kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Tại Sao Run Sợ Trước "Cải Đạo"

  1. #1

    Smile Tại Sao Run Sợ Trước "Cải Đạo"

    Khi Nào Tăng Ni Việt Nam Có Tuyên Bố Mạnh Mẽ Chống Lại Cải Đạo ?

    Tại sao lại có câu hỏi không mấy thực tế như vậy?

    Tuyên bố mạnh mẽ, có bằng thực tế mạnh mẽ ?

    Tại sao ? cứ xúm nhau lại rầu rĩ, than van, rên rỉ .Bị cải đạo .. Bị cải đạo… Sao không thực tế lên một chút …Bị cải đạo…Bị cải đạo…Phải làm gì ?… Phải làm gì ???? có hay hơn,có thực tế hơn không ?.. Tăng Ni cứ ngồi đó, mà TUYÊN BỐ MẠNH MẼ CHỐNG LẠI CẢI ĐẠO, liệu có giúp được gì không? có ngưng được chính sách cải đạo của các tôn giáo khác không?

    Như kẻ bị mất gà, thực tế không lo rào giậu, hay đóng chuồng cho kỹ, để bảo vệ những con gà còn lại mà laị cứ ngồi đó, mà than van, rên rỉ thì có ích gì.Càng than van càng mất ,càng ngớ ngẩn càng mất …Biết bao nhiêu điều lôi thôi, mất tín nhiệm chia rẽ, thiếu tổ chức trong nôị bộ, làm tứ chúng chán nản, phân ly,chán nản Xa rời đạo pháp, làm mồi ngon cho Cải Đạo.

    Thực tế .Hãy nhìn ngay lại những gì trong nội bộ cần sửa đổi hay chấn chỉnh lại, hãy suy xét, tìm hiểu, những lý do gì mà phật tử bị cải đạo một cách dễ dàng ,thì đấy là điều mà cần phải chấn chỉnh và sửa đổi .

    Thực tế,chỉ xin các Tăng Ni “DỜI” gót ngọc.Bước ra khỏi những ngôi chùa vĩ đại, về các ngôi chùa làng, trùng tu, kiến thiết lại những ngôi chùa làng đang bị bỏ hoang, xuống cấp trầm trọng.

    -Bầu ban trị sự để gìn giử bảo vệ và tu bổ chùa .

    -Tổ chức thuyết pháp vào những ngày rằm và mùng một .

    (Hành trang tâm linh mang theo suốt cuộc đời của người con Phật là Tứ Diệu Đế , Bát Chánh Đạo, Thập nhị Nhân duyên và năm giới cấm. Nếu như một đứa trẻ, cho đến các cụ già mà thuộc nằm lòng Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên và thực hành năm giới cấm ,thì thách đố bất cứ tôn giáo nào có thể cải đạo được họ. Một lá bùa tâm linh hộ mạng, linh nghiệm quý giá nhất.Một sự gìn giữ vững chãi đạo đức hiền lương và yên bình trên đường đời của họ.Không biết ngày nay, những người con Phật ở VN có bao nhiêu người thuộc nằm lòng,hiểu được. Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo,Thập Nhị Nhân Duyên và thực hành năm giới cấm của đạo phật? và câu hỏi có thể đặt cho một số tu sĩ Phật Giáo hiện đại cũng nên . Kinh Phật thì thiên trang vạn quyển .Thuyết nói bao giờ cho cạn,chi bằng trong mỗi buổi nói Pháp nên hướng dẫn Phật Tử hiểu và thuộc nằm lòng Tứ Diệu Đê, Bát Chánh Đạo,Thập Nhị Nhân Duyên và thục hành 5 giới cấm để làm kim chỉ nam, làm rường cột cho đời sống cũng như làm thành trì để bảo vệ niềm tin. Như vậy có thực tế hơn không?.

    -Tổ chức lễ quy y hàng tháng. Khuyến khích Phật tử quy y.

    -Tổ chức .Làm lễ chứng minh đám cưới tại chùa.

    (Tổ chức lễ Thành hôn tại chùa, là một hình thức giữ đạo kiên cố nhất.Khởi đầu,Chỉ với một đôi uyên ương ở hiện tại, nhưng mà là cho cả một gia đình giòng họ, hay xa hơn là cả một thế hệ trong tương lai.Do đó nghi thức thành hôn tại chùa.CẦN phải được nghiên cứu, soạn thảo, tổ chức đồng nhất, GỌN, NHANH.Không rườm rà ,câu nệ, tránh phức tạp phiền toái để có thể làm chán nản cho những người đang dự lễ,và rụt rè, e ngại cho nhửng cặp uyên ương sau này muốn vào chùa làm lễ thành hôn.Qùy trước Phật đài đôi uytên ương trao nhẫn cưới, thệ nguyện suốt đời sống với nhau trong ánh sáng từ bi của ngài,và Sư trụ trì đứng cạnh Phật đài và đôi tân hôn làm lễ chứng minh .Những nghi lễ thành hôn trong chùa như vậy . CẦN đuợc khuyến khích. CẦN phải được thực hiện một cách sốt sắng nhiệt tình, đồng nhất trong các chùa ở VN, và phải được khuyến khích tối đa như là một điều kiện ắt có, cho các phật tử khi làm lễ thành hôn . Đây là một trong nhửng thành trì quý báu để có thể một phần nào, ngăn cản được ngón đòn cải đạo qua các cuộc hôn nhân khác tôn giáo.

    Lễ cưới là một kỷ niệm đẹp, quan trọng và ghi nhớ nhất của đôi trẻ trong suốt cả cuộc đời,nếu được tổ chức trong chùa thì kết quả .

    1/ Một gia đình đạo đức dưới Giáo Lý Từ Bi của Đức Phật vừa được hình thành..

    2/ Một hy vọng họ sẽ ăn đời ở kiếp với nhau, khó bỏ nhau, mọi dị biệt nếu có sẽ được san bằng vì lời nguyện trước đức Phật khi làm lễ cưới.

    3/ Họ sẽ có một gia đình êm ấm con cháu yên vui trong niềm tin nơi Đức Phật

    4/ Nhất định họ cũng như con cháu họ sẽ khó có thể bị cải đạo.

    Có thể ,lễ cưới nơi chùa có thể còn quan trọng hơn cả lễ quy y, vì quy y chỉ là một cá nhân đơn lẻ, còn đám cưới tại chùa, tương lai còn kéo theo cả gia đình, cháu chit, họ hàng về với Phật đạo.Duy trì, bảo vệ Phật đạo cho những thế hệ tương lai.

    Chính vì sự quan trọng này, và nhờ sự quan trọng này, mà đạo Thiên chúa đã mở mang phát triển, và duy trì bành trướng khắp nơi trên thế giới .Tín hữu nào đã đưọc làm phép cưới, thì không được bỏ nhau (ly dị) không được lang chạ . Thử hỏi ai lại không muốn trai một vợ, gái chỉ một chồng, an tâm khỏi phải lo nữa ,vì đã có nhà thờ và luật phép cưới lo rồi.

    -Tổ chức thanh thiếu niên Gia đình phật tử đến chùa tu học vào những ngày cuối tuần.

    -Mở các lớp học sơ cấp cho các em trong làng.

    -Cho ban trị sự đi khắp làng, mời gọi dân làng đi lễ chùa và nghe thuyết pháp.

    -Cho các em phật tử đi dọn dẹp đường xá trong làng vào những ngày nghỉ (công tác xã hội)

    -Điều nghiên xem gia đình nào cân sự giúp đỡ vật chất , tinh thần , ma chay hay cưới hỏi thi ban trị sự chùa, cũng như sư trụ trì lên chương trình giúp đỡ.

    -Vào nghững ngày nghỉ, sư trụ trì nên đến thăm từng nhà dân trong làng thăm hỏi và khuyén khích dân làng tu học và quy y.

    -Vấn đề bầu ban trị sự để gìn giữ và bảo vệ chùa thì tối quan trọng. Xin đề nghị. Trong mỗi chùa, nên có một chức vụ THẦN HỘ PHÁP do một cư sĩ phật tử nắm giữ . Đại diện và dưới quyền Sư trụ trì. Vị Thần hộ pháp này có nhiệm vụ.

    1/ Cai quản coi sóc tu bổ sự hư hao hay trùng tu nếu có của Chùa.

    2/ Bảo vệ giữ gìn tài sản của chùa.

    3/ Liên lạc ban trị sự để tổ chức lễ hội trong chùa.

    4/ An ninh và bảo đảm cho chùa mỗi khi chùa bi xâm phạm, về vật chất cũng như sự tôn nghiêm (như xâm phạm chiếm đoạt đất đai tài sản của chùa.Buôn bán trái phép ở cổng chùa hay trong sân chùa, vào những ngày lễ, và đối phó với tệ nạn sư giả v..v) .Vào những trường hợp như vậy, Thần Hộ Pháp phải liên lạc, họp ban trị sự tìm cách đối phó, như mời ban đại diện và các Phật tử đến gặp các đối tượng, phân trần phải trái trong ôn hoà. cho các đối tượng hiểu để giải quyết êm đẹp vấn đề. Còn như nếu gặp các đối tượng hung dữ, thì Thần Hộ Pháp đại diện chùa đành miễn cưỡng nhờ đến công an điạ phương giúp đỡ ,chứ Sư trụ trì hoàn toàn không thể làm gì hơn trong các vấn đề này được.

    Nếu tất cả những ngôi chùa làng ở Việt Nam mà thực hiện những điều thực tế nêu trên, thì thách đố bất cứ tôn giáo nào thực hiện được việc cải đạo ở VN . Mỗi ngôi chùa làng, là một pháo đài kiên cố để bảo vệ đạo Phật.Tổ tiên ta xưa, có lẽ đã lường trước được việc này, nên mỗi làng đều thiết lập một ngôi chùa ..Rất tiếc ngày nay chùa làng lại đang bị bỏ hoang hay xuống cấp một cách tệ hại, dân làng bơ vơ, không nơi nương tựa tâm linh,làm mồi ngon cho các Thánh ma cải đạo. Bỏ cả tỉ bạc ra làm thiện nguyện từ thành phố vế thôn quê,chia cho dân nghèo được vài ký gạo mấy thùng mì gói, hồ hởi xúm nhau tươi cười vui vẻ chụp hinh quay video lưu niệm, quảng cáo rồi rút êm về thành phố . Đêm xuống Ma ngoại đạo Thánh Ma đến, họ gặt hái những Linh hồn nghèo khó này đi mất, thật uổng vài ký gạo và mấy thùng mì gói.

    Bỏ cả tỉ bạc ra, xây những nôi chùa to lớn xa lắc xa lơ, khỉ ho cò gáy, đèo heo hút gió, người dân thường đâu có cơ hội nào có thể đến được để lễ Phật ,cho đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng chưa chắc. Sao không đem tiền này về ch ùa làng thân yêu gần gũi của dân, để xây dựng, để hoằng pháp dân làng, bước vài bước là đến chùa, là gặp phật, để được Phật thương yêu an uì vỗ về, bất cứ khi nào sáng trưa chiều tối ,ngay cả còn được nghe tiếng chuông chùa siêu thoát sớm hôm . Hiện thời chính sách cải đạo đang được phát động như vũ bão, ấy vậy mà các thánh ma cải đạo ít dám lởn vởn ở các làng để cải đạo. Vì họ biết làng nào cũng có chùa có Phật ở trong tâm của dân làng, nên rất khó cải đạo. Nhưng làng nào không có chùa thì họ đến ngay Đây cũng là một lý do tại sao các ông cố đạo ngày xưa,thưòng hay chiếm đất chùa để xây nhà thờ là vậy. Vừa dẹp bớt được một ngôi chùa,thêm đưọc một nhà thờ Chúa . Làng mất chùa, làng mât Phật. Dân mất chùa, dân mất Phật. Không chùa không nơi độ sinh, chùa xa vô ích, chùa gần dễ phuơng tiện, dân dễ tu ,dễ cảm hoá, dễ lưu luyến ,vì ngày nào tới lui cũng thấy chùa thấy Phật, đi xa cũng thương cũng nhớ về làng cũ, với chùa xưa, dù tha hương khất thực cũng không sao quên chùa, quên làng được .Ngày hôm nay, trên các buôn làng xa xôi miền cao, không chùa, không Phật.Dân miền núi hiền lành chất phác ngây thơ, đang bị các Thánh Ma cải đạo một cách kịch liệt, nguyên nhân chính, các buôn làng xa xôi cách biệt, không tổ chức làng xã như cư dân miền đồng bằng, nên không văn hoá,không chùa, không Phật nên dễ dàng rơi vào bẫy cải đạo một cách oan uổng.Liệu GHPGVN có thể thực hiện được mỗi bản trên vùng cao một ngôi chùa được không? dù sơ khởi chì bằng tranh tre.Giống như trồng những cây Nêu trước nhà trong những ngày tết của dân quê, với niềm tin cây nêu tượng trưng cho Phật để ma quỷ sợ hãi tránh xa, và thực tế sẽ vô hiệu hoá được cải đạo, và hy vọng mỗi ngôi chùa sẽ là một cây Nêu để bảo vệ đạo Phật VN trong tuơng lai .Một cách thành kính tri ân và ngưỡng mộ đại đức Thích Đồng Châu . Với tâm nguyện Bồ Tát, đã đơn phương vượt thắng mọi gian lao khó nhọc, tạo dựng nên ngôi chùa Di Đà ncho dân bản và trưòng học trong chùa cho các em ở vùng cao. Xin tán thán công đừc của Thầy.. Ước mong , có được vài chục vị sư có tâm nguyện Bồ tát như Thầy, chứ không dám ước đến vài trăm .Nếu có được, thì thật là đại Phúc cho PGVN Nhưng giữa thời đại này thật khó lắm thay..

    Nói dến chùa to tượng lớn xin đơn cử một trường hợp … Chùa Bái Đính … Một ngôi chùa vĩ đại,một niềm vưi sướng và rất kiêu hãnh cho người Phật tử VN ,dù đó là một ngôi chùa của tư nhân..Nhưng nhận định kỹ một chút chúng ta sẽ thấy ngôi chùa hoành tráng này chỉ có cái vỏ mà không có ruột. Không biết bây giờ ra sao, có thêm thắt được gì nữa không,chứ cứ như ngày truớc thì tôi có ý kiến như sau ..Nếu vào nhửng ngày lễ lớn của Phật Giáo, hay vào những ngày lễ tết, cở khoảng mươi ngàn người đến thăm viếng và lễ Phật. Vậy thì họ chỉ có lể Phật , thăm viếng rồi ra về, không còn gì nữa. Kết quả, họ sẽ để lại một đống rác khổng lồ kinh khủng, phóng uế bừa bãi, chưa kể xảy ra bao nhiêu chuyện chướng tai gai mắt, mà đáng lẽ ra, không thể có nơi chốn tôn nghiêm. Tại sao vậy.Chỉ vì thiếu tổ chừc ,thiếu cái ruột,nên không đem lại bất cứ một lợi ích nào cho người đến chùa, cũng như cho sự hoằng dương Phật pháp. Vào thời buổi này, muốn xậy một ngôi chùa ,ngoài những xây dựng căn bản của một ngôi chùa, xin lưu ý thêm những cơ sở sau đây .

    Thứ nhất Giảng đường đây là nơi quan trọng chỉ sau chính điện .Lấy cơ ngơi chùa Bái ĐÍnh làm tiêu chuẩn . Nếu ước lượng số người đến chùa mươi mười lăm ngàn người vào những ngày lễ lớn,thì giảng đường bắt buộc phải có sức chứa trên mười ngàn người .Sau khi lễ Phật rồi,ngưòi ta phải vân tập về đây để nghe thuyết Pháp. Trước cuộc thuyết pháp, với số đông người nghe như vậy, thì Sư trụ trì phải chuẩn bị những bài pháp, với chủ đề thật đặc biệt, và phải được thuyết giảng bởi những vị sư uyên bác về Phật Pháp, và phải có trình độ học vị cao (như Thầy Nhật Từ chẳng hạn).

    Không nên tỉ tê sầu thảm cho người nghe khóc mùi,khóc mẩn trái với giáo pháp của Phật và để thu hút,và phấn khởi, thì có thể tổ chức chương trình văn nghệ phụ diễn,sau buổi thuyết Pháp.Giảng đường này, cũng sẽ là nơi tổ chức những buổi thuyết pháp thường xuyên,thực hành thiền định, và chung nhau tu niệm phật, và sau nữa là nơi sinh hoạt , tu học cho các em gia đình Phật tử .Thứ hai. Là cơ sở dùng làm thư viện Phật giáo. Đây là nơi cho những ai, và cho nhưng Phật tử đến nghiên cứu Giáo Pháp Kinh Điển của đạo Phật qua sách vở để tu học .Thứ ba nữa là Trai đường. Đây là nơi thực tập và khuyến khích mọi ngưới ăn chay theo hạnh từ bi của nhà Phật , và bán ra với giá phải chăng. Như vậy sẽ giải quyết bớt đươc rác thải, đồ ăn thừa của mọi người đem theo khi lên chùa.Giảm bớt được hàng gánh, bán bưng, chung quanh chùa và có thể tránh được nạn treo cả con nai chết lủng lẳng, xẻo từng cân thịt bán cho khách hàng, trước cổng chùa .Như vậy sau khi lên chùa về mọi người có thể mãn nguyện, vừa được lễ Phật , được nghe Pháp , được thưởng thức chương trình văn nghệ giúp vui, được thưởng thức những món chay tịnh, lợi lạc biết bao nhiêu.

    Sau cùng là nhà vệ sinh, và thùng chứa rác, phải đầy đủ, để cung càp nhu cầu tỷ lệ cho số đông rất quan trọng .Nói chung làm sao để cho người lên chùa về có cảm giác mãn nguyện, thoải mái, và thích thú cho lần sau.

    Chung qui. Để đầy đủ, và thoả mãn cho nhu cầu hoằng Pháp lợi sinh, thì những ngôi chùa hiện nay cần phải có thêm .Giảng Đường,Trai Đường và Thư Viện thì mới mong đáp ứng trọn vẹn được nhu cầu cần thiết cho công cuộc hoằng dương Phật Pháp được.

    Viết bài này, trong khuôn khổ và lòng ước nguyện bảo vệ sự truờng tồn, và vẹn toàn cho phật giáo trong sự cải đạo ồ ạt muốn tiêu diệt Phật Giáo VN hiện nay .Giả sử việt Nam có 40 triệu người Phật tử, nếu như số người Phật tử này bị cải bỏ đạo Phật hết, thì đạo Phật VN sẽ biến mất. Như vậy có phải là tiêu diệt đạo Phật VN qua hình thức cải đạo không
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  2. #2

    Smile

    Phật ngôn ấy đã được nói ra cách đây gần ba ngàn năm nhưng giá trị minh triết của nó còn soi rọi đến tận thế kỷ văn minh ngày nay, dẫn đường cho con người biết đặt đức tin đúng chỗ, rất khoa học, hợp với chánh trí. Chỉ có đức tin ấy mới giúp ta đi tìm chân lý, tìm sự thật vậy.

    Tâm lý nhân loại xưa nay do sợ hãi các thế lực u minh, huyền bí, sợ bệnh tật ốm đau, sợ tai trời ách nước, sợ nghịch cảnh éo le, sợ tai ương hoạn nạn; hoặc do cơ khổ nghèo nàn, do làm ăn lụn bại thất bát, do tội tù nguy khốn, do sự nghiệp bấp bênh, do danh vọng địa vị lung lay; hay do rủi ro bất hạnh, do thất vọng tình đời... mà phát sanh tin cuồng, tin bậy. Tức là từ những lòng tin mù quáng để gởi gắm cuộc đời, số phận của mình. Họ nương tựa bất cứ ở đâu có thể nương tựa. Họ cầu khẩn, van xin đủ mọi ước mơ hão huyền, ngây thơ hoặc không tưởng... trên cuộc đời nầy!

    Là người Phật tử, con của Đấng Giác Ngộ, chúng ta phải có đức tin chơn chánh, được đặt nền tảng trên sự hiểu biết đúng đắn và sáng suốt.

    Đức tin chơn chánh ấy là:

    - Không tin vào một vị Thượng đế, một vị Chủ Tể, một đấng Sáng Tạo Chủ, Hóa Sanh Chủ nào sáng tạo ra muôn vật, muôn loài.

    - Không tin vào bất cứ một quyền lực siêu nhiên nào có quyền ban thưởng, phạt ác, chi phối định mạng, số phận con người.

    - Không nhẹ dạ tin vào những quyền lực thuộc tín ngưỡng nhất thần, đa thần, vật tổ hoặc các thánh thần do thế gian tôn xưng, ngụy tạo (Thờ tổ tiên, cha mẹ là tín ngưỡng thuộc về đạo hiếu; thờ các vị khai quốc, công thần, anh hùng dân tộc, Thành hoàng, chiến sĩ trận vong... thuộc về pháp tri ân, đều có trong giáo lý đức Phật, nhưng không nằm trong lãnh vực Đức tin chơn chánh của bài này).

    - Không mê tín thờ gốc đa, ông táo, thổ địa, thần tài, đốt vàng mã, xin xăm, bói quẻ, cúng sao, giải hạn để cầu lộc, cầu tài...

    Ngoài ra, trong bài kinh dạy người dân xứ Kālāma, đức Phật còn có lời khuyên đầy minh triết về Đức tin chơn chánh cho người Phật tử, tóm tắt như sau:

    - Không nên tin và chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy do tập tục cổ truyền từ xưa để lại.

    - Đừng nên dễ dãi tin theo những lời do thiên hạ đồn đãi.

    - Không tin, cả tin, nghe theo những điều đã được người ta nói lại từ trong kinh điển cổ thư truyền thống nào đó.

    - Đừng nên tin vào những điều do chính mình ước đoán, ức đoán, suy luận...

    - Không nên chấp nhận điều gì có vẻ hợp lý, có vẻ đúng đắn ở bề ngoài.

    - Đừng nên tin vào những điều có vẻ phù hợp với nhận thức, định kiến hoặc thành kiến của mình.

    - Đừng nên tin tưởng điều gì - vì điều ấy hình như có vẻ chấp nhận được.

    - Không nên tin và chấp nhận dễ dàng chỉ vì điều ấy được thốt ra từ cửa miệng một giáo chủ, một đạo sư, một tu sĩ uy tín mà ta vốn đã kính trọng từ trước.

    Rồi đức Phật xác lập về Đức tin chơn chánh như sau:

    "- Này các con! Khi các con tự hiểu rõ rằng, những điều này không hợp với đạo đức và luân lý thế gian; những điều này là tội lỗi đáng bị khiển trách, những điều này bị các bậc thiện trí coi khinh, những điều này nếu thực hiện sẽ đưa đến sự phá sản tinh thần, đưa đến đau khổ và phiền muộn thì các con phải biết từ bỏ, không tin, không làm điều ấy.

    Trái lại, khi các con đã hiểu rõ rằng, những điều này phù hợp với đạo đức, luân lý thế gian; những điều này là những việc lành, tốt, thường được ngợi khen; những điều này thường được các bậc thiện trí tán thán, ca ngợi; những điều này nếu thực hiện sẽ đưa đến sự thăng hoa tinh thần, được hạnh phúc và an vui thì các con nên tin theo, nên thực hành điều ấy".

    Phật ngôn ấy đã được nói ra cách đây gần ba ngàn năm nhưng giá trị minh triết của nó còn soi rọi đến tận thế kỷ văn minh ngày nay, dẫn đường cho con người biết đặt đức tin đúng chỗ, rất khoa học, hợp với chánh trí. Chỉ có đức tin ấy mới giúp ta đi tìm chân lý, tìm sự thật vậy.

    Đức tin ấy được gọi là Chánh Tín - tức là tin vào những điều sau đây:

    1. Tin Phật

    Tin vào sự có mặt của chư Phật ba đời, các Ngài đã đang và sẽ xuất trần để cứu độ chúng sanh đang đắm chìm trong sông mê, biển khổ (sông ái dục, biển sinh tử).

    Tin rằng cách đây gần ba ngàn năm có Đấng Toàn Giác là vị Phật lịch sử, có sử liệu bi ký chứng minh, ra đời tại Ấn Độ; Ngài đã chiến thắng vô lượng ma chướng ngoại giới và nội tâm, đoạn trừ vô minh, phiền não, chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Sau đó, suốt 45 năm ròng rã, Ngài đã không mệt mỏi giáo hóa chúng sanh, đem hạnh phúc và an vui cho vô lượng chư thiên và nhân loại.

    Đức Phật ấy dạy rằng: "Tất cả chúng sanh, ai cũng có khả năng thành Phật". Bởi vậy, chúng ta tin tưởng rằng, nếu biết bỏ ác làm lành, biết phục thiện và hướng thượng, biết nỗ lực kiên trì tu tập theo con đường Giới, Định, Tuệ thì trong một vị lai nào đó, chúng ta cũng sẽ thành Phật như Ngài.

    2.Tin Pháp

    Tin rằng, những lời dạy vàng ngọc, đầy trí tuệ và từ bi của Ngài còn được trân trọng bảo lưu, gìn giữ đầy đủ ở trong Tam Tạng Thánh Điển: Kinh, Luật và Abhidhamma. Đây là những lời dạy khôn ngoan, minh triết, như chân như thật, cụ thể, thiết thực... là Chân Lý Tối Thượng, đã vượt qua, vượt trên tất cả mọi tư tưởng tôn giáo, triết học, các học thuyết của các triết gia, hiền triết, giáo chủ nhân loại từ xưa đến nay.

    Tin rằng, Pháp, Chân Lý, Sự Thật đã được đức Phật khéo thuyết có giá trị thiết thực hiện tại, vượt thời gian... mà những người có trí có thể chứng nghiệm trong lòng mình.

    3. Tin Tăng

    Tin rằng, tập thể Tăng-già quá khứ hiện tại, vị lai đã, đang và sẽ tu tập theo con đường Giới, Định, Tuệ và đắc các quả Thánh Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán.

    Tin rằng những đức tính cao cả của Tăng-già như thiện hạnh (diệu hạnh), trực hạnh, ưng lý hạnh (như lý hạnh), và chánh hạnh (pháp hạnh) - chúng ta cũng có thể thành tựu được bằng cách rèn luyện thân, khẩu, ý cho đến chỗ trong lành, hoàn hảo.

    4. Tin nhân quả nghiệp báo

    Tin rằng, trồng cam được cam, gieo ớt được ớt, nhân nào quả nấy. Những bất đồng sai khác trên cuộc đời như giàu nghèo, sang hèn, trí ngu, vui khổ, rủi may, thọ yểu, xấu đẹp, phước tội... là đều do những nhân gieo sai khác từ rất nhiều đời trước mà ra cả.

    Chính ý nghĩ, hành động và nói năng của ta từ quá khứ tạo tác, nó sinh ra đời sống và hoàn cảnh của ta trong hiện tại. Và chính ý nghĩ, hành động nói năng của ta trong hiện tại chúng sẽ tạo thành nghiệp để tạo tác, quyết định đời sống và hoàn cảnh cho chúng ta trong vị lai. Hiểu nhân quả nghiệp báo như thế thì ta chính là thượng đế của ta, tự ta sinh ra ta chứ không phải là ai khác.

    Tuy nhiên một hạt thóc không thể trở thành cây lúa nếu không có đất, nước, phân, ánh sáng, thời gian... Các yếu tố phụ tùy hỗ trợ cho cái nhân ấy chính là duyên. Nếu là duyên lành, tức thuận duyên, trợ duyên tác động lên nhân thì quả mới thành, mới toàn hảo. Nếu là duyên xấu ác, là nghịch duyên hay chướng duyên tác động lên nhân thì quả sẽ không thành, sẽ bị diệt vong, tiêu hoại.

    Là người con Phật, ta phải biết tin vào định luật nhân quả nghiệp báo đương nhiên này. Ta phải biết tạo nghiệp tốt từ ba cửa thân, khẩu, ý rồi luôn tạo thêm duyên lành hỗ trợ cho tam nghiệp ấy thì những kết quả tốt đẹp trong mai hậu, tuy chẳng mong cầu, nó vẫn tự đến với ta vậy.

    5. Tin luân hồi tử sanh

    Tin rằng, tất cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, do nghiệp thiện ác quyết định mà sinh tới sinh lui mãi trong 6 nẻo luân hồi. Các cảnh giới trong 3 cõi 6 đường kia chính do ta tạo ra chứ không phải là ai khác. Chính do tâm xấu, ác, lành, tốt sai khác mà tạo nên các cảnh giới sai khác sau đây:

    - Khi độc ác, bạo tàn, hung dữ... xem chừng là ta đang mở cảnh giới địa ngục.

    - Khi xan tham, khao khát quá độ, tham vọng quá độ, khát dục, khát ái vô độ... xem chừng chúng ta đang tạo cảnh giới ngạ quỷ.

    - Khi si mê, đắm trước, trơ lì, đần độn, bản năng, thú tính... thì ta đã tự biến mình thành súc sanh!

    - Khi sợ hãi, ngã mạn, cậy quyền, cậy thế, hung hăng, hiếu chiến, hiếu thắng... đưa đến việc sử dụng binh khí miệng lưỡi, binh khí đao, gậy, gươm, súng... để tranh chiến tranh thắng... thì ta đang sống trong cảnh giới a-tu-la.

    - Khi xử sự có lý, có tình; sống có nhân có nghĩa, lành tốt nhiều hơn xấu ác thì ta được sanh làm người (hoặc có Tam qui, Ngũ giới, thập thiện).

    - Khi có nhiều thiện tâm, khinh an, mát mẻ, hoan hỷ, biết tu hành, có bố thí, trì giới (Ngũ giới; bát giới), thập thiện, tham thiền... thì ta mở cửa bước vào 6 cảnh trời Dục giới.

    - Khi tu thiền định đắc tứ thiền Hữu sắc, đắc tứ thiền Vô sắc thì ta vào trú xứ các cảnh trời Sắc giới, Vô sắc giới tương đương.

    - Nếu ta tu tập Giới, Định, Tuệ đắc quả A-la-hán là ta giải thoát khỏi sự ràng buộc của 3 cõi. Và như vậy là ta sẽ không còn luân hồi tái sanh nữa.

    6. Tin Tứ Diệu Đế

    Tin vào lộ trình thoát khổ là trọng tâm, là cốt lõi giáo lý mà đức Phật đã thuyết giảng; đó là sự thật về khổ, sự thật về nguyên nhân khổ, sự thật về diệt khổ, và sự thật về con đường diệt khổ. Con đường diệt khổ ấy là Đạo Đế, là Bát Chánh Đạo, là con đường duy nhất thoát ly mọi đau khổ trần gian, đem lại nguồn hạnh phúc đích thực cho tất cả chúng sanh.

    Nói tóm lại, Đức tin chơn chánh này rất quan trọng mà thiếu nó là thiếu tất cả. Tuy nhiên, đức tin này không phải có được một cách dễ dàng; nó có được phải qua quá trình nghiên cứu, học hỏi, suy tư, chiêm nghiệm, tìm kiếm... và nhất là phải có sẵn duyên lành từ nhiều đời kiếp.

    Một người Phật tử có đức tin - với 6 loại đức tin kể trên - không những xứng đáng là người có trí, xứng đáng là một người Phật tử mà còn tin chắc, biết chắc mình đã dần dần bỏ xa những hành vi xấu ác.

    Nếu đức tin này được huân trưởng, củng cố mãi, đến lúc sẽ trở thành “đức tin kiên cố bất động”, chẳng bao giờ dời đổi, chẳng thể nào bị lay động bởi bất cứ thế lực, hoàn cảnh nào, đức Phật còn gọi người Phật tử ấy là bậc đã đi vào dòng Thánh, mãi mãi bước trên con đường tiến hóa, không bao giờ còn sợ phải thối đọa hoặc rơi vào các cảnh giới đau khổ nữa
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  3. #3

    Smile

    Chúng ta là Phật tử của Đạo Phật ai cũng từng nghe qua câu “Tùy duyên bất biến”. Phật Giáo phát tích từ Ấn Độ, nhưng khi truyền nhập vào các nước Đông phương cũng như Tây phương với tinh thần tùy duyên của mình, Đạo Phật đã hòa nhập và thích ứng với phong tục tập quán, văn hóa tín ngưỡng, lễ chế… của từng quốc gia để đem ánh sáng chánh pháp đến cho dân tộc đó, và cũng từ nhân duyên đó đã tạo nên nét đặc trưng riêng biệt Phật Giáo của mỗi quốc gia nhưng vẫn giữ được cốt lõi của Đạo Phật là mang đến sự giác ngộ giải thoát và an lạc đến cho mọi người.

    Đức Phật xuất thân từ dòng dõi tôn quí trong xã hội Ấn Độ đó là giai cấp Sát Đế Lợi, thế nên khi Đạo Phật được truyền vào các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc.v.v… đã được vua chúa triều đình quan lại cùng nhân dân tôn trọng và kính ngưỡng, bằng tất cả lòng chí kính họ đã đem hết thảy những lễ nghi cao cấp nhất của dân tộc mình để cúng dường lên Đức Phật và Tăng Già. Đạo Phật tiếp nhận hết thảy những lễ nghi ấy, và để thích ứng với phong tục tập quán, lễ nghi, văn hóa mang đậm phong thái Nho gia, Tăng Già Phật Giáo lấy tinh thần tùy duyên của Phật Giáo làm chủ đạo hòa quyện với văn hóa bản địa tạo thành một phong cách mới trong Phật Giáo, được thể hiện qua đức hạnh oai nghi của Tăng già.

    Phật Giáo buổi đầu du nhập vào Trung Quốc được Triều đình vua quan quí tộc tiếp nhận, vì Đức Phật là bậc chí tôn lại xuất thân từ hoàng tộc cho nên Phật Giáo được sử dụng hầu hết lễ chế của triều đình phong kiến Trung Quốc cũng như những danh xưng của các cơ quan của triều đình như “Tự” hoặc “Điện”, kể cả kiến trúc chùa chiền cũng được xây dựng theo phong cách hoàng cung. “Điện” là nơi vua chỉ sử dụng trong việc thiết triều nghị sự quan trọng, ngoài những việc này ra không được tùy tiện vào Điện. Phật Giáo được phép xây dựng Điện để làm nơi thờ Phật được gọi là Đại Điên, Chánh Điện hay Đại Hùng Bảo Điện nên cũng phải tuân hành theo đúng phép tắc của cung điện triều đình, Phật Điện của Phật Giáo cũng được tôn trọng cung kính đúng phép tắc như cung điện của vua, cho nên trong chùa có câu nói về ý không được tự tiện lên chùa: “vô sự bất đăng Tam Bảo Điện”.

    Qua ý nghĩa quan trọng trên cùng với sự thể hiện lòng tôn kính đối với Đức Phật, với Tam Bảo một Phật tử chúng ta cần học tập và tìm hiểu phép tắc cần thiết cơ bản để hoàn thiện nhân cách của một người Phật tử tại gia chí thành cung kính đối với Phật Pháp Tăng Tam Bảo.

    Vào Chánh Điện phải có lễ nghi:

    Theo 2 bên phải trái mà đi vào, không được đi chính giữa để biểu thị sự cung kính. Nếu theo cửa bên trái đi vào thì phải bước chân trái vào trước, nếu theo cửa bên phải vào thì phải bước chân phải vào trước.
    Ngoại trừ Kinh Phật, Tượng Phật tất cả những vật khác không được mang vào Điện.
    Duy chỉ có tụng Kinh, lễ Phật, châm dầu đốt hương mới được vào, không được xem Phật điện như đền miếu mặc ý tham quan du ngoạn.
    Trước khi vào Điện phải giữ thân tâm thanh tịnh, rửa tay sạch, vào Điện không được ngó đông ngó tây, vào đến nơi sau khi lễ Phật chiêm ngưỡng tôn dung, mặc niệm bài kệ: “ khi thấy tướng Phật, nguyện cho chúng sanh, được mắt vô ngại, thấy tất cả Phật”.
    Vào Điện Phật phải đi nhiễu theo bên phải không được đi bên trái, để biểu thị chánh đạo. Khi cùng đại chúng nhiễu Phật không được dừng lại nói chuyện, mắt luôn ngó thẳng phía trước.
    Trong Điện không được bàn chuyện thế tục, càng không được nói lớn tiếng, ngoài việc nghe Kinh Pháp, tọa Thiền không được ngồi trong Điện, nếu nói chuyện Phật Pháp cũng không được lớn tiếng cười nói.
    Trong Điện Phật không được dựa tay chân vào tường, bàn ghế, chống cằm chống nạnh, càng không được mang nón gậy dựa vào vách điện và khạc nhổ làm dơ bẩn, khi ngồi không được ngồi xoạc 2 chân, khi đứng nên thẳng tay hoặc chấp tay đứng thẳng để biểu thị sự cung kính.
    Trong đại Điện không được ợ ngáp khạc nhổ, hạ phong…nếu không chịu được thì nên đi ra ngoài. Ợ ngáp nên lấy tay áo che miệng, khạc nhổ thì nên dùng giấy rồi đựng trong giỏ, không nên ra ra vào vào làm ảnh hưởng đại chúng.

    Vì sao phải tôn kính tượng Phật:

    Không được bình phẩm tượng Phật có trang nghiêm hay không, tượng Phật không được để trong phòng ngủ.
    Đi qua chỗ có tượng Phật, phải chỉnh sửa y phục chấp tay lễ xá. Nếu ở chỗ tụng kinh, trước điện Phật phải lễ lạy, nếu thời gian không gian không tiện có thể chấp tay xá.
    Thấy tượng Phật có hư hoại nên để ở chỗ thích hợp không tùy tiện vứt bỏ:
    Tượng Phật bị hư hỏng hoặc không sạch, nên tận tâm chỉnh sửa, như sơn thếp cho mới lại và làm cho sạch đẹp.
    Nếu không còn sửa chữa được nên có tâm cung kính dùng giấy mà đốt, rồi đem tro chôn ở nơi sạch sẽ. Tượng bằng đá, bằng gố sau khi đốt hoặc phân giải phải mang rãi ra sông biển, chớ để ở nơi người ta có thể dẫm đạp.

    Cách dâng hương:

    Khi dâng hương dùng ngón tay cái và ngón trỏ cầm cho cây hương đứng, còn 3 ngón tay kẹp lấy phía dưới, 2 tay cầm hương đưa ngang trán, quán tưởng chư Phật Bồ tát hiển hiện trước mắt chúng ta, tiếp thọ hương cúng dường, Nếu chỗ đông người nên cầm hương thẳng để khỏi đụng vào người khác sau đó bước đến cách tượng Phật khoảng 3 bước dâng hương quán tưởng lễ bái.

    Khi dâng hương 1 cây cũng được, nếu dâng 3 cây thì cắm 1 cây ở giữa (miệng niệm thầm cúng dường Phật), cây thứ 2 cắm bên phải (thầm niệm cúng dường Pháp), cây thứ 3 cắm bên trái (thầm niệm cúng dường Tăng). Sau đó chấp tay (thầm niệm cúng dường nhứt thiết chúng sanh, nguyện hương hoa này biến khắp mười phương, cúng dường nhứt thiết chư Phật, Tôn Pháp, chư Hiền Thánh).

    Khi niêm hương không được dùng miệng thổi tắt lửa. Sau khi cắm hương xong, lui khoảng nữa bước là được, đứng thẳng đầu hơi cúi đảnh lễ.
    Nếu thấy tượng Phật hoặc Kinh sách để ở chỗ không sạch, nên mang để ở chỗ sạch sẽ. Nếu thấy người không cung kính đối với tượng Phật, nên khéo dùng lời khuyên họ.

    Lễ Phật như thế nào:

    Lễ Phật không nhứt thiết phải đứng chính giữa hoặc đứng đối diện với tượng Phật, Bồ tát, chỉ cần thành kính lễ bái là được, chư Phật không điều gì mà không biết, cho nên chỉ cần phát khởi tâm chí thành, cung kính thì dù ở vị trí nào đều cũng là chỗ tốt hết.
    Bất luận là trong chùa có bao nhiêu tượng Phật, thông thường vào điện lễ Phật chỉ 3 lạy là được, nếu tu hành lễ bái 1 mình thì làm theo ý mình, còn khi vào điện cùng với đại chúng, thì phải theo đại chúng mà đứng, chấp tay lễ bái là được, không được riêng 1 mình lễ lạy, để khỏi ảnh hưởng trật tự của đại chúng, mà còn không hợp oai nghi nữa.

    Hàm nghĩa của 3 lạy lễ Phật:

    Tư thế chấp tay: 2 tay bằng nhau đưa ngang ngực, 5 ngón tay hợp lại hướng lên trên.

    - Chiết phục tâm kiêu mạn.

    - Thấy các bậc Hiền Thánh mong đạt được như vậy.

    - Sám trừ nghiệp chướng: cho nên nói “lễ Phật 1 lễ diệt hà sa tội” muốn diệt tội trước tiên oai nghi phải nghiêm túc, trong ngoài oai nghi phải cụ túc mới có thể cảm ứng đến chư Phật, Bồ tát mà hộ trì gia bị.

    Phương pháp sám hối

    Lạy thứ nhất: (chân thật phát lộ) đệ tử sám hối, nguyện cho mọi người cùng tu sám hối.

    Phát lộ sám hối – từ xưa đã tạo các nghiệp ác, đều do vô thỉ tham sân si, từ thân miệng ý mà sanh ra, tất cả con nay xin sám hối.

    Chân thật sám hối – tội từ tâm khởi đem tâm sám, tâm được diệt rồi tội cũng tiêu, tội tiêu tâm diệt thảy đều không, như vậy gọi là thật sám hối.

    Lạy thứ hai: Đệ tử phát nguyện tu đạo, nguyện cùng pháp giới chung sanh đều tiêu hết phiền não 3 chướng, cùng được trí huệ hiểu chân thật, nguyện cho tội chướng đều tiêu trừ, đời đời thường hành đạo Bồ tát
    Lạy thứ ba: Đệ tử cùng hạnh Phổ Hiền hồi hướng – nguyện khắp pháp giới chúng sanh đồng sanh về cực lạc, cùng chứng chơn thường. Con đem hạnh Phổ Hiền thù thắng này, vô lượng phước báu đều hồi hướng, nguyện khắp chúng sanh đang chìm đắm, vãng sanh về cõi Phật Di Đà.

    Văn lễ Tam Bảo.

    Đệ tử chúng con nguyện cùng đệ tử nhiều đời, Cha Mẹ hiện tại, Sư trưởng, Tri thức, Đàn Việt, quyến thuộc đạo đời, oán thân trái chủ, cho đến bốn ân ba cõi, pháp giới chúng sanh trượng thừa sức oai thần Thân-Trí-Hạnh-Nguyện của Quán Âm Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, 3 nghiệp thanh tịnh phân thân vô số tận kiếp vị lai, nhất tâm đảnh lễ tận hư không giới vi trần sát độ trung, Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật.

    Lễ Phật.

    Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghị, ngã thử đạo tràng như đế châu, chư Phật Như Lai ảnh hiện trung, ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền, đầu diện tiếp túc qui mạng lễ.

    Lễ Pháp.

    Chân không Pháp tánh như hư không, thường trụ Pháp bảo nan tư nghị, ngã thân ảnh hiện Pháp bảo tiền, nhất tâm như Pháp qui mạng lễ.

    Lễ Tăng.

    Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghị, ngã thử đạo tràng như đế châu, thập phương Bồ tát ảnh hiện trung, ngã thân ảnh hiện thánh Tăng tiền, đầu diện tiếp túc qui mạng lễ.
    Khi lễ Phật trong tâm phải cung kính Tam Bảo, như lạy thứ nhất niệm tán Phật kệ (thiên thượng thiên hạ vô như Phật…), lạy thứ hai niệm khai kinh kệ (vô thượng thậm thâm vi diệu Pháp…), lạy thứ ba niệm Tăng bảo không nghĩ bàn…, hoặc một lần lạy niệm Nam Mô Tận Hư Không Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Phật, Pháp, Tăng…, cũng có thể 3 lạy đều niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Lễ Phật quan trọng là thành kính, cho nên khi quán tưởng hoặc niệm tụng, thấy cá nhân tu hành có điều khác lạ đều không có nhất định.
    Khi lễ Phật 2 chân không được di chuyển tránh dẫm lên áo tràng, khi lạy mông phải sát chân không được quá cao, như vậy mới hợp lễ nghi. Động tác không nhanh không chậm, trong tâm thì kiền thành, ngoài thì thể hiện cung kính mới có thể cảm ứng đạo giao. Khi lễ Phật nên mặc niệm bài kệ: “thiên thượng thiên hạ vô như Phật, thập phương thế giới diệc vô tỷ, thế gian sở hữu ngã tận kiến, nhất thiết vô hữu như Phật giả” hoặc “ Pháp Vương Vô Thượng Tôn, Tam Giới vô luân thất, Thiên Nhân chi Đạo Sư, Tứ Sanh chi Từ Phụ, ngã kim đắc quy y, năng diệt tam kỳ nghiệp, xưng dương nhược tán thán, ức kiếp mạc năng tận”
    Khi có người đang lễ Phật, không được đi ngang qua phía trước.
    Nếu có các vị xuất gia đang lễ Phật, không được cùng các thầy lễ, phải lễ sau các thầy.
    Khi lễ Phật nhìn có vẻ cung kính, thật ra trong lòng ngã mạn hoặc là muốn người khác khen mình tu hành, là giả hiện oai nghi.
    Chính giữa chánh điện là nơi dành riêng cho vị trụ trì lễ Phật.

    Kính Pháp.

    Như thế nào là thỉnh Kinh, trì kinh.

    Khi thỉnh kinh phải cầm giữa hai tay, ngón tay cái và ngón tay trỏ đặt trên mặt quyển kinh, 3 ngón còn lại đặt ở mặt dưới quyển kinh.
    Khi cầm Kinh Tượng phải cầm bằng 2 tay và ngang ngực, không được cầm 1 tay mang đi như cầm các vật khác, cũng không được đặt để tùy tiện hoặc kẹp dưới nách.
    Không được cuộn tròn quyển Kinh.

    Tụng Kinh như thế nào:

    Khi tụng đọc Kinh Luật Phật nên đốt hương ngồi ngay thẳng cũng như đối trước Phật, không được ngồi duỗi chân dựa dẫm mất sự cung kính. Muốn đọc kinh trước tiên ngồi tĩnh tọa một lúc rồi mặc niệm bài kệ: “vô thượng thậm thâm vi diệu Pháp, bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, ngã kim kiến văn đắc thọ trì, nguyện giải Như Lai chơn thật nghĩa”. Lúc tụng kinh ngoài việc không duỗi chân cũng không được vừa tụng kinh vừa ăn uống.
    Khi tụng kinh mỗi chữ mỗi câu cần hiểu nghĩa lý tương ưng với tâm, không được qua loa cho xong.
    Kinh sách phải lấy đồ che trùm để khỏi dính bụi. Trên quyển kinh nếu có bụi bám phải dùng khăn lau, không được dùng miệng thổi bụi, không được để đồ và các sách vở của thế tục trên Kinh điển, phải kính Pháp như kính Phật vậy.
    Tụng niệm một mình nếu không trở ngại người khác thì được, nên tùy theo đại chúng mà tụng niệm. Khi tụng niệm cùng chúng phải hòa hợp theo nhịp mõ không nhanh không chậm, hoặc tụng quá lớn tiếng ảnh hưởng đến đại chúng.
    Tụng Kinh dừng ở trang nào nên làm dấu để nhớ, không được bỏ qua trang.
    Kinh sách là dùng để tụng đọc không được viết chữ lên, vạn bất đắc dĩ thì dùng viết chì (ghi chú) để nhớ, sau khi thuộc nhớ rồi phải tẩy sạch. Nếu giảng Kinh không được làm tiêu mất những chỗ bút ký trong quyển kinh.
    Trong lúc tụng Kinh có người tới thăm hoặc hỏi han, có thể chấp tay đáp lễ hoặc làm dấu ghi nhớ, xếp Kinh điển lại, đứng dậy tiếp khách, chưa xếp cất Kinh điển mà còn nói chuyện bàn luận chuyện thế gian, hoặc cười giởn… đây là hành vi bất kính xem thường Pháp bảo. Nếu ho phải lấy tay áo che miệng. Tụng Kinh chưa xong không được sanh tâm phiền não, nên biết rằng: mục đích của tụng kinh là khai mở trí huệ. Mục đích niệm Phật là vì bồi dưỡng tín tâm nguyện lực. Mục đích ăn chay là vì bồi dưỡng tâm từ bi.
    Trong lúc tụng (đọc) kinh nếu có sinh tạp niệm, nên gấp Kinh lại đợi tạp niệm tiêu hết mới tiếp tục tụng (đọc).
    Khi thỉnh mua kinh sách phải ngồi nghiêm túc ngay thẳng. Đối với Kinh sách, Ca Sa, Y Bát, Tích Trượng, Chuỗi, Phất Trần, tất cả những pháp khí đều phải có thái độ cung kính.
    Kinh sách có hư hoại nên tu bổ sửa sang, nếu như không biết sửa thì có thể đem đốt, rồi mang tro rãi ở nơi sạch sẻ, tránh chỗ có người giẫm đạp.

    Kính Tăng.

    Tăng có 5 đức nên cung kính

    Phát tâm ly tục: Nghĩa là người xuất gia phát tâm dõng mãnh thoát ly phàm tục, tu tập giác ngộ là phước điền của thế gian.
    Hủy bỏ hình tướng tốt đẹp: nghĩa là người xuất gia cạo bỏ râu tóc, hủy bỏ tướng đẹp, cởi bỏ y phục thế tục mặc Pháp phục của Như Lai, đầy đủ oai nghi là Phật điền của thế gian.
    Dứt đoạn tình cảm người thân: Người xuất gia cắt dứt tình cảm yêu thương cha mẹ mà nhứt tâm siêng năng tu đạo, để báo đức sanh thành của cha mẹ, là phước điền của thế gian.
    Vất bỏ thân mạng: nghĩa là người xuất gia xả bỏ không tiếc thân mạng chỉ có một tâm nguyện cầu chứng Phật đạo, là phước điền của thế gian.
    Chí cầu Đại Thừa: nghĩa là người xuất gia luôn mang tâm nguyện cứu giúp muôn loài, quyết chí chuyên cần cầu pháp Đại Thừa để độ thoát tất cả hữu tình, là phước điền của thế gian.

    Với những điều phép tắc cơ bản trên chúng tôi lược dịch ngắn gọn kính gởi đến quý Phật tử, chỉ một tâm nguyện góp phần công đức xiển dương Phật Pháp, mang lại lợi ích cho hàng Phật tử tại gia có được những kiến thức cơ bản trong tu tập để hoàn thiện phong cách của người Phật tử chánh tín, kính tin Tam Bảo, hộ trì Phật Pháp, và quan trọng hơn hết là khi quý Phật tử đến chùa tụng Kinh, lễ Phật…sẽ được vô lượng an lạc thập phần công đức
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 18-02-2013, 08:23 PM
  2. "sự cố" trong lễ hội "linh tinh tình phộc" năm canh dần
    By Bin571 in forum Các bài NC của XUANDIEN70
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 26-07-2011, 08:52 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •