BAR DO’I DAM PA GYUN KY’ER T’AR LAM SAL DRON SHUG SO
‘NGỌN ĐÈN SOI SÁNG CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT’
Kinh Nhật Tụng Dựa Trên Hướng Dẫn Về Cõi Trung-GiớI
Nguyên Tác: Đại Sư Tsele Nats’og Rangdrol, Mike Dickman chuyển từ Tạng-ngữ qua Anh-ngữ Tâm Bảo Đàn chuyển từ Anh-ngữ qua Việt-ngữ, viết lời giới thiệu và chú thích


Drikung Kagyu




Bạch Thầy, bậc đạo sư hướng dẫn tâm linh [1],
Thầy chính là hiện thân toàn vẹn của Phật, Pháp, Tăng vô cùng hiếm hoi tôn quý,
Nơi con quay về nương tựa.
Con xin khẩn nguyện với tâm tha thiết chí thành.
Với tâm từ bi rộng mở, xin Thầy hãy đoái tưởng đến con,
Và che chở cho con thoát khỏi những hãi hùng trên ngõ thoát chật hẹp xuyên qua Thân-trung-Ấm [2].

Tự tánh của tất cả mọi hội tụ đều là vô thường, điều này đã quá rõ.
Và cũng như thế, chắc chắn rằng mọi sự sinh ra cũng sẽ kết thúc bằng sự hoại diệt.
Nếu nhìn bằng trí tuệ thì sẽ thấy thân xác huyễn ảo này không thể vĩnh viễn thường hằng.
Bạch Thầy, xin hãy đoái tưởng đến con với tất cả tâm từ ái.


Khi đời sống đến lúc phải kết thúc, năng lực của thân tứ-đại sẽ lụi tàn,
Thuốc men không còn công hiệu nữa và con sẽ không còn cảm thấy ngon miệng khi ăn uống.
Khi thân và tâm đến lúc phải tách rời,
Xin Thầy hãy độ cho con để con không còn quyến luyến cuộc đời này nữa.


Cái chết mỗi lúc mỗi cận kề, điều này con hoàn toàn không chút ngờ vực.
Nếu con còn nuôi hy vọng trong ảo tưởng rằng con sẽ tiếp tục sống mãi sống hoài,
Nếu con còn sống với tâm mê muội như thế thì đó thực là một tai hoạ vô cùng to lớn!
Xin Thầy hãy độ cho con để con có thể đem cái chết vào con đường Đạo.


Trong cơn xoáy lốc của những trận gió nghiệp,
Xin cho tất cả mọi lo âu và đau đớn gây ra bởi sự kết thúc của đời sống, của thân xác này,
Và bởi sự tan rã tán loạn của năm luân xa kinh mạch nơi đỉnh đầu, cổ họng, tâm điểm[3], đan điền[4] và trung tâm kín,
Xin cho những lo âu và đau đớn đó được an nhiên xoa dịu ở mỗi nơi sự tan rã đang xảy ra.


Khi năng lực tiêu hoá đến lúc tàn tạ, con không còn có thể hấp thụ thức ăn được nữa;
Khi nguồn sinh lực tan biến mất thì phản ứng và sự chú tâm của con sẽ trở nên lu mờ;
Khi giòng khí lực chảy xuôi xuống để thanh lọc thân thể con bị suy tàn, con sẽ không kiểm soát được đường tiêu tiểu nữa.
Xin cho con nhận biết ra được những dấu hiệu của sự hoại diệt của luồng sinh khí trong con.


Khi giòng khí lực chảy ngược lên của cơ thể đến lúc phải suy sụp, con sẽ không còn có thể nuốt trôi thức ăn và thức uống,
Ngay cả truyện trò cũng sẽ trở nên rất khó khăn, và hơi thở con sẽ đứt quãng.
Khi nguồn sinh lực thường khi chan hoà trở nên suy nhược thì mọI di chuyển đi đứng nằm ngồi sẽ thành ra khó nhọc.
Vào giây phút ấy, biết chắc rằng cái chết đang thật sự xảy đến, xin cho con không còn chút gì tiếc nuối.


Thân xác này, từ khởi thủy, vốn đã sinh ra từ bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa [5],
Thì chung cuộc rồi cũng sẽ quay trở về mà tự hoại diệt trong từng yếu tố kia.
Nhận thức ra được những dấu hiệu bên ngoài, bên trong và những dấu hiệu ẩn mật của sự hoại diệt này,
Xin cho tâm con chan chưá hình ảnh của Thầy, bậc đạo sư tâm linh.


Khi yếu tố đất tan vào yếu tố nước, năng lực của cơ thể cũng tan biến,
Dấu hiệu bên trong là một tâm trí lu mờ và rối rắm [6],
Dấu hiệu ẩn mật là mọi hình tướng con nhìn thấy trước mắt sẽ lấp lánh như kim tuyến,
Vào giây khắc đó, xin cho tâm con không xao lãng nghĩ đến ai khác ngoài Thầy.


Khi yếu tố nước tan vào yếu tố lửa, miệng và mũi con sẽ trở nên ráo khô không còn chất ẩm, tiếng nói con sẽ tắt,
Tâm trí con sẽ bị xáo động và những luồng khói mờ hiện ra như là dấu hiệu ẩn mật,
Xin cho con nhận biết ra được sự xuất hiện của trạng thái sương khói mịt mờ này,
Và hiểu rằng chẳng có gì trong trạng thái này để con có thể bám víu vào được.


Khi yếu tố lửa tan vào yếu tố gió, cảm giác trong thân thể con sẽ là một sức nóng thiêu đốt kinh hồn,
Dấu hiệu bên trong sẽ là sự xuất hiện của trạng thái bất giác và giác quan rối loạn,
Và dấu hiệu ẩn mật sẽ tựa hồ những con đom đóm lập loè.
Xin cho con nhận diện được kinh nghiệm luân chuyển giữa hai trạng thái sáng suốt và mê muội này.[7]


Khi yếu tố gió tan vào thức,
Dấu hiệu bên trong sẽ là sự hiện diện của vô số ảo giác [8],
Và dâú hiệu ẩn mật là tâm thức thuần khiết của con sẽ cháy bùng lên như một ngọn đèn.
Vào giây khắc đó, xin cho con một lòng nhớ đến đại pháp chuyển-di-thần-thức [9] vô cùng thâm thúy.


Khi thức tan vào không gian, tất cả sáu giác quan của con sẽ tuyệt dứt.
Xin cho con nhận biết ra được rằng Giác Tánh của con hiện đang trú ẩn ở giữa
Tinh chất trắng chảy xuôi xuống từ đỉnh đầu, [10]
Và tinh chất đỏ chảy ngược lên từ đan điền.[11]

Với hai tinh chất chảy xuôi và chảy ngược này như những yếu tố thành tựu nhân duyên,
Tâm con sẽ phóng ra ba kinh nghiệm mang màu sắc trắng, đỏ, và đen cực đen.[12]
Và tám mươi thức -- bản chất của vô minh và tâm sân si trong con -- sẽ hoàn toàn chấm dứt [13].
Xin cho con nhận biết đuợc đó chính là sự rạng ngời của ba giai đọan Sinh, Khởi và Thành Tựu [14].


Sự hội tụ của hai tinh chất trắng, đỏ và tâm thức con ngay tại đường kinh trung-đạo,
Chính là tinh túy thuần khiết của đại Giác-Ngộ viên mãn,
Là cảnh giới của Chân Đế, là sự trong sáng rạng ngời và bất biến của Chân-Như.
Xin cho con nhận biết ra được điều này khi trạng thái ấy hiển lộ trong con.


Nhưng nếu vì những thói quen lôi kéo của quá khứ mà con không đạt được đến giải thoát khi trạng thái ấy xảy ra,
Thì khi hơi thở cuối cùng của con chấm dứt, [15] vào lúc giai đoạn Chân Tánh ló dạng, [16]
Xin cho con nhận biết ra được rằng tất cả những âm thanh cuồng nộ và ánh sáng chói chan xuất phát ra từ thân và tâm con đó,
Không là gì khác hơn ngoài chính kinh nghiệm từ tâm con phóng ra.


Xin cho con không sợ hãi một chuỗi cuồn cuộn những khối cầu ánh sáng rực rỡ và những chiếc dĩa tròn nhỏ bé mang sắc cầu vồng chói lòa,
Không sợ hãi trước sự xuất hiện nườm nượp của những vị thần an bình và hung nộ,[17]
Không sợ hãi những âm thanh vang rền phát khởi tự Chân Như.
Xin cho con nhận biết ra được rằng tất cả những hình tướng, màu sắc và âm thanh đó chính là sự hiện diện linhh động và thuần khiết của tâm con, là Tuệ Giác Chân Như viên mãn.


Tuy nhiên, nếu con vẫn chưa đạt được giải thoát vào giây phút này vì tâm con còn nhiều tham sân si và còn nặng nghiệp,
Thì xin cho con nhận biết ra được bốn âm thanh khủng khiếp [18] vang lên trong giai đoạn trung-giới của sự Hình Thành,[19]
Cũng như sáu dấu hiệu hoang mang [20] và ba vực thẳm hãi hùng [21] kia,
Tất cả chỉ là ảo giác chứ không hề có thật.


Nhận rõ ra được khuôn mặt của tử thần, con khẩn gọi Thầy từ đáy tim con,
Hết lòng tin tưởng vào những ý nghĩa trọng yếu của lời Thầy dạy.
Xin cho con không đi tìm kiếm một bào thai tanh hôi của cõi ta-bà
Mà sẽ chuyển di thần thức của con đến cảnh giới Liên Hoa trang nghiêm tịnh độ. [22]


Nói tóm lại, xuyên qua tất cả mọi giai đoạn,
Xin cho con không một giây khắc nào quên đi rằng
Vô vàn trạng thái tâm thức chuyển hoá liên tục của con
Không chút gì khác biệt với trí tuệ viên mãn của đức Liên Hoa Sanh. [23]


Tâm thức của con và tâm thức của bậc đạo sư tâm linh [24] đã chan hoà thành một.
Con nay đã về an trụ trong Giác Tánh Chân Như chính tự nơi sắc thân này.
Nhờ vào những hoá-thân sinh ra do tâm nguyện từ bi của con, nhiều vô vàn như không gian vô biên,[25]
Xin cho con dẫn dắt hết tất cả mọi chúng sinh đến được bờ Giác Ngộ.


Vì cần có một bài kinh ngắn gọn, cô đọng nhưng đủ thâm sâu để hướng dẫn chúng sinh về giai đoạn trung-giới trong tiến trình của cái chết, và cũng do lời thỉnh cầu của hai vị Tamdrin Dorje và Mindrol Nyingpo, những giòng kinh nguyên bản này đã đuợc soạn ra bởi Nats’og Rangdrol thuộc giòng Drikung [Kagyu].

Thật ra, người ta sẽ không thể hưởng được quả gì nếu không thường xuyên để cho những lời kinh hướng dẫn về cái chết thấm nhuần trong tâm mình, tựa hồ như những lời lẽ ấy trở thành chính những tế bào của thân và tâm. Bởi thế, để giúp các con có thể đọc tụng hằng ngày, ta [Nats’og Rangdrol] đã soạn ra bài kinh nhật tụng này.

Dù sao đi nữa, nếu không tinh tấn mà chỉ đọc tụng sơ sài thì các con cũng sẽ không thực sự thấu hiểu và thấm nhuần được gì cả. Với tâm cầu tìm nghiêm túc, các con hãy tìm đọc thêm những lời chỉ dẫn và kinh tụng trong kinh bản ‘Đại Giải Thoát Qua Sự Lắng Nghe Trong Cõi Trung-Giới’ [26] và nhất là, hãy tìm đọc luận giải do ta soạn, tập ‘Nguyên Tắc Căn Bản Của Cõi Trung-Giới: Tấm Gương Soi Của Sự Tỉnh Thức.’ [27] Đọc và hiểu được như thế rồi, hãy đem ra thực hành.


Mike Dickman chuyển từ Tạng-ngữ sang Anh-ngữ
Drikung Dzogchen Translation Project

Tâm Bảo Đàn chuyển từ Anh-ngữ sang Việt-ngữ, viết lời giới thiệu và chú thích
Drikung Mahayana Center
2003

Lời giới thiệu và chú thích của bản Việt-ngữ dựa trên lời giảng dạy của các đại sư Garchen Rinpoche, Traga Rinpoche, và Ontul Rinpoche (thuộc giòng Drikung Kagyu Mật-tông Tây-Tạng ) cũng như trên các tài liệu tham khảo đã được dịch qua Anh-ngữ dưới đây:

- The Tibetan Book of the Dead (W.Ỵ Evans-Wentz, Oxford University Press, 1960)
- The Tibetan Book of the Dead (Fremantle and Chogyam Trungpa, Shambhala, 1975)
- The Mirror of Mindfulness (Tsele Natsok Rangdrol, Rangjung Yeshe Pub.,1987)
- Bardo Teachings (Lama Lodo, Snow Lion Pub., 1987)
- The Bardo Guidebook (Chokyi Nyima Rinpoche, Rangjung Yeshe Pub.,1991)
- The Tibetan Book of Living and Dying (Sogyal Rinpoche, Harper San Francisco, 1993)
- The Tibetan Book of the Dead (Robert ẠF. Thurman, Bantam Books, 1994)
- The Hidden Teachings of Tibet (Tulku Thondup Rinpoche, Wisdom Pub., 1997)
- The Tibetan Book of the Dead for Reading Aloud (Jean-Claude Van Itallie, North Atlantic Books, 1998)
- A Brief Overview of the Bardo (Thrangu Rinpoche, Namo Buddha Pub., 1999)
- The Illustrated Tibetan Book of the Dead (Stephen Hodge/Martin Boord, Sterling Pub., 1999)
- Luminous Emptiness: Understanding the Tibetan Book of the Dead (Francesca Fremantle, Shambala, 2001)


Chú Thích:

[1]‘Thầy’ hay ‘bậc đạo sư tâm linh’ dùng để chỉ đức Liên Hoa Sanh. Theo truyền thống Mật-tông, hành giả phải hướng tâm đến vị thầy gốc hay bổn sư của cá nhân hành giả trong trạng thái tâm đồng tâm với đức Liên Hoa Sanh và với chư Phật mười phương. Phật-tử người Việt có thể hướng tâm đến đức Phật A Di Đà hoặc đức Quán Thế Âm Bồ Tát trong khi đọc tụng kinh này, hoặc nếu theo một tôn giáo khác thì có thể hướng tâm đến bất cứ vị thầy hay thánh tăng nào mà mình thấy tôn kính, gần gũi nhất.
[2] Thân-trung-Ấm là danh từ để chỉ Cõi Trung-Giới. Ở đây, ‘ngõ thoát chật hẹp’ ám chỉ một cơ hội đầy rẫy khó khăn, cần phải khéo léo và tỉnh thức thì mới đạt đuợc giác ngộ.
[3] Tâm điểm: giữa ngực ngang tầm với trái tim
[4] Đan điền: khoảng cách 3-4 ngón tay ngay dưới rốn
[5] Bốn yếu tố đất nước gió lửa: (1) da thịt, xương, tóc, móng tay, (2) chất lỏng, (3) khí vi tế và (4) nhiệt của cơ thể.
[6] Khi yếu tố đất tan vào yếu tố nước, ngoài một tâm trí lu mờ, thân thể ta cũng sẽ không giữ nhiệt được nữa và ta sẽ cảm thấy lạnh thấu xương từ trong ra đến ngoài.
[7] Kinh nghiệm luân chuyển giữa hai trạng thái sáng suốt và mê muội có nghĩa là ta sẽ chập chờn lúc mê lúc tỉnh.
[8] Ảo giác cho ta thấy những người thân đã quá cố bây giờ lại hiện về; ai đã từng tu học có thể sẽ thấy các vị thầy, hay thánh tăng hiện ra, cón nếu ai mang nghiệp ác thì sẽ thấy hung thần, ác quỷ, v.v
[9] Đại pháp chuyển-di-thần-thức là pháp tu Mật-tông có tên là ‘Phowa.’ Trong trạng thái thiền định, hành giả tự phóng thần thức của mình qua luân xa trên đỉnh đầu đến cảnh giới tịnh độ của đức Phật A Di Đà. Những vị tu chứng đắc cũng có thể giúp người chết bằng cách hộ trì và giúp chuyển thần thức của người ấy lên cõi tịnh độ; tuy nhiên, việc này tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, chẳng hạn như quả vị chứng đắc của vị thầy, cộng với công phu tu tập và phước báu của người chết.
[10] Tinh chất trắng là nhân lực dương ta nhận đuợc từ cha; tinh chất này thường khi tụ tại đỉnh đầu, nay sẽ chảy xuôi xuống dưới cơ thể để tụ lại ở tâm điểm của đường kinh trung đạo vi tế.
[11] Tinh chất đỏ là nhân lực âm ta nhận được từ mẹ; tinh chất này thường khi tụ tại đan điền, nay sẽ chảy ngược lên cơ thể để tụ lại ở tâm điểm của đường kinh trung đạo vi tế.
[12] Kinh nghiệm mang màu trắng xảy ra khi tinh chất trắng từ đỉnh đầu chảy xuôi xuống; kinh nghiệm màu đỏ xày ra khi tinh chất đỏ từ đan điền chảy ngược lên; và kinh nghiệm màu đen xảy ra khi hai tinh chất này tụ hội tại tâm điểm của trung đạo.
[13] Ba kinh nghiệm giải thích trên đây đưa đến sự tuyệt dứt của 80 thức, tức bản chất của vô minh và tâm tham sân si trong ta. Vào giây khắc hai tinh chất trắng và đỏ hội tụ lại, tâm thức ta hoàn toàn tách rời khỏi thân xác vật lý, và ta sẽ rơi vào trạng thái ‘bất giác’ (unconscious). Tuy nhiên, theo nhiều kinh sách và hướng dẫn của các đại sư chứng đắc, đó lại chính là lúc thuận lợi nhất để an trụ trong Giác-Tánh và đạt đuợc giải thoát vì tâm thức ta khi ấy trở nên sáng rỡ gấp 9 l ần khi ta còn sống vì khi ấy, ta không bị vô mình và tâm tham sân si che lấp.
[14] Ba giai đoạn Sinh, Khởi và Thành Tựu xảy ra lần đầu trong giai đoạn Hình Thành, khi tinh chất của trắng của cha và đỏ của mẹ hội tụ lại để tạo ra sắc thân ta.Tâm thức ta cũng từ đó mà thành. Ba giai đọan này xảy ra lần nữa khi ta chết, tinh chất trắng và đỏ chảy xuôi và chảy ngược lên để hội tụ tại tâm điểm trong ta; tâm thức ta cũng về tụ lại tại đó.
[15] Khi hơi thở cuối cùng chấm dứt ám chỉ hơi thở vi tế bên trong. Theo Mật-tông Tây-Tạng, khi hơi thở cuối cùng bên ngoài (outer breath) chấm dứt, người chết vẫn chưa chết hẳn. Cho đến khi nào hơi thở vi tế cuối cùng bên trong (inner breath) chấm dứt thì đó mới thực là chết. Hơi thở bên ngoài là do sự hô hấp của hai buồng phổi. Hơi thở bên trong là một tiến trình vi tế có trọng tâm nằm ngay giữa trái tim. Khoảng thời gian giữa hai hơi thở bên ngoài và bên trong có thể chỉ rất ngắn trong một vài phút, có thể kéo dài trong nhiều tiếng đồng hồ, nhưng không bao giờ kéo dài quá một ngày.
[16] Chân-Tánh ló dạng ám chỉ thời điểm khi ánh ‘tịnh quang’ (Dharmata) xuất hiện, có thể kéo dài từ 2-3 ngày rưỡi sau hơi thở vi tế cuối cùng bên trong (inner breath) chấm dứt. Đây là thời gian thuận lợi nhất để có thể đạt đuợc giải thoát nếu chúng ta biết an trụ trong thiền định và hoà nhập vào ánh ‘tịnh quang’ của Chân-Như.
[17 Những vị thần an bình và hung nộ trong Cõi Trung-Giới đều do tâm sinh ra dựa trên 5 trí. Theo kinh sách Mật-tông, có 42 vị thần an bình và 58 vị thần hung nộ. Khi ta còn sống, những vị thần này trú ẩn trong luân xa và các đường kinh mạch vi tế của ta, và sẽ hiện ra sau khi ta chết tuỳ vào duyên nghiệp, căn cơ của từng người. Những hành giả Mật-tông Tây-Tạng thường quán tưởng và an trú trong linh ảnh của những vị thần này, nhất là những vị thần hung nộ với hình tướng vô cùng ghê rợn để tận diệt tâm đối đãi, sợ hãi, và bám chấp. Đối với nguời bình thường thì vào lúc đó, ta sẽ không nhận diện ra đuợc linh ảnh của những vị thần này mà sẽ chỉ thấy vô vàn ánh sáng, mầu sắc cực kỳ chói chan, cộng thêm với những âm thanh đinh tai nhức óc, làm cho ta vô cùng hoang mang, sợ hãi. Nhưng nếu ta biết hoà nhập, an trú trong linh ảnh và ánh sáng đó, nhận thức được đó chính là do tâm tạo thì ta sẽ tức khắc đạt đuợc giải thoát.
[18] Bốn âm thanh khủng khiếp là động đất, núi lở, sấm sét và lửa cháy phừng phừng.
[19] Giai đoạn Hình Thành (bardo of Becoming) ám chỉ giai đoạn tìm ra nẻo đầu thai để trở lại cõi luân hồi.
[20] Sáu dấu hiệu hoang mang vì ta nay không còn thân xác, lui tới vất vưởng không nơi trú ẩn, tâm ta rối loạn, cảm giác quanh co lạc lối, ta chỉ hưởng được mùi hương của thức ăn, ta không còn nương tựa vào nguời thân được, kinh nghiệm rối bời và ta bị cuốn bay đi như một chiếc lá trong cơn gió lớn.
[21] Ba vực thẳm hãi hùng là cảm giác té xuống 3 vực thẳm đen tối; kinh nghiệm này liên hệ tới vô minh và tâm sân si.
[22] Cảnh giới Liên Hoa trang nghiêm tịnh độ theo Mật-tông Tây-Tạng là một cõi giới do đức Liên Hoa Sanh tạo thành do bởi tâm nguyện muốn hoá độ chúng sinh của ngài, không khác với cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. Ở đây, Phật-tử người Việt nên thay vào bằng hình ảnh của cõi Tây Phương Cực Lạc.
[23] Ý nói tâm đồng tâm với đức Liên Hoa Sanh; một cách khác, tâm của hành giả nay đã đồng tâm Phật, tức đã đạt được giác ngộ viên mãn.
[24] Bậc đạo sư tâm linh ở đây ý nói đức Liên Hoa Sanh. Ta có thể thay thế bằng đức Phật A Di Đà.
[25] Những hoá thân sinh ra do tâm nguyện từ bi của con có nghĩa là sau khi đã thành tựu Phật quả, ta sẽ không an trụ trong Niết Bàn mà sẽ tiếp tục hoá thân trở lại trong cõi ta-bà dưới nhiều hình dạng khác nhau để hoá độ chúng sinh.
[26] Kinh bản này có tên Tạng-ngữ là ‘Bardo Thodol’ đã đuợc dịch qua Anh-ngữ dưới tên ‘The Tibetan Book of the Dead’ (xem phần dẫn sách) và qua Việt-ngữ dưới tên ‘Tử Thư Tây-Tạng’.
[27]Kinh bản này đã được dịch qua Anh-ngữ dưới tên ‘The Mirror of Mindfulness’ (xem phần dẫn sách).