kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Mục đích của đạo Phật

  1. #1

    Smile Mục đích của đạo Phật

    Người Phật tử quy y theo Phật, thực tập hành trì tụng kinh, niệm Phật, nghiên cứu kinh điển, tọa thiền, hành đạo... có mục đích rất rõ rệt. Kinh Trung A Hàm, Đức Phật dạy 3 mục đích chính:
    Muốn tự điều phục mình: Tự điều phục tất là làm chủ được bản thân mình, là chế ngự được tham dục, sân hận, ác ý. Như vậy, tự điều phục mình có nghĩa là đạt được sự tự do. Tự do là khát vọng muôn đời của nhân loại, là nhu cầu thiết yếu sau nhu cầu ăn uống, nhưng bản chất của tự do là gì thì không giống nhau. Con người càng tìm kiếm tự do ở bên ngoài thì càng mất tự do, đến nỗi có người nói: "Con người chỉ có tự do lựa chọn sự mất tự do". Khái niệm về mất tự do trong đạo Phật là sự bị trói buộc, bị vướng mắc vào dục vọng, sân hận, hãm hại. Cho nên tự điều phục mình, chế ngự bản năng dục vọng của mình, tự chiến thắng mình là sự tự vươn tới tự do.
    Đức Phật dạy thêm rằng, người Phật tử có khả năng tự điều phục mình thì dù mưu cầu lợi lộc, công danh, sự nghiệp, xây dựng tình yêu... khi những cái ấy bị thất bại, bị thay đổi, bị phản bội... người ấy vẫn an ổn, vững chãi, không bị ưu sầu phiền muộn, khóc than, phát cuồng, tự tử... Đó là mục đích thứ nhất của đạo Phật.
    Muốn đạt được sự thanh tịnh, an lạc: Sự an lạc tùy thuộc vào tư duy, cảm xúc của con người. Nếu tâm tư của một người bị chi phối, bị chế ngự bởi sự lo lắng, buồn rầu, sợ hãi thì họ không thể có an lạc. An lạc và hạnh phúc đi đội với nhau; hạnh phúc có hay không tùy thuộc vào thái độ tâm lý ổn định hay không. Một người mạnh khỏe và giàu có, nhưng trong lòng sôi sục dục vọng hay hận thù thì người ấy không thể có sự an lạc và hạnh phúc; một người đầy danh vọng và sự thành đạt mà trong lòng sự lo lắng bất an, sợ hãi chế ngự thì không thể có hạnh phúc được.
    Đức Phật dạy rằng, một người đạt được sự thanh tịnh, an lạc là người khi có điều không vui đến, những điều lo âu, sợ hãi đến thì không bị chúng làm chi phối, vướng bận; rằng một người không bị chi phối, vướng bận với cái tư duy tham dục, sân hận và ác ý; rằng một người đạt được các trạng thái thanh tịnh như sơ thiền cho đến tứ thiền, như theo lời kinh Pháp Cú dạy: "Không có hạnh phúc nào lớn bằng sự yên tĩnh của tâm trí". Đây là mục tiêu thứ hai của đạo Phật.
    Muốn đạt được giải thoát - Niết bàn: Đây là mục đích tối hậu của mọi người Phật tử: chấm dứt mọi đau khổ, thoát ly sanh tử, luân hồi, thành tựu trí tuệ viên mãn. Nỗi khổ thật sự và lâu dài chính là vô minh; niềm hạnh phúc chân thật và vĩnh cửu là sự chấm dứt vô minh, đó là đáo bỉ ngạn, là "vô minh diệt minh sanh".
    Mục đích đó có thể chia làm 2 phần: mục đích gần và mục đích xa. Gần là sư vươn tới đời sống tự do và hạnh phúc, xa là đạt đến an lạc vĩnh cửu Niết bàn. Giáo pháp của Phật giúp con người kềm chế, làm chủ bản thân. Đây là bước đầu, là nền tảng của mọi đức hạnh, mọi tiến bộ, từ đó thực hiện sự thanh tịnh và an lạc của tâm linh, chuyển hóa toàn bộ đời sống đã từng mang bất an ổn và hạnh phúc. Nói mục đích gần và xa là để dễ hiểu, thực ra cả hai là một. Thực hiện được tự do tự chủ là đưa đến an lạc, hạnh phúc. Có được an lạc, hạnh phúc dẫn đến giải thoát Niết bàn. Niết bàn được thực hiện ngay cõi đời này.
    Những đặc tính tiêu biểu của đạo Phật:Tự do tư tưởng: Đạo Phật không có hệ thống tín điều, không lấy tín điều làm căn bản như hầu hết các tôn giáo. Đức tin của đạo Phật luôn đi đôi với cái "thấy", một trong những định nghĩa về giáo pháp là "đến để mà thấy", chứ không phải "đến để mà tin". Vì vậy, chánh kiến luôn đứng đầu trong các đức tính.
    Lời Phật dạy cho dân Kàlama được các nhà học giả phương Tây coi là bản tuyên ngôn về tự do tư tưởng của nhân loại: "Này các Kàlama, đừng để bị dẫn dắt bởi những báo cáo, hay bởi truyền thống, hay bởi tin đồn. Đừng để bị dẫn dắt bởi thẩm quyền kinh điển, hay bởi lý luận suông, hay bởi suy lý, hay bởi sự xét đoán bề ngoài, hay bởi vì thích thú trong những lý luận, hay bởi những điều dường như có thể xảy ra, hay bởi ý nghĩ đây là bậc Đạo sư của chúng ta. Nhưng này các Kàlama, khi nào các ông biết chắc rằng những điều ấy là thiện, là tốt, hãy chấp nhận và theo chúng" (Tăng Chi I).Bác bỏ các tín điều và đức tin mù quáng, khuyến khích tự do phân tích, khảo sát, đó là một đặc điểm của Phật giáo.
    Tinh thần tự lực: Đấng Thượng đế hoặc tạo hóa hay các thần linh được con người tin tưởng thở phụng, vì các đấng ấy có thể ban phúc hay giáng họa. Ấy là quan điểm của tâm lý sợ hãi, yếu đuối, mất tự tín đã sản sinh ra thần thánh (hoặc đa thần hoặc nhất thần).Đạo Phật với chủ trương luật nhân quả, nghiệp báo đã nói lên tinh thần trách nhiệm cá nhân và cộng đồng trước sự đau khổ và hạnh phúc của chính mình. Đức Phật dạy: "Chính ta là kẻ thừa kế của hành động của ta, là người mang theo với mình hành động của mình" (Tạp A Hàm, 135)
    Đức Phật không phải là đấng thần linh ban cho ta sự thay đổi hoàn cảnh hay tình trạng khốn đốn của mình. Đức Phật tuyên bố: "Như Lai chỉ là người chỉ đường, mỗi người phải tự đi đến, không ai đi thế cho ai được". Công trình khơi mở kho tàng tri kiến Phật là công trình của mỗi cá nhân. Con đường tự lực ấy được Đức Phật dạy như sau: "Này các Tỳ kheo, hãy tự mình thắp lên ngọn đuốc của chính mình, thắp lên với chánh pháp, đừng thắp lên vơ1i một pháp nào khác. Hãy tự mình làm chỗ nương tựa của chính mình, nương tựa với chánh pháp, đừng nương tựa với một pháp nào khác" (Trường A Hàm I).
    Tinh thần tự lực mang tính triệt để nhân bản này là một đặc tính của đạo Phật.Tinh thần từ, bi, hỷ, xả: Chúng sanh còn khổ thì đạo Phật còn vai trò và vị trí ở cuộc đời; đạo Phật thường được gọi là đạo từ bi, đạo cứu khổ. Ở đâu có đạo Phật, ở đó có tình thương, ở đó hận thù được hóa giải. Bởi lẽ phương châm tu tập của Phật giáo là từ, bi, hỷ, xả, còn gọi là Tứ vô lượng tâm. Người Phật tử lấy từ, bi, hỷ, xả làm nền tảng cho sự phát triển thánh hạnh; tâm từ bi được coi là tâm Phật.
    Trong quá trình truyền giáo, đạo Phật chưa bao giờ gây chiến tranh hay đổ máu, thông điệp tình thương cứu khổ, giúp đời đã được Đức Phật tuyên thuyết ngay từ thời kỳ sơ khai thành lập Giáo đoàn: "Này các Tỳ kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người".
    Tâm từ là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân. Tâm bi là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm hỷ là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm xả là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Đức Phật dạy người Phật tử tu tập Tứ vô lượng tâm: "Vị ấy tâm an trú biến mãn một phương cho đến mười phương với tâm từ, bi, hỷ, xả quảng đại vô biên, không hận, không sân... đối với mọi hình thức của sự sống, không bỏ qua và bỏ sót một ai mà không biến mãn với tâm giải thoát cùng với từ, bi, hỷ, xả (Trường Bộ I)". Thương yêu đồng loại và vạn loại chúng sanh là chất liệu sống của đạo Phật.
    Tinh thần thực tiễn: Một trong những định nghĩa về pháp là "thiết thực hiện tại", nghĩa là giáo lý đạo Phật là thiết thực, không mơ hồ, mang tính thực tiễn, có tác dụng cụ thể, không phải lý thuyết suông. "Hiện tại" có nghĩa là không chờ đợi kết quả của tương lai, có tu tập là có hướng thượng, có giải thoát ngay hiện tại, đời này. Vì vậy, giáo lý đạo Phật là giáo lý thực nghiệm, không chờ đợi một ân sủng hay một mặc khải nào. Đức Phật thường từ chối trả lời những câu hỏi về những vấn đề siêu hình. Ngài chỉ dạy những gì cần thiết cho cuộc đời, cho con đường thoát khổ. Có lần ở Kosambi, Đức Phật dạy: "Những gì Như Lai biết ví như lá trong rừng, còn những gì Như Lai giảng dạy như nắm là ở trong tay, nhưng đây là những phương pháp diệt khổ" (Tương Ưng V)
    Đạo Phật cho rằng phần lớn những nỗi khổ của con người do họ không sống thật với hiện tại, họ thường nuối tiếc quá khứ, mơ tưởng tương lai; do đó, ý nghĩa của cuộc đời bị đánh mất
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  2. #2

    Mặc định

    Cảm ơn bài viết của bạn. Rất là hay và ý nghĩa.

  3. #3

    Smile

    Là một phương pháp mà từ thời Đức Phật đã áp dụng làm kim chỉ nam trong Tăng đoàn, đã đem lại hiệu quả ổn định trong nếp sinh hoạt của người xuất gia, cho đến ngày nay nó vẫn là giá trị tuyệt đối và thiết thực với những ai thực hành theo đó. Đó là phương pháp Lục Hòa, chúng ta hãy tìm hiểu nó như thế nào ?
    Trước tiên chúng ta hiểu thế nào là Lục Hòa ? Đó là sáu phương pháp hòa kính cư xử với nhau trong sự hòa hợp từ vật chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Là sáu điều hòa hợp đem đến lợi lạc và an vui cho chúng ta.
    Tức là sống chung một gia đình, một tập thể v.v... phải hòa thuận, đoàn kết, thương yêu nhau. Vì sống trong một gia đình nếu gia đình ấy cứ tối ngày đánh lộn, không biết đoàn kết thương yêu nhau thì sự chia ly, khổ đau sẽ luôn luôn hiện hữu đến với gia đình ấy. Xa hơn nữa là ngoài xã hội, nếu xã hội ấy không biết tôn trọng lẫn nhau, quý mến nhau thì xã hội ấy lúc nào cũng tội ác gia tăng, con người trở nên độc ác, hiềm khích lẫn nhau, sự chung sống nơi ấy không được yên ổn, từ sự không yên ổn dẫn đến nhiều nổi khổ khác dấy khởi v.v.. Sống chung trong một đất nước, mà đất nước ấy luôn luôn lúc nào cũng bất ổn, biểu tình, bạo động làm cho các nhà lãnh đạo phải đau đầu, người dân khốn khổ v.v.. thì quốc gia ấy sớm muộn gì cũng xảy ra cảnh huynh đệ tương tàn, đầu rơi máu chảy. Vì thế sự hòa thuận, cùng sống chung trong một môi trường là rất cần thiết, đem lại sự bình yên, thịnh trị, nhân dân được ấm no, hạnh phúc.
    Lời nói phải được giữ gìn, ôn hòa, nhã nhặn, không được rầy rà cải cọ. Có người đã hơn thua từng câu nói để dẫn đến cảnh anh em xa lìa, vợ chồng ly tán, cha con thành thù nghịch. Cũng vì một lời nói không hòa, phĩ báng lẫn nhau mà dẫn đến nhiều quốc gia lâm vào cảnh chiến tranh và hiện nay nó đang là nổi thống khổ của các dân tộc trên thế giới. Cho nên ông bà ta có dạy : "Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói không vừa lòng nhau" hoặc Trang Tử có câu : trước khi nói nên uống lưởi bảy lần". Được như thế thì sự an lạc sẽ đến với mình và cộng đồng xã hội. Cho nên có câu :
    Trong Đạo Phật, khi nói đến ý thì nó được xem là quan trọng nhất, vì nó là đầu mối cho thân và miệng hành động cho nên duy thức học gọi ý là : "Công vi thủ, tội vi khôi", nếu xét về công, thì đứng đầu, xét về tội thì cũng đứng trước.
    Bởi vậy từ gia đình cho đến đoàn thể, xã hội mỗi người cẩn thận trong ý tứ, nếu ý hiền hòa, cởi mở thì thân và lời nói dễ giữ được hòa khí. Trái lại nếu ý tứ bất hòa, thì sự hòa ấy như lớp sơn tô lên gổ mục. Nên Phật dạy "Không chấp người, không chấp ta, đạt đến sự vô chấp thì mới thật sự hòa thuận với nhau". Hòa thuận bằng thái độ vô chấp là hình thức khác của hạnh hỷ xã, nghĩa là bỏ ra ngoài những buồn, giận mà kẻ khác gây tạo.
    Đối với Phật tử tại gia cũng như xuất gia thì Đức Phật chế ra năm giới để ngăn chặn những hành vi ác, bất thiện và nó là năm giới căn bản để giúp cho chúng ta có một đời sống an ổn, đúng chánh pháp. Nói rộng ra bất kỳ trong một gia đình, một đoàn thể, một xã hội v.v... bao giờ cũng lấy kỷ luật, nội quy làm đầu. Vì sao vậy ! Vì nếu trong một gia đình không có phép tắc, không có kỷ cương, thì người thân đôi khi là người thù, cha con mất tình nghĩa, sự tôn trọng lẫn nhau không còn nữa mà thay vào đó là những sự thù hận, ghét bỏ v.v... cũng vậy đối với xã hội, quốc gia nếu không có kỷ luật thì xã hội ấy, quốc gia ấy sẽ hỗn loạn, con người sống vô đạo đức, tội ác gia tăng v.v... Đó là nói đến giới hòa.
    Khi chúng ta sống chung trong một gia đình, tập thể, xã hội v... khi thấy biết điều gì hay phải chỉ bảo, giải bày cho người khác cùng hiểu, lòng ích kỷ hẹp hòi là nguyên nhân của sự xung đột, chiến tranh, không thông cảm cho nhau.
    Đức Phật dạy ví như con voi chúng ta là những kẻ mù. Nếu tổng hợp được các ý nghĩa đó, chúng ta có thể hiểu một cách chính xác hơn. Điều hành một quốc gia, chúng ta vạch rõ đường hướng kinh tế v.v... cho mọi người cùng hiểu và thực hiện tốt đẹp. Đó cũng là "Kiến hòa đồng giải". Ngoài các trường lớp chính qui, chúng ta còn thấy những lớp học tình thương, lớp bổ túc văn hóa v.v... phải chăng xã hội đã đi đúng lời Phật dạy một cách tốt đẹp, còn rất nhiều điều để chúng ta hòa thuận giãi bày cho nhau
    Có tài lợi vật thực, đồ dùng phải phân chia cho cân nhau hay cùng nhau thọ dụng, không được chiếm làm của riêng hay giành phần nhiều về minh. Đức phật dạy : "Có tài lợi, nên tùy thuận chia sớt cho nhau". Vì chúng ta hiểu rằng cuộc đời là vô thường, giàu sang phú quý trong nhân gian, như hạt sương đọng trên cành hoa, thì chắc chắn sự chênh lệch giữa giàu và nghèo sẽ bớt đi nhiều lắm, nhân loại sẽ bớt xung đột nhau hơn. Đức Phật nói : "Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn". Sở dĩ có sự giàu nghèo là do sự sai biệt bởi nhân quả, hãy gieo nhân bố thí để có kết quả giàu sang. Chúng ta thường nghe "Nhường cơm xẻ áo", "Tổ chức lương thực thế giới" "Hội Từ Thiện" v.v.. Đó là đã thể hiện được tinh thần của "Lợi hòa đồng quân,Như vậy, nếu chúng ta thực hành một cách triệt để 6 điều hòa kính này thì chắc chắn trong một đoàn thể, gia đình sẽ hòa thuận, hạnh phúc, xã hội được an hòa, thịnh vượng, thế giới hòa bình, an lạc.
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •