kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Minh Triết Về Đạo

  1. #1

    Smile Minh Triết Về Đạo

    Không thể nào có minh triết khi mà mình hoàn toàn vô minh đối với tâm ý của mình. Vô minh thì không thể minh triết, dù giàu sang về trí-công-cụ.

    Hỏi: Thế nào là tâm trí minh triết?

    Đáp: Tâm trí minh triết là tâm trí mang phẩm chất chân-thiện-mĩ.

    Hỏi: Thế nào là tâm trí mang phẩm chất chân-thiện-mĩ?

    Đáp: Tâm trí mang phẩm chất chân-thiện-mĩ là tâm trí giải thoát khỏi tình trạng óc não bị quy định, bị khuôn đúc (tình trạng vô minh quy ngã).

    Hỏi: Tâm trí giải thoát khỏi tình trạng óc não bị quy định, bị khuôn đúc, nói cụ thể hơn, có nghĩa là gì?

    Đáp: Tức là giải thoát khỏi tình trạng ngã chấp (tình trạng chấp thủ cái “tôi”, tình trạng quy ngã).

    Hỏi: Tại sao điều này có tầm quan trọng như vậy?

    Đáp: Vì cái “tôi” càng đen tối, tình trạng quy ngã càng lớn thì các phẩm chất quan trọng như tâm thái hòa bình an lạc, tâm trí tự do tự chủ, tình yêu thương lân mẫn, thiện chí công bằng bình đẳng càng yếu kém. Yếu kém các phẩm chất quan trọng này thì không thể có tâm trí minh triết; vì minh triết có nghĩa là có nhãn quan minh triết, có hành động minh triết với cuộc sống toàn diện, với thế giới, với con người.

    Hỏi: Làm sao để giải thoát khỏi tình trạng ngã chấp?

    Đáp: Viên mãn giải thoát thì rất khó. Để giảm thiểu tình trạng ngã chấp, để có được những giây phút giải thoát khỏi tình trạng ngã chấp, chủ yếu là phải biết tự tri; tức là phải thấu hiểu, phải thấy biết, phải cảm nghiệm tâm trí mình. Tự tri mang nội hàm “tự tri-tỉnh thức-vô ngã”. Muốn đi sâu vào tự tri, cần thực hành nghiêm túc và tìm hiểu thêm về thiền định tự tri (pháp môn quán tâm).

    Hỏi: Tự tri có phải cũng chính là trí tuệ tâm linh?

    Đáp: Đúng vậy. Tự tri là trí tuệ minh triết, là trí tuệ nhân văn, là trí lương tri, là trí vô sư, là trí tuệ tâm linh, là trí bát-nhã, là trí tuệ vũ trụ (trí tuệ nhất thể). Vì thế, “tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là đạo lí của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống.

    Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là đạo lí của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ-tâm linh chung của tất cả. - “Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là minh sư vĩ đại nhất của chính mình.
    Hỏi: Như thế, không biết tự tri thì không thể có tâm trí mang phẩm chất minh triết (phẩm chất chân-thiện-mĩ) đích thực?

    Đáp: Đúng vậy. Không thể nào có minh triết khi mà mình hoàn toàn vô minh đối với tâm ý của mình. Vô minh thì không thể minh triết, dù giàu sang về trí-công-cụ
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  2. #2

    Mặc định

    2. Nhân cách:

    Bản chất tối hậu của con người là vô ngã, nhưng vì con người là con người của cõi hữu vi, mọi người đều có tâm lý, thái độ, hành xử, tư duy… giống và khác với những người khác nên chúng ta phân biệt nhân người nói chung và nhân cách của một người nói riêng.

    Con người là tập hợp duyên khởi, cụ thể là tập hợp ngũ uẩn, tức là một sự khổ theo quan điểm của đạo Phật. Con người tự nhận mình có ngã là do thói quen từ vô thỉ, thói quen chấp trước, phân biệt, cho rằng cái tập hợp ngũ uẩn là ngã. Cái thức (A lại da) mang các chủng tử được huân tập từ bao đời kiếp được nhân là một ngã linh hồn. Cái hoàn cảnh chung của cái sức sống tương tục, hay nói khác đi, là nghiệp hay nghiệp lực của thế giới này (hay cộng nghiệp) khiến cho người ta có những thái độ hành xử, tư duy giống nhau như đau buồn trước sự mất mát, giận dỗi khi bị xúc phạm, vui mừng khi xứng ý. Như vậy, nghiệp đã tạo ra nhân cách, hay nói cách khác đi, nhân cách của một người chính là nghiệp của người ấy.

    Phật giáo chấp nhận các học thuyết về tâm lý, về nhân cách của các triết gia, các nhà khoa học hiện đại nhưng điều đặc biệt là Phật giáo còn đi sâu hơn những học thuyết ấy trong việc xem các bản năng, dục tình, ngã, siêu ngã, tiềm thức có gốc gác trong những đời trước. Trong khu bàn về nguyên nhân của nhân cách trong Phật giáo, người ta đụng chạm đến 12 chi phần duyên khởi, 5 thành tố ngũ uẩn, 3 tính chất căn bản của nhân cách là: tham, sân, si.

    Tham, sân, si là biểu hiện của tự ngã sai lầm, của cái giả ngã khổ đau nhưng lý duyên khởi cho ta biết rằng ngã là không, cho nên cái tính không vẫn là bản chất của nó. Mặt khác, vô tham, vô sân, vô si là biểu hiện của cái vô ngã. Đây là hai mặt của một nhân cách. Do hai mặt này, nhân cách không thiện và nhân cách thiện đều có trong một cái nhân. Thiện và không thiện là hai đặc tính nhân cách : có gây trở ngại cho cá nhân và cho người khác hay không. Như vậy, thiện hay ác là tính chất của mọi thái độ, cảm xúc, hành động, tâm lý và tư duy của con người nói chung.

    Phật giáo với lý thuyết về A lại da còn quan niệm về nhân cách thứ ba vô ký ( không thiện không ác). Điều này rất quan trọng đối với giáo dục nhân cách, chúng ta sẽ bàn tiếp sau này.

    Nhưng đối với một cá nhân là đối tượng của giáo dục là nhân cách riêng của cá nhân ấy mới quan trọng. ‘’Bá dân bá tánh’’ (trăm người là trăm tánh) hẳn là rất đúng trong ý nghĩa rằng mỗi người có một nhân cách riêng, không có hai nhân cách hoàn toàn giống nhau.

    Tại sao như vậy ?

    Ta hãy trở lại tập hợp ngũ uẩn. Do tập khí từ các đời quá khứ và đặc biệt do hoàn cảnh nhân duyên hiện tại, trong đó yếu tố quan trọng nhất là giáo dục mà chức năng vận hành của từng thành tố và ‘’cấu trúc ‘’ của 5 thành tố của mỗi người không giống nhau. Việc không giống nhau của 5 ngũ uẩn này khiến cho mỗi người có một nhân cách riêng.

    Việc phân loại nhân cách dựa vào trắc nghiệm tâm lý, thái độ là hết sức cần thiết cho giáo dục nói chung và việc phân tích cho được nguyên nhân của một loại hình nhân cách là rất cần thiết cho việc giáo dục nhân cách.

    3. Giáo dục nhân cách :

    Nhân cách, nói đến chỗ tuyệt đối, tối ngã là vô ngã. Giáo dục nhân cách là làm sao chuyển cái giả ngã thành vô ngã.

    Theo pháp tướng duy thức học, cái chấp ngã là chứ năng của Mạt na, Mạt na nhìn vào A lại na mà cho rằng A lại da là ngã, là ta. Vậy, ‘’ngã’’ được hình thành do nội dung mà A lại da chứa đựng và sự chấp ngã của Mạt na. Để tiến đến vô ngã, một người phải phá bỏ chấp trước và mặt khác không làm phong phú cái nội dung ngã của A lại da bằng cách điều phục thân, khẩu, ý trong hành động, đồng thời tạo thêm và phát triển các chủng tử thiện, hạn chế sự hiện hành của các chủng tử ác. Để đạt mục tiêu ấy, thiền định là phương pháp tốt nhất. Thiền định giúp ta buông bỏ phân biệt, chấp trước, phát triển trí tuệ để nhìn rõ nguyên nhân khổ đau.

    Giáo dục Phật giáo giúp con người phát triển trí tuệ để thấy rõ ngũ uẩn là không, là vô ngã. Phật giáo đề cao 6 ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Bốn đức của ba la mật là khổ, không, vô thường và vô ngã. Chính việc thực hành lục ba la mật là một phương pháp rèn luyện nhân cách tuyệt vời, là phương cách trị liệu hữu hiệu nhất đối với những bệnh nhân cách (personality disease) mà các nhà phân tích nhân cách hiện đại đã phân tích và tìm cách chữa trị.

    Ngoài ra, nhờ việc phân tích ngũ uẩn và áp dụng giáo lý duyên khởi nên giáo dục nhân cách của Phật giáo có thể xếp loại nhân cách và phương pháp giáo dục, trị liệu cho từng nhân cách: người có dục tham nặng thì cần tu tập quán vô thường, vô ngã và thực hành bố thí. Người nặng sân hận thì cần thực hành tứ vô lượng tâm.

    Như vậy, cái nhân cách tốt đẹp nhất là cái nhân cách vô ngã. Nhân cách càng gần với vô ngã thì càng tạo hạnh phúc cho cá nhân mang nhân cách ấy và góp phần tạo hạnh phúc cho những người chung quanh.

    Mọi đau khổ đều là những thể hiện của tham, sân và si : ngã chấp là động cơ vận hành của tam độc này. Càng vô ngã thì càng được giải thoát, tức càng ít khổ đau. Sự thật này là kinh nghiệm sống hàng ngày mà người ta không để ý đến. Giáo dục phải nhắc nhở cho người ta, phải khuyến khích người ta thực hiện vô ngã. Như thế, nói một cách khác, giáo dục, nhất là giáo dục nhân cách, là phải xem vô ngã là mục đích tối hậu.

    Những trường hợp bất thường về nhân cách mà các nhà chuyên môn gọi là bệnh nhân cách chính là bệnh chấp ngã, chấp ngã trong các lĩnh vực khác nhau về ý nghĩ, về tâm lý, về ứng xử, hành động. Giáo dục Phật giáo có thể điều chỉnh, chữa trị những trường hợp bất thường ấy. Con đường vô ngã chính là con đường của giáo dục Phật giáo vậy.
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  3. #3

    Mặc định

    Cuộc sống có những người ở bên nhau, nhưng sao lại không yêu thương nhau, mà còn ganh ghét, tỵ hiềm, tranh đấu lẫn nhau? Phải chăng, đây là kiếp sống của con người?

    Vào một buổi chiều ngày hạ, tôi thả hồn theo những câu hỏi vu vơ, và trầm tư về cuộc đời, tại sao con người không thể đến với nhau bằng sự yêu thương chân thật? Tại sao có những người chỉ một lần gặp gỡ lại cảm thấy thân quen như đã từng gặp nhau từ thuở nào? Cuộc sống có những người ở bên nhau, nhưng sao lại không yêu thương nhau, mà còn ganh ghét, tỵ hiềm, tranh đấu lẫn nhau? Phải chăng, đây là kiếp sống của con người? Những câu hỏi này cứ tiếp nối và lẫn quẫn mãi trong đầu tôi, rồi chợt thoáng dừng lại, trong tôi đã tìm được câu trả lời, Câu trả lời ấy được xuất phát từ nguồn suối uyên nguyên của Phật Giáo.

    Chuyện kể rằng thuở xưa khi Phật còn tại thế, có hai vị đệ tử rất dễ thương, tu hành cũng thật miên mật, ngày đêm luôn nỗ lực tìm cầu giải thoát. Nghiệt ngã thay! Cuộc sống đâu cứ mãi bình lặng, để rồi một ngày nọ, một trong hai vị đệ tử ấy, muốn bước qua một lối rẽ khác của cuộc đời chỉ bởi tiếng sét ái tình của một người con gái. Hình ảnh dễ thương, âm thanh nhẹ nhàng của thiếu nữ kia, đã làm trỗi dậy tâm ái nhiễm từ vô thủy kiếp của Tôn giả . Nhưng may mắn cho vị ấy, lúc tâm tư bị xáo trộn, còn băn khoăn trước sự lựa chọn một con đường, người bạn đồng tu kia đã xuất hiện và đem sự việc thưa lên bậc Đạo Sư. Đức Thế Tôn với tâm từ bi, đã chia sẻ và phân tích về sự đau khổ và hạnh phúc chân thật của kiếp người. Sau khi tiếp nhận những lời huấn từ của bậc thầy khả kính, người con đáng yêu của Thế Tôn trở về nơi tịch tĩnh cô liêu của núi rừng để tiếp tục cuộc sống phạm hạnh của mình, cho đến ngày chứng ngộ giải thoát.Ôi! Câu chuyện sao dễ thương và gần gũi quá! Sự yêu thương của tình bạn, sự bao dung của tình thầy, và trên hết là sự chân thành của những người bạn cùng hướng về con đường sáng, con đường của tình thương, của trí tuệ, con đường dẫn lối đến sự giác ngộ giải thoát.

    Từ câu chuyện trên, tôi luôn thao thức suy nghĩ, nếu trong cuộc đời này có được tình bạn như vậy, nếu trong kiếp người này may mắn gặp được minh sư, được lắng nghe chánh pháp, có lẽ cuộc sống sẽ thăng hoa hơn, bình yên hơn. Và nếu tình người được thiết lập trên nền tảng của từ bi, của hỷ xả, của sự bao dung tha thứ, thì cuộc đời này mới có tình yêu chân thật, và chỉ có tình yêu chân thật mới giúp ta đi trọn một kiếp người. Nhưng để có tình yêu trong sáng, tình bạn chân thành và tình người sâu đậm, chúng ta phải sống và cư xử với nhau như thế nào? Lời nhắn nhủ này được ghi lai trong kinh Bát Nhã, thông qua cuộc đối thoại giữa Đức Phật và tôn giả A Nan. Một lần nọ, A Nan hỏi Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Nếu những vị Bồ Tát ở cùng một trú xứ, vị ấy phải nên cư xử với nhau như thế nào? Thế Tôn dạy rằng: Hãy dùng tâm cung kính mà đối đáp lẫn nhau, hãy xem những vị đồng trú giống như những vị Phật, đồng thời hãy thực hiện chia sẻ những lợi lạc cho nhau, hãy cùng nhau làm những điều tốt lành, hãy cùng nhau nỗ lực đi về con đường của ánh sáng giác ngộ, hãy kham nhẫn vượt qua những khó khăn của cuộc đời, hãy cùng nhau sống trong chánh niệm, hãy hành xử với nhau bằng tuệ giác, hãy yêu thương nhau bằng từ bi Nếu làm được như vậy, cuộc sống sẽ có nhiều hạnh phúc, con người sẽ tìm thấy sự yêu thương chân thật trong đó.

    Vậy! bạn cùng tôi, chúng ta hãy biết yêu thương nhau bằng tuệ giác, chia sẻ với nhau bằng tâm bao dung, biết lắng nghe bằng tâm tha thứ và cảm thông, cùng nhau tưới tẩm hạt giống của từ bi và trí tuệ… chúng ta sẽ cùng nắm tay nhau đi về một hướng, hướng của giải thoát giác ngộ! Như vậy chúng ta mới thực sự sống trong tình thương chân thật bạn nhé!
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Những người anh em Pleiadian gửi Thông điệp Tình yêu và Minh Triết
    By luckyvn in forum Tâm linh – Tín ngưỡng – Siêu hình học – Ngoại cảm
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 25-10-2013, 01:13 AM
  2. Tính Minh Triết Việt Trong Chuyện Tấm Cám
    By THIÊN SỨ in forum Các bài NC của THIÊN SỨ
    Trả lời: 9
    Bài mới gởi: 20-07-2012, 04:50 AM
  3. MINH TRIẾT VIỆT TRONG SỰ TÍCH ÔNG TÁO
    By Thiên Địa Nhân in forum Văn Hóa - Phong Tục - Lễ Hội
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 23-06-2011, 08:42 PM
  4. MINH TRIẾT BÍ TRUYỀN
    By dienthoai in forum Các Đạo khác
    Trả lời: 16
    Bài mới gởi: 05-06-2011, 05:26 PM
  5. Phật Giáo Đóng Góp Gì Cho Minh Triết Việt
    By lotus74 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 20-10-2009, 11:44 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •