ của ngài Anan

  10. #10

    Mặc định

    @smc

    1 tôi đã đọc

    2 là vầy .

    bỏ qua thanh văn duyên giác gì đó . Con đường này chỉ có thực hành , đi tới nơi mà các vị trước đã tới . chỗ họ tới họ miễn cưỡng dùng từ để ghi lại cho hậu thế, hậu thế có đi tới cùng nơi sẽ cùng 1 cái chứng thực như nhau . " tâm truyen tâm "

    không dùng tư duy vì tư duy sẽ dẫn đến suy diễn , đặc biệt không dùng trực giác , trực giác chỉ ngay chỗ mình đang tìm tới nhưng khi tâm và trực giác đồng hành nó tạo ra cái gọi là chấp trước - đây là chỗ là tôi muốn nói - vì trực giác và tâm tạo ra 1 đích đến , nó đồng thời tạo ra 1 sự mong cầu , nôn nóng nên càng muốn nhanh thì càng chậm - đi để mà đi không mong cầu đến nhanh hay chậm . đúng, sai biết bỏ qua mới thực hành được . Có thực hành có kết quả .

    Những điều này có đôi lúc đọc khó hiểu bởi vậy mong đọc chữ hiểu ý chứ không phải hiểu nghĩa .
    Ta bà du hý.

  11. #11

    Mặc định

    @Giga , Phật giáo hay chánh pháp mà phật Thích ca chỉ điểm rồi sẽ mất nhưng sau đó sẽ có người tìm lại và nói lại con đường diệt khổ như phật thích ca từng làm . Chính trong vệ đà đã chỉ rõ con đường giải thoát và cũng đã tàn lụi và biến tướng nên hãy " nhìn cái trước mà hiểu cái hiện tại "

    Vậy nên hãy dành thời gian thực hành nếu bạn là người đã chọn con đường của mình đừng mơ mộng nữa . nhé
    Ta bà du hý.

  12. #12

    Mặc định

    ....................tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố vô hữu khủng bố; viễn ly điên đảo mộng tưởng; cứu cánh niết bàn, tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

    Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

    Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha.

    trich : TÂM KINH BÁT NHÃ

    Liên đài thanh khiết phủ màu quan
    Hoa vườn tịnh độ chẳng khó sang
    Tiên nga vũ khúc thiên thủ nhãn
    Tử báo ơn trời, vạn pháp an !

  13. #13

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Giga Xem Bài Gởi
    “Trong giấc mơ thứ bảy, con nhìn thấy cái chết của con sư tử, chúa sơn lâm. Những cánh hoa quý rơi trên xác con sư tử nhưng muôn thú lại sợ hãi bỏ chạy. Không lâu sau, các con bọ xuất hiện bên trong cái xác và ăn thịt nó. Điều này ngụ ý rằng không ngoại đạo phá hoại Phật Pháp. Chỉ có các đệ tử của ta, cả những phật tử tại gia và người xuất gia mới có thể là nguyên nhân làm huỷ hoại Pháp này.”

    Trích câu truyện 7 giấc mơ của ngài Anan
    Đúng rooooài. ....
    https://youtube.com/@ngodaohuy

  14. #14

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi lienhoatientu Xem Bài Gởi
    ....................tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố vô hữu khủng bố; viễn ly điên đảo mộng tưởng; cứu cánh niết bàn, tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

    Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

    Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha.

    trich : TÂM KINH BÁT NHÃ
    Trích dẫn hết hoặc một đoạn ......
    https://youtube.com/@ngodaohuy

  15. #15
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Giga Xem Bài Gởi
    “Trong giấc mơ thứ bảy, con nhìn thấy cái chết của con sư tử, chúa sơn lâm. Những cánh hoa quý rơi trên xác con sư tử nhưng muôn thú lại sợ hãi bỏ chạy. Không lâu sau, các con bọ xuất hiện bên trong cái xác và ăn thịt nó. Điều này ngụ ý rằng không ngoại đạo phá hoại Phật Pháp. Chỉ có các đệ tử của ta, cả những phật tử tại gia và người xuất gia mới có thể là nguyên nhân làm huỷ hoại Pháp này.”

    Trích câu truyện 7 giấc mơ của ngài Anan
    Đặc biệt trong giấc mơ thứ 7 “các con bọ bắt đầu xuất hiện và ăn thịt cái xác”, đã nói trước về tình trạng của các đệ tử Phật Giáo thời Mạt Pháp. Họ không còn đi theo Phật Giáo để tu luyện, coi thường giới luật, chạy theo danh và lợi, và dần dần huỷ hoại Phật Giáo từ bên trong. Trong khi lớp vỏ của Phật Giáo vẫn còn tồn tại, thực tế thì bản chất của nó đã mục ruỗng cả rồi! Chính vì thế, nó không còn sức mạnh để cứu độ con người.

    ===> Vâng, đây là nguyên nhân dẫn đến sự tàn lụi của giáo pháp chân chính của Như Lai.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 24-05-2015, 10:54 PM
  2. Vụ mất tích bí ẩn trong “không gian 4 chiều”
    By Dieudiem in forum Văn Hóa - Phong Tục - Lễ Hội
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 14-10-2012, 01:52 PM
  3. Xôn xao những động vật “khủng” ở Việt Nam
    By 470525 in forum Chuyện thời sự, xã hội
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 25-09-2011, 07:58 PM
  4. Nhà gỗ nào “khủng” nhất miền Bắc?
    By Bin571 in forum Phong Thủy, Địa lý
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 24-03-2011, 09:40 AM
  5. Trị bệnh bằng “khí công Hoa Sơn”
    By Bin571 in forum Khí Công, Dưỡng Sinh
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 18-10-2007, 09:16 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •