Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong bốn mươi chín năm thuyết pháp độ sanh đã khai mở tám vạn bốn ngàn pháp môn tu tập. Ngài đã thuyết giảng rất nhiều bài kinh tùy theo căn cơ trình độ của mỗi người mà đưa họ đến nơi an ổn, lìa khổ, chứng đắc niết bàn với tinh thần từ bi bình đẳng không phân biệt. Tất cả những gì Đức Thế Tôn giảng không nằm ngoài mục đích chỉ rõ bản thể của vạn pháp vốn là khổ không, vô thường, vô ngã. Như vậy có thể nói giáo lí vô thường là một chân lí chân thật mà Đức Phật luôn khẳng định trong tất cả các bài kinh mà Ngài đã giảng dạy. Như vậy chúng ta cần nhận thức gì về vấn đề này?
Trước hết ta cần hiểu thế nào là vô thường? Vô thường là sự thay đổi, không tồn tại một cách bền bỉ mà biến hóa thay đổi trong từng sát na, sinh diệt bất tận mà không có thực tánh vĩnh hằng. Người tu đạo cần thiết phải nhận thức rất cụ thể, rất chính xác và phải quyết định không còn chút nghi ngờ nào về chân lí này. Bởi lẽ thế gian luôn nhìn thấy vạn vật hữu vi là thường còn, là của ta chẳng thấy hiện tại tuy còn mà tương lai sẽ mất nên bị khổ thiêu đốt mà chẳng sợ hãi, chẳng mong cầu lìa khổ. Do vậy khi không có thì mong cầu cho có. khi có rồi thì khư khư ôm lấy, tìm mọi cách để giữ, cho rằng nó là của ta, sẽ mãi mãi là của ta. Thế nhưng sự thật không gì là của ta và không gì ta có thể giữ được mãi mãi; khi có thì mừng, mất đi thì đau khổ, bất mãn, sân hận. Thế gian vì thế mà khổ. Còn người có trí tuệ đã thấy rõ vô thường, lìa bỏ mọi tham chấp mong cầu nên không có cái khổ đó.
Trong Kinh di giáo, phật đã dạy “ này các Tỳ kheo phải quán niệm vô thường là ngọn lửa lớn thiêu đốt thế gian, phải sớm cầu tự độ”. Quả thực như thế, tất cả chúng sanh đều bị khổ về vô thường trong cái nhận thức được - mất, sinh -diệt. Do vậy chúng ta cần phải hiểu rõ và nhận diện đúng đắn về vô thường.
Ngài Dalai Latma 14 đã nói : “ con người sinh ra như thể mình không bao giờ chết, nhưng rồi sẽ chết như chưa từng được sống bao giờ”. Quả thực câu nói này là một triết lí sâu sắc cho nhưng ai đang mê mẩn và ngủ quên trong cám dỗ của thế gian. Kỳ thực khi ta hiện diện trên cõi đời này thì ta chưa từng nghĩ rằng mình sẽ chết, dẫu rằng hằng ngày ta vẫn thấy những người thân xung quanh của chúng ta phải chết. Người ta chúc nhau câu: “sống lâu trăm tuổi”, “trăm năm hạnh phúc”… nhưng kỳ thực mấy ai đã sống trọn được trăm năm. Vậy mà trong kiếp sống ngắn ngủi của ta, ta lại phung phí thời gian, tuổi trẻ, sức khỏe, tiền bạc để tìm kiếm một thứ hạnh phúc viễn vông và xa vời. đến khi chợt tỉnh thì tuổi đời đã chống chất, nghiệp chướng đã đầy nặng, tội lỗi đã đè nặng lên ta. Và chắc chắn rằng ta sẽ phải từ giã cõi đời này, ta sẽ phải chết đi, nhưng một dòng tên bị xóa đi trên cát, chẳng còn để lại một dấu tích gì. Như vậy ta đang tìm kiếm gì đây? Ta đang đeo đuổi gì đây?
Ta hãy lắng nghe lời tâm sự của một trong những vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại - Alexander đại đế
Alexander là một vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Vào thời khắc ấy, những vùng đất ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, những thanh gươm bén, và sự giàu có không còn nghĩa lý gì với ông. Ông nhận ra rằng cái chết sắp sửa đến và ông sẽ không về kịp mảnh đất quê hương. Ông bảo các sĩ quan của mình:
- “Ta sắp sửa rời bỏ thế gian này. Ta có ba điều nguyện ước. Các ngươi cần phải thực hiện những gì ta bảo”. Các vị tướng tuân lệnh trong dòng nước mắt.
- “Điều ước đầu tiên của ta là hãy bảo thầy thuốc của ta mang cái hòm rỗng của ta về một mình”.
Sau khi cố hít thở một hơi, Alexander nói tiếp:
- “Ước nguyện thứ hai của ta là hãy rải vàng, bạc và châu báu trong kho tàng của ta trên suốt dọc đường đến nấm mồ của ta khi các ngươi mang quan tài của ta ra nghĩa địa”.
Sau khi quấn mình trong chiếc áo khoác và nghỉ một lúc, ông nói tiếp:
- “Ước muốn cuối cùng của ta là hãy đặt 2 bàn tay ta ra bên ngoài cỗ quan tài”.
Mọi người xung quanh ông tất cả đều rất tò mò, nhưng không ai dám hỏi nguyên nhân. Vị cận tướng của Alexander hôn bàn tay ông và hỏi:
- “Thưa đức Vua, chúng thần sẽ làm theo mệnh lệnh của Ngài. Nhưng Ngài có thể cho chúng thần biết tại sao Ngài lại muốn chúng thần làm như vậy hay không?”.
Sau khi gắng thở một hơi dài, Alexander trả lời:
- “Ta muốn mọi người hiểu được ba bài học mà ta đã học được:
- “Mong ước thứ nhất của ta, để người thầy thuốc đưa cỗ quan tài về một mình, là để cho người ta nhận ra rằng một vị thầy thuốc không thể nào thực sự chữa bệnh cho người ta. Nhất là khi đối diện với cái chết, thầy thuốc hoàn toàn bất lực. Ta hy vọng mọi người sẽ học được rằng, phải trân quý cuộc sống của họ.”
- “Mong ước thứ hai của ta, là để nhắn nhủ mọi người rằng không nên giống như ta, theo đuổi mộng giàu sang. Nếu ta tiêu tốn cả đời chạy theo sự giàu có, ta sẽ lãng phí hầu hết thời gian quý báu của đời người.”
-“Mong ước thứ ba của ta là để người đời hiểu rằng, ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và ta sẽ rời bỏ thế gian này cũng với hai bàn tay trắng”.
Nói xong ông nhắm mắt lại và trút hơi thở cuối cùng.
Ta đã thấy một con người đã lên đến tột đỉnh của quyền lực và sự giàu có, đã thật sự giác ngộ về sự vô thường của cuộc đời, nhưng tiếc là điều đó đã quá muộn. Nhưng chí ít ông cũng đã dạy cho nhân loại một bài học sâu sắc.
Vô thường thể hiện ở nhiều góc độ nhưng cụ thể ở ba khía cạnh:
Thứ nhất thân vô thường. Thân vô thường ở đây là nói về kiếp sống của chúng sinh. Phàm khi sinh ra trên cõi đời này ai cũng phải chịu sự khổ về sinh, lão, bệnh, tử. Đó là sự thật của kiếp người, không ai trẻ mãi không già, không ai sống hoài mà không chết. Cổ đức đã than rằng:
“Sơn lâm hữu kiến thiên niên thọ
Thế gian nan phùng bách tuế nhân”
Nghĩa là: Trong sừng sâu núi thẳm ta còn thấy cây ngàn tuổi, thế nhưng người đời ai sống được trăm năm. Ấy thế mà người ta cứ cho thân này là của ta, là thường còn nên tu bồi cho nó, đem đến cho nó mọi thứ dục lạc và sẵn sàng đào xới đau khổ của người khác để tìm hạnh phúc cho riêng mình. Từ nhận thức sai lầm như thế nên chúng sinh điên đảo tạo mọi thứ ác nghiệp, sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ làm đủ mọi điều ác mà không nhìn thấy quả khổ ở tương lai.
Chẳng phãi vô tình mà Trịnh Công Sơn viết “ hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi trở về cát bụi”. ta từ cát bụi sinh rồi thì cũng phải trở về nơi cát bụi mà thôi. Thân này dẫu đẹp đến mấy cũng không thể chống chọi với thời gian và tuổi tác. Hôm nay ta là một thanh niên trẻ đẹp nhưng mai kia ta sẽ trở thành ông già bà lão chống gậy liêu xiêu, mắt mờ tai điếc. Lại thân này phải chịu nhiều sự khổ lụy: bệnh tật, đói nghèo, khổ vì cầu mà không được toại nguyện, khổ vì phải chia cách người yêu thương, khổ vì oán thù phải đối diện … tất cả chúng ta đang bị thiêu đốt trong muôn và cái khổ mà phật dạy : “chúng sinh bị thiêu đốt trong nhà lửa, lấy khổ làm vui, đông tây rảo chạy, được chút ít bèn cho là đủ, chẳng sợ bị lửa lớn đốt cháy, thật đáng thương thay” (Kinh Pháp Hoa). Nay ta như kẻ khát nước lâu ngày. Ai nhỏ cho ta một giọt nước ta bèn thấy sướng thích. Nhưng khi ta khát trở lại, ta sẽ khổ gấp vạn lần. vì bây giờ ta không chỉ khổ vì khát, mà ta khổ vì mong cầu có lại giọt nước kia mà không thể có. Trong cuộc sống, cái làm ta hạnh phúc nhất, cũng là cái sẽ làm ta đau khổ nhất. cuộc đời ngắn ngủi, vậy sao không ý thức được ta phải trân trọng cuộc sống và phải sống một cuộc đời cao thượng!
Xưa kia Tần Thủy Hoàng cũng đã ôm mộng trường sinh bất tử đã hạ lệnh luyện thuốc trường sinh, bắt dân chúng đi vào hang sâu núi hiểm, mò sông dò biển khiến không biết bao người phải mạng vong thậm chí còn mổ bụng thai phụ để ăn thai nhi. Hay Trụ vương vì ham mê dục vọng, thõa mãn dục lạc của thế gian đã tàn hại bao nhiêu sinh linh chỉ vì thõa mãn sự dâm dục của mình khiến nước mất nhà tan, lê dân than oán. Vậy giờ xét lại Tần Thủy Hoàng đâu còn, Trụ vương cũng đã mạng vong. Tất cả cho thấy chấp vào thân này là của ta là thường còn, là một tà kiến sai lầm, đó là mầm móng nảy sinh tham dục và tạo mọi ác nghiệp. Thế nên bậc đại nhân khi giác ngộ đã nói rằng:
“Thế gian vô thường
Quốc độ nguy thúy”
Nghĩa là
“Thế gian không bền
Cõi nước hiểm nguy ”
( Kinh Bát đại nhân giác)
Thứ hai là tâm này vốn là vô thường. Sao gọi là tâm vô thường? Mượn một câu tục ngữ dân gian để làm ví dụ “ Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau bồ hòn cũng méo” Hôm nay người ta thương mình thì sai cũng thành đúng, mai người ta ghét mình thì đúng cũng thành sai. Giữa thương và ghét, yêu và hận tâm ta luôn có biến đổi. Nó đi từ cực này đến cực kia, tráo trở như lật bàn tay. Hôm nay ta còn thương vì ta thấy hài lòng, nhưng khi có chuyện xung đột hay không vừa ý thì ta liền thấy thù ghét. Do vậy tâm luôn luôn thay đổi mà không bao giờ trụ ở một nơi nhất định đó là tính chất vô thường của tâm. Thế nên chư tổ ví tâm như khỉ như ngựa chứng bèn gọi là “ Tâm viên ý mã”. Trong Kinh Di giáo Phật cũng đã dạy”
“ Nếu phóng túng tâm vào năm thứ dục lạc thì bị năm thứ dục lạc lôi kéo như vượn khỉ mà được cây rừng, voi điên mà không có móc sắt không thể cầm chế”
Vì sao không thể cầm chế? Vì tâm sinh diệt bất tận, duyên vào trần cảnh mà biến hóa khôn lường. Mừng, giận, thương ghét, phiền não, đau khổ cũng từ đây mà sinh ra.
Thế gian vốn dĩ là đắm nhiễm vào 5 thứ dục lạc. Lòng người là một cái thùng không đáy, chẳng bao giờ rót được cho đầy. Chính năm thứ mà làm cho nhân loại này điên đảo, đảo lộn luân thường, băng hoại đạo đức, tàn diệt lẫn nhau.:
Một là tiền tài: Một số nhà triết học duy vật cho rằng “Hạnh phúc là sự thỏa mãn mọi sự mong cầu” Nhưng kỳ thực bao giờ con người mới thỏa mãn thật sự cái mong cầu của họ? chẳng bao giờ là đủ. Chính vì thế, ta luôn tìm cách tạo ra thật nhiều tiền để tận hưởng cái mà thế gian cho là khoái lạc. Ta không từ bỏ mọi thủ đoạn nào để có được nhiều tiền. Đôi khi có người còn tàn hại cả cha mẹ, vợ con, phản bội cả bạn bè chỉ vì tiền mà thôi.
Hai là sắc đẹp: dục tính của con người là một bản năng sinh tồn. Đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng có nhiều người lại đắm nhiễm với cái sắc đó mà không biết điểm dừng. vì đeo đuổi một nhan sắc, người ta có thể đánh đổi mọi thứ. Đôi khi một số người sống quá trụy lạc, đến nỗi thân bại danh liệt, nhà tan cửa nát chỉ vì cái dục tính không thể kiềm chế của họ.
Ba la danh vọng: Nhà nho cho rằng, đã sinh ra trên đời phải có danh gì với núi sông. Đó là một mong ước cao đẹp hướng đến sự cống hiến và phục vụ cho nhân loại. Thế nhưng có một số người lại quá đam mê cái danh vọng hảo huyền mà sẵn sàng hy sinh mọi thứ, bất chấp mọi thứ, không từ một thủ đoạn nào, dẫu là dâng vợ, người yêu của mình cho kẻ có thể đưa mình đến đỉnh cao của danh vọng và quyền lực.
Thứ tư là ăn mặc: ai có thân này cũng muốn nó đẹp, nó xinh. Ta vun bồi cho nó, nào là quần lụa áo là, chăn êm nệm ấm, nhà cao cửa rộng. Đanh rằng ăn, mặc, ở là nhu cầu thiết yếu của con người thế nhưng không có nghĩa là ta quá chú trọng vào nó. Trên thực tế ta thấy, kẻ có thì tham, kẻ không thì thèm. Thấy người có mà ta không có thì ganh tức, muốn tìm cho có. Nên đôi khi họ sẵn sàng bất chấp mọi thứ để tìm được cái mà họ mong muốn. Đây chính là nguyên nhân của trộm cướp, tị hiềm, thù hại lẫn nhau
Thứ năm là ngủ nghĩ: Đây là nói đến kẻ lười biếng, chỉ thích hưởng thụ. Nghĩ ngơi là thứ giúp con người phục hồi năng lượng. Thế nhưng tham ăn đã đành, rồi lại còn tham ngủ. Thành ra kẻ suốt đời chỉ biết ăn ngủ là kẻ chỉ thích hưởng thụ. Cổ nhân có dạy “Đời người có một gang tay, ai hay ngủ ngày còn lại nửa gang” thậy vậy, một ngày 24 tiếng, ta đã dành một nửa hoặc hơn cho việc ăn ngủ. vậy thì một đời người hết một nửa thời gian là dành cho ăn ngủ. vậy thì kẻ tham ngủ, tham ăn thì làm được tích sự gì cho cuộc đời, cho mọi người. Đó là những người không trân trọng cuộc sống quý giá mà họ được ban tặng.
Tâm con người luôn thèm khát, tham đắm vào 5 thứ dục lạc này, bị nó lôi kéo, điều khiển. Khi có thì mừng, thương khi mất đi bất mãn thù hận. sao ta không tự buông bỏ, biết sống một cuộc sống hướng thượng, biết sống tiết chế, ít tham muốn, biết vừa đủ để an vui và thảnh thơi giữa cuộc đời vốn đã quá nhiều bon chen tranh đoạt!
Đạo lí Thứ ba là hoàn cảnh vô thường, tức là điều kiện bên ngoài, môi trường xung quanh ta luôn luôn thay đổi. Họa phước là khôn lường, hưng suy khó đoán. Đó là hoàn cảnh vô thường. có người gặp nhiều thuận lợi, hạnh thông, đạt được chút ít thành đạt thì tự cao ngã mạn cho đó là vĩnh viễn. thế nhưng họa phước vốn chẳng lường trước được, do vậy khi có thì mừng, khi mất thì khổ. Nguyễn Du đã than thở trong tác phẩm Truyện Kiều khi hiểu rõ đời là vô thường:
“ Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trong thấy mà đau đớn lòng.”
Và trong kinh Di giáo Đức Phật cũng đã một lần nữa nhấn mạnh:
“ Này các Thầy Tỳ kheo dù là pháp biến động hay bất động đều là trạng thái bất an và tan rã, có hợp phải có tan, có sinh phải có diệt, có hợp mà không tan, có sinh mà không diệt là không thể có”.
Ta luôn quan niệm rằng; tài sản của tôi, vợ con của tôi, nhà cửa của tôi… và rất nhiều thứ là của tôi. Nhưng nếu ta bình tĩnh và sáng suốt để nhận thức: thật ra trên đời này ta chưa từng thật sự sở hữu bất kỳ một thứ tài sản nào cả. Vì sao như thế, vì rằng tài sản của thế gian là thứ ảo ảnh phù phiếm và dễ bị tan hoại. có 5 nguyên nhân khiến ta không bao giờ giữ được mãi mãi thứ tài sản của thế gian đó là
1. Tài sản bị tổn thất do nước trôi, lửa cháy, thiên tai, dịch họa
2. Tài sản bị tổn thất do giặc cướp, chiến tranh
3. Tài sản bị tổn thất do vua quan chiếm đoạt
4. Tài sản tổn thất do người thân: vợ chồng, con cái, bạn bè, thân thuộc phá hoại
5. Tài sản tổn thất do bệnh tật bất ngờ
Đây là 5 nguyên nhân mà bản thân chúng ta cũng không thể giữ mãi được cái mà ta cho là “nó là của tôi”. Tất cả chúng ta chưa bao giờ làm chủ được hoàn cảnh bên ngoài và ta luôn bị nó lôi cuốn. Kẻ ngu thì khổ. Nhưng kẻ trí đã thấu hiểu, biết thuận theo hoàn cảnh, biết thích nghi để sống, không tham cầu, không bức hại, không tranh đoạt. chính vì vậy, giữa đời vô thường, kẻ trí luôn là ngọn núi vững vàng giữa bão tố phong ba, như kình ngư tự tại giữa đại dương muôn ngàn sóng gió.
Hiểu được giáo lí vô thường để chúng ta biết buông bỏ, biết sống một cuộc đời thiểu dục, tri túc. Vì thấy các pháp là vô thường, cuộc đời là bể dâu nên ta từ bỏ. Chính sự từ bỏ đó khiến chúng ta an ổn, không chấp về thân, không chấp vào tâm, không mong cầu hoàn cảnh thuận theo lòng mình. Từ đó ta có thể an ổn tự tại trong tinh thần tùy duyên bất biến. Chân lí vô thường là một sự thật, sự thật này luôn luôn phù hợp trong mọi thời đại, mọi hoàn cảnh, mọi không gian và thời gian. Sống giữa khổ mà tìm thấy được an lạc, sống trong trói buộc mà tìm thấy tự tại. Đó là sự giác ngộ chân lí vô thường vậy.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks