Chánh Ðẳng Giác. (S.iii,54)

10) Thế Tôn nói như sau:

-- Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc đem lại con đường (trước kia) chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn nay, này các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu (đạo).

11) Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.


Sự sai khác ở đây thấy rõ chỉ là Đức Phật là người tiên phong , và hơn cả tiên phong là ngài có khả năng sư phạm tuyệt với .
Và hoàn toàn chứng Đắc Như bậc Alahan và ngài hoàn toàn tự nhận mình là bậc Alahan.


Chánh Biến Tri
Chánh Biến Tri ở đây chúng ta nên hiểu đó cũng là Chánh Đẳng Giác. Có một thời Zelda tìm mãi không ra được từ Chánh Biến Tri được phân tích thế nào trong các sách của các Đại Đức.
Tìm hiểu từ ngữ:
Chúng ta thường đọc như con vẹt 3 từ này, rồi luận tứ lung tung, nhưng có ai tìm hiểu coi 3 từ này có nghĩa là gì không?
Samma Sambuddha :Trong tiếng Pali, Samma là đúng, chân chánh. Sam là tự mình tỏ ngộ không thầy giáo hóa. Buddho là bậc hoàn toàn giác ngộ, thông suốt các pháp, biết được tất cả những gì có thể biết được. Samma Sambuddho là bậc giác ngộ tối thượng không thầy chỉ dạy.

Trong Bát Nhã Tâm Kinh có đoạn:
Tam thế Chư Phật
Y Bát Nhã Ba La Mật Đa
Đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
Hiểu là : Tam Thế Chư Phật đều y cứ vào Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa để đắc A-Nậu-Đa-La Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề.

A-Nậu-Đa-La Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề là âm của những từ:
Anuttara: A-Nậu-Đa-La.
Sammā: Tam-Miệu.
Sambodhi: Tam-Bồ-Đề.
Nghĩa là "Vô Thượng Chánh Đẳng Giác".
Anuttara: ở đây có nghĩa là vô thượng.Nhưng có thấy bậc nào SammāSambodhi mà lại không là vô thượng đâu . Do vậy SammāSambodhi cũng có nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Giác dù không có âm từ Anuttara .
Như vậy Chánh Đẳng Giác hay Chánh Biến Tri có nghĩa là : Vị Giác Ngộ không thầy chỉ dạy có khả năng phổ cập sự giác ngộ ấy đệ nhất Tam Giới, ngay trong thời pháp mà ngài làm giáo chủ.
Như vậy Giác Ngộ là Giác Ngộ cái gì ?
Phật hay Giác cùng nghĩa với âm BUDDHO : Người hiểu biết trọn vẹn tất cả những gì có thể biết được.Người hiểu biết sâu sắc Tứ thánh đế và dạy cho chúng sanh hiểu được Tứ thánh đế .

Chúng ta không thể gọi các bậc Phật Thinh Văn, Phật Độc Giác đơn điệu là BUDDHO được , vì các ngài không có khả năng phổ cập như Đức Phật được.
Về ý nghĩa và ngôn từ, ân đức Phật hay Buddho có vẽ trùng lặp với ân đức thứ 2 Chánh biến tri hay Samma Sambuddhasa. Tuy nhiên, khi đi sâu vào ý nghĩa, ta thấy có sự khác biệt tế nhị giữa 2 danh hiệu nầy. Ân đức Chánh Biến Tri hay Samma Sambuddhasa nhấn mạnh sự kiện là Ðức Phật đã tự Ngài khám phá và chứng ngộ được Tứ diệu đế, không có thầy chỉ dạy. Ân đức Samma Sambuddhasa cũng nhấn mạnh đến trí tuệ xuyên thấu vào bản chất sự vật (Pativeda Nana) của Ðức Phật trong khi danh hiệu Phật hay Buddho nhấn mạnh khía cạnh thiện xảo (Desana Nana) của trí tuệ mà Ðức Phật sử dụng để hướng dẫn và giúp chúng sanh giác ngộ được Tứ diệu đế như Ngài. Theo nhiều chú giải, ân đức Buddho là để nói lên sự hiểu biết sâu sắc của Phật về Tứ điệu đế và sự giáo hóa những chúng sanh có duyên lành và tùy theo ngũ căn và Ba la mật của mỗi người, hiểu được giáo lý Tứ Diệu Ðế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo và 4 Thánh Quả của Ngài. Xin xem Sayadaw Min Gun, đã dẩn và chú giải của các ngài Dhammasani, Dhammananda, U Kyaw Htut, Min Gun, U Jota Lankra .

Tuy nhiên chúng ta hãy xem âm của 3 vị Phật :(Bodhi=Buddho)
Thinh Văn Phật (Savaka Bodhi)( có khả năng giáo hóa)
Độc Giác Phật (Pacceka Bodhi)(không thầy chỉ dạy)
Phật Toàn Giác (Samma Sambodhi)
Đều có âm Buddho ở phía sau cả,đây nghĩa rằng 3 vị nầy đều được gọi danh xưng là Phật, nhưng vì công hạnh của 2 vị đầu không toàn vẹn như Đức Phật , do vậy âm từ Buddho không dành cho 2 vị nầy được.
Nhưng sự thiếu sót của 2 vị trên không phải là chưa giác ngộ hết những gì đáng giác ngộ. Mà các ngài chỉ thiếu đi những công hạnh mà thôi.
Không thầy chỉ dạy Tứ Thánh Đế
Khả năng giáo hóa bậc nhất cho mọi người cũng hiểu Tứ Thánh Đế.
Ở đây chúng ta nên thấy rõ cốt tủy là Giác Ngộ Tứ Thánh Đế chứ không phải là cần có " không thầy chỉ dạy , và khả năng phổ cập".Vì 2 điều đó không phải là Giác Ngộ , Giác Ngộ chỉ dành riêng cho chứng ngộ Tứ Thánh Đế mà thôi.
Ví dụ như Newton là người đầu tiên tìm ra thuyết vạn vật hấp dẫn , và cũng là người có khả năng phổ cập đệ nhất thuyết này . Nhưng cài mà ngài Giác Ngộ đó là thuyết vạn vật hấp dẫn chứ không phải là không thầy chỉ dạy , và khả năng phổ cập.
Như vậy Đức Phật có khả năng truyền dạy người khác chứng ngộ như mình , tức rằng chứng ngộ tứ thánh đế như mình.
Do đó xét về phương diện chứng ngộ 3 vị Phật như nhau . Chính vì vậy âm của 3 vị này đều có Buddho .
Chúng ta có quyền gọi 3 vị trên đều là Phật , nhưng mỗi vị có phương cách giác ngộ khác nhau. Nhưng đều đã giác ngộ như nhau rồi.

Tại sao Ðức Bổn Sư có danh hiệu là Samma Sambuddha mà các vị Phật khác không có danh hiệu nầy?

Trước hết, chúng ta xét trường hợp của Ðộc giác Phật hay Bích chi Phật (Paccekabuddhas). Giống như Phật Thích ca, Ðộc giác Phật đã tự mình tu tập và giác ngộ, không có thầy chỉ dạy. Tuy nhiên, khác với Ðức Bổn Sư, Ðộc giác Phật không thể dạy người khác giác ngộ như mình. Vì thế, Ðộc giác Phật chỉ được danh hiệu Sambuddha mà thôi tức là bậc tự mình giác ngộ. Bây giờ đến trường hợp của các Vị Thánh (Ariya). Giống như Ðức Phật Bổn Sư, các vị thánh đã tu tập giác ngộ và có thể dạy đệ tử mình tu tập để giác ngộ. Nhưng sự khác biệt chính giữa các vị thánh và Ðức Phật là họ không thể tự mình tu tập và giác ngộ. Họ phải được sự chỉ dạy của Ðức Bổn Sư. Vì thế họ chỉ có danh hiệu là Sammabuddha mà thôi tức là bậc có được sự hiểu biết chân chánh. Chỉ có đức Phật Bổn sư mới vừa có thể tự mình tu tập để hoàn toàn giác ngộ và có thể hướng dẫn người khác tu tập và giác ngộ như mình. Vì thế Ðức Phật mới có cả hai danh hiệu: Samma Sambuddha.

Ðức Phật đã tự mình phát giác, hiểu biết tường tận về 4 chân lý vi diệu là Tứ Diệu đế (Caturariyasacca) và dạy cho chúng sanh giác ngộ về 4 chân lý vi diệu nầy.

Bốn chân lý vi diệu ấy là:

1. Khổ đế (Dukkha ariyasaccam)

2. Tập đế (Samudaya ariyasaccam)

3. Diệt đế (Dukkha nirodha ariyasaccam)

4. Ðạo đế (Dukkha nirodha gaminipatipada ariyasaccam)

Chân lý vi diệu hay Diệu đế (ariyasacca) có nghĩa là:

1. Pháp chắc chắn và chân thật của bậc thánh nhân.

2. Pháp chắc chắn và chân thật dắt dẫn chúng sanh xa lìa kẻ nghịch là phiền não. Bậc nào đã đắc pháp Tứ Ðế rồi thì các kẻ nghịch là phiền não không còn tồn tại trong thân tâm nữa.

3. Pháp chắc chắn và chân thật làm cho quả thánh phát sanh tròn đủ, vì bậc nào đã đắc pháp Tứ đế rồi thì trí tuệ phát khởi thấy rõ: "Ðây là khổ, đây là nguyên nhân phát sinh sự khổ, đây là nơi diệt khổ, đây là con đường đi đến nơi diệt khổ", có thể đắc đạo quả thánh nhân dễ dàng.

4. Pháp chắc thật đáng tôn quý. Tôn quý vì tính cách hiển nhiên, chân thật của Tứ đế: Khổ, thật có trên thế gian nầy. Nguyên nhân phát sinh sự khổ, nguyên nhân ấy có thật. Nơi diệt khổ, nơi ấy có thật. Con đường đi đến nơi diệt khổ, con đường ấy có thật.
Trích : http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-9anducphat/02.htm