Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 36

Ðề tài: Khí phách khẩu chiến của anh hùng Việt nam

  1. #1

    Mặc định Khí phách khẩu chiến của anh hùng Việt nam

    Bùi Thị Xuân: "Con nhà tướng không được khiếp nhược trước quân thù"
    Trần Bình Trọng ở thế
    kỷ XIII bị sa vào tay giặc Mông – Nguyên đã khước từ mọi sự dụ dỗ mua chuộc
    của kẻ thù và khảng khái trả lời: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm
    vương đất Bắc”; hay Nguyễn Trung Trực dù bị thực dân Pháp bắt vẫn hiên ngang
    tuyên bố: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, mới hết người Nam đánh
    Tây”. Có thể thấy rằng, từ lời thề của Hai Bà Trưng năm 40: “Một xin rửa sạch
    nước thù/ Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng/ Ba kẻo oan ức lòng chồng/ Bốn
    xin vẹn vẹn sở công lênh này” đến tuyên ngôn của Triệu Thị Trinh năm 248: “Tôi
    chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh
    đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng
    làm tỳ thiếp cho người”; lời tuyên bố đanh thép của Trần Quốc Tuấn: “Bệ hạ
    muốn hàng trước hết hãy chém đầu tôi đi đã”; những tiếng hô “Quyết đánh” của
    các bô lão đời Trần tại Hội nghị Diên Hồng, tinh thần chiến đấu của Lê Phụ Trần,
    Trần Quốc Toản... trong kháng chiến chống Mông – Nguyên; của Lê Lai, Đinh Lễ...
    trong khởi nghĩa chống Minh là những biểu hiện khí phách quật cường, bất khuất
    của cả dân tộc quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, giống nòi. http://repositories.vnu.edu.vn/jspui...9/6221/1/3.pdf
    Vua Duy Tân
    Vua Duy Tân (1900-1945) là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Nguyễn, ông lên ngôi khi chỉ mới 7 tuổi trong hoàn cảnh rối ren của lịch sử triều Nguyễn và thực dân Pháp xâm lược.
    Vào mùa hè, Vua Duy Tân thường ra nghỉ mát ở Cửa Tùng, một cửa biển đẹp ở Quảng Bình. Một hôm nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay dính đầy cát, viên thị vệ bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay. Nhà vua vừa rửa tay vừa hỏi đùa:
    - Tay bẩn thì lấy nước mà rửa, còn “nước” bẩn lấy gì mà rửa?
    Viên thị vệ lúng túng chưa biết trả lời sao thì Vua hỏi tiếp:
    - Nước bẩn thì làm thế nào cho sạch?
    Người thị vệ vẫn không trả lời được. Vua Duy Tân bèn nói:
    - Nước bẩn thì lấy máu mà rửa!
    Viên thị vệ đâu có ngờ nhà vua chơi chữ, chuyển từ nước rửa tay sang một thứ nước khác ngàn lần đáng quý trọng là đất nước, là quê hương. Khi đất nước bị dơ bẩn bởi sự chà đạp của ngoại bang thì không thể rửa sạch bằng nước mà phải rửa bằng máu. Về sau, vua Duy Tân đã đứng lên hô hào toàn dân khởi nghĩa, lấy máu đào rửa cho sạch cái nhục vong quốc.
    Thái sư Trần Thủ Độ Ông trả lời một câu bất hủ, “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!”
    Trần Hưng Đạo dõng dạc tuyên bố, “Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã!”
    https://sites.google.com/site/luuxua...glichsuvietnam

    +Đô đốc Bùi Thị Xuân,
    nỗi ngậm ngùi bên cửa Nhật Lệ

    -“Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc hà…” Nói với Nguyễn Ánh

    +Quốc Toản đứng phắt dậy, mắt long lên:

    - Ai chủ hoà? Ai chủ hoà? Cho nó mượn đường ư? Không biết đấy là kế giả đồ diệt Quắc của nó đấy sao? Dâng giang sơn gấm vóc này cho giặc hay sao mà lại bàn thế?

    Quốc Toản chạy xồng xộc xuống bến, quỳ xuống tâu vua, tiếng nói như thét:

    - Xin quan gia cho đánh! Cho giặc mượn đường là mất nước.

    Nói xong, Hoài Văn run bắn, tự đặt thanh gươm lên gáy và xin chịu tội

    +Hưng Đạo Vương
    khi Trần Thánh Tông vờ bảo Trần Quốc Tuấn rằng: "Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi". Trần Quốc Tuấn trả lời: "Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng".


    +Nguyễn Viết Xuân
    " Nhằm thẳng quân thù mà bắn"

    +Lê Lai
    nhà vua hỏi các tướng: “Ai dám đổi áo thay ta đem quân ra đánh giặc, xưng danh hiệu của ta, bắt chước Kỷ Tín đời Hán, để cho ta có thể giấu tiếng, nghi binh, tập hợp tướng sĩ, mưu tính cuộc nổi dậy về sau”.
    Các tướng đều không ai dám hưởng ứng. Riêng Lê Lai đứng dậy nói: “Tôi xin đi. Sau này lấy được nước thì nghĩ đến công lao của tôi, khiến cho con cháu muôn đời được nhớ ơn nước, đó là nguyện vọng của tôi”.

    +Triệu Thị Trinh
    bà Triệu Thị Trinh với cuộc khởi nghĩa (chống quân Ngô) (248). Bà cũng lưu tiếng muôn đời qua câu nói: "0_Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình biển đông, quét sạch bờ cõi, cứu Dân ra khỏi nơi đắm đuối, chớ không thèm bắt chước thiên hạ, cúi đầu khom lưng làm tì thiếp người ta".

    +Nguyễn Thị Bắc
    Trước khi chết, cô vẫn hiên ngang không chút sợ sệt mắng vào mặt Thực dân: "********* hãy về Pháp mà kéo đổ tượng Jeanne d’Arc đi thôi!".

    +Võ Thị Sáu
    Ra đến pháp trường, tên chánh án hỏi chị: “Còn yêu cầu gì trước khi chết?”. Chị nói: “Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người!”. Nói xong, chị bắt đầu cất cao tiếng hát. Chị hát bài “Tiến quân ca”. Giọng hát của người con gái Đất Đỏ lúc này thiết tha bay bổng, say sưa át cả tiếng tên chánh án đọc lệnh thi hành án tử hình và tiếng hô ra lệnh cho toán lính lên đạn của tên đội trưởng lê dương. Khi tên chỉ huy ra lệnh cho bọn lính chuẩn bị nổ súng thì chị lập tức ngưng hát và hét lên: “Đả đảo thực dân Pháp!”. “Việt Nam độc lập muôn năm!”. “Hồ Chủ tịch muôn năm!”.

    +Nguyễn Văn Trỗi
    Nguyễn Văn Trỗi bị xử bắn tại sân sau nhà lao Chí Hòa lúc 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài. Những phút cuối cùng, anh tỏ ra rất can đảm, không đồng ý bịt mắt và xưng tội và hô lên những lời cuối cùng được các phóng viên ghi lại

    "Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo Đế quốc Mỹ!"
    "Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!"

    +Nguyễn Trung Trực
    Tương truyền rằng trước khi hành quyết, ông được Pháp hỏi cần ân huệ chót gì không thì ông chỉ xin uống một trái dừa tươi. Uống xong, ông ngâm sang sảng một bài thơ tuyệt mệnh sau đây:

    Theo việc binh nhung thuở trẻ trai
    Phong trần hăng hái tuốt gươm mài
    Anh hùng gặp phải hồi không đất
    Thù hận chang chang chẳng đội trời.
    Rồi đứng lên vén tóc gáy, nghểnh cổ bảo tên đao phủ thủ hãy chém lấy một nhát cho thật mạnh để đầu đứt lìa, lưỡi đao khỏi bị dục dặc. Theo truyền thuyết, khi lưỡi đao hạ thủ, đầu lìa khỏi cổ, nhưng ông vẫn kịp đưa hai tay hứng lấy, đặt lại trên cổ rồi cả thân và đầu mới ngã gục xuống nền đất. Cái đởm khí ấy của ông khiến ai là con người lại không kinh hoàng và cảm phục?
    Nội dung bài thơ của Phan Kế Bính như sau:
    Giỏi thay Trần Bình Trọng!
    Dòng dõi Lê Đại Hành.
    Đánh giặc dư tài mạnh,
    Thờ vua một tiết trung.
    Bắc vương sống mà nhục,
    Nam quỷ thác cũng vinh.
    Cứng cỏi lòng trung nghĩa.
    Ngàn thu tỏ đại danh.
    http://4phuong.net/ebook/12382547/mo...-viet-nam.html

  2. #2

    Mặc định

    PHÁT BIỂU CỦA XẸP QUANG THANH TRONG Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á (Đối thoại Shangri-La) lần thứ 13 ở Singapore ( bản chế )
    Suốt chiều dài lịch sử 5000 năm của Việt nam là những trang sử chống lại sự bành trướng thật sự oanh liệt , đẫm máu và nước mắt dân tộc Việt kể từ thời cổ đến cận đại . Câu chuyện Hoàng sa , Trường sa hiện nay cũng chỉ là một trong những chuỗi tiếp nối của sự bành trướng lãnh thổ của Trung quốc . Các thư tịch cổ , BẢN ĐỒ CỔ của Trung quốc , kể cả các bản đồ cổ về trung quốc xuất bản tại các châu lục khác không có hoàng sa , trường sa . Trái lại về phía Việt nam các bản đồ cổ , thư tịch cổ đều xác định rõ chủ quyền HOÀNG SA , TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM .
    Toàn dân Việt nam cảm thấy bất bình vì biển đảo của mình , mà dân mình , người mình không được đến , không được đánh cá , thậm chí còn bị khủng bố bằng đá , súng nước , vòi rồng , đá , vật rắn ... làm bị thương 9 người , cố ý giết 10 ngư dân , làm hỏng nặng trên 6 tàu thuyền mất mát tính đến tiền tỷ .
    Trung quốc với vai trò là một cường quốc mới nổi ,một ủy viên thường trực hội đồng bảo an Liên hợp quốc , cần phải có hành động ứng xử văn minh tiến bộ tương ứng vói tầm vóc cần có
    Trong tất cả các triều đại/chính phủ của Trung Quốc từng kiểm soát lãnh thổ giáp ranh với Việt Nam (Tần, Triệu, Hán, Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Ngô, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Trung Hoa Dân quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), triều đại/chính phủ nào cũng đưa quân sang Việt Nam với ý định thôn tính lãnh thổ : Ân-Văn Lang, Tần-Âu Lạc 218 - 217 TCN., Hán-Lĩnh Nam 42-43, Đông Ngô-Việt 248 , Lương-Vạn Xuân 541-602 , Đường-Việt713, Nam Hán-Việt 938 , Tống-Đại Cồ Việt, 981 , Tống-Đại Việt, 1075-1077, Nguyên Mông-Đại Việt1258 đến năm 1288, Minh-Đại Ngu 1406-1407, Minh-Đại Việt, 1418-1427), Thanh-Đại Việt1428 - 1858
    Trong 60 năm qua gần đây , những người cầm quyền Trung Quốc đã ba lần phản bội nhân dân Việt
    1- Tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954
    2/Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, khi chế độ Ngô Đình Diệm bị sụp đổ thì họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền nam Việt Nam
    3/ Sau khi nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền nam khỏi ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ và thống nhất nước nhà, họ đã dùng mọi thủ đoạn chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao để làm suy yếu nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hòng khuất phục nhân dân Việt Nam, tiến đến dùng lực lượng quân sự của bè lũ tay sai Pôn Pốt Iêng xary xâm lược Việt Nam ở phía tây nam và lực lượng quân sự của Trung Quốc trực tiếp xâm lược Việt Nam ở phía bắc, giết hại nhân dân Việt Nam, phá hoại nghiêm trọng các cơ sở kinh tế, văn hoá của Việt Nam ở các vùng có chiến sự.
    Vào cuối đời nhà Thanh, điểm cực Nam còn được xác định chính xác tại tọa độ 18o13' Bắc (ngang Nghệ An - Hà Tĩnh nước ta).
    Trong khi quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh – Cà Mau)
    Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, Các triều đại phong kiến Trung Quốc đều đưa vào trong bộ chính sử của mình như Hán thư, Đường thư, Tống sử, Nguyên sử, Minh sử và Hoàng triều thông điển (đời nhà Thanh) chương viết về địa lý và giới hạn cương vực của Trung Quốc, hoặc có sách riêng gọi là "Dư địa chí". Các bộ sách này đều do quan chức hai viện Hàn lâm, Quốc sử quán triều đình biên soạn và được trình lên vua ngự lãm (phê duyệt). Có những bộ như Đại Minh nhất thống chí (Dư địa chí nước Đại Minh thống nhất) và Đại Thanh nhất thống chí (Dư địa chí nước Đại Thanh thống nhất) còn có lời tựa của nhà vua.không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
    “Lịch sử Trung Quốc thời trung cổ” o Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, học giả Hsieh Chiao-Min
    Sử gia Triệu Nhữ Quát đời nhà Tống trong cuốn Chư Phiên Chí đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà HánTheo đó, năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ VII) mới đặt lại quyền cai trị”
    Đời nhà Đường có sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập tới cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu chép những chuyện kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Sách này chép, tại Thất Châu Dương (nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua không được. Điều này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc về Giao Châu xưa (nay là Việt Nam). Trong đời Nam Tống, cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”. Chư Phiên Đồ đời Tống cũng xác định giới hạn lãnh thổ của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương hay Biển Giao Chỉ là Vịnh Bắc Bộ ngày nay, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ hàng trăm dặm về phía nam.
    Trong Dư Địa Đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng Dư Đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561 , VÀ Đời nhà Minh, Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ trong Đại Minh Nhất Thống Chí (1461), Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ (1635), Trên các bản đồ Trịnh Hoà Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ , bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX , cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906, bộ sách địa lý Đại Thanh Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông , hái bình hoàn vũ ký của Nhạc sử, Phương dư thăng lãm của Chúc Mục, Dư địa quảng ký của Âu Dương Mâu đời Tống; Lịch đại cương vực biểu của Hoàn Trường Cơ đời Minh; Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư của Cố Viên Vũ, Độc sử phương dư kỷ yếu của Cố Tổ Vũ, Quảng dư ký của Dương Bá Sinh (1808), Hoàng triều dư địa lược của Nghiêm Đức Chỉ (1834), Trung Quốc địa lý học giáo khoa thư của Đồ Ký đời Thanh , Trung Hoa dân quốc tân hưng đồ các năm 1915, 1917 và cả Trung Hoa dân quốc phân tỉnh tân đồ do Vũ Xương Á Tân địa họ phần cực nam lãnh thổ Trung Hoa là đảo Hải Nam.
    1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: “Hoàng Sa không liên hệ gì tới Trung Quốc”.
    Các tài liệu cổ của Trung Hoa rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ một cách hoà bình và liên tục không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả của Trung Quốc. Điều đó được minh chứng từ tư liệu chính sử của nhiều triều đại Trung Quốc trong đó đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỷ từ thời Tần, Hán cho đến đầu thế kỷ XX.
    Không chỉ bản đồ của triều Nguyễn mà ngay người phương Tây cũng thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam, như bản đồ Châu Á Carte de I'Asia do Homann Heirs vẽ năm 1744, quần đảo Hoàng Sa (bao gồm cả Trường Sa) được ghi chú là "I'Ciampa" (viết tắt của chữ Islands Ciampa, nghĩa là "quần đảo thuộc Ciampa" (tức là thuộc Champa), bấy giờ là Đàng Trong của Đại Việt do các chúa Nguyễn trị vì. Giám mục Taberd người Pháp cũng cho đính kèm sau cuốn Tự điển Việt - Latinh nhan đề "Latino - Annamiticum" xuất bản tại Serampore (Ấn Độ) vào năm 1838 một tấm bản đồ khá lớn (ngang 40cm, dọc 80cm). Tên bản đồ được thể hiện bằng ba thứ chữ: Hán, Việt, La tinh (dòng chữ Việt: An Nam đại quốc họa đồ), trong đó ghi tới khoảng 505 địa danh. Đặc biệt, với quần đảo Hoàng Sa (chữ Hán), ngoài ghi địa danh Paracel theo cách gọi của người phương Tây, Taberd còn ghi tục danh là Cát Vàng (chữ Việt Latinh). Rõ ràng, địa danh Cát Vàng là tiếng Việt, không thể có ở một nước nào khác!bộ sưu tập 150 bản đồ (gồm 110 bản đồ gốc và 40 bản đồ tái bản) xuất bản ở Anh, Ðức, Australia, Canada, Mỹ và Hồng Kông trong thời gian 1626-1980 do ông Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hóa và giáo dục Việt Nam tại Hoa Kỳ tặng cho TP Đà Nẵng đã có 80 bản đồ ghi nhận lãnh thổ cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam
    Toản tập An Nam lộ do chúa Trịnh Căn sai Đỗ Bá biên soạn trong nhiều năm trên cơ sở tư liệu cũ, kết hợp với tư liệu mới, hoàn thành vào niên hiệu Chính Hòa thứ bảy (1686). Trong đó Đỗ Bá đã vẽ Bãi Cát Vàng (chữ nôm, tức quần đảo Hoàng Sa)
    Việt Nam có những tư liệu lịch sử khẳng định việc thực thi chủ quyền liên tục trên thực tế của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chậm nhất cũng từ thời các chúa Nguyễn trở đi. Đây là sự hỗ trợ chắc chắn nhất cho các bản đồ nói trên. Các văn bản của Nhà nước (bao gồm các bản tấu sớ của các quan trấn/tỉnh gửi các Bộ, Nha rồi được trình lên để vua xem và phê duyệt bằng mực son), các cuốn biên niên sử và địa chí - lịch sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn gồm: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (là công trình lớn nhất và có giá trị nhất của Nội các Triều Nguyễn, ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của triều đại này), Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều chính biên toát yếu do Quốc sử quán Triều Nguyễn biên soạn đều có ghi lại các sự kiện xác lập chủ quyền của nhà nước Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa và khảo tả hai quần đảo này.
    http://www.hoangsa.danang.gov.vn/ind...uo-n-thu-ti-ch
    http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gio...a-2998454.html
    http://nguyentandung.org/su-that-ve-...ua-phan-5.html
    http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB...g_Qu%E1%BB%91c
    Last edited by HOASIM; 03-06-2014 at 05:31 AM.

  3. #3

    Mặc định

    Trung quốc đã vi phạm nhân quyền nghiêm trọng khi chà đạp lên quyền tồi thiểu của ngư dân Việt nam :
    Theo lý thuyết của John Locke, một triết gia người Anh ở thế kỷ 16, John Lockeba quyền cơ bản không thể bị tước đoạt của con người là quyền được sống, được tự do và được sở hữu.
    Tuyên ngôn độc lập của Mỹ - 1776
    " Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc "
    Trong bản tuyên ngôn 1789 P HÁP này có tất cả 17 điều khoản, điều 1 và điều 2 là nổi tiếng nhất và được trích dẫn nhiều nhất: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng và quyền lợi. Sự khác biệt xã hội chỉ có thể được thiết lập trên cơ sở lợi ích chung” và “Mục đích của mọi tổ chức chính trị là việc bảo toàn các nguồn lợi thiên nhiên và bảo toàn các quyền con người không thể bị tước bỏ. Các quyền đó là tự do, tài sản, sự an toàn, và quyền được chống lại mọi sự áp bức”.
    Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam - 1945
    "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
    Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10/12/1948 tại Paris, Pháp.
    Ðiều 3:
    Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.
    Ðiều 5:
    Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.
    Ðiều 13:
    Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Tuy%C3%..._quy%E1%BB%81n

  4. #4

    Mặc định

    Ông Dương Danh Dy, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc) tái khẳng định, hành động hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là một bước tiến xa của nước này trong âm mưu, thủ đoạn nhằm thôn tính, làm bá chủ Biển Đông.
    Âm mưu của Trung Quốc là nhất quán, tham vọng của họ không chỉ là ‘độc chiếm’ mà tôi phải dùng từ ‘bá chiếm’ Biển Đông.

    Giàn này do Trung Quốc chế tạo, nhưng CNOOC đã phải mua thiết kế cơ bản của Công ty Friede &Golman lừng danh có trụ sở tại Houston (bang Texas, Mỹ).
    Với công ty này, CNOOC đã có mối thâm giao bởi Chủ tịch và CEO hiện của Friede &Goldman (viết tắt là FG) tên là Paul Geiger đã có giai đoạn làm việc như một kỹ sư trưởng tại CNOOC Trung Quốc từ năm 1982-1990 (ngay khi CNOOC vừa mới được thành lập vào 1982). Hàng loạt kỹ sư của Trung Quốc đã sang làm việc tại FG Houston từ hàng chục năm nay.
    Bản thân Geiger là một tên tuổi lớn, người chủ trì và viết chương “Giàn khoan” trong bộ sách “Công nghệ đóng tàu” nổi tiếng do Thomas Lamb và SNAME xuất bản, cuốn sách mà các trường Việt Nam hiện đang cố gắng đọc và học hỏi...
    Lịch sử TQ là các cuộc chinh phục lân bang đẫm máu tàn sát nhiều triệu người , gần nhất 1950 : thử bom nguyên tử ,1959 : Tây tạng , 1969 cách mạng văn hoá , 1989 vụ tàn sát sinh viên bằng xe tăng tại thiên an môn ,Việt nam 1979,
    Tâm bình Thế giới bình

    Tâm si đâu thấy trời cao rộng
    Lòng tham mong ôm gọn đất trời
    Lửa sân thiêu rụi thành tro bụi
    Phước huệ còn đâu mãi xa vời

  5. #5

    Mặc định

    TUYÊN BỐ BIỂN ĐÔNG
    Từ ngàn xủa nước VIỆT
    Chỉ thích sống hiền lương
    Nơi đẹp như tiên cảnh
    Núi non , biển mênh mông
    Ẩn sâu trong lòng đất
    Dầu khí băng cháy nhiều
    Linh khí thiêng đất Việt
    Quân phương bắc dòm ngó
    Bao chinh chiến tương tàn
    Mỗi tấc đất , tấc sông
    Đều thấm đẫm máu đào
    Dẫu mất đi một tấc
    Phải hổ thẹn cha ông
    TIẾNG DƠ ĐỂ NGÀN NĂM
    Không bao giờ rửa sạch
    Bổn sinh tâm trong sáng
    QUYỀN ĐƯỢC SỐNG ĐƯỢC YÊU
    Tự do và bác ái
    Luật nhân quả nhân quyền
    Tham sân si lang sói
    Hù dọa cả thế gian
    Thách thức mọi lương tri
    Của loài người tiến bộ
    Trơ trẽn tráo trắng đen
    Nguy biện ngay lịch sử
    Lừa đảo cả địa cầu
    Làm sao che cho thấu
    Thời đại của thông tin
    Thời của thế giới phẳng
    Quyền lực mềm trân quý
    Chúng xem nhẹ như bông
    Lũ quỷ đói hiện hình
    Thúc lòng người căm phẫn
    Hãy nối vòng tay lớn
    Việc người như việc ta
    Đuổi hồn ma tan biến
    Trả lại biển xanh trong
    MỘT MÀU XANH NGỌC BÍCH
    In bóng áng mây trôi
    Thanh thản lững lờ bay
    Trắng trong màu thanh khiết
    Bổn tâm lại hiện tiền
    Trong trẻo đẹp vô ngần
    Trí từ bi tối thượng
    Last edited by HOASIM; 06-06-2014 at 08:43 PM.

  6. #6

    Mặc định

    Theo báo cáo mới nhất được Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI, tại Thụy Điển) công bố hôm 14-4, , Trung Quốc là nước chi tiêu cho quân sự "mạnh tay" nhất ở Châu Á trong năm 2013. Mỹ vẫn là nước đầu tư cho quân sự nhiều nhất thế giới với mức 640 tỉ USD trong năm 2013 .Trong khi các nước láng giềng được xem là đối thủ chính của Trung Quốc như Nga chi 88 tỉ USD, Nhật 60 tỉ USD, Ấn Độ 40 tỉ USD, thì Trung Quốc đã chi tới 188 tỉ USD, hơn cả Nga, Nhật cộng lại.
    Tổng thu nhập GDP 50 NƯỚC trên mức 188 tỷ , còn 143 /193 nước trên thế giới nhỏ hơn mức đầu tư cho quân đội của tq là khoảng gần 188 tỷ USD .
    sỐ liệu tổng thu nhập quốc nội triệu USD trong năm // bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương : GDP / năm // GDP /người , năm :
    United States 16,799,700// 53,101 , China 9,181,377[ // 9,844 Japan 4,901,532//36,899 , Germany 3,635,959, //40,007 France2,737,361 //35,784 , United Kingdom 2,535,761,//37,307 Brazil 2,242,854, // 12,221 Russia 2,118,006// 17,884 , Italy2,071,955//30,289 , India 1,870,651,// 4,077 Canada 1,825,096 // 43,472 , Australia 1,505,277 // 43,073 South Korea 1,221,801//33,189 , ndonesia 870,275 // 5,214 Thailand 387,156// 9,875 Malaysia 312,433 // 17,748 Singapore 295,744// 64,584 Vietnam 170,565 // 4,012
    Gía như có điều luật quốc tế thật mạnh mẽ về không phổ biến vũ khí mà chỉ được đầu tư cho phát triển thiện nguyện thì cuộc sống sẽ dẽ chịu hơn nhiều
    Last edited by HOASIM; 07-06-2014 at 03:25 PM.

  7. #7

    Mặc định

    ĐỌC CỔ SỬ TRUNG HOA ĐỂ TÌM CỔ VIỆT - NAM SÔNG DƯƠNG TỬ
    Nước Việt vào cuối thời Chiến Quốc là một nước nằm ở địa đầu của vùng Hoa Nam, ven biển, ở phía Nam sông Dương Tử. Nhìn bản đồ nước Trung Quốc ta thấy sông Dương Tử (còn gọi là Trường Giang) đại khái nằm ở vĩ tuyến thứ 30 và chia nước Tàu làm hai. Ở phía Nam sông Dương Tử người Hoa thường gọi Hoa Nam hay Giang Nam (như kiểu Giang Nam Thất Quái, bảy vị sư phụ của Quách Tỉnh trong Anh Hùng Xạ Điêu). Phân nửa của nước Tàu ở phía Bắc sông Dương Tử lại có thể chia ra thành 2 phần nữa bằng con sông nổi tiếng mang tên Hoàng Hà đại khái chạy uốn mình quanh co giữa khoảng vĩ tuyến 36 đến 38. Trung Quốc trong giai đoạn khai sinh cho tới thời Xuân Thu Chiến Quốc chỉ nằm quanh quẩn các nước ở phiá Bắc sông Dương Tử và phiá Nam sông Hoàng Hà - đặc biệt các vùng tập trung dân cư như Lạc Dương, Trường An, Tây An, An Dương đều nằm ở lưu vực của sông Hoàng Hà. Bình minh của văn minh Trung Quốc cũng ló dạng nơi khu vực đó. Và sáu nước Tần Thuỷ Hoàng đã xoá khỏi bản đồ rồi thống nhất Trung Quốc, mang tên Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Tề, và Yên cũng chỉ nằm ở phiá bắc sông Dương Tử mà thôi. phiá Nam sông Dương Tử là một nhóm các bộ lạc có chủng tộc thuở khai thiên lập địa cho đến thời nhà Tần nhà Hán hơi khác với chủng tộc Tàu gốc phía Bắc sông Dương Tử.Họ cũng gọi hàng trăm nhóm người này là Bách Việt tức một trăm thứ tộc Việt không phải Hán thuần tuý.
    kinh Thư và cổ sử Tàu: Các tộc Man Di có 4 đặc điểm: xâm mình, cắt tóc ngắn, khoanh tay, cài áo bên phải (Hán tộc cài áo ở giữa). Họ làm nghề chài lưới, săn bắn, sinh sống gần ao, hồ, sông, biển, ven rừng, thường xâm mình hình con giao long. Văn hóa "khác hẳn" Hán tộc. Hán chê đấy, nhưng là điểm mấu chốt làm các nhà khoa học tìm thấy nguồn gốc ta thêm độc đáo nhiều phức tạp (8). Cổ sử Hán cũng khen: "Người Man Di có tính khinh bạc, hiếu chiến, sắc sảo việc binh, không sợ chết. Họ ở núi mà đi đường thủy, lấy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa, đến như gió thoảng, đi khó đuổi theo. Họ giỏi thủy chiến, luôn chống trả kịch liệt các cuộc xâm lăng của Hán tộc, ngoài ra tộc Man Di hoài vọng muốn phát triển về phương bắc" (Việt Sử Tân Biên trang 20, 42, 43, 75)
    Giai đoạn 1 - Từ 2500 - 770 BC. Theo “Việt Sử Tân Biên" của Phạm Văn Sơn trích Kinh Thư (Trang 35, 36) Từ 2000 năm BC và trước đó tộc Hán chỉ sinh sống, tạo thành nhiều nước chư hầu cho Tây Chu (3) quanh quẩn lưu vực sông Hoàng Hà. Phía bắc tộc Hán: rợ Xích Địch (tiền thân rợ Hung Nô sau này), rợ Tây Nhung, Sơn Nhung (sau đó bị đồng hóa thành người Hán, mất tên luôn). sông Dương Tử đến phía nam núi Ngũ Lĩnh là đất sống các dân tộc Man Di (4) có tên: Giao Chỉ, Mân Việt, Tây Việt, Việt Thường. Kinh Thư và cổ sử Tàu: Các tộc Man Di có 4 đặc điểm: xâm mình, cắt tóc ngắn, khoanh tay, cài áo bên phải (Hán tộc cài áo ở giữa). Họ làm nghề chài lưới, săn bắn, sinh sống gần ao, hồ, sông, biển, ven rừng, thường xâm mình hình con giao long. Văn hóa "khác hẳn" Hán tộc.
    Giai đoạn 2: Năm 770 - 220 BC (thời Tần Thủy Hoàng): Theo "Trung Quốc Sử Cương" của Phan Khoang: (Trang 1 và trang 62 ) 500 năm kế tiếp, tộc Hán bắt đầu liên tục lấn đất phía nam, tộc Man Di không chịu nổi áp bức của người Hán, hầu hết rời "quê cha đất tổ, lưu vực sông Dương Tử” lần lượt di cư về Hoa Nam, định cư ở Quảng Tây, Quảng Đông, đảo Hải Nam và Bắc phần VN (11). Một số nhỏ ở lại sinh sống ở lưu vực sông Dương Tử,
    ĐỌC CỔ SỬ TRUNG HOA ĐỂ TÌM CỔ VIỆT - NAM SÔNG DƯƠNG TỬ
    Kinh Thư không nói chi về nước Văn Lang và 18 đời vua Hùng, nhưng Kinh Thư và cổ sử Trung Hoa đồng cho biết: Trước tây lịch dân cư Lưỡng Quảng, đảo Hải Nam và Bắc phần VN cùng một nguồn gốc không liên hệ gì Hán tộc có tên là Bách Việt (Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim trang 29) và xa xưa hơn: Dòng Dương Tử là "Nguồn Sống" dài đằng đẵng 15, 18 thế kỷ của tổ tiên ta trước tây lịch (đã trình bày bên trên). Đây là những tài liệu quý của ngoại quốc (khách quan mà sử ta rất quan tâm để đi tìm hiểu nguồn gốc dân tộc Việt.
    Giai đoạn 3 - Từ 220 BC (Tần Thủy Hoàng) đến 111 BC (nước ta bị Bắc thuộc lần thứ nhất)
    Đồ Thư - Sau khi các tộc Man Di di cư về Nam một số lớn hộ nhập với Bách Việt (nói chung). Đất rộng người thưa chưa thống nhất thì năm 220 BC, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem quân tiến đánh Bách Việt là các tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, Lưỡng Quảng và Bắc phần VN. Chiết Giang Phúc Kiến là giống Mân Việt. Lưỡng Quảng và Bắc phần VN là Tây Việt, Âu Lạc có tù trưởng Dịch Hu Tống và Thục Phán An Dương Vương làm vua. Sau 7 năm chiến tranh (220 - 214 BC) nhà Tần tiêu diệt phần lớn Mân Việt, khi Đồ Thư vào Lưỡng Quảng thì bất phân thắng bại với An Dương Vương và Dịch Hu Tống. Rồi Dịch Hu Tống, Đồ Thư tử trận, nhưng quân Hán không rút về bắc, họ vẫn giữ phần đất đã chiếm. Tần Thủy Hoàng ra lệnh thiết lập bộ máy cai trị, gồm tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang một phần tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (Việt Sử Tân Biên trang 108).

    Nhà Tần đặt tên Quảng Đông là quận Nam Hải, Quảng Tây là quận Quế Lâm. Trận chiến này tuy quân Hán chưa vào nổi Bắc phần VN nhưng họ hàng anh em cùng tộc Việt Man Di ở Quảng Đông Quảng Tây, nhất là Phúc Kiến Chiết Giang bị giết hại và mất đất nặng nề. An Dương Vương tiếp tục làm vua Bắc Việt và một phần Quảng Đông Quảng Tây đến 207 BC. Ông làm vua 50 năm.
    Theo "Trung Quốc Sử Cương" trang 70 và "Việt Nam Sử Lược" của Trần Trọng Kim: Kể từ năm 111 BC, khởi đầu 1000 năm nước ta bị Bắc thuộc, triều đình Trung Hoa xem Âu Lạc Nam Việt như 1 quận huyện của họ. Lúc nầy Lưỡng Quảng, đảo Hải Nam và Bắc phần VN có tên do nhà Hán đặt: Thương Ngô, Quế Lâm, (Quảng Tây). Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Đông). Châu Nhai, Đạm Nhỉ (đảo Hải Nam). Cửu Chân, Nhật Nam (Bắc phần VN) và toàn vùng địa phương lớn gọi chung là Giao Chỉ bộ (tên của một bộ tộc tổ tiên ta từ 2000 năm trước bên bờ sông Dương Tử) đồng chịu sự đô hộ như nhau. Vua quan Hán tộc luôn luôn hà khắc sách nhiễu dân Giao Chỉ bộ đến cùng cực và đưa người Hán từ phương Bắc đến vùng tạm chiếm để đồng hóa tộc Việt trong Giao Chỉ bộ.
    nước ta, các tộc Man Di đã thành lập quốc gia Âu Lạc, Nam Việt bao gồm các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Bắc phần VN. Hai vua có chủ trương rõ rệt: nâng cao đời sống nhân dân và "Chống Hán". Xa hơn, 1000 năm BC theo cổ sử Trung Hoa: các tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang, Quảng Đông, Quảng Tây đã có thời là quê hương tộc Việt. Xa hơn nữa: sông Hoài và dòng Dương Tử là nguồn sống của tổ tiên ta thuở xa xưa.

  8. #8

    Mặc định

    ANH HÙNG ĐẤT VIỆT : ANH HÙNG LĨNH NAM - VUA QUANG TRUNG
    Yên-tử cư-sĩ (YTCS) là bút hiệu của Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, hiện là Giám-đốc Trung-quốc sự vụ tại viện Pháp-á (Institut Franco-Asiatique) và Giáo-sư trường y khoa Arma (Paris).Giám đốc Sự vụ Trung Hoa của Viện Pháp Á đã đọc được tại Thư viện bảo tàng di tích cổ của tỉnh Hồ Nam một bản tài liệu cổ được viết vào thế kỷ thứ tám, nói về "Sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt" như sau:
    "Ngày xưa Ngọc Hoàng Thượng Ðế ngự trên điện Linh Tiêu, có hai công chúa đứng hầu. Vì sơ ý hai công chúa đánh vỡ chén ngọc, Ngọc Hoàng Thượng Ðế nổi giận đày hai công chúa xuống hạ giới. Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày thì vị tiên lại giữ sổ trên thiên giới tâu rằng: có 162 vị tiên cũng đầu thai xuống hạ giới theo hai công chúaCòn hai công chúa đầu thai xuống quận Giao Chỉ, vào nhà họ Trưng, chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm đầy nhà, từ nhỏ đã thông minh quán chúng, sau lớn có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Ðặng Thi Sách. Thi Sách làm phản, bị thái thú Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng, liệt nữ các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận của Trung Quốc ở phía nam sông Trường Giang là các quận: Cửu Chân, Nhật Nam, Giao Chỉ, Quế Lâm, Thương Ngô, Nam Hải (tiếp theo sau còn có thêm ba quận khởi nghĩa là Hợp Phố, Châu Nhai và Ðạm Nhĩ). Chư tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là Vua Bà.Trong thâm tâm Nữ Vương Phật Nguyệt cũng tự biết dùng chiến tranh, dẫu cho là chiến thắng, cũng tạo sự sát hại nhiều sinh linh vô tội bị cưỡng bức vào chiến tranh, cũng không thể là phương thức cứu độ loài người, nên bà đã bỏ việc chiến tranh rồi đi tu.
    Nữ Vương Phật Nguyệt đi tu, nhưng con đường chính đạo của bà không giống với phương pháp tu của Quan Thế Âm Bồ Tát. Nữ Vương tu theo "Ðạo Vua Bà". Cũng từ đó cư dân các dân tộc gốc người Việt sống tại lưu vực hai bờ sông Dương Tử, nhiều nơi lập các đền, miếu thờ Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh của Hai Bà
    VUA QUANG TRUNG
    Dự tính trước mọi khả năng tiếp theo của thời cuộc, vua Quang Trung đã nõi với quan quân ngay trước khi bước bào chiến dịch:
    - Nay ta tới đây, thân đốc viện binh, chiến thư ra sao đã có phương lược sẵn. Chỉ nội mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch giặc Thanh. Song, ta nghĩ: nước Thanh lớn hơn nước ta gấp mười lần, Thanh bị thua tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ để binh lửa kéo dài mãi, thật không phải là phúc trăm họ, lòng ta không nỡ! Nên chi, sau khi thắng, ta nên khéo đường từ lệnh thì mới dập tắt được ngọn lửa binh tranh, việc từ lệnh đó, ta sẽ giao cho Ngô Thì Nhậm.
    Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử "Nguyễn Quang Toản" tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định (Nguyễn Ánh) là quốc thù; mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ người nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô (Vinh ngày nay) để khống chế thiên hạ. Bằng không, quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn đâu!
    Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) vào khoảng 11 giờ khuya, Quang Trung từ trần, ở ngôi 5 năm, thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái tổ Vũ hoàng đế. Quang Trung không chỉ muốn hòa hoãn với Càn Long mà còn muốn xuất quân đánh nhà Thanh. Trước khi tính chuyện đánh Thanh, nhà vua cho quấy rối nội địa Trung Quốc bằng cách lợi dụng đảng "Thiên Địa Hội" khiêu khích người Thanh. Các biên thần nhà Thanh như Phúc Khang An (mới thay Tôn Sĩ Nghị) tuy biết rõ Tây Sơn có bí mật nhúng tay, nhưng cũng chịu nhịn cho qua chuyện.[53] Ông cũng cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng để thử ý vua Thanh.[57] Dù vậy ý định này không kịp trở thành hiện thực do cái chết đột ngột của ông.[57]Để phát triển quốc gia, Quang Trung rất chú trọng thu dụng các nhân tài từng phục vụ nhà Lê. Ông ban “Chiếu cầu hiền” có đoạn:
    "Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?... Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn - sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình - sức một người không thể đảm đương".
    —Quang Trung
    Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm.[62] Quang Trung quy định các bài hịch, chiếu chỉ phải soạn bằng chữ Nôm; đề thi viết bằng chữ Nôm, và các sĩ tử phải làm bài bằng chữ Nôm. Ông còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán sang chữ Nôm nên năm 1791 đã cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm.[62]
    Theo sách Tây Sơn lược thuật, ông chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách”.[62] Ngoài ra, Quang Trung quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” ông lệnh cho các xã::[62]“Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”.Vua Quang Trungcó chủ trương đề cao thương nghiệp và mở rộng quan hệ buôn bán giữa Đại Việt với nước ngoài.[65] Năm 1790, ông thương thuyết với nhà Thanh để mở một thương điếm tại Nam Ninh (Quảng Tây) mua bán hàng hoá giữa hai nước.[65] Ông khuyến khích giao thương giữa các thuyền của thương thuyền nước ngoài và các thương thuyền của Đại Việt. lời nhận xét về công cuộc cai trị của Quang Trung:
    “ "Ông không chỉ là cầm quân mà còn là nhà cai trị rất giỏi... Đồn binh vững vàng khắp đường sông, cửa biển; kỷ luật nghiêm minh, đồng thời lại rất nhân từ với nhân dân..." ”
    —Legrand de la Liraye trong tác phẩm Notes historiques sur la nation annamite (Bút ký lịch sử về dân tộc An Nam)
    http://vnthuquan.net/truyen/truyen.a...83a3q3m3237nvn
    Cây tre mềm dẻo ,, lũy tre kiên cố . Người VIỆT đã luôn nuôi dưỡng SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN và vận dụng CHIẾN THUẬT MỀM DẺO LINH HOẠT

  9. #9

    Mặc định

    BÀI HỌC ĐỂ TỰ CƯỜNG CHO VIỆT NAM QUA PHÁT BIỂU CỦA ÔNG Lý Quang Diệu NHẬN ĐỊNH VỀ TƯƠNG QUAN TRONG TƯƠNG LAI TRUNG QUỐC - MỸ
    1/ Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu. Nhưng SINGAPORE là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một diễn tiến rất nhanh . Nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.
    Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.
    2/ Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ.
    3/ Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước.Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh.
    4/ HOA KY không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.
    5/ Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại.Hoa Kỳ là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.
    Lý Quang Diệu
    http://trankytrung.com/read.php?727
    http://www.moingay1cuonsach.com.vn/n...w/19/1230.html

  10. #10

    Mặc định

    Kẻ thù của người Trung Quốc

    ​(Bài do một trí thức Trung quốc viết.)

    Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy-Lạp thời nay với người Hy-Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.








    Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương - thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: "Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa". Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn.

    Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ hồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận.

    Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!




    Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn "chối tai", có một người đứng dậy nói: "Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?". Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: "Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!" Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: "Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!" Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: "Tiền đồ Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!"

    Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời ? Đến đời nào thì mới thật khá lên được ? Tại Trung Quốc đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, dầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú

    Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng-Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao.

    Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế?

    Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Trung Quốc (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi?




    Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái. Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên:

    " Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi ! Đi học bài đi ! "

    Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: "Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử". Lại nhìn về trẻ con ở Trung Quốc lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào?

    Người ta thường nói: "Mình nắm tương lai mình trong tay mình". Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác.

    Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi-măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa.

    Lúc chết, Chúa Giê-Su (Jesus) bảo: "Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu". Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Trung Quốc sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.

    Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì ? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn.

    Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn?

    Nguyên do vì sao?

    Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh.

    Có người sẽ bảo: "Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!". Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng "Quần ma" (Những con ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: "Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à ? " Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta.

    Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!




    Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Pa-ri sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: "Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!" (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: "Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?" Cô ta đáp: "Làm sao nổi!"






    Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn.

    Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: " Chúng tôi đang thì thầm với nhau".

    Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?

    Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.

    Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch.

    Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.

    Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi - nơi không cần quan hệ với người khác - thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau.

    Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: "Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!" Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.

    Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau.

    Ở Trung Quốc có câu: "Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống". Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết.

    Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học - anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước... - Ngày hôm sau tôi bảo:

    "Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!". Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: "Anh đưa tôi đi một lát nhé!". Anh ta bảo: "Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!".
    Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng.

    Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Ma-lai-xi-a có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Ma-lai-xi-a tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: "Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?". Người kia bảo: "Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?"

    Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc.




    Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Trung Quốc với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói "người Trung Quốc và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù". Điều này phải chia làm hai phần:

    Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy nghìn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ "Tứ nhân bang" (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi.

    Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Trung Quốc thường đăng: "Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau", nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng I-xra-en vẫn tổ chức bầu cử.
    Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền.

    Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở I-xra-en cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì một người sẽ bảo: "Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!"

    Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.

    Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: "Chết cũng không chịu nhận lỗi". Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Trung Quốc nói: "Việc này tôi đã sai lầm rồi!" Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng.

    Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: "Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!" Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.




    Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: "Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm" (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai ? Dĩ nhiên của đối phương.

    Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: "Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!". Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu?

    Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa.

    Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới,v.v...Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét.

    Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu "Em yêu, em cưng" [Bá Dương dùng chữ "đường mật" và "ta linh" để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh -ND] thì người Trung Quốc gọi nhau là "kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc" (sát thiên đao đích).
    Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: "Tại sao người Trung Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?"

    Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: "Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!". Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là "Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!" Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời.

    Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: "Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!" Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.
    Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.

    Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi.
    Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?

    Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.

    Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: "Bỏ qua cho rồi!"

    Mấy chữ "bỏ qua cho rồi" này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn.

    Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi.

    Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt.

    Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở "Tư trị thông giám" (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế.

    Nơi nào người Trung Quốc đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Trung Quốc trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được? Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật "thích xem" (người khác đau khổ), hoặc "chỉ quét tuyết trước nhà mình mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác".

    Họ luôn mồm "nhân nghĩa" mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: "Phải tử tế với người và súc vật!", trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.

    Tóm lại, người Trung Quốc đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm

  11. #11

    Mặc định

    GẤU ĐIÊN
    Gấu trúc trắng đen
    Dứ củ cà rốt
    Lưng thủ gậy dài
    Thỏ ham cà ngọt
    Ai dè gậy gai
    Gấu điên gấu hét
    Thỏ xẹp thóc lép
    Ngậm mồm lặng tăm
    Gấu dở trò bẩn
    Tin tặc chôm chỉa
    Thông tin bảo mật
    Gấu có dàn khoan
    Có tàu vũ trụ
    Gấu có chiến hạm
    Gấu tưởng ngon cơm
    Ra hù thiên hạ
    Quê thiệt là quê
    Mấy trò bẩn thỉu
    Ăn cắp la làng
    Ai dám hợp tác
    Có ngày đầu rơi
    Gấu dù có mơ
    Mơ hoài gấu nhé
    Một mình cô lập
    Lấy đâu oai hùng
    Lấy đâu danh thơm
    Bá chiếm Biển đông
    Đào kênh nhân tạo
    KRA eo biển
    Chỉ là mộng thôi
    Ai chủ cuộc chơi
    Thế cờ chủ động
    Chờ đấy sẽ biết
    Gấu hợm ngông đời

  12. #12

    Mặc định

    Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí
    Hạnh phúc, sung sướng là hai từ gần nghĩa, đều chỉ cảm giác thoải mái khi đạt được một giá trị, một mục đích, một kết quả... nhưng điểm khác nhau nằm ở tính hữu hình hay vô hình của giá trị, của mục đích, của kết quả đạt được đó.Chẳng hạn, tình yêu, sự thành công, sự nổi tiếng, sự yêu mến... mang lại hạnh phúc. Còn tiện nghi sinh hoạt, sự giàu có... khi được thỏa mãn các bản năng cơ bản như ăn uống, vui chơi giải trí, sinh hoạt tình dục , mang lại cảm giác sung sướng. Một so sánh tương đối giữa hạnh phúc và sung sướng là hạnh phúc liên quan đến lý trí và sung sướng liên quan đến bản năng
    Nhà triết học Platon nói:
    "Nếu thỏa mãn vật chất là hạnh phúc thì ta có thể xem con bò là hạnh phúc
    Karl Marx:
    "Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất..."
    "Chỉ có cầm thú mới quay mặt trước nỗi đau của đồng loại, mà chăm lo cho hạnh phúc riêng của mình...
    http://www.tudiendanhngon.vn/tabid/8...e/default.aspx
    Khi thấy ứng xử của tq hiện nay làm cho chúng ta liên tưởng đế sự phát triển của các nước khác : Nhật bản , Mỹ , Singapore , Israel , Thụy sỹ , Hàn quốc
    Thụy Sĩ không xảy ra bất kỳ một cuộc chiến tranh nào từ năm 1815 đến nay và là trụ sở của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng như Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới. Thụy Sĩ có vị trí quan trọng về kinh tế-tài chính và hệ thống Ngân hàng uy tín đặc biệt nổi tiếng nhất trên toàn cầu. Thụy Sĩ là một nước công nghiệp phát triển cao ở Châu Âu, trong đó có nhiều ngành đạt trình độ hàng đầu trên thế giới như: cơ khí chế tạo (nổi tiếng nhất thế giới về sản xuất đồng hồ chính xác và sang trọng), điện cơ, hóa chất, dược phẩm, thuốc tân dược, tài chính-ngân hàng, du lịch, đồng hồ, đồ trang sức, dịch vụ và bảo hiểm. Ngoại thương đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
    Tỉ trọng các ngành kinh tế:
    Nông nghiệp: 4,80%
    Công nghiệp: 24,90%
    Các ngành dịch vụ: 70,40%
    Singapore được độc lậpvào ngày 9 tháng 8 năm 1965, sau này đã trở thành ngày Quốc khánh của Singapore. Singapore là một trong các trung tâm thương mại lớn của thế giới, với vị thế trung tâm tài chính lớn thứ tư và một trong năm cảng bận rộn nhất. Nền kinh tế mang tính toàn cầu và da dạng của Singapore phụ thuộc nhiều vào mậu dịch, đặc biệt là chế tạo, Theo sức mua tương đương, Singapore có thu nhập bình quân đầu người cao thứ ba trên thế giới. Quốc gia này xếp hạng cao trong các bảng xếp hạng quốc tế liên quan đến giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sự minh bạch của chính phủ, và tính cạnh tranh kinh tế.Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài. Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt; đất canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa, rau và cây ăn quả, do vậy nông nghiệp không phát triển, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước. Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc tinh vi. Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu Á. Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân). Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh
    Nếu cách đây 30 năm tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèo ở châu Phi và châu Á thì hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc xếp thứ 10 trên thế giới.
    Tìm mẫu số chung cho sự phát triển mạnh mẽ của các nước phát triển vượt bậc là :
    1/ Đất nước dám đặt mục tiêu phát triển nhanh là định hướng đầu tiên .
    2/ Lựa chọn đúng mũi đột phá kinh tế bằng nền kinh tế tri thức
    3/ Mỗi một cá nhân : Say mê- can đảm -trung thành -tính tổ chức- khả năng hội nhập cộng đồng cao , dám đứng trước thử thách đột phá là thành tố đóng góp phát triển xã hội chung .
    4/ Xây dựng được khái niệm chuẩn mực của con người là gì:đạo dức - hạnh phúc -danh dự , khả năng sản sinh vật chất , khả năng cải tạo xã hội tốt đẹp hơn , kỹ năng sống thích nghi .. .những quy luật bất biến thuộc phạm trù triết học tạo ra động lực phát triển xă hội ổn định , nhưng kỹ năng thích ứng , kỹ năng cạnh tranh thì mới chính là nhân tố tạo nên tốc độ phát triển .
    Như vậy ta thấy xuất hiện cả quyền lực chính thống lẫn quyền lực mềm .
    Nếu muốn phát triển mà chà đạp lên mọi nhân tố đạo đức , pháp luật thì vĩnh viễn không bao giờ có sự thừa nhận của Xã hội loài người , của cộng đồng , của thế giới cả

  13. #13

    Mặc định

    NHỮNG GÌ BẮT ĐẦU Ở ĐÂY
    Sẽ Làm Thay Đổi Thế Giới
    William McRaven
    Mỗi năm đến kỳ tốt nghiệp ra trường, các trường trung học và đại học Mỹ có thông lệ mời những vị khách có địa vị, tiếng tăm đến nói chuyện với học sinh, sinh viên.Khoá 2014-tại Đại học University of Texas at Austin –bài nói chuyện của đô đốc Bill McRaven, người đứng đầu lực lượng đặc biệt của Hải quân Hoa Kỳ (Navy SEAL
    Nhiều thế hệ đã được cứu bởi một quyết định từ một người.
    Nhưng, thay đổi thế giới có thể xảy ra bất cứ nơi nào và bất cứ ai cũng đều có thể làm được điều đó.
    Nếu các bạn không thể làm tốt những việc nhỏ nhặt, các bạn sẽ không bao giờ làm tốt được những điều lớn.
    Nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, hãy đo lường con người bởi kích thước của trái tim của họ, chứ không phải là kích thước cái chân vịt của họ.
    Các bạn sẽ thất bại. Các bạn có thể sẽ phải chịu thất bại thường xuyên. Thất bại sẽ làm các bạn đau đớn. Thất bại sẽ làm các bạn chán nản, thất vọng. Nhưng thất bại là liều thuốc thử để kiểm tra cốt lõi giá trị của các bạn.
    Nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, các bạn phải đem ra những tốt nhất trong con người bạn để đương đầu ở thời điểm đen tối nhất.
    Chúng tôi biết rằng nếu một người có thể vượt lên trên những đau khổ thì những người khác cũng có thể làm được.
    Nếu như tôi đã học được bất cứ điều gì trong cuộc đời tôi khi bôn ba trên thế giới, thì đó chính là sức mạnh của niềm hy vọng. Sức mạnh của một người
    một người có thể thay đổi thế giới bằng cách trao niềm hy vọng cho mọi người.
    Biết rằng cuộc sống là không công bằng và rằng bạn sẽ thường xuyên vấp ngã, nhưng nếu các bạn dám chấp nhận rủi ro, dám tiến lên trong những thời điểm khó khăn nhất, dám đối mặt với những kẻ bắt nạt, nâng đỡ những người bị áp bức và không bao giờ… không bao giờ bỏ cuộc - nếu các bạn làm được những việc này, thế hệ tiếp theo và các thế hệ nối tiếp sẽ sống trong một thế giới tốt hơn nhiều so với thế giới của chúng ta ngày hôm nay, và những gì được bắt đầu ở đây sẽ thực sự thay đổi thế giới theo hướng tốt hơn.
    http://thuvienhoasen.org/a19446/nhun...illiam-mcraven

  14. #14

    Mặc định

    Để có chiến lược , quyết sách tinh nhạy , chuẩn mực ,sáng suốt thì vai trò của chiến sỹ tình báo cực kỳ quan trọng
    Đất nước Việt nam vốn dĩ có trí thông minh nhanh nhẹn nên ngành tình báo đã mang lại những trang sử rất đẹp , rất đáng tự hào . Tất nhiên cũng có rất nhiều hy sinh đau đớn và thầm lặng , đóng góp của các cán bộ tình báo có được ghi nhận trong các phim , sách : Điệp viên hoàn hảo, Ván bài lật ngửa , Huyền thoại về tướng tình báo....Chân dung một nhà tình báo, Khúc bi tráng trên sông Vàm Cỏ,Con đường sáng
    Lực lượng Tình báo quân sự bắt nguồn từ phòng Tình báo Quân ủy hội do Hoàng Minh Đạo phụ trách, thành lập ngày 25 tháng 10, 1945
    I / Hoàng Minh Đạo-1923 -1969 .
    Hiện di hài của ông được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh.
    Cuộc đời hoạt động của ông đã được dựng thành phim vào năm 2006. Ông đã được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1998 và truy tặng
    II / Vũ Ngọc Nhạ (1928-2002) là một trong 4 huyền thoại trong ngành Tình báo Việt Nam, và là một Thiếu tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông nổi tiếng với biệt danh Ông cố vấn vì từng làm cố vấn cho một số chính trị gia cao cấp của Việt Nam Cộng hòa và là nhân vật chủ chốt trong vụ án cụm tình báo A.22 làm rung động chính trường Sài Gòn vào cuối năm 1969.Cụm A.22 là cắm được một cơ sở của Lê Hữu Thúy là Huỳnh Văn Trọng, vào vị trí Phụ tá tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Chính Huỳnh Văn Trọng dẫn đầu một phái đoàn của Việt Nam Cộng hòa sang Hoa Kỳ tiếp xúc, gặp gỡ với hàng loạt tổ chức, cá nhân trong chính phủ và chính giới Hoa Kỳ để thăm dò thái độ của Chính phủ Johnson đối với cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời thu thập được nhiều thông tin tình báo chiến lược.42 cán bộ và cơ sở điệp báo, hoạt động rộng và có ảnh hưởng trong nhiều cơ quan chính quyền cũng như các tổ chức chính trị, một phụ tá tổng thống bị bắt... Khi vụ án được đưa ra xét xử vào tháng 11 năm 1969, báo giới Sài Gòn đã mệnh danh đây là “Vụ án chính trị của thế kỷ”[7], “Vụ án gián điệp lớn nhất thời đại”[8].
    http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9...Dc_Nh%E1%BA%A1
    III // Phạm Xuân Ẩn (12 tháng 9 năm 1927 - 20 tháng 9 năm 2006) là một thiếu tướng tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam với biệt danh X6, Trần Văn Trung hay Hai Trung.- Đồng Nai,là một trong 14 ngàn điệp báo viên Cộng sản được cài cắm và hoạt động tại miền Nam Việt Nam.Trong công tác tình báo, để có thể đi khắp nơi và tiếp cận với những nhân vật có quyền lực nhất, tháng 10 năm 1957, theo sự chỉ đạo của Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương. Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ học ngành báo chí tại Quận Cam, California, trong hai năm (1957-1959) và là người Việt Nam đầu tiên sang học báo chí tại quận Cam [2].
    Từ khi ở Mỹ về nước cho đến năm 1975, với vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và người của CIA, Phạm Xuân Ẩn đã có được mọi nguồn tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và cơ quan tình báo.
    Những tin tức và phân tích tình báo chiến lược của Phạm Xuân Ẩn được bí mật gửi cho bộ chỉ huy quân sự ở miền Bắc thông qua Trung ương cục Miền Nam. Chúng sống động và tỉ mỉ đến mức người ta kể rằng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã reo lên: Chúng ta đang ở trong phòng hành quân của Hoa Kỳ[3]. Tổng cộng, Phạm Xuân Ẩn đã gửi về căn cứ 498 báo cáo bao gồm tài liệu nguyên gốc đã được sao chụp, các thông tin mà ông thu lượm cùng phân tích và nhận định của bản thân.Cụ thể là:
    Giai đoạn 1961-1965: những bản tài liệu nguyên bản về chiến lược chiến tranh đặc biệt như Tài liệu McGarr; tài liệu Staley, tài liệu Taylor, tài liệu Harkins; tài liệu Ấp chiến lược... Ông gửi về nguyên bản kế hoạch kế hoạch Staley-Taylor.
    Giai đoạn 1965 - 1968: các kế hoạch liên quan đến chiến lược chiến tranh cục bộ, phục vụ chiến thuật cho Mậu Thân 1968;
    Giai đoạn 1969 - 1973: những tài liệu liên quan đến chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh
    Giai đoạn 1973 - 1975: hàng trăm bản tin nguyên bản "phục vụ trên hạ quyết tâm giải phóng miền Nam"...
    Ông là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA.
    IV // Phạm Ngọc Thảo (1922–1965) là một tình báo viên bí ẩn trong suốt Chiến tranh Việt Nam. Ông là đại tá của hai quân đội đối nghịch trong cuộc chiến này: Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Trong dòng đề tựa trong cuốn Ván Bài Lật Ngửa, nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý đã trân trọng viết "Tưởng nhớ anh Chín T. và những người đã chiến đấu hy sinh thầm lặng". Ông đã sử dụng chính hình tượng của Phạm Ngọc Thảo để xây dựng nhân vật Nguyễn Thành Luân trong tiểu thuyết của mình. Tiểu thuyết này sau được dựng thành phim rất ăn khách (vai Nguyễn Thành Luân do diễn viên Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Chánh Tín đảm nhiệm).
    http://kienthuc.net.vn/giai-ma/chuye...am-248375.html
    Một trong những phương pháp khai thác thông tin tình báo kinh tế mà người Trung Quốc đang sử dụng là “thủ đoạn tác nghiệp” quá phổ biến đối với bất kỳ một cơ quan tình báo nào. Chẳng hạn như một chuyên viên nghiên cứu cao cấp của một hãng dược phẩm Pháp quen biết và có quan hệ tình ái với một cô gái Trung Quốc. Hậu quả là nhân vật này hoàn toàn bị suy sụp và phải đồng ý cộng tác sau khi được xem một đoạn băng hình ghi lại cảnh phòng the của ông ta trong khách sạn.

  15. #15

    Mặc định

    TƯỢNG ĐÀI BI-TRÍ -DŨNG
    Tổ quốc mất tự do
    Anh tài đành xuất hiện
    Tình báo nghề nguy hiểm
    Huyền thoại giữa đời thường
    Ông cố vấn hai đời
    Tinh anh VŨ NGỌC NHẠ
    Chấn động cả chính trường
    Diệp viên PHẠM XUÂN ẨN
    Đảo chính mấy hồi lận
    Sắc sảo PHẠM NGỌC THẢO
    Yêu nước quyên thân mình
    Thông minh và quyết đoán
    Tượng đài kim cương trắng
    Kiên cường DŨNG- TRÍ -BI

  16. #16

    Mặc định

    Đất nước lâm nguy cần lãnh tụ XUẤT CHÚNG
    Lãnh tụ là khái niệm rộng hơn và cao hơn so với lãnh đạo. Là cá nhân kiệt xuất có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử của một dân tộc hay cả thế giới trong một giai đoạn cụ thể.Lãnh tụ thường được xem là những vĩ nhân, theo các định nghĩa kinh điển thì lãnh tụ là những người có các phẩm chất sau :
    1/ Có tri thức khoa học uyên bác, nắm bắt đư­ợc xu thế vận động của dân tộc, quốc tế, thời đại.
    2/ Có năng lực tập hợp đông đảo quần chúng, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng vào nhiệm vụ của dân tộc, quốc tế, thời đại.
    3/ Gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, hy sinh quên mình vì lợi ích của dân tộc, quốc tế và thời đại.
    Họ có nghị lực - biết truyền cảm hứng , nghị lực cho cộng đồng , rất sắc sảo trong khả năng phát hiện ra những vấn đề chính của xã hội ., dám hành động .quan trọng nhất là phải hấp dẫn cộng đồng bằng trí tuệ và nhân cách , để tập hợp lực lượng xã hội để giải quyết vấn đề chính trị của xã hội.
    I / Hồ Chí Minh
    " Thế hệ lập quốc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa , tuy lý thuyết ít, nhưng kinh nghiệm cuộc sống lại “khủng khiếp”. Các vị đó trải qua đấu tranh thực tiễn, tù đày, chiến tranh, phải đối đầu với những kẻ thù rất mạnh, những thử thách ghê gớm, trở thành những con người tài ba, lỗi lạc. Thêm nữa, các vị lãnh đạo chủ chốt đều có học thức, văn hóa theo nghĩa rộng. Mặt khác, họ lại huy động được trí tuệ của các nhà trí thức hàng đầu đất nước”. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan
    Vì sao Nội các Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng Tháng 8 lại có nhiều thành viên tài ba, đức độ?
    Theo Phó Thủ tướng Vũ Khoan, yếu tố quyết định chính là tài dùng người của Bác Hồ. Chỉ có Bác Hồ với chí hướng, tài ba, đức độ xuất chúng của mình mới có sức hấp dẫn đối với những con người như vậy và chỉ có Bác với ý tưởng đại đoàn kết dân tộc, trọng dụng nhân tài mới dùng người như vậy. Thành viên Chính phủ lúc ấy và trong những năm tháng sau đó bao gồm nhiều trí thức hàng đầu.
    II / Mahatma Gandhi -2 tháng 10 năm 1869 – 30 tháng 1 năm 1948 . ông được hàng triệu dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là Mahātmā, nghĩa là "Linh hồn lớn", "Vĩ nhân" hoặc "Đại nhân"
    III / Chê Ghê-va-ra-Che Guevara sinh ngày 14 tháng 6 năm 1928 tại Rosario, Argentina. -16 tháng 6 năm 1953 tốt nghiệp bác sĩ, anh đã gặp Fidel Castro Ruz (tháng 7 năm 1955 tháng 6 năm 1958, 320 quân cách mạng đã phải chống lại 1 vạn quân chính quy của chế độ Batista. Tháng 3 năm 1963đang giữ cương vị một nhà lãnh đạo quan trọng trong bộ máy nhà nước Cuba, Che quyết định từ nhiệm mọi cương vị kể cả quyền công dân Cuba để lên đường thực hiện mong muốn tiếp tục được cống hiến cho sự nghiệp tranh đấu giành tự do của các dân tộc bị áp bức.Những câu nói về Che
    "Ông là thành viên hấp dẫn nhất trong bộ ba lãnh đạo. Ông có nụ cười ngọt ngào, buồn buồn làm những người phụ nữ phải nghẹt thở. Che đang lèo lái con tàu Cuba bằng một đầu óc tính toán lạ lùng, bằng tài năng hiếm có, bằng trí thông minh xuất chúng và bằng óc khôi hài thú vị." - Tạp chí Time, ngày 8 tháng 8 năm 1960
    "Đó là một con người chân chính, một người bạn tuyệt vời và là người mà ngay cả kẻ thù cũng phải kính nể." - Fidel Castro
    "Nếu phải diễn tả hình ảnh tương lai của thế hệ con cháu mà chúng ta muốn chúng trở thành, chúng ta sẽ nói rằng: Hãy giống như Che. Nếu phải bày tỏ lòng mong ước con cháu mình sẽ được giáo dục như thế nào, chúng ta sẽ nói không chút ngần ngại rằng: Chúng ta muốn chúng được giáo dục theo tinh thần của Che." - Fidel Castro, trong buổi lễ tưởng niệm Che, ngày 18 tháng 10 năm 1967.
    "Hình ảnh của Che có thể bị lãng quên, bị đem ra mua bán hay được mọi người sùng bái nhưng nó sẽ tạo nên một bộ phận trong hệ thống đấu tranh cách mạng trên toàn thế giới và bất cứ lúc nào nó cũng có thể khôi phục lại ý nghĩa nguyên thủy của mình." - Edmundo Desnoes.
    "Là con người hoàn thiện nhất trong thời đại chúng ta." - Jean Paul Sartre.
    "Che gợi nhắc chúng ta nhớ đến những điều đã được biết từ thời Spartacus nhưng đã có lúc bị bỏ quên: trong cuộc chiến chống lại sự bất công, nhân loại có thể tìm thấy một bậc thang để nâng cuộc chiến đấu này lên một tầm mức cao hơn, làm cho chúng tốt đẹp hơn, và thay đổi nó thành điều gì đó nhân bản hơn." - Marcos.
    "Sống chiến đấu là định mệnh của cuộc sống dành cho El Che." - Shangzie
    "Đối với những con người không bao giờ theo bước Che, bị chìm đắm trong thế giới đầy hoài nghi yếm thế, sự tự tư tự lợi và nền công nghiệp tiêu thụ điên cuồng này, còn có gì hấp dẫn hơn thái độ khinh bạc của Che đối với những tiện nghi vật chất và những ham muôn tấm thường. Có thể nói rằng, đó là phẩm chất riêng biệt độc đáo của Che và không thể có bản sao thứ hai của anh trong thế giới này, đây là điều khiến anh trở nên cực kỳ quyến rũ." - Ariel Dorfman

  17. #17

    Mặc định

    1911--1941 30 NĂM ĐẤU TRANH ĐỂ SINH TỬ VÀ TÌM KIẾM CHÂN LÝ CỦA HỒ CHÍ MINH
    Tháng 6 năm 1911, Người đi ra nước ngoài, suốt 30 năm hoạt động, Người đã đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình với những phong trào của công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, hoạt động cách mạng và nghiên cứu các học thuyết cách mạng
    1911-1922 :BÁC không chỉ dừng lại ở Pháp, năm 1912, Nguyễn Tất Thành làm thuê cho một chiếc tàu của hãng Sácgiơ Rêuyni đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông… Nguyễn Tất Thành theo con tàu tiếp tục đi qua Máctiních (Martinique) (Trung Mỹ), Urugoay và Áchentina (Nam Mỹ) và dừng lại ở nước Mỹ cuối năm 1912. Tại đây, anh có dịp tìm hiểu cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch sử. Anh vừa đi làm thuê để kiếm sống vừa tìm hiểu đời sống của những người lao động Mỹ Khoảng đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Lơ Havơrơ, sau đó sang Anh. Đến nước Anh, để kiếm tiền sinh sống, anh nhận cào tuyết cho một trường học, rồi làm thợ đốt lò .Ngày 13-6-1923, từ ga Đuy No (Du Nord), Nguyễn Ái Quốc rời Pari bằng tàu hoả đến Béclin (Đức). Từ Hămbuốc (Đức), Người đi tàu thuỷ đến Pêtơrôgrát (Liên Xô), quê hương của Cách mạng Tháng Mười (30-6-1923). Ít ngày sau, Người đi xe lửa về Mátxcơva, bắt đầu một thời kỳ hoạt động, học tập và nghiên cứu về chủ nghĩa Mác – Lênin, về chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trên đất nước của Lênin vĩ đại. Thời gian này, Nguyễn Ái Quốc gặp và trả lời phỏng vấn nhà thơ Ôxíp Manđenxtam và Người đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng nhà thơ:
    “Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai… Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”.
    Năm 1924, Người dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được cử làm cán bộ Ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đồng thời là Ủy viên Đoàn chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc được giao theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng ở một số nước Châu Á .Cuối tháng 10-1924, Nguyễn Ái Quốc rời Mátxcơva, đi xuyên Xibêri, nghỉ lại ở Vlađivôxtốc, rồi xuống tàu Viễn Dương của Liên Xô đi Trung Quốc. Người đến Quảng Châu ngày 11-11-1924, xúc tiến việc chuẩn bị thành lập chính đảng vô sản kiểu mới cho giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Tháng 5-1927, Nguyễn Ái Quốc trở lại Mátxcơva sau gần ba năm xa cách, tiếp tục làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Không lâu sau, theo nguyện vọng của Người, Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra quyết định đồng ý để Nguyễn Ái Quốc trở về hoạt động ở Đông Dương (25-4-1928). Đầu tháng 6-1928, Nguyễn Ái Quốc rời Béclin, bắt đầu cuộc hành trình để về gần Tổ quốc. Từ Đức, Người qua Thụy Sĩ đến Italia. Tại biên giới Thuỵ Sĩ – Italia, mặc dù bị cảnh sát gây khó dễ nhưng Người cũng vượt qua được và đi Milan, rồi từ Rôma, Người đến Napôli, đáp tàu thuỷ Nhật Bản đi Xiêm.
    Từ tháng 7-1928 đến tháng 11-1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm (từ năm 1938 gọi là Thái Lan), xây dựng lực lượng cách mạng trong Việt kiều yêu nước. Đầu tiên, Người tới Băng Cốc, từ đó, đi Bản Đôn (huyện Phì Chịt, tỉnh Phítxanuloốc). Để giữ bí mật, Người dùng một số bí danh như Thọ, Nam Sơn, Thầu Chín, v.v.. Cuối tháng 7-1928, Nguyễn Ái Quốc rời Phì Chịt đến vùng Đông Bắc Xiêm như Uđon Thani, Xa Vang, Na Khôn Pha Nôm, Noọng Khai, v.v., để xây dựng cơ sở, từ đó tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào đấu tranh cách mạng, gây ảnh hưởng về trong nước. Cũng trong khoảng thời gian từ tháng 7-1928 đến tháng 11-1929, Nguyễn Ái Quốc, lúc đó với tên gọi Thầu Chín từ Xiêm vượt sông Mê Kông ít nhất hai lần sang thị xã Xavănnakhẹt và bản Xiêng Vang, huyện Noọng Bốc, tỉnh Khăm Muộn của Lào để nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nhân dân Lào, của bà con Việt kiều và khảo sát thực địa để tìm đường bí mật qua Lào về hoạt động tại Việt Nam. cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm và ngày 23-12-1929 Người đến Trung Quốc, gặp gỡ những chiến sĩ cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở đây để tìm hiểu thêm tình hình. Sau đó, Người đi Hồng Kông, chuẩn bị công việc cho hội nghị hợp nhất. Theo ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản, cuối tháng 4-1930, Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm và Malaixia. Đến Đông Bắc Xiêm (Thái Lan ngày nay)Cuối tháng 4, Người đến Malaixia làm nhiệm vụ và sau khi thoát khỏi cuộc vây bắt ở Xinhgapo (lúc đó thuộc Malaixia), vào cuối tháng 5-1930, Người quay trở lại Hồng Kông 6-6-1931, Nguyễn Ái Quốc (tên gọi khi đó là Tống Văn Sơ) bị bắt tại số nhà 186, phố Tam Kung (8) (Cửu Long, Hồng Kông). Biết Nguyễn Ái Quốc bị bắt, Quốc tế Cộng sản thông qua Quốc tế cứu tế đỏ đã yêu cầu luật sư Lôdơbi (F.H. Loseby), một luật sư tiến bộ người Anh khi đó là Chủ tịch công ty luật gia ở Hồng Kông giúp đỡ. Một lần nữa gia đình luật sư Lôdơbi lại bênh vực và cứu Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù. Kế hoạch di chuyển và bí mật tổ chức cho Tống Văn Sơ trốn đã được vạch ra.Khoảng mùa hè năm 1933, khi tình hình về vụ án Tống Văn Sơ có dấu hiệu lắng xuống, Nguyễn Ái Quốc quyết định rời Hạ Môn lên Thượng Hải, tìm cách bắt liên lạc với những đồng chí của mình. Cũng vào mùa hè năm 1933, được bà Tống Khánh Linh giúp đỡ, Nguyễn Ái Quốc gặp Pôn Vayăng Cutuyariê “trong chuyến anh sang Viễn Đông với tư cách đại biểu và người tổ chức Hội nghị vì hoà bình và chống chiến tranh đế quốc” . Nhờ đồng chí Pôn Vayăng Cutuyariê, Người chắp được liên lạc với đoàn thể. Vượt qua những tháng ngày đầy sóng gió, mùa xuân 1934, Nguyễn Ái Quốc rời Thượng Hải đi Vlađivôxtốc (Liên Xô), trở về với quê hương của Cách mạng Tháng Mười. Tháng 6-1934, sau một thời gian dừng lại Vlađivôxtốc để hoàn thành thủ tục nhập cảnh vào Liên Xô, vượt đường xe lửa xuyên Xibia, Nguyễn Ái Quốc trở lại Mátxcơva.Tháng 10-1934, Nguyễn Ái Quốc vào học Trường Quốc tế Lênin, nơi bồi dưỡng lý luận dành riêng cho cán bộ các đảng anh emĐầu tháng 10-1938, Người đáp xe lửa từ Mátxcơva đi về phương Đông. Vượt qua biên giới Xô – Trung, Nguyễn Ái Quốc đến Urumsi (16) rồi đi Lan Châu . Tại đây, Người được Văn phòng Bát lộ quân chuẩn bị cho một chứng minh thư Trung Quốc, mang tên Hồ Quang, cấp bậc thiếu tá.. Ngày 1-1 Tết Tân Tỵ (năm 1941), Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí trong đoàn đi chúc Tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Ngàn Tấy. Ngày hôm sau 28-1-1941, tức 2-1 Tết, đoàn rời Nậm Quang trở về nước.
    Những điểm nhấn rất đẹp về hình ảnh chân thực , tính cách của Bác Hồ :
    "Đến Đa–ca, biển nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả ca–nô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen Pháp phải bơi ra chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng biển cuốn đi.
    Cảnh tượng ấy mọi người coi là thường. Nhưng điều đó làm cho anh Ba hết sức cảm động, anh khóc. Ngạc nhiên, tôi hỏi tại sao? Anh Ba buồn rầu trả lời tôi:
    “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo. Ở đâu chúng nó cũng thế. Ở ta, tôi cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu.”
    Anh Ba rất tốt với mọi người và không bao giờ cãi cọ với ai. Nhưng anh Ba hơi khác thường. Mỗi ngày, anh dậy thật sớm để xem mặt trời mọc. Và trong những đêm trăng, anh hầu như không ngủ, anh đi đi lại lại trên tàu, ngắm trời ngắm bể. Chúng tôi đậu lại ở Tê–nê–rít–pho vào lúc hoàng hôn, biển lặng sóng, hòn đảo giống như một cái chụp đèn khổng lồ để trên mặt biển, phía trên lóng lánh, phía dưới xanh xanh. Chỉ có thế thôi, mà anh Ba ngây người. Anh nhắc đi nhắc lại: “Bốn, anh nhìn kìa! Đẹp quá! Hùng vĩ quá!”
    “Ai đưa anh đến đây, đến nước Anh?” – Tôi hỏi anh Ba.
    “Tôi đến đây một mình để học tiếng Anh”.
    Khi đến lượt anh Ba, anh làm rất cẩn thận. Đáng lẽ vứt thức ăn thừa vào một cái thùng, đôi khi còn cả phần tư con gà, những miếng bít-tết to tướng v.v. thì anh giữ gìn sạch sẽ và đưa lại cho nhà bếp. Chú ý đến việc này, ông già Ét-cốp–phi–e hỏi anh: “Tại sao anh không quẳng thức ăn thừa vào thùng, như những người kia?”
    “Không nên vứt đi. Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy.”
    “Ông bạn trẻ của tôi ơi, anh nghe tôi.” Vua bếp người Pháp -Ông Ét-cốt–phi–e vừa nói vừa cười và có vẻ bằng lòng. “Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp. Làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền. Anh bằng lòng chứ?”
    Anh Ba rất giàu tình cảm. Một hôm tôi gặp anh cầm tờ báo và chảy nước mắt. Tôi hỏi anh vì sao buồn thế. Anh đưa cho tôi tờ báo và giải thích: “Anh xem đây. Đây là tin tức ông thị trưởng Coóc (Cook), một nhà đại ái quốc Ailen. Ông ta bị bắt và bị người Anh bỏ tù. Ông ta tuyệt thực. Không những ông không ăn uống, mà còn không nói năng, không cử động nữa. Ông nằm nghiêng một phía im lìm như thế hơn bốn mươi ngày. Da thịt và áo quần phía ấy thối hết. Và ông chết, chết vì tổ quốc. Can đảm biết bao! Dũng cảm biết bao! Một dân tộc có những người như ông Coóc sẽ không bao giờ đầu hàng.Tôi tôn kính tất cả những Tống Duy Tân. Tôi sùng kính tất cả thị trưởng Coóc. Cái chết của họ làm cho tổ quốc họ sống lại, lòng can đảm của họ bất diệt.”
    Về văn học, ông Nguyễn thích đọc Sếch–pia (Shakespeare) và Đích–ken (Dickens) bằng tiếng Anh, Lỗ Tấn bằng tiếng Trung Hoa và Huy Gô (Hugo), Dôla (Zola) bằng tiếng Pháp. A–na–tôn Phơ–răng–xơ (Anatole France) và Lê–ông Tôn–xtôi (Léon Tolstoi) có thể nói là những người đỡ đầu văn học cho ông Nguyễn. Ông Nguyễn vào cả Hội “Du lịch”, một hội đưa người ta đi thăm nước Pháp và những nước lân cận với giá tiền rất rẻ. Nhờ vậy mà ông Nguyễn đi thăm nhiều nơi ở Pháp, ở Ý, ở Thuỵ Sĩ, ở Đức và cả Toà thánh Va–ti–căng. Ngoài những cuộc đi xem để học, ông không thích chơi bời gì khác.
    Không phải chỉ vì thích đi du lịch mà ông nhịn ăn nhịn tiêu. Điều đó cũng có, nhưng nhất là ông muốn biết những nước ấy tổ chức và cai trị như thế nào.
    Ông Nguyễn bắt đầu tổ chức, hoặc đúng hơn là bắt đầu học tổ chức.
    Trong những buổi mít tinh, trong những buổi đi thăm hoặc du lịch, ông đã gặp những người cách mạng An–giê–ri, Tuy–ni–di, Ma-rốc, Man–gát, v.v. Cùng với họ, ông tổ chức: “Hội Liên hiệp thuộc địa ở Pa–ri”. Mục đích của Hội này là giải phóng những dân tộc thuộc địa. Hoạt động của Hội là tuyên truyền. tôi đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ 3. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu.Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành, tự do, độc lập.
    http://thehehochiminh.wordpress.com/...tien/#more-920

  18. #18

    Mặc định

    Nếu Hà lan không đắp đê thì làm sao có một Hà lan thịnh vượng như hiện nay , GDP / người -tính theo sức mua tương đương ppp : 41,711 đứng thứ 12 trên thế giới .
    Nếu khi có hỏa hoạn thay vì dập nguồn lửa mà lại đi lo sắp xếp đồ đạc lại ngăn nắp thì điều gì rốt cuộc sẽ xảy xa ? . Chắc chắn kết quả là thiêu rụi hết mọi thành quả gom góp bao nhiêu lâu .
    Thay vì phải ra nghị quyết nêu rõ quan điểm chính kiến để đối ngoại , trách nhiệm và giải pháp thích hợp nhất hiện nay về bảo vệ chủ quyền thì Quốc hội chỉ ra thông cáo quan điểm, lập trường của Quốc hội chỉ mang tính đối nội, mang tính tượng trưng chứ không mang tính khoa học .
    Nhìn lại ĐẠI LỄ VESAK LIÊN HIỆP QUỐC 2014- Đề tài chính của hội thảo là Phật giáo góp phần thực hiện thành tựu các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc và gồm có năm đề tài phụ , trong đó Diễn đàn 4 Xây dựng hòa bình và sự bình phục hậu mâu thuẫn có 22 tác giả trình bày các chuyên đề. Diễn đàn 4 thu hút đông đảo cử toạ, vì hội thảo xãy diễn trong bối cảnh Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam mà sự kiện HD 981 ảnh hưởng trực tiếp đến hoà bình khu vực.Các đề tài lý thuyết về hoà bình theo quan điểm Phật giáo được các tác giả trình bày buổi sáng thành công. Bước sang phần thảo luận chung thì không khí trở nên sôi động hơn, khi vấn đề vi phạm của Trung Quốc được một sư cô người Việt đặt ra và một vị sư cũng yêu cầu hội thảo phải có hướng đi thay vì nói chuyện lý thuyết mà cụ thể vấn đề là PGVN phải bày tỏ thái độ trong cơn nguy biến.Ban Chủ toạ phản bác với lập luận là diễn đàn bàn về học thuật với chuyên đề chọn truớc, không có thẩm quyền giải quyết vấn đề chính trị với Trung Quốc. Sự thoái thác gây bất mãn cho các tham dự viên người Việt trong khi người ngoại quốc không lộ một băn khoăn nào đặc biệt. Một câu trả lời của Ban Chủ toạ mà tôi cho là không phù hợp là yêu cầu đừng hỏi chúng tôi vấn đề này mà hãy tìm hỏi người Trung Quốc. có phát biểu chân tình này dù khá dài dòng, nhưng không gì khác hơn là kêu gọi người Việt và Phật giáo phải ý thức sự an nguy của đất nước và phải có hành động cụ thể. Trong khi chính quyền TQ biết rõ những gì họ làm trong việc xâm lăng VN, từ thị trường lao động, thực phẩm, biên giới và biển đảo, chính quyền VN không hề có một đối sách nào đối trọng tương thích .
    http://thuvienhoasen.org/a19590/tuon...hiep-quoc-2014

    http://quangduc.com/a53291/ban-len-t...h-hai-viet-nam
    Nếu Hà lan không đắp đê thì làm sao có một Hà lan thịnh vượng như hiện nay
    Hà Lan- Nederland, Hà Lan có khoảng 27% diện tích và 60% dân số nằm ở khu vực có độ cao dưới mực nước biển. Và Hà Lan nổi tiếng với các con đê ngăn bằng một con đập dài 29 km vào năm 1932 để lấy đất, cối xay gió, giày gỗ, hoa tulip và sự đa dạng về xã hội . Chi phí cho quân sự chiếm 1,6% tổng sản phẩm quốc nội (Đức: 1,5%, USA 3,8%, Nga 4,1%, , Anh & Ấn độ - 2,5% , Trung Quốc 188 tỷ USD = 2% )việc trồng hoa uất kim cương (hoa tu líp) đã có ảnh hưởng đến cả lịch sử của đất nước – là nuôi bò sữa trên quy mô lớn, là cơ sở cho phó mát, một sản phẩm xuất khẩu quan trọng. Điểm nổi bật của nền kinh tế Hà Lan là có nền công nghiệp phát triển và ổn định, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát ở mức thấp và là cửa ngõ thông thương quan trọng ở châu Âu. Các ngành công nghiệp mũi nhọn của Hà Lan là chế biến thực phẩm, hoá chất, khai thác dầu khí và sản xuất máy móc thiết bị điện tử.Là nước hẹp, người đông, không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, Hà Lan chỉ có khí đốt (trữ lượng khoảng 2.680 tỷ m3), một khối lượng không lớn dầu lửa ở biển Bắc (sản lượng đáp ứng khoảng 20% nhu cầu hiện nay), nhưng đã biết sử dụng thế mạnh là một quốc gia ven biển, cửa khẩu của 3 con sông lớn ở Tây Âu và giữa các cường quốc kinh tế Anh, Pháp, Đức để phát triển các ngành dịch vụ hàng hải, cảng, vận tải sông, công nghiệp chế biến, hoá dầu… Hà Lan cũng đã tận dụng đất đai màu mỡ để phát triển nông nghiệp và ngành công nghiệp thực phẩm.Những lĩnh vực có thế mạnh: xây dựng, hoá chất, khai thác dầu khí, công nghiệp sản xuất máy móc thiết bị điện tử, vi điện tử, chế biến nông sản, thực phẩm, đánh cá.Hà Lan là nền kinh tế đứng thứ 16 thế giới. Mấy thập niên qua, Hà Lan đã xây dựng thành công nền kinh tế tri thức. Dịch vụ chiếm 74%, công nghiệp 24% và nông nghiệp 2% GDP. Hà Lan có các tập đoàn hàng đầu thế giới như Shell (số 1 thế giới năm 2008), Philips (công ty điện tử đầu tiên trên thế giới), Unilever, Akzo Nobel, tập đoàn ING và ABN... Hà Lan chú trọng phát triển bền vững (GDP tăng 1 – 2%/năm), cân bằng sinh thái, môi trường, chất lượng cuộc sống, xây dựng các thiết chế học tập suốt đời, tuổi thọ trung bình 80 tuổi, chỉ số phát triển con người HDI 95,8% (cao thứ 6 thế giới)

  19. #19

    Mặc định

    NẾU VIỆT NAM CÓ NGƯỜI NHƯ SHINZO ABE & DÂN VIỆT NAM CÓ TÍNH CÁCH VƯỢT QUA CHÍNH MÌNH ĐỂ HOÀN THIỆN BẢN THÂN NHƯ NGƯỜI NHẬT -THÌ KỲ TÍCH VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI SẼ CÓ
    Abe Shinzō -21/9/1954 . Ông cũng từng là Thủ tướng từ ngày 26 tháng 9 năm 2006 đến ngày 26 tháng 9 năm 2007. 5 năm sau khi từ chức Thủ tướng và Chủ tịch Đảng, Abe lại tranh cử Chủ tịch Đảng và được bầu làm Chủ tịch Đảng trở lại vào ngày 26/9/2012. Thủ tướng Nhật Bản thêm một nhiệm kỳ nữa từ ngày 26 tháng 12 năm 2012..Tháng 3, 1977: Tốt nghiệp chuyên ngành chính trị học tại Khoa Luật, Đại học Seikei. ông Abe có chủ trương cố gắng kết thúc sự giảm phát, nâng cao giá trị đồng yên và thúc đẩy kinh tế phát triển. Ông Abe cũng thể hiện mong muốn Nhật Bản đóng góp một vai trò quan trọng hơn trong vấn đề an ninh toàn cầu.
    Dựa vào ý tưởng "ba mũi tên", Abe Shinzō đã xây dựng lên kế hoạch hồi sinh tăng trưởng kinh tế cho Nhật Bản.Nhật Bản những năm giữa thế kỷ XVI có một vị lãnh chúa lớn thống trị vùng Chugoku, gần Hiroshima, có tên là Mori Motonari. Khi đó, trong hoàn cảnh bị các nước láng giềng tấn công mạnh mẽ, ông đã triệu tập 3 người con trai để bàn về tương lai của gia tộc mình.
    Ông đưa cho mỗi người một mũi tên. Chỉ qua vài động tác uốn hay giương cung, họ thấy rằng nếu chỉ giương từng mũi tên một, rất dễ bị uốn cong và gãy, nhưng lại trở nên vô cung chắc chắn khi chụm lại với nhau.
    Giống như người Việt Nam dạy con cháu bằng câu tục ngữ: "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao", người Nhật Bản truyền tinh thần đoàn kết của dân tộc bằng câu chuyện cổ trên.
    Kể từ khi lên năm quyền cuối tháng 12/2012, thủ tướng Shinzo Abe công bố chính sách phục hưng kinh tế với tư tưởng cốt lõi "ba mũi tên" được các nhà phân tích đặt tên là "Abenomics."
    Tháng 1/2013, ông Shinzo Abe lần đầu tiên thông qua một kế hoạch kích thích kinh tế 10.300 tỷ yên, chủ yếu nhằm tài trợ tài chính cho công trình công cộng lớn.
    Vào tháng 4, Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ) đã bắn đi mũi tên thứ hai. Mũi tên này nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng giảm phát,bằng tung ra gói nới lỏng định lượng khổng lồ. Về lý thuyết, tỷ lạm phát ít nhất 2% sẽ đạt được trong vòng 2 năm tới.
    Tuần này, ông Abe đã bắn mũi tên thứ ba của chính sách. Một "chiến lược phát triển" dài hạn, việc lập các đặc khu kinh tế để thu hút đầu tư nước ngoài vào công nghệ cao và ngành quản trị nhân lực và tự do hóa hoàn toàn thị trường điện bán lẻ và thúc đẩy đầu tư liên quan đến ngành điện lên 30 nghìn tỷ yên (300 tỷ USD) trong 10 năm tới.Ông muốn thực hiện điều mà các chính trị gia thời Minh Trị tự cường đã làm được khi đưa nước Nhật vào cuộc canh tân vĩ đại cuối thế kỷ 19.Abenomics là từ để chỉ chính sách kinh tế gồm ba trụ cột, hay còn gọi là ba mũi tên, của chính quyền Shinzo Abe: nới lỏng chính sách tiền tệ (in tiền ào ạt, tái kích thích lạm phát), kích thích tài chính (chi tiêu mạnh cho các chương trình công ích) và cải cách cơ cấu kinh tế.
    Ngày 6-6 vừa rồi, Tổng thống Pháp François Hollande dẫn đầu một đoàn lớn gồm bảy bộ trưởng và khoảng 40 doanh nghiệp hàng đầu thăm Nhật Bản. Đây là chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của một nguyên thủ quốc gia Pháp sau 17 năm, trong đó có lý do là ông Hollande muốn hiểu rõ hơn những hiệu ứng của Abenomics khi từ hơn một năm nay, tăng trưởng kinh tế ở Pháp là con số 0.
    Hiện nay, Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, Hai bên đang hợp tác xây dựng Chiến lược Công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Nhật Bản là quốc gia hàng đầu thế giới về khoa học và công nghệ. Được đánh giá là một cường quốc kinh tế, Nhật Bản là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu tính theo tổng sản phẩm nội địa cũng như thứ ba theo sức mua tương đương chỉ sau Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và là đất nước đứng thứ 5 trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng; xếp thứ 4 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 6 thế giới về nhập khẩu.Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản , thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới, những tập đoàn kinh doanh và công ty đa quốc gia như Sony, Sumitomo, Mitsubishi và Toyota , Giao thông ở Nhật Bản rất phát triển. Nhật Bản thuộc nhóm các quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứu khoa học, công nghệ máy móc, nghiên cứu y học. Một vài đóng góp công nghệ quan trọng của Nhật Bản là những phát minh trong các lĩnh vực điện tử, ô tô, máy móc, robot công nghiệp, quang học, hóa chất, chất bán dẫn và kim loại. Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong ngành khoa học robot. Nhật Bản cũng là nước sản xuất ô tô lớn thứ hai trên thế giới . Hệ thống tiểu học, trung và đại học được áp dụng ở Nhật như một trong các cải cách thời Minh Trị. Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế hợp tác OECD hiện xếp Nhật Bản ở vị trí thứ sáu thế giới về kĩ năng và kiến thức của học sinh mười sáu tuổi. Ngân sách dành riêng cho công tác giáo dục 7 %
    Người Nhật bản luôn tìm tòi và học hỏi làm sao tích lũy được nhiều kinh nghiệm cho mình. Chính tinh thần hiếu kỳ óc cầu tiến của người Nhật là động lực thúc đẩy họ trở thành một nước tiên tiến đứng thứ 2 thế giới. Ý thức tập thể cao, trong công việc người Nhật thường gạt cái tôi ra đề cao cái chung, họ có thể cạnh tranh với nhau, song cũng có lúc họ bắt tay với nhau đẻ đạt được mục đích chung để đánh bại đối thủ nước ngoài. Người Nhật Bản rất tôn trọng thứ bậc và địa vị,đây là tập tục có từ lâu đời của người Nhật, người Nhật có óc thẩm mỹ rất cao, họ biết sắp xếp công việc và cách trang trí nhà cửa, xếp đồ đạc hay cách bài trí bữa cơm. Họ không chỉ biểu hiện bên ngoài mà còn cả lối sống, suy nghĩ và cung cách làm việc của họ, người Nhật có tính tiết kiệm và làm việc chăm chỉ, lòng trung thành của họ được khẳng định. Họ tăng cường sức mạnh của mình bằng cách nuôi dưỡng tình cảm trung thành của các công nhân bằng cách đào tạo có chế độ đãi ngộ rất tốt đẻ thu hút nguồn nhân lực . Xã hội Nhật Bản là một xã hội có sự cạnh tranh quyết liệt nhưng không tạo sự cạnh tranh giữa các cá nhân mà các cá nhân phải làm việc quên mình cho sự cạnh tranh của nhóm. Người Nhật luôn làm theo mục tiêu đã định, tôn trọng thứ bậc trong xã hội, cần cù và có tính trách nhiệm cao, yêu thiên nhiên và có khiếu thẩm mỹ, tinh tế , khiêm nhường và luôn luôn giữ chư tín. Nói tóm lại đất nước Nhật Bản là một đất nước đầy tiềm năng để chúng ta hướng tới .
    Tính hiếu kỳ và nhạy cảm với văn hóa nước ngoài
    Chúng ta có thể nói rằng không có dân tộc nào nhạy bén về văn hoá của nước ngoài như người Nhật. Họ không ngừng theo dõi những biến động tình hình bên ngoài, đánh giá và cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chính đang diễn ra đối với Nhật, và nếu như họ phát hiện ra trào lưu nào đang thắng thế thì họ có xu hướng sẵn sàng học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó. Và chính tinh thần thực dụng, tính hiếu kỳ và óc cầu tiến của người Nhật là những động lực thúc đẩy họ bắt kịp với các nước tiên tiến. Họ không đặt vấn đề phê phán hay chọn lọc khi học mà bằng mọi cách học cho hết. Sau đó họ mới nghiền ngẫm tìm ra những yếu tố có thể cải biến. Đến đây họ lại phát huy được thế mạnh của óc quan sát tỉ mỉ và sự tinh tế vốn có của văn hoá dân tộc.Tôn trọng thứ bậc và địa vị
    Ý thức tôn trọng thứ bậc có lẽ đã có từ lâu trong đời sống của người Nhật. Thái độ nhún mình trước những người có địa vị, quyền chức cũng có ở một số nước khác thời cận đại nhưng đặc biệt ở Nhật cho đến ngày nay vẫn còn đậm nét. Tập quán này được nhấn mạnh trong hơn 250 năm dưới thời Tokugawa. Ngày nay ý thức tôn trọng thứ bậc vẫn được thể hiện trong đời sống hàng ngày. Đối với người lớn tuổi hay người có địa vị thì phải dùng ngôn ngữ kính trọng (sonkeigo), khi nói về mình và những người trong gia đình mình thì dùng ngôn ngữ khiêm nhường (kenjogo).
    Điều đặc biệt là chế độ giáo dục thời kỳ vàng ; từ khi mới mang thai đến mẫu giáo ; thời kỳ tri thức có thể thu nhận với tốc độ nhanh ngoài mức tưởng tượng với kiểu giáo dục trí tuệ vô thức giai đoạn thai giáo đến 2 tuổi ( cho trẻ thưởng thức lặp lại nhiều lần những bữa tiệc tuyệt vời nhất về ánh sáng , âm thanh , âm nhạc , phong cảnh , cảm giác , tình cảm ... ), giáo dục trí tuệ ý thức giai đoạn trên 2 tuổi - cho trẻ học các nguyên lý căn bản ...

  20. #20

    Mặc định

    BA CÂY CHỤM LẠI THÀNH NON
    Bách Việt lớn hay nhỏ ?
    Lớn mỗi khi kết đoàn
    Dùng trí khôn hơn người
    Vượt lên mọi hiểm nguy
    Xây nếp sống cộng hòa
    Tôn trọng và hòa ái
    Điệu dân ca diệu vợi
    Mềm mại mà thướt tha
    Nhỏ vì nền kinh tế
    Không tính tới tương lai
    Giáo dục còn manh mún
    Khó thực dụng nhân tài
    Nguyên khí Việt nam hùng
    Văn hóa chỉ đơn chiều
    Một màu rất tẻ nhạt
    Chưa phải gương phản chiếu
    Cuộc sống đa sắc màu
    Muốn thành hòn núi cao
    Ba cây phải chụm lại
    Xây kinh tế tri thức
    Phải ưu tiên hàng đầu
    Tạo dựng nếp cạnh tranh
    Tự nhiên và lành mạnh
    Giáo dục có trết lý
    Nguyên lý nào trường tồn
    Thích nghi là vĩnh cửu
    Thời gian vàng giáo huấn
    Từ không tuổi đó mà
    Những bữa tiệc đa sắc
    Âm thanh vũ điệu ngôn
    Nhiều xúc cảm mến yêu
    Kích thích trí đại não
    Vô lượng tri vô thức
    Chịu tải vượt chính mình
    Lớn sẽ không gục ngã
    Không ích kỷ yếu hèn
    Biết quan tâm người khác
    Tiết kiệm vẫn xài sang
    Chi đúng lúc đúng chỗ
    Biết hoàn hiện bản thân
    Chân thiện mỹ toàn năng
    Xây văn minh tộc Việt
    Ba cây chụm thành non

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 51
    Bài mới gởi: 13-07-2013, 12:29 AM
  2. MỘT SỐ TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỨ DÂN TỘC
    By Bin571 in forum Truyền thuyết - Giai thoại - Lịch sử VIỆT NAM
    Trả lời: 14
    Bài mới gởi: 19-05-2013, 08:11 AM
  3. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 17-01-2013, 01:06 PM
  4. Bán và cho thuê máy chiếu,màn chiếu
    By thaiduongnet2 in forum Nơi Rao vặt, Trao đổi, Hiến tặng ...
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-09-2010, 04:23 PM
  5. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 12-08-2008, 06:05 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •