Tiên Phật hợp tông ngử lục
Tác giả : Xung Hư Tử
Tựa
Xung Hư Tử làm bài tựa rằng : Quả vị của người tu Tiên là liễu chứng trường sanh. Quả vị của người tu Phật là liễu chứng vô sanh. Mà liễu chứng vô sanh lấy liễu chứng trường sanh làm hạt giống, liễu chứng trường sanh lại lấy liễu chứng vô sanh làm trước sau, do vậy mà gọi là tính mệnh song tu. Nay ta thuật riêng tông này, quyết ý tại Tiên tông, còn nói đến Phật tông chỉ là nêu ra để so sánh mà thôi, nên gọi là hợp tông. Vì muốn cho thiên hạ đời sau đồng chí, thánh chân hiểu được cốt yếu huyền vi của tính mệnh song tu. Trước kia đã nói "Thiên Tiên Chánh Lý Trực Luận" 9 chương mở bày nẽo Tiên, thứ tự rõ ràng. Nay nói thêm "Tiên Phật Hợp Tông Ngữ Lục" 9 chương, ý thứ nhất là để chỉ bày rõ các bí pháp chưa nói ra trong "Trực Luận", một ý nữa là nói hết những điều chưa truyền về thiên cơ. Có 6 món, là huyền trong huyền, diệu trong diệu ngày nay đều chỉ rõ. Được 6 món đó, ráng mà lo tinh tiến tu hành, thành Tiên, thành Phật, để không phụ tấm lòng khó nhọc độ đời của ta nhé !
Thời Đại Minh, niên hiệu Vạn Lịch, đời vua Trung Tuấn Đế, Cát Vương Quốc Sư Duy Ma Đại Phu Tam Giáo là người ở Nam Xương huyện, đạo hiệu Xung Hư Tử, tên là Ngũ Thủ Dương thuật.
Đệ Nhất
Tối Sơ Hoàn Hư
Thái Hòa hỏi rằng :" Trong "Trực Luận" có nói : Luyện Kỷ trước phải hết lòng dứt trừ ngay mọi mầm móng vọng niệm. Lại nói : không Luyện Kỷ, ắt khó thành huyền công. Mong được chỉ rõ các yếu lý của Luyện Kỷ này. Trước nghe nói : bắt đầu Luyện Kỷ, chẳng qua là bước đường nhập môn vào Đạo, nhưng cần yếu là Hoàn Hư, cách vào có then chốt sâu xa. Xin được chỉ rõ lý Hoàn Hư phải như thế nào ? "
Đáp : "Người học đạo Nho có tâm pháp Chấp Trung, người theo đạo Tiên có tu trì Hoàn Hư. Trung là tính thể của hư không, Chấp Trung là công dụng của Hoàn Hư. Riêng người tu theo Tiên Phật, trước hết phải Hoàn Hư tận tính đến thuần nhất. Vì tâm người đời sai lệch với tánh thể hư không, trùng trùng chẳng an, sống chết trôi lăn, không có ngày ra khỏi. Cho nên theo pháp tu Tiên, trước phải hết lòng chuyên chở mối đạo mà cố gắn chuyên tâm để tu Hoàn Hư. Hư ấy như trước khi hồng loan chưa phân, thuở ban sơ vô cực. Khi đó chưa có trời, đất, núi, sông; cũng không có ta, người, côn trùng, thảo mộc. Vạn tượng không không, tuyệt không mầm móng, tạm so sánh với tính thể bổn lai vậy. Hoàn Hư là quay về thuở ban sơ không cực, trở lại tính thể bổn lai đó."
Hỏi : "Còn tu trì thì như thế nào, có phải trước hết dụng công dứt trừ theo Hoàn Hư hay không ? "
Đáp : "Công phu Hoàn Hư riêng dùng tại đối cảnh vô tâm. Như thấy trời đất mà không phân biệt hình thể của trời đất. Thấy núi sông không phân biệt dấu vết của núi sông. Thấy ta người, không phân biệt tướng mạo của ta người. Thấy côn trùng thảo mộc, không phân biệt sắc thái của côn trùng thảo mộc. Vạn tượng không không, 1 niệm chẳng khởi. 6 căn đại định, 1 hạt bụi cũng không nhiễm đến. Ngay đó mới là tính thể bổn lai hoàn toàn. Hoàn Hư như vậy thì tâm quá khứ không thể đến được, tâm hiện tại không thể đến được, tâm vị lai cũng không thể đến được. Đốn chứng tối thượng nhất thừa, sao phải tu Luyện Kỷ là pháp tu từng bước vậy ? Phật tông nói : "Vô căn quang trung thường tự tại." (cái thấy biết vượt ngoài 6 căn thường được tự tại). Lại rằng : "1 niệm chẳng sanh toàn thể hiện, 6 căn vừa động bị mây che ." Hợp với tông này vậy."
Đệ Nhị
Chân Ý
Hỏi : "Trong "Trực Luận" nói 'Phản quan nội chiếu, ngưng Thần nhập nơi Khí huyệt.' Xin được chỉ rõ về phản quan nội chiếu."
Đáp : "Phản hiện nội chiếu, là diệu dùng của Chân Ý. Nguyên Thần chẳng động làm thể, Chân Ý cảm thông làm dụng. Nguyên Thần, Chân Ý, gốc là một vật. Nói Thần cũng được, nói Ý cũng được. Chân Ý là hư trung chánh giác, chính là cái hay biết vậy. Phản quan nội chiếu là phản hồi Chân Ý đang rong ruổi bên ngoài đem soi chiếu ngược lại vào trong. Vào thời gian luyện Tinh, Chân Ý quan chiếu đến nơi luyện Tinh 100 ngày. Vào thời gian luyện Khí, Chân Ý quan chiếu đến nơi luyện Khí 10 tháng. Vào thời gian luyện luyện Thần, Chân Ý quan chiếu đến nơi luyện Thần 3 năm. Đó là đại ý của phản quan nội chiếu."
Hỏi : "Còn ngưng Thần nhập Khí huyệt là sao ? "
Đáp : "Vào thời gian luyện Tinh, có công pháp hành trụ khởi chỉ (làm, thôi, phát khởi, dừng lại). Hành là hái giữ (thái thủ), là vận hơi thở để hội Chân Ý của Thần Khí. Trụ là niêm gói thấm nhuần (phong mộc), là dừng thở để phục Chân Ý của Thần Khí. Khởi thì sau khi thái phong, Chân Ý vận hơi thở, hợp Thần Khí đến trong 12 giờ, bắt đầu giờ Tý thì khởi hỏa Chỉ thì như từ ngày dư của năm nhuận về sau, Chân Ý dừng hơi thở (đình tức)! Hợp Thần Khí đến gốc rễ Hoàn Hư mà dừng lửa (chỉ hỏa).
Có thể thấy Hành Trụ Khởi Chỉ, đều lấy Nguyên Thần ngưng hợp vào Khí. Đó là ngưng Thần nhập Khí huyệt. Bởi vì không thể riêng lẻ vậy. Từ khi Đại Dược phục thực về sau, phải nên định giác nơi hư cảnh của đình huyệt. Tuy vòng có 360 thiên thời, nếu chưa được ngay đó nhanh một mạch thì phải lìa chỗ kết thai. Nếu không ngưng Thần nhập Khí huyệt, thì không được vậy. Mà Chân Ý có công phu kiêm dùng cả động và tĩnh, có công phu chuyên tĩnh chẳng động, cần phải biết đó.
Sao là công phu kiêm dùng cả động và tĩnh ? Khi mới bắt đầu luyện Tinh, Chân Ý thái luyện thuộc động, phong mộc thuộc tĩnh. Tam niên nhũ bộ, Chân Ý xuất thu thuộc động, quy cung Hoàn Hư thuộc tĩnh. Đó là công phu kiêm dùng cả động và tĩnh.
Sao là công phu chuyên tĩnh chẳng động ? Giữa khi luyện Khí, chỉ riêng có Thần ý định giác nơi hư cảnh của đình huyệt, lấy kết thai làm chủ. Nhâm đốc 2 Khí có không tự nhiên, mà chẳng trứ ý nơi có không của 2 Khí. Có thể thấy 10 tháng thường tĩnh, không có một chút biến dời. Đó là công phu chuyên tĩnh chẳng động. Tiến thêm mà nói : tam niên nhũ bộ, giữ cho tột mức Hoàn Hư. Tuy Chân Ý 1 xuất 1 thu, mà thật chẳng trứ ý nơi xuất thu, thì xuất cũng tĩnh, thu cũng tĩnh, ấy chính là chuyên tĩnh chẳng động."
Hỏi : "Động tĩnh thích nghi, tự hợp diệu cơ. Nếu mà mất Chân Ý, lỗi ấy thế nào ? "
Đáp : "Trong khi luyện Tinh, nếu mất Chân Ý, thì không thể chiêu nhiếp nhị Khí hợp Thần quy định nơi huyền căn, để góp chứa Dương mà dùng. Trong khi luyện Khí, nếu mất Chân Ý, thì không thể bảo hộ nhị Khí quy định trong thai để chứng quả thuần Dương. Trong khi luyện Thần, nếu mất Chân Ý, thì không thể dời Thần quy định nơi nê cửu. Lại dè dặt xuất nhập nơi thiên môn, để làm công phu nhũ bộ. Theo đó ta có bài tụng như sau :
Dương Khí sanh lai trần mộng tỉnh,
Nhiếp Tinh hợp tính quy kim đỉnh.
Vận trù tam bách túc Chu Thiên,
Phục Khí tứ thời quy tĩnh định.
Thất nhật thiên tâm Dương lai phục,
Ngũ long phủng thượng côn lôn đính.
Hoàng đình thập nguyệt túc linh đồng,
Đỉnh môn xuất nhập (Dương Thần) tam niên chỉnh.
Khuất chỉ tòng tiền na lục công,
Bàn bàn Chân Ý vi cương lĩnh.
Cửu niên đả phá thái hư không,
Khóa hạc thừa loan nhâm du sính.
Trong bài ta vừa tụng có nhắc đến Dương Quang 3 lần, đều nhắc là : chẳng lìa Chân Ý, công dụng của Chân Ý lớn lắm thay! Nên biết tu về Chân Ý phải không so đo thiệt hơn, so đo thiệt hơn không phải là Chân Ý. Phật tông nói : Nghĩ nghị thì sai, so đo thì lầm. Hợp cùng tông này vậy."
Đệ Tam
Thủy Nguyên Thanh Trọc, Chân Đan Huyển Đan
Hỏi :" Trong "Trực luận" có nói : chẳng biết phân biệt trước sau thanh trọc, chẳng thể thái thủ chân Khí. Là tại sao vậy ? "
Đáp : "Trước sau thanh trọc, là phân biệt nguồn nước. Chân đan, huyễn đan có chỗ khác nhau."
Hỏi : "Gọi là đan, đều do từ Dương Tinh mà thành, sao lại có chân huyễn sai biệt vậy ? "
Đáp : "Nguồn nước còn có cách lọc cho sạch, thì thành đan sao lại không có chân huyễn khác biệt ? Nếu trúc cơ bị mờ tối, thì chân sẽ theo huyễn, có dụng công cũng chẳng được kết quả gì. Nay nói rõ là : phàm có niệm lự tồn tưởng, tri kiến thấy nghe, đều thuộc hậu thiên, là nguồn nước bẩn. Dương Tinh theo nguồn nước bẩn mà sanh, do đó mà hái giữ (thái phong) để luyện, chẳng hợp huyền diệu thiên cơ, rốt cuộc thành huyễn đan, là do lấy nguồn nước bẩn đó. Nếu không niệm không lự, chẳng thức chẳng tri, giờ giờ thường hư cực tĩnh đốc là thuộc Tiên thiên, là nguồn nước trong. Dương Tinh theo nguồn nước trong mà sanh, do đó mà hái giữ (thái phong) để luyện, kiêm hợp huyền diệu thiên cơ, trọn thành chân đan, nhờ lấy nguồn nước trong đó. Phàm Dương Tinh theo nguồn nước trong mà sanh, thì thu hái để luyện. Nếu Dương Tinh sanh từ nguồn nước bẩn, Khí ấy chẳng nên hái. Để thành tối sơ Hoàn Hư, phải hái luyện Dương Tinh để tựu được chân đan, mà không được phạm cái sai của huyễn đan. Xưa có nói : "Muốn luyện dược trước phải tu học luyện tâm cho đầy đủ", chính là lời nhắc phải xem nguồn nước sạch hay bẩn. Phật tông nói : 'Tâm trọc chẳng thanh, giáng bồ đề chủng. ' (Tâm bẩn chẳng trong sáng thì hạt giống bồ đề bị rơi mất). Hợp cùng tông này vậy.
Đệ tứ
Hỏa Túc Hậu Chỉ Hỏa Cảnh
Thái Đại Dược Hậu Thiên Cơ
Hỏi :" Trong "Trực luận" nói là '300 Chu Thiên, do có phân số nhuận dư. 1 trạng thái (hậu) huyền diệu cơ, đồng đến 300 hậu.' Nghĩa ấy thế nào ? "
Đáp : "Lời ấy nói về tình trạng khi hỏa đủ. Chỗ nói 300 Chu Thiên là 300 vòng hạn số vi diệu vậy. Muốn cho người biết trạng thái hỏa đủ, ngay khi đựơc Chu Thiên huyền diệu cơ đủ đến 300 làm hạn số vậy. Phàm hành hỏa Tiểu Chu Thiên, có thiện hành hỏa mà cũng có chẳng thiện hành hỏa. Thiện hành hỏa là nguồn nước sạch trong, hái giữ (thái phong) theo pháp, luyện dừng hợp độ, tâm chẳng tán loạn, ý không hôn trầm, lấy đến 300 số hơi thở, hỗn hợp Thần Khí, quán xuyến trước sau. Một Chu Thiên đó đã được Chu Thiên huyền diệu cơ vậy. Chẳng thiện hành hỏa là nguồn nước bẩn đục, hoặc pháp hái giữ (thái phong) luyện dừng sai độ, vì hôn trầm tán loạn, lấy đến 300 số hơi thở, đứt mà nối lại, Thần Khí chẳng đều, lúc lìa lúc hợp. Một Chu Thiên như thế đã mất huyền diệu cơ. Trừ ra bị mất Chu Thiên huyền diệu cơ chẳng kể, riêng chỉ tính Chu Thiên huyền diệu cơ, cần phải đủ 300 hậu làm hạn số, ngay khi hoả đủ là lúc dừng hỏa. Đó là chứng tích ở bên trong vậy. Do vậy rùa co lại chẳng cử, cảnh tịnh Dương Quang hiện lần 2, là trạng thái hỏa đủ, là lúc dừng hỏa. Cũng có hình tướng bên ngoài vậy. Nên Phật có câu "Đảo khước môn tiền sát can trứ" (trước tháp Phật đầu sào xoay lại), lại có câu "Thành tựu Như Lai mã âm tàng tướng", đều chỉ rùa co đầu lại làm chứng minh vậy. 'Lại có câu : "Bảo thắng Như Lai phóng quang động địa", cùng nói về Dương Quang phát hiện làm minh chứng vậy.
Hỏi : "Lúc Dương Quang phát hiện thì theo chỗ nào mà hiện ? "
Đáp : "Khoảng giữa 2 mắt gọi là minh đường, là nơi Dương Quang phát hiện. Lúc Dương Quang phát hiện, hoảng hốt như điện xẹt, từ hư thất phóng ra dãy ánh sáng trắng. Trong lúc luyện Tinh, thì có cảnh Dương Quang hiện lần 1. Khi đó hỏa hậu chưa tròn, dâm căn chưa co lại. Một khi gặp Dương sanh, thì ngay đó hái luyện, vận 1 Chu Thiên. Lấy để hái luyện nhiều lần, chu lại phục chu, tĩnh lại phục tĩnh, cho đến khi tròn 300 vòng diệu là đủ hạn số đó. Hạn sổ đã đủ, thì nên nhập định để bồi dưỡng chân Dương, đợi Dương Quang hiện lần 2. Do trong khi tĩnh định, thấy mi gian lại phát điện quang, từ hư thất phóng ra dãy ánh sáng trắng. Đó là Dương Quang hiện lần 2. Đúng là lúc phải dừng lửa, là trạng thái dừng lửa đó. Khi ấy 300 vòng diệu Chu Thiên hạn số vừa vặn tròn đủ. Bên ngoài thì rùa co lại chẳng cử, thứ tự trình nghiệm như vậy. Trong ngoài gồm có 3 việc thì việc thứ hai đã xong."
Hỏi : "Ba việc theo thứ tự mà đến, tại sao lại có sai vì hành hỏa ? "
Đáp : "Lúc đó động Khí tuy không vọng trì nơi thận khiếu, mà sanh cơ gần nội động đến Khí căn. Khi Khí cơ phát động, hoặc 1 động hoặc 2 động, cũng có chỗ hữu sự. Kia nếu mờ mịt chẳng rõ, biết có 2 động, đều có thể hái, mà lại giữ chẹn việc hành thái luyện thì có nguy hại vậy."
Hỏi : "Muốn tránh điều nguy hại ấy, để được hiểu kỹ nơi lý hiển nghiệm xin lão sư dạy rành mạch cho."
Đáp : "Trúc cơ sắp thành, Tinh tận thành Khí, vừa khéo hạn số tròn đủ. Hạn số đủ, thì hỏa đủ, bước đường đã vững. Nhiếp động Khí ấy, ngưng thành đan dược, có thể thấy dâm căn như rùa co đầu lại. Đến như vậy thì đan dược sẽ thành, đủ để làm vậy. Dương quan đã đóng, không nẽo để thông, mà được dâm căn tuyệt không cử động. Nếu thật chẳng động thì không Tinh có thể luyện, thì hỏa đang dừng ấy đủ để làm vậy. Chỗ chứa Dương Khí tận phục Khí căn, mà được Dương Quang hiện lần 2. Quang đã hiện lần 2, thì Dương Khí có thể định đến Khí căn, đủ để làm vậy. Khi Dương Quang hiện lần 2, gấp có động cơ, cũng lui hỏa ấy (diệc khứ kỳ hỏa), thì nên nhập định để bồi dưỡng chân Dương, đợi Dương Quang hiện lần 3. Do trong khi tĩnh định, thấy mi gian lại phát điện quang, từ hư thất phóng ra dãy ánh sáng trắng. Đó là Dương Quang hiện lần 3. Chân Dương đoàn tụ, Đại Dược thuần kiền, mà được Dương Quang tam hiện. Dương Quang đã hiện 3 lần, thì trong Khí căn có Đại Dược có thể thái, đủ để làm vậy. Cần yếu là dừng lửa, từ khi Dương Quang nhị hiện về trước, cho đến tam hiện lần cuối. Khi nhị hiện, tam hiện đều gọi là cảnh dừng hỏa (chỉ hỏa cảnh). Trạng thái dừng hỏa (chỉ hỏa hậu), riêng có Dương Quang tam hiện, vừa kiêm tên thái Đại Dược cảnh và thái Đại Dược hậu vậy."
Hỏi : "Hành hỏa đến khi Dương Quang hiện lần 4, dẫn đến nghiêng đổ, là sao? "
Đáp : "Đó là do chẳng theo pháp để dừng, vọng tự hành hỏa vượt quá mức vậy. Chẳng biết Dương Quang hiện lần 3, Đại Dược có thể hái được. Nếu hành hỏa đến khi hiện lần 4, thì Đại Dược lẽ ra có thể định ấy lại theo hỏa chẳng định mà chạy thoát ra ngoài, hóa làm Tinh hậu thiên hữu hình. Có thể không răn dè sao ? Phật tông nói : 'Như Lai thiện hộ bảo châu, tự nhiên phóng quang có lúc. Hợp cùng tông này vậy."
Đệ ngũ
Thất Nhựt Thái Đại Dược Thiên Cơ
Hỏi : "Trong "Trực Luận" nói chỗ 'Thất nhật thiên cơ truyền miệng, để hái đại dược. ' chưa rõ Đại Dược sao lại phải hái đến 7 ngày ? "
Đáp : "Khi Dương Quang hiện xong lần 3, Thuần Dương Chân Khí đã ngưng tụ đến trong đỉnh, nhưng ẩn mà chẳng xuất. Phải dụng công phu hái 7 ngày, bắt đầu thấy trong đỉnh hỏa châu thành hình. Nội động nội sanh, chẳng theo bên ngoài, nên gọi Chân Diên Nội Dược, lại có tên Kim Dịch Hoàn Đan, lại có tên Kim Đan Đại Dược. Tên có nhiều, nhưng chỉ có 1 Chân Dương, là nghĩa 7 ngày lai phục vậy."
Hỏi : "Thái Đại Dược thiên cơ, cầu lão sư dạy cho."
Đáp : "Nói về khi bắt đấu hái (thái), hỏa của hô hấp tự hay vận động bên trong. Nhâm hỏa tự vận, tuyệt chẳng đeo bám (trứ) ý nơi hỏa, cũng chẳng giữ (trì) ý nơi hỏa, mà nên hợp huyền diệu cơ của hỏa vậy. Ngay đó dùng hỏa, ngay đó do ngươi định liệu, công phu chuyên dùng mắt để chiếu soi. Ban ngày, dùng mắt chiếu soi chuyên nhìn vào Trung Điền. Đêm đến cũng dùng ánh sáng 2 mắt, giữ mà chẳng lơi. Như vậy mà hái, Đại Dược tự sanh. "Âm Phù Kinh" nói 'Cơ tại mục' là như vậy."
Hỏi : "Thiên cơ đã nói rõ, còn cái lý hái mà được sanh, cầu bề trên dạy cho."
Đáp : "Cái lý hái mà được sanh có 4 thuyết là lấy : giao cấu mà sau sanh, câu dẫn mà sau sanh, tĩnh định mà sau sanh và tức định mà sau sanh."
Hỏi : "Sao là giao cấu mà sau sanh ? "
Đáp : "Không Thần trong tâm, gồm hỏa vô hình. Nguyên Khí trong thận, gồm thủy vô hình. Hỏa Thần vô hình trong tâm nhân do chuyên tâm chiếu soi mà được ngưng đến trên, thì thủy Khí vô hình trong thận tự nhiên được đun nấu bay lên, cùng Nguyên Thần giao cấu mà không ngăn cách trên dưới vậy. Lấy thủy hỏa vô hình giao cấu ở trên, góp chứa lại thì Khí thuần Dương tự nhiên hợp thành đại dược, như hình hỏa châu phát lộ đến dưới vậy. Như thiên địa nhân hòa hợp, vạn vật hóa sanh. Giúp vô hình mà hay sanh hữu hình là lý tự nhiên vậy. Xưa rằng : 'Huyền hoàng nếu đã không giao cấu, sao được tòng theo khảm dưới bay ? ' là nghĩa này vậy."
Hỏi : "Sao là câu dẫn mà sau sanh ? "
Đáp :"Hai mắt chiếu soi ánh sáng là chỗ gởi của Chân Ý trong Thần. Chiếu soi đến được nơi đó, Chân Ý được yên. Chân Ý thuộc thổ, thổ được dụ là hoàng bà ở trung cung, hoàng bà là môi chước để câu dẫn. Hoàng bà câu dẫn đến trên, thì Đại Dược tự noi theo mà xuất hiện đến dưới. Xưa nói : 'Trung cung thai tức hào hoàng bà ', cũng cùng nghĩa đó vậy."
Hỏi : "Sao là tĩnh định mà sau sanh ? "
Đáp : "Nguyên Thần nhân ánh sáng 2 mắt chuyên nhìn về chỗ gốc của thổ mà được định cơ, thì Nguyên Khí cũng ngưng đến hạ bổn vị mà được định cơ. Thần Khí cùng được định cơ, do vì Nguyên Khí thành hình, nhân định mà sanh động. Do động đến trong, sanh đến trong. Xưa nói : "Hái chân diên đến trong chẳng động", lại nói "Chẳng định thì Dương chẳng sanh", là nghĩa đó vậy."
Hỏi : "Sao là tức định mà sau sanh ? "
Đáp : "Hậu thiên ấy tự vận hỏa, cũng được định cơ vậy. Tiên thiên nguyên chủng, Nguyên Khí do mắt thường chiếu soi mà được định cơ đến trên dưới bổn vị, thì hậu thiên tự vận hỏa cũng do Thần Khí định cơ mà có chỗ nương về, tự nhiên phục định đến Khí căn, mà không trên dưới vận hành vậy. Chân tức một khi định, Đại Dược tự sanh. Chân tức chẳng định, Đại Dược tất chẳng sanh vậy. Xưa nói : Định tức thái chân diên", cũng cùng nghĩa đó. Đó là 4 thuyết đều lấy chiếu soi mà chiêu nhiếp, đều là sanh ý của ngươi vậy. Tích Khâu tổ tương truyền bài kệ : "Kim đan Đại Dược chẳng khó cầu, ngày ở Trung Điền đêm giữ lại. Thủy hỏa tự giao không trên dưới, một đoàn sanh ý tại đôi ngươi (soi chiếu). ' Bài kệ chỉ có vậy thôi! nên biết khi Đại Dược sanh, 6 căn trước tự chấn động. Đan Điền lửa dậy, 2 thận nước sôi, mắt thổ kim quang, sau tai gió thổi, sau não có tiếng chim Thứu kêu vang, trong thân nước mũi rút lại, đều là cảnh được dược vậy. Đại khái hái dược đến 3 hay 4 ngày, thì trong các lúc chân định, cùng định, chưa định; được dược 6 cảnh, theo thứ tự mà hiện. Nếu hái dược đến khoản 5 hay 6 ngày, thì Chân Ý nhất định, mà lấy Đại Dược sanh. Đến 7 ngày cũng vậy. Phật tông nói : 'Thiên nữ hiến hoa. 'Lại nói : 'Long nữ hiến châu. 'Hợp cùng tông này vậy."
Đệ lục
Đại Dược Quá Quan Phục Thực Thiên Cơ
Hỏi : "Trong "Trực Luận" có nói 'Đại Dược quá quan, có bí cơ Ngũ Long Phủng Thánh.' không rõ nghĩa ấy ra sao ? huyền nghĩa trong đó mong được phân tích rõ dùm."
Đáp : "Các tiền bối trước đây muốn nói rõ 100 điều bí ẩn khi qua cửa (quá quan), nên có lời ví dụ về sự tích Huyền Đế xá thân được Đạo. Theo ví dụ thì số 5 là số của hành thổ, chân tức thuộc thổ, Long là Nguyên Thần. Nguyên Thần là thể của Chân Ý, Chân Ý là dụng của Nguyên Thần. Thể dụng vốn chẳng phân chia, nên nói Ngũ Long Phủng Thánh tức là ví dụ cho Đại Dược. Dùng ý dẫn Đại Dược qua cửa (quá quan), nên nói ngũ long phủng thánh vậy. Trong đó có quá quan phục thực trợ công, có đến 3 thứ truyền miệng bên trong vậy, nhiều mà chẳng ích lợi. Lấy đồng chân cùng người lậu Tinh một lần mà nói, vừa gặp trợ công quá quan phục thực thì ngay đó tự ứng dụng. Nếu lậu Tinh nhiều lần, thì trợ công chẳng thể dùng được, nên khi hành chánh công quá quan phục thực, Thiên cơ tại nơi ông, ngay đó ông nên trân trọng. Nay lại nói về Đại Dược sơ sanh : do vì có nhiều đường góp nhóm, bắt đầu được hình như hỏa châu, ấy là Tiên thiên thuần Dương Khí hay sanh hậu thiên chân tức hỏa. Hỏa dược cùng gốc mà sanh, nên nói dược nói hỏa, mà hỏa tại ở trong đó. Đại Dược phát sanh, chẳng phụ ngoại thể, chỉ nội động đến Khí thiếu ( ? ). Nên biết Khí huyệt dưới vùng Vĩ gian giới địa có 4 đường : trên thông tâm vị, trước thông Dương quan, sau thông Vĩ gian, dưới thông cốc đạo. Vĩ Lư 3 khiếu ngăn bít (tủy thật), hô hấp chẳng thông. Cốc đạo 1 khiếu, trống mà lại rổng, nên Khí dịch đều thông đường cũ. Lại nữa, Khí dịch đều thông mà ngày thường có chỗ có việc rồi, nên trong "Trực Luận" có chú rằng 'Thục lộ cựu sự ' 4 chữ, là nói việc này. Vĩ Lư, Cốc đạo 1 thật, 1 hư, có tên Hạ Thước Kiều. Vĩ gian quan, lên Giáp Tích, đến Ngọc Chẩm là 3 khiếu cùng lỗ mũi gần lên Ấn Đường đều bít kín (tủy thật), hô hấp chẳng thông. 2 lỗ mũi thông đều là đường hít thở qua lại. Ấn đường, lỗ mũi, 1 thật 1 hư, có tên Thượng Thước Kiều. Quan khiếu đã rõ, thì công phu phòng nguy lự hiểm không thể chẳng biết. Khi Đại Dược tương sanh, trước có cảnh 6 căn chấn động. 6 căn đã chấn động, thì ngay đó 6 căn chẳng lậu mà toại sanh cơ. Đại Dược đã sanh về sau, rời 6 căn nhập Trung Điền để điểm hóa Âm Thần. Trước phải dùng nghịch vận hà xa mà siêu thoát, ngay khi lục căn chẳng lậu lập tức vận hành; giữ bên dưới, dùng mộc tọa để giữ cốc đạo, để thân căn chẳng lậu. Trên dùng mộc giáp bao che lỗ mũi để tị căn chẳng lậu. Khép ánh sáng 2 mắt, không xem ra ngoài, để nhãn căn chẳng lậu. Ngưng việc nghe của 2 tai, không theo Âm thanh bên ngoài, để nhĩ căn chẳng lậu. 2 hàm răng khép lại, lưỡi để nướu trên, để thiệt căn chẳng lậu. 1 niệm chẳng sanh, 6 trần chẳng nhiễm, để ý căn chẳng lậu. Đã giữ 6 căn chẳng lậu, có thể vẫn còn chưa đề phòng thật kín đáo. Do chưa đó, khi Đại Dược sanh đến Khí huyệt, lưu động hoạt bát, tự hay bay lên tâm vị. Tâm vị chẳng chứa, tự chuyển xuống dưới, theo giới địa mà trước chạy ra Dương quan. Dương quan đã đóng, tự chuyển động theo giới địa mà ra Vĩ gian. Vĩ gian chẳng thông, lại chuyển động, theo Vĩ gian mà chạy xuống cốc đạo. Cốc đạo nếu mở, Đại Dược tiết xuất, thì công trước mất hết. Đó là Hạ Thước Kiều nguy hiểm vậy, tức là chỗ Khâu Tào 2 vị chân nhân bị tẩu đan. Dự phòng dùng mộc tọa, hình dáng như bao bột, trong có chất mềm nhuyển để ngồi lên đó, ngồi như vậy thì Đại Dược chẳng thể thoát ra hướng Cốc đạo. Ngoài đã cũng cố với phương tiện như vậy. Lại có pháp cũng cố bên trong. Đại Dược đến Vĩ gian, chẳng thể tự chuyển động, bèn chạy xuống cốc đạo. Khi biết có chạy xuống, thì không được mở cốc đạo đang giữ đó, cần giữ nghiêm bên trong vậy. Trong đã giữ nghiêm, tự hay bảo toàn đại dược, chẳng thể chạy đến Cốc đạo, riêng tại Vĩ gian, gặp hiểm trở mà chẳng động. Ngay lúc đó nếu dùng Chân Ý đạo dẫn, thì mất cơ hoà hợp (xướng tùy). Để đạo dẫn luôn luôn rốt cuộc khó qua cửa (quá quan), nên có chánh công thiện dẫn. Để được thông trở chẳng động, thì nhất ý chẳng sanh, ngưng Thần chẳng động. Động mà sau dẫn, chẳng thể dẫn mà sử động vậy. Bổng nhiên tự động lại cửa (trùng quan), tức tùy theo động cơ, mà có cả 2 cùng biết, lấy ý nhè nhẹ dẫn lên, tự nhiên đưa qua Vĩ Lư mà lên đến Giáp Tích quan. Quan ấy trước có 3 khiếu bít kín (tủy trở) chẳng thông, Đại Dược gặp ngăn trở chẳng động. Riêng chỉ 1 niệm chẳng sanh, ngưng Thần chẳng động, lấy đáp ứng động. Bổng nhiên tự động lại cửa (trùng quan), tức tùy theo động cơ mà có cả 2 cùng biết, lấy ý nhè nhẹ dẫn lên trên, tự nhiên đưa qua Giáp Tích mà đến Ngọc Chẩm quan. Quan này trước có 3 khiếu, ngăn bít (tủy trở) chẳng thông, Đại Dược gặp ngăn trở chẳng động. Riêng tại 1 ý chẳng sanh, ngưng Thần chẳng động để đáp ứng động. Bổng nhiên tự động lại cửa (trùng quan), tức tùy theo động cơ, mà có cả 2 cùng biết lấy ý nhẹ nhẹ dẫn lên, tự nhiên đưa qua Ngọc Chẩm, thẳng đến đỉnh môn. Hướng trước dẫn xuống đến Ấn Đường. Ấn Đường ngăn bít (tủy trở) chẳng thông, tự chuyển động mà chạy đến dưới mũi, đường ấy có khiếu rổng vậy. Nếu chẳng có mộc giáp để che chở, sao lại không chạy mất đi ? Chạy rồi thì công lao trước bỏ hết, đó là Thượng Thước Kiều đại nguy hiểm vậy. Nên dùng mộc giáp, mà dự phòng vậy. Có dự phòng đủ, thì Đại Dược chẳng thể chạy đến mũi, mà chỉ đến Ấn Đường, gặp ngăn trở mà chẳng động. Riêng tại 1 ý chẳng sanh, ngưng Thần chẳng động, mà giữ đến khi động. Bổng nhiên tự động lại cửa (trùng quan), tức tùy theo động cơ, mà có cả 2 cùng biết, lấy ý nhẹ nhẹ dẫn xuống, tự nhiên đưa qua Ấn đường, giáng xuống 12 trọng lâu, do theo phục thực mà nhập đến Trung Đan Điền trong Thần thất, điểm hóa Âm Thần, làm Kiền Khôn giao cấu. Thông trung hạ nhị điền, hợp mà làm 1 vậy. Đó là chánh công quá quan phục thực. Tích Khâu Tổ kệ rằng 'Kim đan trùng thượng quay thiên cương, sao ngại trở kiều với trở quan ? Một ý chẳng sanh Thần chẳng động, lục căn chẳng lậu dẫn tuần hoàn. ' Bài kệ đó chỉ như vậy! Thiên cương ở giữa trời, gọi là thiên tâm. Tại trời là thiên tâm, tại người là Chân Ý. Đại Dược theo Chân Ý chuyển toàn mà thăng giáng, do bánh xe trời mà lặng, thiên tâm xoay chuyển mà tuần hoàn, đều 1 lý này vậy. Nên nhớ dùng mộc tọa để giữ cốc đạo, thế lấy trên động, chẳng để Đại Dược chạy xuống. Mà chẳng thoát dưới Cốc đạo, tức chẳng coi nhẹ việc mở trống Cốc đạo, riêng dụng công quá quan mà lấy. Nhưng mà quá quan chánh công, có hành trụ cơ, đều riêng tại thuận theo tự nhiên làm cốt yếu vậy. Phật tông nói : "Chưa có thường hành mà chẳng trụ, chưa có thường trụ mà chẳng hành." Hợp cùng tông này vậy."
Đệ thất
Thủ Trung
Hỏi : "Trong "Trực luận" nói rằng 'muốn cùng Khí ấy luyện để hóa Thần, phải cùng Khí ấy hợp Thần mà luyện.' Sao lại phải cùng Khí ấy hợp Thần mà luyện vậy ? "
Đáp : "Đã hái được kim đan đại dược, nghịch vận hà xa nhập đến trong Thần thất rồi. Nếu Thần quang chẳng chiếu, thì Đại Dược chẳng phối ngẫu mà tất cả đều sai lệch, nên phải dùng Nguyên Thần làm chỗ để Đại Dược quay về tựa nương, lấy Đại Dược để cho Nguyên Thần điểm hóa, cùng với tịch chiếu chẳng lìa, thì Dương Khí tự hay phát sanh, cùng chân tức tương vận đến Thần thất, mà Nguyên Thần được bồi dưỡng để cùng luyện vậy."
Hỏi : "Sao là cùng với Khí ấy luyện để hóa Thần vậy ? "
Đáp : "Đại Dược được hỏa Khí cùng chuyển đến Thần thất, thì hay điểm hóa Âm trong Thần, Âm Thần được giáng phục, mà niệm lự chẳng khởi. Lại hay bồi bổ Dương trong Thần, Dương Thần giúp thêm cho Dương càng sáng, mà mê ngủ không còn. Chẳng luyện Khí hóa Thần thì chẳng được vậy."
Hỏi : "Trong "Trực luận" có nói 'Phục Khí đến Đan Điền Khí huyệt mà kết thai ', mà chánh văn lại nói 'Đại Dược chuyển về Hoàng Đình là chỗ kết thai.' Khí huyệt gồm Hạ Điền, Hoàng Đình gồm Trung Điền sao lại nói chỗ kết thai ở 2 điền khác nhau ? "
Đáp : "Bắt đầu hành Đại Chu Thiên hỏa, Nguyên Thần tuy đến ở Trung Điền, lại liên hợp Hạ Điền. Nhị Khí đều có diệu dụng, tất Nguyên Thần tịch chiếu đến Trung Hạ nhị điền, cùng dung hợp, hóa thành cảnh hư không lớn, khiến nhị Khí trợ Thần kết thai, mà nhị điền đều là chốn an ổn. Nếu chỉ giữ quan hệ đến 1 điền, thì Thần bị trệ ngại, mà mất đi công dụng của Đại Viên Kính Trí, là điều chẳng nên vậy."
Hỏi : "Trong "Trực luận" nói về lý Thủ Trung, mong được dạy rõ."
Đáp : "Trung ấy chẳng phải là ở giữa của 2 bên, mà Trung là ở trong hư không. Thủ không phảỉ là bắt giữ, mà Thủ là Trí Hư vậy. Thủ Trung là chẳng bám chấp (trứ) ý đến nhị điền, cũng chẳng buông thả (túng) ý ngoài nhị điền. Là chỉ Nguyên Thần tịch chiếu nhị điền thành 1 hư cảnh vậy. Hay giữ cái thể Trung ấy, '1 niệm chẳng sanh, tịch nhiên chẳng động. Giữ cho đến khi ăn uống chẳng cần, mê ngũ toàn không, cũng tu đến chẳng lìa, đến lúc tâm toàn vắng lặng (tịch) vậy. Hay đến chỗ tận trung thì linh quang chẳng mờ, vượt thoát trần căn. Thẳng đến nhị Khí đều chẳng còn, niệm không sanh diệt, cũng tu đến chẳng lìa, đến tâm Thần sáng tỏ thông suốt trọn vẹn (chiếu) vậy. Theo đó tác dụng chẳng phân, tịch chiếu cùng dùng. Suốt 10 tháng dưỡng thai cốt yếu là như vậy."
Hỏi : "Trong "Trực luận" nói thai, lại nói thai tức, lại nói chân thai tức, xin thầy chỉ cho chỗ khác biệt."
Đáp : "Trong 10 tháng then chốt, có Nguyên Thần tịch chiếu, làm chủ trì cho nhị Khí, nên gọi là thai. Có nhị Khí vận hành, lấy làm Nguyên Thần trợ dưỡng, nên gọi thai tức. Quên đi nhị Khí vận hành, trợ dưỡng tích lũy, mà thai Thần trọn về đại định, nên gọi chân thai tức vậy."
Hỏi : "Xin nói rõ về Đại Chu Thiên hỏa hậu."
Đáp : "Từ khi phục thực Đại Dược về sau, tam quan cửu khiếu đều được khai thông. Nên biết từ đó về sau nhị Khí thường sanh tự hay vận chuyển để thông đường chánh, phục thực đến hư cảnh ở 2 điền mà bồi dưỡng Nguyên Thần. 1 thăng 1 giáng tuần hoàn chẳng dừng rất là tự nhiên vậy. Có thể thấy hỏa lúc đó, tự chẳng dùng ý dẫn hỏa. Hỏa chẳng dùng ý dẫn, nếu lại khởi ý đeo bám đến hỏa sẽ làm ngưng trệ đến Nguyên Thần đại định vậy ? Duy phải chẳng thấy có tướng của hỏa, hợp chẳng có chẳng không văn hỏa mà làm Đại Chu Thiên hỏa hậu vậy. Ngoài Nguyên Thần tịch chiếu đến hư cảnh của 2 điền, lại còn được nhị Khí thường thường phát sanh, vận dưỡng chẳng dừng vậy" .
Hỏi : "10 tháng then chốt ấy trãi qua từng tháng đều có cảnh nghiệm, xin được dạy rõ."
Đáp : "Lúc bắt đầu nhập định, định được 3 tháng, thì nhị Khí máy động rất nhỏ. Có nhận được động nhỏ đến hư cảnh ở rốn. Nếu giữ định được đến 4 hay 5 tháng, thì nhị Khí nhân Nguyên Thần tịch chiếu, mà đến quẻ phục, tự tận hết vọng trần mà đều về định diệt. Nguyên Thần nhân Nguyên Khí bồi đắp mà đến Dương minh, chẳng còn mê ngũ mà được chứng chân không. Nhị Khí cùng dừng, thực tính đã tuyệt, riêng chỉ còn 1 Nguyên Thần tịch chiếu, là chủ thai Tiên vậy. Giữ định đến khoảng 6, 7 tháng, chẳng khởi tâm, chẳng sanh diệt, cũng không giữ mà không còn mê ngủ. Giữ đến khoảng 8, 9 tháng, thì tịch chiếu đã lâu, 100 mạch đều dừng. Giữ đến 10 tháng thì đã đủ thuần Dương, Thần về đại định. Đến đó định hay sanh tuệ, tự có 6 thông ứng nghiệm. 6 thông là : Lậu Tận thông, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mệnh thông, tha tâm thông, Thần cảnh thông vậy. Trước lúc luyện Tinh có Lậu Tận 1 thông, đến đây có thêm 5 thông sau ứng nghiệm. Thiên nhãn thông, thì hay thấy việc trên trời. Thiên nhĩ thông, thì hay nghe được tiếng trời. Túc mệnh thông, thì hay hiểu việc đời trước. Tha tâm thông, thì biết việc sắp tới. Riêng Thần cảnh 1 thông, là thức Thần dùng sự. Nếu chẳng hay bảo vệ tâm quân, thì bị thức Thần chuyển dời, đến tự cho là tu xong, chứng được, mà ma hoan hỉ đến ở lâu trong tâm. Do vậy mà nói nhân gian họa phúc, nói vị lai sự cơ, tai họa đến chẳng nhẹ vậy. Riêng chỉ có tuệ mà chẳng dùng, thì hay chuyển thức thành trí, mới được chứng quả thai tròn vậy. Xưa nói : ' trong 30.000 giờ không gian đoạn, hành hành tọa tọa chuyển phân minh. ' chính là chỗ phát minh 10 tháng dưỡng thai, chỉ tại công phu miên mật tịch chiếu mà được vẹn toàn đó. '
Hỏi : "Trong "Trực luận" phần chú có nói là : Mão Dậu Tý Ngọ thì thôi Mộc Dục, mà vào cửa đầu Tiên Hoạt Tý Thời có dùng Mộc Dục. Lại trong khi 10 tháng cũng có dùng Mộc Dục, gồm cơ phòng nguy lự hiểm. Xin thầy chỉ rõ."
Đáp : "Ngũ hành đều có chỗ trường sanh (trường sanh vị), như Trường Sanh, Mộc Dục, Quan Đái, Lâm Quan, Đế, Vượng, Suy, Bệnh, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Từ Dần đến Hợi là trường sanh vị. Hỏa trường sanh tại Dần, Mộc Dục tại Mão, tử tại Dậu. Thủy thổ trường sanh tại Thân, Mộc Dục tại Dậu, tử tại Mão. Kim trường sanh tại Tị, Mộc Dục tại Ngọ, tử tại Tý. Mộc trường sanh tại Hợi, hưu dục tại Tý, tử tại Ngọ. Lại Mão Dậu Tý Ngọ là Mộc Dục vị, cũng là tử mà chẳng động vị vậy. Khi ấy nên tẩy tâm quét sạch mọi toan tính là việc trước hết của Mộc Dục, 2 Khí chẳng động làm Mộc Dục chánh công ; lại nên biết chân Khí nấu nung, cũng là nghĩa Mộc Dục vậy. Phòng nguy lự hiểm là phòng việc chẳng tẩy tâm để quét sạch niệm lự vậy. Nếu chẳng tẩy tâm để quét sạch niệm lự, thì khó được chân Khí huân chưng để được hiệu nghiệm của 2 Khí chẳng động. Nghĩa Mộc Dục cũng được dùng tại công phu miên mật tịch chiếu. Trong "Trực luận" có nói : có dục phải biết dục ấy như bọt nổi trên sóng, có thể xem ngữ lục để khảo sát toàn bộ cơ ấy. Rút ra trong 1 năm Mộc Dục phòng nguy hiểm cũng là chỗ đó."
Hỏi : "Tuệ mà chẳng dùng, bắt đầu chứng thai viên. Thai viên xác chứng ra sao, mong thầy chỉ rõ."
Đáp : "Số tháng lấy trước, nhị Khí đều không, thực mạch cả 2 đều tuyệt, có ánh sáng làm chứng cứ nơi ta. Khi ấy chẳng kể trong khi 10 tháng, hay ngoài 10 tháng, nếu có một chút hôn trầm, hoặc có 1 chút niệm tán loạn dư âm lại đều là Thần chưa thuần Dương. Tất phải tu cho đến hôn trầm tận tuyệt, tán loạn đều không, mới là thuần Dương, quả đủ thai Thần, mà nhập đến cõi Thần tiên. Phật tông nói : sơ thiền niệm trụ, nhị thiền tức trụ, tam thiền mạch trụ, tứ thiền diệt tận định. Hợp với tông này vậy."
Đệ bát
Xuất Thần Cảnh, Xuất Thần Thâu Thần Pháp
Hỏi : "Trong "Trực luận" chỗ nói 'Thần đã thuần toàn, thai đã đầy đủ, thì chẳng nên giữ thai lâu. Dùng phép chuyển dời, từ Trung Hạ mà dời lên Thượng Đan Điền, dùng đến pháp tam niên nhũ bộ. ' Mong được chỉ đến chỗ này."
Đáp : "Thượng Đan Điền tên là Nê Hoàn cung, là nơi gốc để Dương Thần quy phục. Quy phục về đó, Thần chưa tráng kiện, như trẻ thơ tuổi nhỏ, tất phải còn bú nên có tên là nhũ bộ. Nếu giữ Thần ở tiểu cảnh thượng Đan Điền thì chính là nghĩa của Thất Hoàn Đan, là pháp Đại Bội Nhũ Bộ. Pháp ấy kiêm tồn dưỡng toàn thể, vì xuất thu có công dụng lớn mà nói vậy. Để được công dụng tồn dưỡng, chẳng đeo bám (trước) ý nơi Thượng Điền, cũng chẳng buông thả (túng) ý nơi Thượng Điền. Duy chỉ một Dương Thần lặng soi đến Thượng Điền, cùng nhau dung hòa, hóa thành 1 cảnh lớn hư không để tồn dưỡng toàn thể, là việc cần giữ trong thời gian nhũ bộ. Công phu tồn dưỡng thuần thục, tự có cảnh xuất Thần. Đến cảnh xuất Thần thì Thần có thể xuất. Đúng khi xuất mà chẳng xuất, thì chẳng thể siêu thoát, khó nhập vào dòng thánh. Mà cảnh xuất Thần khi đến liền biết, đang lúc tồn dưỡng công thuần, bổng nhiên trong định giữa không trung có lục xuất phân phân, tức là xuất Thần cảnh. Ngay khi ấy, lập tức điều Thần xuất xác, lần đầu vừa xuất ra khỏi thiên môn liền thu trở về. Xuất đến cảnh thái hư siêu thoát, thu lại vào Thượng Điền làm chỗ tồn dưỡng. Nên biết xuất thu thì ít, mà tồn dưỡng thì nhiều. Lại xuất thì tạm thôi chớ không thể lâu, nên gần mà chẳng nên xa. Mới thì xuất ra một bước rồi thu về, sau đó xuất xa vài bước rồi thu về. Lâu dần xuất đi xa hơn, tăng dần đến 1 dặm rồi thu về, sau nữa xuất đi nhiều dặm mới thâu về. Cho đến trăm ngàn dặm dần dần đều xuất đến được, cho đến không chỗ nào mà chẳng đến được. Như khi trẻ thơ còn nhỏ, dễ ham chơi quên mà khó về. Hoặc có thiên ma gây rối loạn tâm quân của ta, nên cần phải tu xuất nhập cẩn thận mới có thể qua lại trong toàn thể hư không, mà hoàn tất công dụng lớn của nhũ bộ. Có lời nói : 'Đạo cao 1 tấc, ma cao 1 trượng. ' là có ý nói đến thiên ma đó, nên câu thúc thức Thần biến hiện, hết sức bảo hộ tâm quân làm trên hết. Nếu như công phu Tối Sơ Hoàn Hư được thuần thục, thì linh thai lặng trang, chẳng nhiễm 1 hạt bụi. Vốn không 1 vật, ma từ đâu đến được. Vậy để vượt qua các chướng ngại đó, tu sĩ cần phải coi Tối Sơ Hoàn Hư là công phu cấp thiết. Nếu mà nhũ bộ được kính cẩn, có thể Hoàn Hư đến 3 năm, thì Dương Thần mới được lão thành, tự có thể đạt địa thông thiên, nhập kim thạch không có gì trở ngại. Phật tông nói : 'Vừa thành chánh giác, Như Lai xuất hiện.' Lại nói : 'Thần thành xuất thai, thân làm Phật tử.' Hợp với tông này vậy."
Đệ cửu
Mạt Hậu Hoàn Hư
Hỏi : "Trong "Trực Luận" nói 'Thượng quan luyện Thần, cửu niên diện bích ' gọi là Mạt Hậu Hoàn Hư, chưa biết được nghĩa của Luyện Thần. Cầu thầy chỉ rõ."
Đáp : Gọi là Luyện Thần thật ra thì không có Thần yên ở 1 chỗ nào cố định. Theo trong khi Thủ Trung Nhũ Bộ, trên lặng lẽ soi chiếu Thần. Từ đó về sau Thần chẳng tự Thần, phục quy vô cực, thể chứng hư không. Tuy trãi qua ức kiếp, riêng chỉ quay về tính thường hằng, bắt đầu công phu 9 năm đều làm như vậy! Gọi 9 năm ấy, chẳng qua là muốn được sơ chứng Thần tiên. Nên biết Hoàn Hư thật chứng Thiên Tiên ấy, cho đến trong 9 năm, chẳng thấy có đại đạo để tu, cũng chẳng thấy có Tiên Phật để chứng vậy. Đến an tâm cũng tiêu hết, pháp cũng quên luôn, tịch không chỗ tịch, chiếu không chỗ chiếu, như vậy sao có thể còn gọi là Thần, chỉ là cưỡng danh để lập pháp. Để nói về Mạt Hậu Hoàn Hư, Phật tông nói : 'Dục chứng hư không thể, kì đẳng hư không pháp, chứng đắc hư không thời, vô thị vô phi pháp. ' (Vì muốn chứng thể hư không, đến được pháp hư không. Khi chứng được hư không, nhận ra pháp vốn chẳng phải, cũng chẳng trái, vượt trên đối đãi phân biệt của thức Thần). Hợp cùng tông này vậy."
Cát Vương Chu Thái Hòa hỏi 19 câu
Pháp danh là Thái Hòa, hào Ngôn Thủy. Tại Tông Nhân Phủ,
ngọc điệp là Phái Thường, là người được Thuần Duệ hoàng đế tôn trọng.
Câu hỏi 1 : Mong được chỉ về chân dược vật, làm sao có thể phân biệt được chân dược vật. Thường nghe người xưa và thầy nói về chân dược vật, vì chưa biết trong thân sao là chân, sao là chẳng chân, nên chẳng khỏi nghi mà hỏi lại.
Đáp : Chân dược vật là Chân Tinh.
Tinh sao còn nói chân ? do tu Tiên đạo có thể lấy mà dùng nên gọi là chân. Chẳng thể dùng thì chẳng gọi là chân. Như Tinh hậu thiên giao cấu kia chẳng phải chân.
Giao cấu dâm Tinh có trọng trọc, hình chất chẳng thể biến hóa. Nếu lấy để phục phản làm vô hình chất Nguyên Khí mà hóa Thần Khí, thì chẳng thể hóa Khí, hóa Thần, vì không thể dùng được nên nói chẳng chân. Trang Tử Nam Hoa Kinh có nói : "Lấy vật ấy mà muốn phục quy về gốc, chẳng phải khó sao." Trần chân nhân nói : "Tham sân ái dục chẳng hay lìa, khó được an thân để sống lâu." Bão Phác Tử nói : "Có một hạng người chuyên theo giao cấu thuật, muốn làm Thần Tiên mà chẳng tạo kim đan đại dược, bọn chúng ngu hơi bị nhiều đó."
Tiên Thiên Nguyên Tinh chính là Chân Tinh.
Để có Thiên Hình Tiên, tất phải dùng Nguyên Khí. Mà theo Nhân Hình Tiên, cũng dùng Nguyên Khí, theo đó mà sanh Thiên, sanh Nhân, sanh Tiên, sanh Phật, đều là Khí đó. Nên nói : "Chí tĩnh chẳng động, gọi là Nguyên Khí. Tĩnh khi động gọi là Nguyên Tinh. Nguyên Tinh thật ra là Nguyên Khí, chẳng phải 2 thứ, mà cường danh là Tinh, bởi vì đó là căn cơ để tu Tiên thành đạo, bước đầu tu Tiên đều dùng Chân Tinh.
Người đời cũng hay nói về Chân Tinh, thấy lời của chư Tiên gọi Chân Tinh, lại cũng nói bừa là hiểu Chân Tinh để gạt người. Nếu chẳng được chân Tiên thân truyền, làm sao biết được Tinh là chân hay giả.
Chẳng quá chấp hậu thiên giao cấu Tinh, mạo nhận làm Chân Tinh mà thôi.
Đáng trách thay, kẻ thế gian lấy đó để mê luyến người mới học, mà chẳng phải là đã thật khổ tu khổ chí để học. Tiên đâu chẳng truyền đại đạo, nhưng mới nghe qua còn không biết chỗ để hạ thủ. Huống là kẻ nghe được lại lấy đó đem dối gạt người, lại chỉ cấu Tinh mà cho là Chân Tinh.
Hoặc có kẻ thầm hợp cùng Đạo, ngẫu nhiên cũng biết được một phần chân giả nhưng về sau lại cũng chẳng thấu triệt được diệu lý.
Lại hỏi : Lý của vấn đề này xin được chỉ lại cho rõ.
Đáp : động tĩnh sanh diệt tuần hoàn, người người đều như vậy, tuần hoàn mãi chẳng dừng. Không ngộ được là do học không được chân truyền, tuy gặp Tiên thiên mở lối vào Đạo, mà rốt cuộc chẳng được, không biết phân biệt được chân cùng chẳng chân mà dùng, bởi vì không biết đúng chỗ. Đó là người vì có dâm cấu mà làm cho Tinh hao tổn, dẫn đến hao Nguyên Khí, mà Nguyên Khí ấy vốn là khởi đầu của Khí vô hình, bị hao dần mà giảm đi, nên phải bổ xung cho đủ, mới có thể trường sanh chẳng chết. Tất phải dùng vô hình nhất dạng Nguyên Khí mà bổ, theo cách này mà nhận. Nếu có hữu hình dâm Tinh, từ nơi Khí mà biến, rơi xuống một bậc, thì chẳng thể cùng nhận, chẳng thể cùng bổ. Khi thân hình cùng Tinh hình ngăn cách, có hình cùng vô hình chẳng tương thụ, lý ấy đã vậy. Chẳng biết là Tinh sanh có lúc (chân thời), chỗ cần yếu mà chẳng biết thì chân Khí trong Tinh chẳng đủ, tức bổ Khí cũng chẳng được đủ, chẳng thể thành Tiên. Đến khi thái thủ phối hợp, cũng có lúc (chân thời). Đang lúc cần biết lại chẳng biết thì Tinh Khí chẳng được thật đủ, tức bổ Tinh cũng chẳng được đủ để hóa Khí mà chẳng thể thành Tiên. Nên biết như vậy, vì muốn đủ mà cần phải bổ, thì Nguyên Khí trong thân tự hay trường vượng tròn đủ để có thể phục thai, nhập định, xuất Thần, nhập Tiên. Cổ thánh nói : yểu yểu minh minh, trong đó có Tinh. Tinh ấy rất chân, được chỗ chân đó mới thành Tiên liễu đạo. Ngay đó đúng là nguồn Đạo. Trước phải biết như thế, mà sau ra sức để công phu, có công phu mới có thể được. Nếu người đời nghe qua mà cho là lời hảo huyền, để lại lời thô thì làm sao mà biết được.
Những kẻ theo có niệm lự mà cho là Tinh đều là loại giao cấu Tinh.
Hỏi : Sao là có niệm ?
Đáp : Có niệm là vì có dâm cấu vọng niệm. Nhân dâm niệm mà sanh Tinh, đều là giao cấu Tinh. Nhân dâm sự mà sanh Tinh, cũng là giao cấu bại Tinh. Tinh đã bại thì Khí sẽ hao thì làm sao mà được trường sanh, nên trong Hoa Nghiêm Kinh Phật nói : sơ thiền niệm trụ. Trong Lăng Nghiêm Kinh Phật nói: nếu lấy dâm thân cầu Phật diệu quả, luân chuyển tam đồ, mà chẳng thể thoát ra được. Với Như Lai Niết Bàn đó chẳng phải là đường lối tu chứng. Trần Hư Bạch nói : 'Đại đạo dạy người trước dừng niệm, niệm đầu chẳng trụ cũng bằng không', như vậy Tiên Phật cùng dạy : phải dứt trừ vọng niệm vậy.
Nếu theo vô niệm mà dùng Tinh, thì đúng là Tiên thiên Nguyên Tinh đó.
Hỏi : Sao là vô niệm.
Đáp: Vô niệm là không dâm cấu vọng niệm, hư cực tĩnh đốc, như trước khi có trời, như trước khi có niệm, tại trong chỗ thuần là yểu minh, là Tiên Thiên Nguyên Tinh. Người đời nếu đầy đủ vô niệm thì ngộ, chưa được thầy trao truyền thiên cơ thì trọn quên mà chẳng biết dùng, hoặc biết Nguyên Tinh hư danh, mà chẳng biết được chân thời thật dụng để dùng, thì chẳng khỏi ngay trước mặt mà còn lầm.
Thứ hai, cũng có luyện, mà rốt cuộc cũng chẳng thành công, là tại sao ? Hai ấy nói về có niệm không niệm dâm Tinh Chân Tinh, dâm Tinh luyện không thành, đúng vậy. Mà có biết sơ về Chân Tinh, luyện cũng không thành công, chẳng biết được thì phải làm sao ?
Do chẳng biết phân biệt diệu lý, lại cũng chẳng biết phân biệt diệu dụng.
Chân Tinh thì từ khi hồng mông yểu minh phân đến, huyền diệu có thể thịnh vượng lâu dài, được Tinh Khí trong thân, do vì chẳng hay trường vượng trong Tinh Khí, nếu người đã chẳng biết diệu lý lúc hái giữ (thái thủ), thì cũng chẳng biết dùng diệu công lúc thái thủ.
Chẳng qua chỉ áp đặt cho thế gian phàm phu, truyền được pháp thế gian phàm phu mà thôi.
Phàm phu pháp là việc tà dâm. Hoặc bị người châm biếm chê cười, chẳng tin nhận thuyết tà, mà chuyển sang miệng nói thanh tịnh mà thân tâm việc làm thật chẳng thanh tịnh. Miệng nói Chân Tinh mà rốt chỉ là cỏ rác không vong huyễn thuyết, đều là mưu ma chước quỷ để dối người. Cái học cơm áo đó, tham chấp mà tin làm theo, hi vọng thành tiên, còn xưng là đại ngộ.
Hỏi : "Nếu có người giữ theo chánh hạnh, thật hành thanh tịnh thì sao."
Đáp : "Tuy có thật hành thanh tịnh, nếu chẳng được gặp Tiên truyền : dược sanh đúng lúc, thái thủ phanh luyện đúng lúc, cũng chẳng thể được đan thành Tiên chứng đạo, tu đến Khí tận già chết, vẫn là kẻ phàm phu, chết đi hết 1 đời. Tuyệt nhiên chẳng phải trường sanh bất tử vậy, người đời cùng Tiên gia phân biệt chân giả chẳng đồng, nên mới gọi là phàm phu pháp."
Chết vì theo học luyện dược với kẻ phàm phu, đến kỳ chẳng thành, có thể biết là dược đó chẳng chân, nên biết có khác biệt như vậy vì chân dược bị hiểu theo cách của người đời vậy.
Chết ấy, theo Cát vương điện hạ nói đó. Chẳng thành do chẳng biết đúng lúc dược sanh, chẳng biết đúng thời thái dược, nên chẳng được chân dược. Chẳng hay bổ túc trong thân, chưa phát động Nguyên Khí, nếu Khí được bổ túc thì Đan thành. Dùng bổ chẳng thường đủ, thì Đan ấy chẳng thành, Tiên chẳng thành. Chỉ là phàm hỏa làm sai, chẳng phải Tiên truyền chân dược. Đã biết chẳng thành sao chẳng cầu chân truyền, tầm đến lý diệu dụng của dược.
Do vô niệm mà được Chân Tinh, phải như thế.
Nhân vì vô niệm, thì tâm chân hư tĩnh vậy. Đến được tĩnh đốc hồng mông, thì tự có động mà bổng nhiên có động cơ, đúng là chân Nguyên Tinh Tiên thiên vậy. Kẻ kia nhân vốn có, có thể ngộ mà được.
Tuy có biết Chân Tinh, nếu chẳng được Nguyên Thần linh giác, như thế thì Tinh tuy chân, cũng chẳng dùng được Chân Tinh.
Hoặc có nghe thầy nói Chân Tinh, chỉ biết tên gọi Tinh thôi, do học sơ thấy ít, thời đến mà chẳng biết, chẳng hay dùng Nguyên Thần phối hợp, tể vận thái thủ, phanh luyện, thì cũng chỉ là trước mặt lầm qua, làm sao biết được dùng Chân Tinh. Như thế cũng đã biết chẳng chân, là do tín nhận làm theo chẳng hết lòng đó. "Ngọc Thanh Thượng Diệu Công Đức kinh" nói : "Chẳng siêng tu trì để mất pháp, thì chẳng đặng trường sanh." "Thiên Lai Tử Bạch Hổ Ca" nói : "Nguyệt vô canh Khí kim vô thủy, túng hữu chân diên uổng dụng tâm." (trăng sáng không cảnh Khí, như kim không sanh thủy, cũng vậy có chân diên, tâm còn chưa dứt niệm).
Như trên là chỗ bí diệu của trời, thật như vậy đó.
Chỗ bí diệu của trời, chẳng truyền cho kẻ không đức, chỉ truyền cho người có đức. Do cùng trời xa cách đã lâu, người có đức hợp trời, thì cùng trời như một. Nếu được truyền rồi mà chẳng tu để hợp với trời, thì cũng như chẳng được truyền. Như vậy, lấy Nguyên Thần phân biệt lúc dược sanh. Làm phối hợp như chỗ được thầy dạy, thì được trường sanh chẳng chết, nhập định xuất định, Thần thông không cực. Đó là chỗ bí diệu của trời.
"Linh Bảo Độ Nhân Kinh" nói : "Công dụng của thủy hỏa, chẳng phải thánh chẳng thể truyền."Người thế gian chẳng được biết huyền diệu như vậy.
Thiên Tiên theo bí pháp đó mà được chứng Tiên về trời, riêng chỗ Thiên Tiên biết người thế gian làm sao biết được ? Người hay tu đức hợp trời, tức là thiên nhân mới được biết. Chẳng tu đức mà cầu hợp trời, tức là phàm phu hạ quỷ, đến chết cũng chẳng được biết như vậy. Nếu muốn học đạo tu Tiên trước nên cố gắng, tu hợp thiên đức. Biển hẹn non thề mà chẳng coi nhẹ, phải như vậy đó.
Trong đời, kẻ có thiện căn, thánh chân chuyên tâm tu đức, tinh tiến học đạo, được thượng Tiên cao chân truyền đạo rồi. Do đó phát lời thề lớn, như hải dương sâu, như hình núi lớn, ăn năn sợ hãi những lầm lỗi đã qua, giữ gìn cấm giới. Từ đó về sau chẳng vi phạm, nếu tự tu chẳng biếng lười bê trễ, chẳng vọng truyền cho kẻ không đức, lại chẳng coi nhẹ lúc dược sanh, đúng lúc mà thái dược. "Độ Nhân Kinh" nói : "Trường sanh cửu thị pháp, thượng thiên kỳ cấm chí trọng." (đối với pháp trường sanh cửu thị, trên trời coi trọng việc truyền trao)
Được chân ấy thành Thiên Tiên, tức đồng Thế Tôn Phật.
Được Nguyên Tinh chân ấy, thì Tinh Khí chuyển hóa Khí mà thành Lậu Tận thông, xuất Dương Thần mà siêu hạo hạo kiếp vận. Riêng lẽ chân đó, là Thiên Tiên Đạo, đồng Phật Đạo.
Chẳng được chân ấy, thì nói về thiền bàn về đạo, đều nói huyễn vọng chẳng thật.
Nếu chẳng biết được khi dược sanh, đúng lúc thái dược; thì chẳng thành Lậu Tận thông, chẳng xuất Dương Thần, siêu kiếp vận mà chỉ là một kẻ không đàm vọng ngữ mà thôi.
Ta vừa nói xong : Tinh thủy chân, dược thủy chân rồi.
Cát Vương nói : như nay được nghe minh bạch lúc dược sanh, mới biết chỗ Tiên đạo dùng Chân Tinh, Chân Dược, mới có thể thành Lậu Tận thông, xuất Dương Thần các việc. Mới biết chẳng đồng với các chỗ học thế pháp, chỗ nói của thế pháp là từ nơi trọc Tinh mà lấy vậy.
Một khi áp dụng để tu mới yên giữ để hợp đạo.
Thầy nói tiếp :
Xưa nói : "Khởi đầu chẳng ngộ Tiên gia, rốt cuộc trở thành hổn loạn." Nếu được chân truyền tu hành mới được hợp. Khởi đầu tu hợp đạo sau mới được chứng quả rốt ráo vậy. Hợp đạo xưa nói : "Cửu chuyển công phu, tổng nhất bàn." là như vậy.
Ngộ 1 bước thì hành 1 bước, hành 1 bước thì nhập 1 bước, nhập 1 bước thì được 1 bước. Lúc đó mới biết được cái huyền diệu chẳng thể nói hết trong lời dạy, được quả linh, mà nhanh chứng đạo.
Đã ngộ dược sanh, kịp đúng lúc thái dược, mà đúng lúc thì Dược Chân, Tinh Chân vừa đến bèn hái Chân Tinh ấy. Công phu của Dược là hành công phu hái. Tinh tùy Thần ngưng nhập Khí huyệt, Chu Thiên nấu luyện chưng cất. Lâu sẽ Luyện Tinh công đủ. Hóa Khí đủ mà được Đại Dược, thành Lậu Tận thông trường sanh chẳng tử sơ quả. Trước biết chỗ Thiên Tiên chẳng dễ truyền, có diệu như vậy được quả trường sanh. Linh nghiệm như vậy, khoảng 100 ngày mà được trường sanh, 10 tháng mà nhập định, thai thành xuất Dương Thần, mà Thần thông không cực. Chứng đạo nhanh chóng. Sở dĩ xưa nói, thành tựu chỉ trong 1 hoặc 2 năm, chẳng tự dâm tà. Kẻ bàng môn suốt năm dâm sự đến lão, bệnh, khổ, tử, mà sau hối chẳng kịp vậy.
Kia chẳng phải đây, nếu kết quả tu tập của người đời khác hẵn điều được học ở đây, thì đã tin nhầm tà sư mê hoặc rồi, thật đáng thương sót.
CÒN TIẾP
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks