kết quả từ 1 tới 2 trên 2

Ðề tài: Ba cách điều phục ngựa

  1. #1

    Mặc định Ba cách điều phục ngựa

    Không phải tranh hơn với người là thắng, Phật dạy rất rõ về pháp điều phục... Các huynh đệ nên xem để học được cách ứng xử trong các tình huống!

    Điều phục chúng sanh

    Một hôm tại vườn Trúc, thành Vương-xá có một người chủ tụ lạc chuyên nghề huấn luyện ngựa đến hầu thăm Đức Phật và thưa với Ngài rằng:

    Bạch Thế Tôn, đối với con thế gian này đầy dẫy sự vô thường, thật không đáng chấp thủ, như bọt biển, như dã tràng; chỉ có con mới có khả năng điều phục được ngựa dữ, ngựa điên, ngựa hoang. Con có phương pháp chỉ cần trong giây lát là có thể khiến cho những chứng tật của chúng hiện ra và tùy theo tật đó mà có cách điều phục.Đức Phật hỏi người huấn luyện ngựa:

    - Ông có bao nhiêu cách để điều phục?

    Người huấn luyện ngựa thưa:

    - Bạch Thế Tôn! Có ba cách để điều phục ngựa dữ. Những gì là ba? Một là mềm dịu, hai là thô cứng, ba là vừa mềm dịu vừa thô cứng.

    Đức Phật bảo người huấn luyện ngựa:

    - Ông dùng ba phương cách này để điều phục ngựa, nếu không điều phục được thì phải làm thế nào?

    Người chủ tụ lạc thưa rằng:

    - Nếu không điều phục được thì nên giết nó. Vì sao? Vì chớ để nó làm nhục mình; tức khi nó sanh chứng sẽ làm hại mình chết.

    Người huấn luyện ngựa lại bạch Phật rằng:

    - Thế Tôn là bậc Vô thượng Điều ngự trượng phu, Ngài đã dùng bao nhiêu pháp để điều ngự trượng phu?

    Đức Phật trả lời:

    - Ta cũng dùng ba cách để điều ngự trượng phu. Những gì là ba? Một là một mực mềm dịu, hai là một mực thô cứng, ba là vừa mềm dịu vừa thô cứng.

    Đức Phật giảng dạy rõ:

    - Thứ nhất, “một mực mềm dịu là như nói rằng: Đây là thiện hành của thân; đây là quả báo của thân thiện hành. Đây là thiện hành của miệng, ý; đây là quả báo của miệng, ý thiện hành. Đây gọi là trời. Đây gọi là người. Đây gọi là sự hóa sanh nơi cõi thiện. Đây gọi là Niết-bàn”. Đó gọi là một mực mềm dịu.

    - Thứ hai, “một mực thô cứng là, như nói: Đây là ác hành của thân; đây là quả báo của thân ác hành. Đây là ác hành của miệng, ý; đây là quả báo của miệng, ý các hành. Đây gọi là địa ngục. Đây gọi là ngạ quỷ. Đây gọi là súc sanh. Đây gọi là ác thú. Đây gọi là đọa ác thú”. Đó là sự giáo hóa thô cứng của Như Lai.


    - Thứ ba, “vừa mềm dịu vừa thô cứng là có lúc nói thiện hành của thân và quả báo của thiện hành của thân. Có lúc nói thiện hành của miệng, ý và quả báo thiện hành của miệng, ý. Có lúc nói ác hành của thân và quả báo ác hành của thân. Có lúc nói ác hành của miệng, ý và quả báo ác hành của miệng, ý. Như vậy gọi là trời, như vậy gọi là người, như vậy gọi là đường lành, như vậy gọi là Niết-bàn; như vậy gọi là địa ngục, như vậy gọi là súc sanh, ngạ quỷ, như vậy gọi là đường ác, như vậy gọi là đọa đường ác”. Đó gọi là sự giáo hóa vừa mềm dịu vừa thô cứng của Như Lai.

    Bấy giờ, người huấn luyện ngựa bạch Phật:

    - Thế Tôn! Nếu dùng ba phương pháp này để điều phục chúng sanh, nhưng nếu không điều phục được thì phải như thế nào?

    Đức Phật bảo chủ tụ lạc rằng:

    - Cũng giống như ông đã cư xử với hạng ngựa bất trị, phải đành đoạn diệt, tức là giết chết nó đi. Vì sao? Vì không nên để họ làm nhục giáo pháp.

    Người huấn luyện ngựa bạch Phật:

    - Đối với pháp của Thế Tôn, nếu sát sanh thì không thanh tịnh. Trong pháp của Thế Tôn cũng không cho sát sanh, mà nay lại bảo đoạn diệt? Vậy thì ý nghĩa của nó thế nào?

    Đức Phật bảo chủ tụ lạc:

    - Đúng vậy, đúng vậy! Trong pháp của Như Lai sát sanh là không thanh tịnh; trong pháp của Như Lai cũng không cho sát sanh. Nhưng trong pháp của Như Lai nếu dùng ba phương pháp để giáo dục, vẫn không điều phục được, Ta sẽ không nói đến họ, không dạy, không nhắc nữa. Chủ tụ lạc, ý ông thế nào? Trong pháp Như Lai, không nói đến họ, không dạy, không nhắc nữa, há không phải là đoạn diệt (giết rồi) hay sao?

    Đến đây, người luyện ngựa lại thưa:

    - Thật vậy, bạch Thế Tôn, không nói đến họ, vĩnh viễn không dạy, không nhắc nữa thì đích thị họ đã chết rồi! Vì vậy cho nên, từ ngày hôm nay con nguyện lìa các nghiệp ác bất thiện, xin Thế Tôn chứng minh cho con.

    Sau cùng, nhà sư cầu nguyện chư Phật, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hộ trì cho những người con Phật chúng ta luôn được sung mãn Bi-Trí-Dũng như nắng ấm mùa xuân, luôn đem ngọn gió yêu thương mềm dịu đến với cuộc đời, với mọi người; riêng đối với chính mình thì lúc nào cũng tinh tấn tỉnh thức như sức ngựa “Kiền-trắc” vượt sông mê trần thế lần về bến giác.

    “Tinh cần giữa phóng dật

    Tỉnh thức giữa quần mê

    Người trí như ngựa phi

    Bỏ sau con ngựa hèn”.

    (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
    ..Nam Mô A Di Đa bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ...:wave:

  2. #2

    Smile

    Không phải tranh hơn với người là thắng, Phật dạy rất rõ về pháp điều phục... Các huynh đệ nên xem để học được cách ứng xử trong các tình huống!Như ta_la_ai
    đã nói,con người theo quan điểm Phật giáo là con người ngũ uẩn, tập hợp của 5 thành tố : sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Khi con người có ý thức về mình thì con người đã là một chúng sinh của cõi hữu vi, của thế giới hiện tượng, vô thường, khổ đau, tức là con người được hình thành bằng ngũ uẩn. Vậy, bàn đến nhân cách là bàn đến những nét chung và riêng cũa những hành vi, của tâm lý, cách cư xử, tính tình của một cá nhân, nghĩa là bàn đến nhân cách hay tính chất của cái tập hợp ngũ uẩn.

    Con người ngũ uẩn :

    Ngũ uẩn gồm sắc (vật chất, hình tướng), thọ (cảm nhận, cảm giác khi tiếp xúc với các sự vật, đối tượng), tưởng (suy nghĩ, so sánh, đối chiếu), hành (vận động, hành động của thân, miệng, ý), thức (cái biết do các quan năng mang lại). Con người theo Phật giáo là tập hợp của 5 thành tố trên, ngoài ra không có gì khác. Tập hợp là một từ bao hàm trong nói ý nghĩa hữu vi, bị điều kiện hay bị chi phối bởi nhân duyên. Mỗi một thành tố tự nó dũng là do nhân duyên, tức là không có cái sắc nào tự đứng một mình, không có cái thị nào, tưởng nào, hành nào, thức nào tự thành lập mà không có sự hiện diện, hỗ trợ của các thành tố khác. Tóm lại, tất cả các thành tố và tập hợp các thành tố đều do nhân duyên, như vậy lý duyên khởi là yếu tính của sự thành lập ngũ uẩn. Và đã như vậy thì tập hợp ngũ uẩn hay con người xét cho cùng không thể hàm chứ một ngã tính nào cả. Không có ngã tính, không có ngã thì cái gọi là nhân cách con người chỉ là cái tạm thời, quy ước mà thôi.
    Nhân cách:

    Bản chất tối hậu của con người là vô ngã, nhưng vì con người là con người của cõi hữu vi, mọi người đều có tâm lý, thái độ, hành xử, tư duy… giống và khác với những người khác nên chúng ta phân biệt nhân người nói chung và nhân cách của một người nói riêng.
    Con người là tập hợp duyên khởi, cụ thể là tập hợp ngũ uẩn, tức là một sự khổ theo quan điểm của đạo Phật. Con người tự nhận mình có ngã là do thói quen từ vô thỉ, thói quen chấp trước, phân biệt, cho rằng cái tập hợp ngũ uẩn là ngã. Cái thức (A lại da) mang các chủng tử được huân tập từ bao đời kiếp được nhân là một ngã linh hồn. Cái hoàn cảnh chung của cái sức sống tương tục, hay nói khác đi, là nghiệp hay nghiệp lực của thế giới này (hay cộng nghiệp) khiến cho người ta có những thái độ hành xử, tư duy giống nhau như đau buồn trước sự mất mát, giận dỗi khi bị xúc phạm, vui mừng khi xứng ý. Như vậy, nghiệp đã tạo ra nhân cách, hay nói cách khác đi, nhân cách của một người chính là nghiệp của người ấy.

    Phật giáo chấp nhận các học thuyết về tâm lý, về nhân cách của các triết gia, các nhà khoa học hiện đại nhưng điều đặc biệt là Phật giáo còn đi sâu hơn những học thuyết ấy trong việc xem các bản năng, dục tình, ngã, siêu ngã, tiềm thức có gốc gác trong những đời trước. Trong khu bàn về nguyên nhân của nhân cách trong Phật giáo, người ta đụng chạm đến 12 chi phần duyên khởi, 5 thành tố ngũ uẩn, 3 tính chất căn bản của nhân cách là: tham, sân, si.

    Tham, sân, si là biểu hiện của tự ngã sai lầm, của cái giả ngã khổ đau nhưng lý duyên khởi cho ta biết rằng ngã là không, cho nên cái tính không vẫn là bản chất của nó. Mặt khác, vô tham, vô sân, vô si là biểu hiện của cái vô ngã. Đây là hai mặt của một nhân cách. Do hai mặt này, nhân cách không thiện và nhân cách thiện đều có trong một cái nhân. Thiện và không thiện là hai đặc tính nhân cách : có gây trở ngại cho cá nhân và cho người khác hay không. Như vậy, thiện hay ác là tính chất của mọi thái độ, cảm xúc, hành động, tâm lý và tư duy của con người nói chung.
    Phật giáo với lý thuyết về A lại da còn quan niệm về nhân cách thứ ba vô ký ( không thiện không ác). Điều này rất quan trọng đối với giáo dục nhân cách, chúng ta sẽ bàn tiếp sau này.

    Nhưng đối với một cá nhân là đối tượng của giáo dục là nhân cách riêng của cá nhân ấy mới quan trọng. ‘’Bá dân bá tánh’’ (trăm người là trăm tánh) hẳn là rất đúng trong ý nghĩa rằng mỗi người có một nhân cách riêng, không có hai nhân cách hoàn toàn giống nhau.
    Tại sao như vậy ?
    Ta hãy trở lại tập hợp ngũ uẩn. Do tập khí từ các đời quá khứ và đặc biệt do hoàn cảnh nhân duyên hiện tại, trong đó yếu tố quan trọng nhất là giáo dục mà chức năng vận hành của từng thành tố và ‘’cấu trúc ‘’ của 5 thành tố của mỗi người không giống nhau. Việc không giống nhau của 5 ngũ uẩn này khiến cho mỗi người có một nhân cách riêng.

    Việc phân loại nhân cách dựa vào trắc nghiệm tâm lý, thái độ là hết sức cần thiết cho giáo dục nói chung và việc phân tích cho được nguyên nhân của một loại hình nhân cách là rất cần thiết cho việc giáo dục nhân cách.cho Dù anh la tôn giáo nào

    Giáo dục nhân cách :

    Nhân cách, nói đến chỗ tuyệt đối, tối ngã là vô ngã. Giáo dục nhân cách là làm sao chuyển cái giả ngã thành vô ngã.

    Theo pháp tướng duy thức học, cái chấp ngã là chứ năng của Mạt na, Mạt na nhìn vào A lại na mà cho rằng A lại da là ngã, là ta. Vậy, ‘’ngã’’ được hình thành do nội dung mà A lại da chứa đựng và sự chấp ngã của Mạt na. Để tiến đến vô ngã, một người phải phá bỏ chấp trước và mặt khác không làm phong phú cái nội dung ngã của A lại da bằng cách điều phục thân, khẩu, ý trong hành động, đồng thời tạo thêm và phát triển các chủng tử thiện, hạn chế sự hiện hành của các chủng tử ác. Để đạt mục tiêu ấy, thiền định là phương pháp tốt nhất. Thiền định giúp ta buông bỏ phân biệt, chấp trước, phát triển trí tuệ để nhìn rõ nguyên nhân khổ đau

    Giáo dục Phật giáo giúp con người phát triển trí tuệ để thấy rõ ngũ uẩn là không, là vô ngã. Phật giáo đề cao 6 ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Bốn đức của ba la mật là khổ, không, vô thường và vô ngã. Chính việc thực hành lục ba la mật là một phương pháp rèn luyện nhân cách tuyệt vời, là phương cách trị liệu hữu hiệu nhất đối với những bệnh nhân cách (personality disease) mà các nhà phân tích nhân cách hiện đại đã phân tích và tìm cách chữa trị.

    Ngoài ra, nhờ việc phân tích ngũ uẩn và áp dụng giáo lý duyên khởi nên giáo dục nhân cách của Phật giáo có thể xếp loại nhân cách và phương pháp giáo dục, trị liệu cho từng nhân cách: người có dục tham nặng thì cần tu tập quán vô thường, vô ngã và thực hành bố thí. Người nặng sân hận thì cần thực hành tứ vô lượng tâm.

    Như vậy, cái nhân cách tốt đẹp nhất là cái nhân cách vô ngã. Nhân cách càng gần với vô ngã thì càng tạo hạnh phúc cho cá nhân mang nhân cách ấy và góp phần tạo hạnh phúc cho những người chung quanh.

    Mọi đau khổ đều là những thể hiện của tham, sân và si : ngã chấp là động cơ vận hành của tam độc này. Càng vô ngã thì càng được giải thoát, tức càng ít khổ đau. Sự thật này là kinh nghiệm sống hàng ngày mà người ta không để ý đến. Giáo dục phải nhắc nhở cho người ta, phải khuyến khích người ta thực hiện vô ngã. Như thế, nói một cách khác, giáo dục, nhất là giáo dục nhân cách, là phải xem vô ngã là mục đích tối hậu.

    Những trường hợp bất thường về nhân cách mà các nhà chuyên môn gọi là bệnh nhân cách chính là bệnh chấp ngã, chấp ngã trong các lĩnh vực khác nhau về ý nghĩ, về tâm lý, về ứng xử, hành động. Giáo dục Phật giáo có thể điều chỉnh, chữa trị những trường hợp bất thường ấy. Con đường vô ngã chính là con đường của giáo dục Phật giáo vậy.
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •