kết quả từ 1 tới 12 trên 12

Ðề tài: CĂN BẢN PHẬT HỌC

  1. #1

    Mặc định CĂN BẢN PHẬT HỌC

    MỞ ĐẦU

    Nghiên cứu Phật học không phải để cầu danh lợi, mong vinh thân phì gia
    Học Phật cũng không mong đươc trở thành các ông Phật như trong các câu chuyện thần thoại, có quyền năng vô biên, trường sinh bất t ử.
    Mục đích của Phật học là huân tập cho con người hướng tới ba mục tiêu: CHÂN - THIỆN - MỸ, hướng dẫn con người hoàn thiện nhân cách viên mãn; nghĩa là rèn luyện cho con người đầy đủ phúc đức, trí tuệ thành bậc giác ngộ hoàn toàn.
    Mục đích của sự học Phật là phát trí hiểu biết, diệt trừ khổ não, giúp bản thân và những người xung quanh chuyển hóa nhân tâm, đem lại sự thanh bình, an lạc, có được cách nhìn và cách ứng xử bình thản trước mọi khổ đau trần thế.
    Giáo lý nhà Phật rất bao la. TAL chỉ lựa chọn và ghi lại những bài giảng mở đầu của Hoà thượng Thích Tâm Châu, cùng một số luận điểm căn bản của kinh Phật. Xin được giới thiệu cùng bạn đọc những kiến thức sơ đẳng nhất của Phật học.
    TAL
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

  2. #2

    Mặc định

    CÁC KHÁI NIỆM CĂN BẢN


    I- Tam quy
    Một người được gọi là tín đồ Phật giáo hay được gọi là Phật tử, phải thụ Tam quy.
    Tam quy tức là quy y Tam bảo. Nghĩa là, quay về, nương tựa và sống theo ba ngôi báu là Phật, Pháp và Tăng.
    Phật (Buddha) là đấng giác ngộ hoàn toàn.
    Pháp (Dharma) là giáo lý, phương pháp diệt khổ được vui.
    Tăng (Samgha) là đoàn thể hòa hợp, cầu đạo giác ngộ của Phật và hành trì chính pháp của Phật.
    Người Phật tử quy y Tam bảo là người tránh xa sự tà vạy, si mê, nguyện trọn đời sống theo Tam bảo, quyết không tin theo đạo giáo khác.
    II- Tam bảo
    1- Biệt thể Tam bảo
    a) Phật bảo: Hóa thân của Phật, chỉ vào các đấng đã giác ngộ hoàn toàn như đức Phật .
    b) Pháp bảo: Chính Pháp của Phật như Tam học, Tứ đế, Lục độ v.v…
    c) Tăng bảo: Các vị Thánh tăng, Bồ tát tăng…
    2- Trụ trì Tam bảo
    a) Phật bảo: Tranh, tượng Phật.
    b) Pháp bảo: Kinh, Luật, Luận: Tam tạng thánh giáo của Phật.
    c) Tăng bảo: Các vị Tăng sĩ.
    Nếu ai quy y Tam bảo, nhận rõ ý nghĩa Tam bảo, như thực tu hành, thoát ly khỏi các nơi khổ não, được đạt tới cảnh giới giải thoát Niết bàn.
    III- Tam tạng
    Tam tạng là ba kho tàng chứa đựng giáo lý của Phật là: Kinh, Luật và Luận:
    1-. Kinh:. Kinh gọi đủ là Khế kinh, có nghĩa là thâu tóm những giáo, hợp cơ của Phật thành một, hầu hướng dẫn cho sự tu học và đem lại lợi ích chân thực cho chúng sinh. Kinh có kinh Đại thừa và kinh Tiểu thừa.
    2-. Luật: Là giới luật của đức Phật chế cấm, để dạy cho chúng đệ tử ngăn ngừa và diệt trừ nghiệp ác, hầu tiến trên đường thiện chính, làm cửa ngõ vào cảnh giới Niết bàn.
    3-. Luận Là thảo luận, bàn bạc về giáo lý nhà Phật, phát sinh trí tuệ thù thắng.
    Tam tạng có chỗ thêm Bát nhã tạng và Đà la ni tạng thành Ngũ tạng.
    IV- Ngũ giới
    Ngũ giới là năm điều răn:
    1- Không được sát sinh: Không được giết hại các sinh mệnh khác.
    2- Không được trộm cắp: Tôn trọng của người; vật gì không phải của mình không lấy.
    3- Không được tà dâm: Không được ngoại tình.
    4- Không được nói dối: Không nói những lời sai sự thực, có hại.
    5- Không được uống rượu: Không được say sưa rượu chè, có hại cho tư cách, trí tuệ và gia nghiệp.
    V- Bát quan trai
    Bát quan trai là tám biện pháp thực hành một ngày một đêm áp dụng tại gia:
    1. Không sát sinh.
    2. Không trộm cắp.
    3. Không dâm dục.
    4. Không nói dối.
    5. Không uống rượu.
    6. Không trang sức các vật quí báu và không xoa bôi đồ thơm vào mình.
    7. Không ca múa hát xướng, không đi xem, nghe.
    8. Không nằm giường cao, rộng.
    Và một trai pháp là không ăn phi thì, nghĩa là không ăn quá giờ ngọ.
    Việc thụ trì 8 pháp quan trai này hoặc phải có giới sư truyền thụ hay là tự mình phát nguyện thụ trì ngay ở nhà cũng được. Làm đúng, ba nghiệp được thanh tịnh, do đó thiện nghiệp phát triển, gieo sâu hạt giống vô lậu giải thoát trong tâm điền, khỏi sa đường ác và sẽ sinh về nơi An lạc.
    VI- Thập thiện
    1- Thân nghiệp
    . Không sát sinh, hay làm việc hộ sinh.
    . Không trộm cắp, hay làm hạnh bố thí.
    . Không dâm dục, thường giữ hạnh thanh tịnh.
    2- Khẩu nghiệp
    . Không nói dối, nói chân thực.
    . Không nói thêu dệt, nói đúng nghĩa.
    . Không nói lưỡi đôi chiều, nói hòa hợp.
    . Không nói thô ác, nói dịu dàng.
    3. Ý nghiệp
    . Không tham lam, quán bất tịnh, thực hành thiểu dục (ít ham muốn) tri túc (biết đủ).
    . Không sân hận, quán từ bi , thực hành nhẫn nhục.
    . Không tà kiến (si mê), quán nhân duyên , phát trí hiểu biết.
    Last edited by thichanlac; 05-09-2013 at 02:39 PM.
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

  3. #3

    Mặc định CĂN BẢN PHẬT HỌC

    MỘT SỐ KHÁI NIỆM MỞ RỘNG

    I- Tam học
    1- Giới học
    Giới luật để ngăn ngừa và trừ diệt tam nghiệp. Giới học có ba loại:
    a) Nhiếp luật nghi giới: Các giới luật của Phật tử tại gia , các bậc Sa di, Bồ tát .
    b) Nhiếp thiện pháp giới: Các pháp lành như thập thiện v.v…
    c) Nhiêu ích hữu tình giới: Làm việc cứu khổ cho vui đối với chúng sinh.
    2- Định học
    Thiền định làm tâm ý vẳng lặng, trong sạch không xáo động.
    Định học có 8 bậc gọi là Bát định.
    3- Tuệ học
    Tuệ học có 3 thứ: Văn, tư, tu. Gọi là Tam tuệ
    a- Văn tuệ: Nghe, học, tìm hiểu kinh giáo mà phát sinh trí tuệ.
    b- Tư tuệ: Suy nghĩ đạo lý, phát sinh trí tuệ.
    c- Tu tuệ: Tu tập thiền định, phát sinh trí tuệ.
    Ba pháp sinh trí tuệ này đạt được sẽ dứt trừ mê lầm và chứng được chân lý.
    II- Bát chính đạo
    Phật dạy chúng sinh cần đi theo tám con đường chính dưới đây:
    1- Chính kiến: Thấy, biết chân chính.
    2- Chính tư duy: Suy nghĩ chân chính.
    3- Chính ngữ: Nói năng chân chính.
    4- Chính nghiệp: Hành động chân chính.
    5- Chính mệnh: Nghề sống chân chính.
    6- Chính tinh tiến: Gắng làm chân chính.
    7- Chính niệm: Nhớ nghĩ đạo chân chính.
    8- Chính định: Nhập thiền định chân chính, vô lậu và thanh tịnh.
    III Lục hoà
    1- Thân hòa đồng trụ: Thân hòa hợp cùng làm việc Phật, cùng chung sống một nơi.
    2- Khẩu hòa vô tránh: Miệng hòa không cãi cọ nhau, luôn luôn nói lời hòa dịu.
    3- Ý-hòa đồng duyệt: Tâm ý hòa cùng tin tưởng, vui vẻ trao đổi lẫn nhau.
    4- Giới hòa đồng tu: Cùng hòa hợp tu theo giới pháp của Phật.
    5- Kiến hòa đồng giải: Mọi sự hiểu biết chân chính, sâu rộng, đồng giải tỏ cho nhau.
    6- Lợi hòa đồng quân: Có quyền lợi gì đồng chia đều cho nhau cùng hưởng.
    Sáu pháp hòa kính này, đem lại sự an hòa cho mọi người, để sống theo lời Phật dạy, tinh tiến trên đường xây dựng và giải thoát.
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

  4. #4

    Mặc định CĂN BẢN PHẬT HỌC

    CÁC NGUYÊN LÝ CĂN BẢN

    I- Thế giới
    Thế chỉ cho thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai. Giới chỉ cho không gian, như đất đai mà chúng sinh nương ở. Thế giới là chỉ chung cho không gian và thời gian, trong đó có ý nghĩa liên tục và chuyển biến. Thế giới còn gọi là thế gian
    Theo Phật học, thế gian có 2 dạng::
    1. Hữu tình thế gian: Chỉ về thân thể của các loài chúng sinh, do nghiệp nhân mà cảm chịu quả báo chính thức về thân thể ấy. Quả báo này gọi là chính báo.
    2. Khí thế gian: Chỉ về đất đai, núi sông, nhà cửa, áo mặc, cơm ăn…những vật ấy là chỗ nương tựa của chúng sinh để sống. Quả báo này gọi là Y báo.
    Thế giới xoay vần không ngớt. Mỗi thế giới đều trải qua 4 thời kỳ: thành, trụ, hoại, không. Mỗi thời kỳ gồm có 20 tiểu kiếp. Mỗi kiếp chừng 16.000.000 năm. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Hai mươi trung kiếp là một đại kiếp.
    Thế giới vô thường, mà liên tục vận động, biến đổi.
    II- Sắc và Không
    Sắc và Không là hai trạng thái của các vật nơi cõi trần: Sắc là có hình tướng hiện ra thấy được; Không là không hình tướng, không thấy được.
    Kinh Bát Nhã của Phật giáo có câu:
    Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc
    Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.
    Theo quan niệm về nhân sinh của Phật giáo, muôn vật do sự biến đổi mà sinh ra, vốn không có thật. Thân thể của chúng ta hay của vạn vật là Sắc, chỉ có tạm trong một thời gian sống. Sau đó chết đi, thân xác tan rã biến trở lại thành Không. Rồi từ chỗ Không lại biến hóa thành hình tướng tức là Sắc.
    Ai nhận biết được chân lý Sắc - Không này thì không còn chấp cái Sắc tướng, tức là chấp cái thân xác nơi cõi trần nầy, thì người đó dứt được phiền não.
    Các vật sống trên cõi trần không bền bỉ, thấy có đó (Sắc) rồi lại mất đó (Không). Sự có không ấy rất dễ dàng và mau lẹ như bọt nước trôi sông, như sương đeo ngọn cỏ.
    Nên nhớ rằng, cái Hư Không đó, không phải là hoàn toàn trống rổng, không có gì, mà cái Hư Không ấy là một khối sinh động mãnh liệt vô biên, bao gồm đủ mọi cảnh giới, mọi trạng thái, đủ các pháp, mà từ đó sinh ra tất cả.
    Không sinh ra Sắc, rồi Sắc trở lại thành Không. Vạn vật cứ thế biến đổi một cách tuần hoàn trong vòng sanh tử luân hồi.
    Mặ khác, cõi trần thuộc Dục giới, con người ham muốn tham lam, muốn gom về mình càng nhiều càng tốt. Túi tham không đáy chứa mãi chẳng đầy.
    Lòng tham dục khiến con người đắm đuối mãi trong Tứ Đổ tường: Tửu, Sắc, Tài, Khí, Sa mê vào bả lợi danh, cứ quanh quẩn trong trường mộng ảo, không xét kỹ cuộc đời này là giả tạm. Các vật sắp bày trên mặt đất đều sẽ bị hư hoại, mà cứ tham lam tranh đoạt, bỏ chỗ thật mà đi tìm cái giả. Cả cái xác thân này cũng chỉ là giả tạm, khi thân xác hư hoại thì linh hồn sẽ rời bỏ thân xác để trở về chỗ Hư Không.
    III- Hữu vi – Vô vi
    Hữu vi là những sự vật do nhân duyên tạo tác mà thành như: năm căn, năm cảnh (trần), vô biểu sắc v.v…. Hữu vi pháp dù trong một sát na hay trong một kỳ hạn nào, nó đều trải qua bốn tướng trạng: sinh, trụ, dị, diệt.
    Vô vi: Là cái chân lý, có nghĩa là không còn nhân duyên tạo tác, không còn bốn tướng trạng: sinh, trụ, dị, diệt. Vô vi còn có những tên riêng như: Niết bàn, Pháp tính, Thực tướng, Pháp giới v.v…
    Say đắm hữu vi phải lăn lộn trong sinh tử, hướng tiến vô vi là Niết bàn giải thoát.
    Theo quan niệm của Nho giáo, Hữu vi là có làm, tức là có tạo tác, có nhân duyên tạo tác, có can thiệp vào tự nhiên, có suy nghĩ tính toán, từ đó phát sinh tình cảm. Hữu vi thì vô thường. Trái với Hữu vi là Vô vi.
    Bố thí mà trông phước báo đáp lại, ấy là Hữu vi; còn bố thí một cách tự nhiên, không hề tưởng đến quả báo, đó là Vô vi.
    Cũng theo Nho giáo Vô vi cũng chính là Hữu vi, mà thực chất Vô vi mới chính là Hữu vi
    IV- Hữu lậu – Vô lậu
    LẬU là tên riêng chỉ cho phiền não.
    Sự vật hàm tàng phiền não là hữu lậu. Hết thảy sự thể trong thế gian là hữu lậu.
    Sự thể xuất thế gian, xa phiền não là vô lậu.
    Đối với chúng sinh do hành động tạo thành phiền não, phải lăn lộn trong sinh tử.
    Hữu lậu vô lậu nói lên những sự vẩn đục, trong sạch, lên cao, xuống thấp trong từng tâm niệm của chúng sinh.
    V- Vô ngã – Vô thường
    Sự vật trong vũ trụ đều do nhân duyên tác hợp, không có gì là có tự thể, tự chủ độc nhất, nên Phật học cho là VÔ NGÃ.
    Sự vật đã không có tự thể, tự chủ, thường hằng bất biến. Tức là nó luôn luôn biến chuyển, không cố định, nên Phật học cho là VÔ THƯỜNG.
    VI- Vô thuỷ - Vô chung
    Sự vật đã bị chi phối trong lý nhân quả, thì thời gian tính của nó là liên tục.
    Nhân thành quả, quả thành nhân, sinh diệt không ngừng, nên không thể cho nó là có lúc ban đầu và có lúc sau cùng. Với thời gian liên tục ấy Phật học gọi là VÔ THỦY (không có lúc ban đầu), VÔ CHUNG (không có lúc sau cùng).
    VII- Vô biên – Vô tận
    Sự vật do tạo tác mà có, nó có tính cách hết sức rộng lớn, không cùng tận, không biên giới. Vì thế giới nhiều, chúng sinh nhiều, tâm hạnh nhiều… nên vô biên, vô tận.
    VIII- Nhân quả
    Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động, hay nói chung là một sự vật đã có sự phát khởi ở ban đầu, tất yếu có sự đáp ứng cuối cùng, đó là thuộc trong đạo lý nhân quả.
    Nhân là nguyên nhân, Quả là kết quả. Tỷ dụ: học thì biết chữ; trồng cây thì có trái; đánh trống thì có tiếng. Nhân quả chi phối tất cả.
    Nhân quả rất phức tạp: Có khi nhân nào sinh quả ấy. Có khi nhân tốt sinh quả xấu; nhân xấu sinh quả tốt. Có khi nhân không thể sinh ra quả được vì thiếu duyên v.v Nhân làm quả; quả lại làm nhân, chuyển biến linh động vô cùng.
    Thời gian tính thực hiện lý nhân quả ấy cũng không nhất định: Có khi có nhân, có quả liền, như đánh chuông thấy tiếng ngay. Có khi trồng nhân hiện tại, kết quả trong hiện tại. Có khi trồng nhân hiện tại sẽ có kết quả trong một đời hay hai, ba hoặc nhiều đời sau này. Nhưng, dù gần hay xa, hễ có nhân, đủ duyên là có quả.
    Người Phật tử hiểu rõ đạo lý nhân quả tức là hiểu rõ được sự vật, không bị mê lầm, không bị cám dỗ và cố gắng trồng nhân tốt để hưởng quả tốt. Học Phật phải có trí tuệ, phải có đức tự chủ, tự tín: Không tin thần quyền, bói toán, đồng bóng, vàng mã…, phải tích cực sống theo lẽ sống của đạo, mới xứng đáng là người Phật tử chân chính.
    IX- Nhân duyên
    Nhân quả hình thành là nhờ có mọi duyên giúp đỡ.
    Nhân là thứ có năng lực phát sinh. Duyên là những thứ giúp đỡ cho nhân kia phát sinh, tăng trưởng và đưa tới kết quả. Tỷ dụ:Hạt lúa (nhân) nhờ có ruộng đất, cày bừa, bón tưới…làm duyên thành cây lúa và bông lúa (quả).
    Người Phật tử hiểu lý nhân duyên, tức là hiểu rõ mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ này đều do sự tác hợp của mọi thứ mà thành, không phải tự nhiên có hay một người nào tạo ra. Do đó có sự tác thành và tác hại lẫn nhau, nếu nó hòa hợp hay không hòa hợp.
    Lý nhân duyên tạo cho người Phật tử một sự hiểu biết chân chính.
    X- Luân hồi - Nghiệp báo
    Luân hồi là bánh xe quay. Nghiệp báo là những hành động tạo tác nơi thân, miệng, ý, sau một thời gian nó sẽ trả lại cái kết quả như hành động, tạo tác trước.
    Theo nguyên lý nhân quả, dù nhanh hay chậm, đã có nhân tất nhiên phải có quả, quả lại sinh nhân, nhân lại sinh quả, nối tiếp vô tận trong vòng luân hồi nghiệp báo.
    Làm thiện tiến lên, làm ác trụt xuống, vòng quanh trong sáu ngả: Thiên, Nhân, Quỉ thần, Địa ngục, Quỉ đói và súc sinh, như bánh xe quay tròn không dứt, nên gọi là luân hồi, nghiệp báo.
    XI- Sinh tử - Giải thoát - Niết bàn
    SINH TỬ là một hình tướng của hết thảy chúng sinh. do tác động mê lầm chiêu cảm. Sinh tử theo nghĩa Phật nói trong kinh Tăng già tra thì “Thức diệt là tử, Thức khởi là sinh”. Có nghĩa là: cái do ngũ uẩn tụ họp bắt đầu nẩy ra là sinh, ngũ uẩn rã rời là tử. Sinh tử, tử sinh; như vòng lửa quay tròn, tất nhiên phải chịu nhiều sự đau khổ.
    GIẢI THOÁT là cởi mở sự ràng buộc, được tự do, tự tại. Giải thoát đây là cởi mở sự ràng buộc của tác động mê lầm, thoát khỏi khổ quả trong cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nghĩa là thoát ly cảnh sinh hoạt bó buộc, khổ đau trong sinh tử luân hồi, phục hồi lại năng tính tự tại, tiến đến nơi giải thoát Niết bàn không sinh diệt.
    NIẾT BÀN nghĩa là diệt trừ hết phiền não ràng buộc, vượt khỏi sinh tử luân hồi, chứng nhập nơi yên tịnh, sáng suốt, tự tại.
    Sinh tử là thế giới ràng buộc, đau khổ; giải thoát, Niết bàn là trạng thái tự tại, trong sạch, sáng suốt, an vui và thường còn.
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

  5. #5
    Đai Đen Avatar của spirit82
    Gia nhập
    Oct 2012
    Nơi cư ngụ
    Linh thứu cung
    Bài gởi
    693

    Mặc định

    Không biết thầy ân lạc có thể giới thiệu qua 1 chút để mọi người được biết về tuổi tác, là tỳ kheo tăng hay cư sỹ hay người nghiên cứu ?

    Trích dẫn Nguyên văn bởi thichanlac Xem Bài Gởi
    SINH TỬ là một hình tướng của hết thảy chúng sinh. do tác động mê lầm chiêu cảm. Sinh tử theo nghĩa Phật nói trong kinh Tăng già tra thì “Thức diệt là tử, Thức khởi là sinh”. Có nghĩa là: cái do ngũ uẩn tụ họp bắt đầu nẩy ra là sinh, ngũ uẩn rã rời là tử.
    Không biết thầy ân lạc có thể chỉ điểm thêm rõ rệt ở điểm này không ạ. Cụ thể ở đây hoàn cảnh ấy Phật nói Thức đó là gì? định nghĩa rõ.

    Cái gì là cái sinh ra do ngũ uẩn tụ họp? và nếu thế khi ngũ uẩn rã rời cái đó có còn không?
    Cả cái xác thân này cũng chỉ là giả tạm, khi thân xác hư hoại thì linh hồn sẽ rời bỏ thân xác để trở về chỗ Hư Không.
    Spirit có cảm nhận những quan điểm này rất giống với quan điểm của Lão tử.

    Cái gì đó nhìn không thấy, nghe không thấy, nắm không được, truy cứu đến cùng cũng không biết gì được, chỉ thấy trộn lộn làm một thôi. Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt, không thể gọi tên, nó lại trở về cõi vô vật, cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể, thấp thoáng, mập mờ. Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi.

    Lão tử cùng thời với Phật thích ca, ông cho rằng cuộc đời vốn là vô ích giả tạm, vì cái có vốn là đang ở trong cái không, lão tử chỉ thích 1 mình trong cõi không không huyền bí, nuôi dưỡng cái linh hồn. Giáo lý, danh xưng, thể tướng tạm bên ngoài phân biệt chúng sanh thôi chứ ai cũng như ai, tất cả đều là 1 linh hồn (như trên), như nhau cả. Xét về Giới, Lão tử cũng không còn màng chuyện nhân thế, ly gia cắt ái sống nơi hang đông thâm sâu.
    Lão tử cũng vô thần, Đạo là cái gì đó còn sinh ra trước cả Thượng đế.

    Không biết thầy thích ân lạc có thể chỉ rõ điểm nào phân biệt Lão tử và Phật?
    Hay không phân biệt, Lão tử đạt giác ngộ như Phật?

  6. #6

    Mặc định

    Rất cám ơn spirit82 đã ghé thăm và chia sẻ !
    TAL rất muốn đàm đạo thật nhiều với spirit về Đạo về Đời, nhưng kể lể ở đây e là bất tiện. Nếu có thể mình sẽ trao đổi qua email: thichanlac04@gmail.com hoặc qua YM: thichanlac04 nhé !
    Về chuyện sinh tử: Theo thiển nghĩ của TAL Đới người cũng như vạn vật trong vũ trụ đều do nhân duyên tác hợp và biến đổi liên tục. Sinh và tử là các hình tướng tồn tại của một đối tượng. Sinh không có nghĩa là bắt đầu. Tử không đồng nghĩa với kết thúc. Một đối tượng được coi là sinh hay tử hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức của mọi người xung quanh. Trong bài viết tới đây, TAL sẽ nói thêm về Ngũ uẩn nhé !
    Về chuyện Lão tử với Phật Thích ca: Theo TAL được biết, hai vị là người cùng thới (Lão tử sinh 15/2/571 TrCN tại nước Sở, còn Phật Thích ca sinh ngày 8/4 năm 566 TrCN ở Kim Ni Bạc Nhĩ). Việc hai người có chung một số quan niệm trong tư tưởng âu cũng là lẽ tự nhiên (Chắc hăn Spirit còn nhớ Định luật June - Lenx do hai nhà KH nghiên cứu độc lập và công bố đồng thời).
    Rất có thể những hiểu biết của TAL là chưa đúng, xin lắng nghe ý kiến của Spirit và quý đạo hữu.
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

  7. #7
    Đai Đen Avatar của spirit82
    Gia nhập
    Oct 2012
    Nơi cư ngụ
    Linh thứu cung
    Bài gởi
    693

    Mặc định

    Cám ơn sự quan tâm của "thầy", nhưng sao thầy không giới thiệu chút về mình để spirit cũng như mọi người được tiện biết, như thế có lẽ dễ dàng thuận tiện hơn trong trao đổi chăng?
    Spirit không ưa thích ym, facebook, trong giới là phàm, chỉ là người tìm hiểu, thỉnh thoảng vào diễn đàn, những gì mang ra trao đổi không mật, cái cơ mật thì không trao đổi được, dù là liên lạc ymail hay gặp gỡ.
    Sinh tử là chuyện quan trọng, cơ bản là không đơn giản, những ai hiểu được nó đa phần cũng là " đắc đạo " rồi, vậy spirit đợi bài viết tiếp của thầy mong đc chỉ điểm thêm.

  8. #8

    Mặc định

    MỘT SỐ KHÁI NIỆM MỞ RỘNG

    I- Pháp giới – Pháp tính
    PHÁP GIỚI: Pháp là các sự vật, Giới là ranh giới. Các pháp đều có tự thể nhưng chia ra từng ranh giới bất đồng của mỗi pháp, nên gọi là pháp giới.
    Pháp giới được chia thành mười loại: 1. Phật pháp giới. 2. Bồ tát pháp giới. 3. Duyên giác pháp giới. 4. Thanh văn pháp giới. 5. Thiên pháp giới. 6. Nhân pháp giới. 7. A tu la pháp giới. 8. Quỉ pháp giới. 9. Súc sinh pháp giới. 10. Địa ngục pháp giới.
    PHÁP GIỚI là ranh giới của các pháp và cũng là thể tính của các pháp
    PHÁP TÍNH: Thể tính của các pháp là chân như thực tướng. Chân như là bản thể của vạn pháp; ở mọi nơi tính nó không biến đổi, nên gọi là PHÁP TÍNH.
    Chứng nhập pháp tính là mục đích tu hành cứu cánh của Phật tử.
    II- Nghiệp - Phiền - Hoặc - Chướng
    1- Nghiệp là những hành động, tạo tác do ba nơi thân, miệng, ý tạo nên.
    Nghiệp có ba tính: thiện, ác và vô ký. Làm thiện là thiện nghiệp, làm ác là ác nghiệp, không thiện, không ác là vô ký nghiệp. Đối với những hành động thiện, ác, vô ký ấy gọi là nghiệp nhân và nó sẽ đem lại những kết quả: vui, khổ, không vui, không khổ thời gọi là nghiệp báo, nghiệp quả. Nghiệp thuộc về đời đã qua là túc nghiệp. Nghiệp trong thời hiện tại là hiện nghiệp.
    Nghiệp còn có hai dạng là: Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp là chỉ cho những hành động nơi thân, miệng có thể biểu lộ, người ta trông thấy, nghe thấy được. Vô biểu nghiệp là hành động do nơi ý nghĩ, không biểu lộ ra, người ta không thể trông thấy nhưng, nó không phải là không kém phần tai hại.
    2- Phiền não Những thứ mê hoặc như: tham, sân, si …làm phiền cho tâm, làm não cho thân; làm cho chúng sinh bị ràng buộc, buồn phiền, đau khổ trong vòng sinh tử luân hồi.
    3- Hoặc là tên riêng của phiền não và có nghĩa là mê lầm. Hoặc có 3 thứ:
    a- Kiến tư hoặc: Tức kiến hoặc và tư hoặc.
    Kiến hoặc là cố chấp tư tưởng tà kiến không thấu rõ chân lý.
    Tư hoặc là tâm tư tham đắm sự vật, hoàn cảnh.
    b- Trần sa hoặc: Trần sa là cát bụi. Cảnh giới vô số, chúng sinh vô lượng, tâm mê lầm của chúng sinh cũng nhiều như cát bụi. Do tâm mê lầm này không thấu suốt được các pháp môn, làm chướng ngại cho hạnh lợi tha của Bồ tát, nên gọi là Trần sa hoặc.
    c- Vô minh hoặc: Sự mê lầm sâu dầy và vi tế che lấp chân lý thực tướng của trung đạo và làm cỗi gốc cho sự sống chết.
    4- Chướng là tên riêng của phiền não. Phiền não làm chướng ngại chính đạo, hư hại thiện tâm nên gọi là chướng. Chướng có ba dạng:
    a Phiền não chướng: Những thứ như: tham, sân, si v.v…
    b Nghiệp chướng: Những hành động như giết cha, mẹ, A la hán.. v.v…
    c Báo chướng: Chịu khổ báo trong địa ngục, ngã quỉ, súc sinh v.v…
    III- Căn - Trần - Thức - Xứ - Giới
    1. Căn Gồm lục căn: nhãn, nhĩ , tỵ , thiệt , thân và ý căn (nghĩa là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Căn có nghĩa là căn bản, chủ động phát sinh ra ngành ngọn khác, như do mắt mà sinh ra sự nhận thức của mắt v.v…
    2. Trần tức lục trần: sắc , thanh , hương , vị , xúc và pháp trần (nghĩa là hình sắc, giọng tiếng hương vị, mùi vị, va chạm và các pháp). Trần nghĩa là bụi nhơ, là hết thảy sự pháp của thế gian có tính cách nhiễm ô chân tính.
    3. Thức tức lục thức: nhãn , nhĩ , tỵ , thiệt , thân , và ý thức. Thức có nghĩa là hiễu biết (phân biệt rõ ràng); tâm đối với cảnh phân biệt rõ ràng gọi là Thức.
    Ngoài 6 thức trên còn thêm thức thứ 7 là Mạt na thức có nghĩa là tư lượng (suy nghĩ, so lường) và thức thứ 8 là Tạng thức.
    4. Xứ tức thập nhị xứ, còn gọi là thập nhị nhập, tức là 6 căn, 6 trần ở trên, thành 12 xứ. Xứ” gồm lục căn, lục trần hòa hợp.
    5. Giới tức thập bát giới: lục căn, lục trần và lục thức thành thập bát giới. Giới có nghĩa là giới hạn, Mỗi sự vật hiện tượng đều có giới hạn, địa vị riêng biệt của nó mà không lẫn lộn.
    Căn, trần, thức, xứ, giới vọng động, sẽ phát sinh trí tuệ.
    IV- Giác
    Chữ giác tiếng Phạm gọi là Bồ đề. Giác có hai nghĩa: Giác sát và Giác ngộ.
    Giác sát nghĩa là xét biết việc ác, không bị xâm hại.Giác ngộ là khai ngộ chân lý.
    V- Nhị trí
    Trí là trí tuệ. Sự hiểu biết trong thứ bậc tu chứng khác nhau, nên trí tuệ cũng do đó mà phân định khác nhau.
    NHỊ TRÍ: Hai thứ trí tuệ:
    1. Căn bản trí: Căn bản trí còn gọi là: như lý trí, vô phân biệt trí, chính thể trí, chân trí, thực trí. Do trí này phát sinh các trí tuệ khác nên gọi là căn bản.
    2. Hậu đắc trí: Trí tuệ sau khi được thực tính của chân như mà hiện ra, không sinh chấp trước mê muội là có thực ngã, thực pháp. Hậu đắc trí còn gọi là: như lượng trí, hữu phân biệt trí, tục trí, biến trí.
    VI- Nhị đế - Tam đế
    Đế có nghĩa là đạo lý chân thực không hư vọng.
    NHỊ ĐẾ: là hai thứ đạo lý chân thực:
    1. Chân đế: Thực nghĩa của chân lý. Là thực nghĩa mà các bậc Thánh nhận thấy.
    2. Tục đế: Thực nghĩa của việc thế tục. Còn gọi là Thế đế .
    TAM ĐẾ: Ba thứ đạo lý chân thực:
    1. Không đế: Sự vật do nhân duyên sinh là giả hợp nhưng, thể tính không có giả tướng của các pháp. Còn gọi là Chân đế.
    2. Giả đế: Thể tính tuy không nhưng, vẫn đầy đủ các pháp. Còn gọi là Tục đế.
    3. Trung đế: Trung là trung dung. Các pháp xưa nay không ra ngoài có, không cũng tức nơi có. Tam đế do tam quán không quán, giả quán và trung quán mà ra.
    Quán sát sự vật là không giả, là thế đế, bình đẳng chứng nhập trung đế, chân đế là thực nghĩa của chân lý.
    VII- Tam thân
    Chư Phật có ba thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân.
    1. PHÁP THÂN: Chân thân của Phật, đầy đủ vô lượng pháp công đức. Còn gọi là tự tính thân là thể tính chân như pháp giới thanh tịnh, bình đẳng của hết thảy pháp.
    2. BÁO THÂN: Do gây nhân công đức nhiều đời mà hiển thị thân Phật trang nghiêm. Thân này còn gọi là Thụ dụng thân: Nơi mình do tu tập nhiều công đức, được sắc thân thanh tịnh và được hưởng pháp lạc rộng lớn nhiệm mầu, gọi là Tự thụ dụng thân. Đối với hàng Thập địa Bồ tát, chư Phật thị hiện sắc thân, hiện đại thần thông, chuyển pháp luân, làm cho các vị khỏi ngờ, được thụ dụng pháp lạc của Đại thừa, như thế gọi là Tha thụ dụng thân.
    3. ỨNG HÓA THÂN: Do Phật trí biến hóa nhiều thân, tùy theo căn cơ chúng sinh mà hóa độ. Ứng hiện thân trong Thập địa Bồ tát là Thắng ứng thân. Ứng hiện thân trong phàm phu, Thanh văn, Duyên giác là Ứng liệt thân.
    Tam thân Phật là chân như, do công đức từ bi, trí tuệ mà có.
    VIII- Tam đức
    1. Đại Niết bàn có ba đức, đầy đủ cả thường (không thay đổi), lạc (an vui chân thực), ngã (tự tại), tịnh (trong sạch thực sự) là: Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát.
    PHÁP THÂN: Bản thể của Phật, lấy pháp tính thường trụ bất diệt làm thân.
    BÁT NHÃ: Trí tuệ. Trí tuệ của Phật hiểu biết rõ ràng trạng thái các pháp như thực, bình đẳng, không thêm, bớt, sinh, diệt.
    GIẢI THOÁT: Xa lìa hết thảy sự ràng buộc; được tự tại.
    2. Về Nhân tâm, chư Phật có ba đức: Trí đức, Đoạn đức và Ân đức
    TRÍ ĐỨC: Phá hết thảy sự mê lầm không biết; đầy đủ vô thượng giác.
    ĐOẠN ĐỨC: Đoạn trừ hết thảy phiền não; đầy đủ vô thượng Niết bàn.
    ÂN ĐỨC: Đầy đủ tâm đại bi, cứu giúp hết thảy chúng sinh.
    3. Về nhân quả, Phật có ba đức: Nhân viên đức, Quả viên đức và Ân viên đức.
    NHÂN VIÊN ĐỨC: Sự tu hành trong ba đại kiếp viên mãn.
    QUẢ VIÊN ĐỨC: Trí đức, đoạn đức đều hoàn toàn viên mãn.
    ÂN VIÊN ĐỨC: Độ hết thảy chúng sinh được giải thoát hoàn toàn.
    Toàn thể ba đức trên, chứng thực sự giác ngộ cao cả của chư Phật và lòng thương vô biên của chư Phật.
    IX- Tam giới
    Tam giới là ba cõi thế giới của phàm phu còn phải đi, lại trong sinh tử.
    1. Dục giới: Cõi có ý tưởng về ham muốn hưởng thụ.
    2. Sắc giới: Cõi có những hình sắc tinh hảo về thân thể, danh lợi.. và bỏ được hai thứ ham muốn (Dâm dục, ăn uống) của Dục giới. Cõi Sắc này gọi là cõi Tứ thiền
    3. Vô sắc giới: Cõi này không còn hình sắc, vật chất, thân thể, danh lợi.. chỉ dùng tâm thức trụ vào thiền định sâu xa, vi diệu mà thôi. Cõi này gọi chung là cõi Tứ không: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng xứ.
    Ba cõi không yên, như trong nhà có lửa, muốn rời bỏ ba cõi phải tiến tu tịnh nghiệp.
    X- Tứ đế
    1- Khổ đế: Chúng sinh chưa thoát sự ràng buộc trong đời, phải chịu những sự đau khổ: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ân ái chia lìa khổ, cầu không được khổ, oán ghét phải gặp khổ, áp bức đầy ải khổ. Đây là sự kết quả mà chúng sinh gây nhân phải chịu.
    2- Tập đế: Những nguyên nhân hành động, tạo tác của chúng sinh gây ra khiến chúng sinh phải chịu quả khổ trên. (Tập đế nói về 12 nhân duyên).
    3- Diệt đế: Muốn hưởng quả Niết bàn thanh tịnh, cần diệt trừ mầm mống phiền não.
    4- Đạo đế: Con đường chân chính là nguyên nhân hướng dẫn chúng sinh đến quả vị Niết bàn (con đường này là bát chính đạo).
    XI- Ngũ uẩn
    1. Sắc uẩn: (Hình sắc): Tức là chỉ cho những vật chất hữu hình như ngũ căn: nhãn , nhĩ , tỵ , thiệt , thân và ngũ trần
    2. Thụ uẩn: (Cảm thụ). Tác dụng của Tâm đối với cảnh khởi ra sự cảm thụ: vui, buồn và không vui, không buồn.
    3. Tưởng uẩn: (Tưởng tượng). Tác dụng của tâm đối với cảnh khởi ra sự tưởng tượng.
    4. Hành uẩn: (Công năng tạo tác). Tác dụng của Tâm đối với cảnh khởi ra hành động .
    5. Thức uẩn: (Nhận thức): Tác dụng của tâm đối với cảnh nhận biết, phân biệt rõ ràng sự vật. Thức uẩn chia làm tám loại, thường gọi là bát thức:
    Nhãn thức: Mắt nhận biết sắc tướng.
    Nhĩ thức: Tai nhận biết thanh âm.
    Tỵ thức: Mũi nhận biết hương vị.
    Thiệt thức: Lưỡi nhận biết các mùi.
    Thân thức: Thân nhận biết các cảm xúc như nóng, lạnh, ngứa ngáy…
    Ý thức: Ý nhận biết, phân biệt rõ ràng các sự vật đối tượng dù hữu hình hay vô hình.
    Mạt na thức Thức này suy nghĩ, so lường và chấp chặt ngã pháp.
    A lại da thức: Thức này là kho tàng chứa chất các chủng tử (hạt giống) và phát khởi hiện hành (sự vật do hành động hiển hiện).
    XII - Thập nhị nhân duyên
    Theo lý nhân duyên, sự vật trong vũ trụ có nguyên nhân phải có nhiều trợ duyên mới đem tới kết quả. Mười hai nhân duyên là sợi giây chuyển tiếp, tạo thành các sự vật:
    1- Vô minh: Sự mê lầm, nhận giả làm thực.
    2- Hành: Hành động sai lầm.
    Hai nhân duyên này thuộc về nhân quá khứ .
    3- Thức: Phân biệt sai lầm.
    4- Danh sắc: Tâm (tinh thần) và sắc (vật chất) hòa hợp nhau tạo ra vật thể.
    5- Lục nhập: Sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc nhập với 6 trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thành hình thể và sinh trưởng.
    6- Xúc: Va chạm với cảnh vật.
    7- Thụ: Cảm thụ sự đáp ứng của cảnh vật.
    (Năm nhân duyên này là quả hiện tại )
    8- Ái: Tham ái (ham muốn, tơ vương).
    9- Thủ: Giữ gìn.
    10- Hữu: Gây sự tạo tác, sẽ có cái thân sau này.
    (3 nhân duyên này là nghiệp nhân hiện tại )
    11- Sinh: Sinh mệnh.
    12- Lão, tử: Già và chết.
    Hai nhân duyên này là quả báo vị lai
    Mười hai nhân duyên trên đây là chương trình tu tiến của bậc Duyên Giác.
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

  9. #9

    Mặc định CĂN BẢN PHẬT HỌC

    NHỮNG YÊU CẦU VỚI PHẬT TỬ

    I- Từ bi – Bình đẳng
    Từ bi, bình đẳng là mục đích, là phương pháp độ sinh của đạo Phật.
    Từ bi: có nghĩa là cho vui, cứu khổ. Tâm từ bi coi tất cả chúng sinh như cha mẹ, quyến thuộc…, nên thường nghĩ tới sự cho vui, cứu khổ họ. Tâm từ bi thương những người cố chấp nhân, ngã…, Làm cho họ hiểu sự vật là “không”, để cho họ khỏi khổ, được vui. Tâm từ bi thương xót chúng sinh lăn lộn trong sinh tử…, dầu là không duyên gì với họ, chư Phật vẫn luôn luôn cho họ tự nhiên được sự lợi ích trong sự cho vui, cứu khổ.
    Bình đẳng: Đối với tất cả mọi sự đều bằng nhau, không phân biệt cao, thấp, sang, hèn.
    Tâm bình đẳng đối với chúng sinh không có tư tưởng phân biệt kẻ oán, người thân, vì đồng chứng lý bình đẳng của mọi pháp. Mọi pháp đều sẵn tính bình đẳng, nên hết thảy chúng sinh đều bình đẳng
    Người Phật tử nhận rõ sự bình đẳng với tất cả pháp, nên hòa mình trong sứ mệnh cho vui, cứu khổ không phân biệt.
    II- Lục độ
    1. Bố thí: Mở lòng từ bi rộng lớn và chân thành đem của cải, pháp lợi giúp người khác.
    2. Trì giới: Giữ gìn những giới luật Phật chế ra, để ngăn ngừa tội lỗi. Giới có: Ngũ giới, Sa di giới, Thức soa ma na giới, Tỳ khưu giới, Tỳ khưu ni giới, Bồ tát giới.
    3. Nhẫn nhục: Nhẫn chịu tất cả những hoàn cảnh thuận, nghịch xung quanh mình.
    4. Tinh tiến: Làm cho thân tâm tinh thuần thanh tịnh và cố gắng tiến tu trước, sau, hướng cầu đạo giải thoát.
    5. Thiền định: Định chỉ tâm tán loạn và quán sát suy nghĩ chân lý.
    Pháp thiền định có nhiều nhưng, tóm tắt lại có 4 Thiền (Sơ, nhị, tam, tứ thiền) 8 Định (4 thiền và 4 định của Vô sắc giới).
    6. Trí tuệ: Thông suốt mọi pháp, dứt trừ mê lầm và chứng nhập chân lý.
    Tu trí tuệ có 3: Văn (nghe), tư (suy nghĩ) và tu (tu hành).
    Trừ mê, diệt khổ là nguyện vọng duy nhất của người Phật tử đối với mình và người. Muốn đạt nguyện vọng ấy, cần thực hiện 6 pháp độ này.
    III- Tứ nhiếp pháp
    Tứ nhiếp là bốn phương pháp thực hành để dắt dẫn chúng sinh
    1. Bố thí: Theo sự mong muốn của chúng sinh, mình đem cho họ, do đó họ sinh tâm thân ái, tin theo chính đạo
    2. Ái ngữ: Theo căn tính chúng sinh, nói ra những lời nói hiền lành, dịu hòa và an ủi họ, do đó họ sinh tâm thân ái, tin theo chính đạo.
    3. Lợi hành: Thực hành những việc thiện về thân, miệng, ý, đem lại lợi ích cho chúng sinh, do đó chúng sinh sinh tâm thân ái, tin theo chính đạo.
    4. Đồng sự: Tùy theo sự ưa muốn của chúng sinh, có khi phải phân hình thị hiện, sống nhịp nhàng với đời sống của chúng sinh, làm lợi ích cho chúng sinh, do đó chúng sinh tin theo chính đạo.
    Hạnh lợi sinh là hạnh chính của chư Phật. Tứ nhiếp pháp có giá trị cao đẹp, biểu lộ ý chí cao thượng của chư Phật, người Phật tử cần cố gắng thực hành.
    IV- Tứ ân
    1. Ơn cha mẹ, thầy dạy: Cha mẹ, thầy dạy là bậc sinh đẻ, nuôi nấng và dạy bảo ta khôn lớn, thành người. Ta phải hiếu dưỡng, cung kính, tôn trọng và ghi nhớ lời răn dạy.
    2. Ơn xã hội: (chúng sinh): Xã hội với ta có tương quan mật thiết. Xã hội giúp ta nhiều phương diện sống còn và thành đạt, ta phải biết ơn và thành thực đem năng lực của ta giúp đỡ mọi người, xây dựng một xã hội yên vui, lành mạnh.
    3. Ơn quốc gia: Quốc gia bảo đảm và duy trì cho ta được an cư, lạc nghiệp, ta phải có bổn phận tin theo quốc chế, góp phần xây dựng, làm trọn nghĩa vụ công dân.
    4. Ơn Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng đem lại cho ta những gương mẫu và những phương pháp biết sống trong yên vui, vợi khổ, biết nhận lẽ chân, giả, biết đường đi đến chỗ giải thoát chân thực. Là Phật tử ta phải có lòng tin vững chắc, thực tâm cung kính, cúng dàng, hộ trì và truyền bá chính pháp.
    Người Phật tử nhận rõ bổn phận mình đối với bốn bậc có ơn, y theo giáo lý Phật dạy mà trả ơn là cách trả ơn cao thượng.
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

  10. #10

    Mặc định CĂN BẢN PHẬT HỌC

    CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN

    I- Tụng kinh
    Tụng kinh là đọc lên những lời Phật dạy ghi chép trong kinh sách bằng cách chí thành, suy ngẫm, và tin tưởng.
    Tụng kinh làm cho thân, miệng trong sạch, tâm ý bình tĩnh, phát sinh trí tuệ và gây nhân quả tốt. Tụng kinh tập trung được tư tưởng, tạo thành một năng lực mạnh mẽ, diệt trừ tội lỗi nơi mình, đem lại sự trong sạch, an vui cho người trong tinh thần giao cảm.
    Tụng kinh là một phương pháp hay nhất của người Phật tử muốn tu và muốn tiến. Người Phật tử tự coi mình có bổn phận tụng kinh hai thời: sớm, tối trong ngày hay ít ra cũng một tháng hai kỳ.
    II- Niệm phật
    Niệm Phật là nhớ nghĩ đến Phật; nhớ nghĩ đến đức tính: từ bi, tinh tiến của Phật, tức là gợi lại cái tính Phật sẵn có tại nơi mình, hầu đem áp dụng vào cuộc sống lợi ích cho mình và cho người.
    Chúng ta thường niệm: Nam Mô A Di Đà Phật. Đó là tất cả càn khôn vũ trụ phối hợp thu ngắn: Nam là lửa, Mô là không khí, A là nước, Di là phát triển, Đà là màu sắc, Phật là linh cảm. Cọng cỏ cũng có bao nhiêu công chuyện đó. Vạn linh đồng nhất. Chúng ta hiểu cái nguyên lý này, chúng ta càng ngày càng áp dụng nhiều hơn, thực hành nhiều hơn. Thế gian có cơ hội thức tâm, hiểu được cái nguyên lý từ cạn đến sâu, từ nặng đến nhẹ thì mới đạt được quân bình thăng tiến sẵn có của tâm linh.
    Niệm Phật có ba phương pháp:
    1- Xưng danh niệm Phật: Miệng niệm danh hiệu Phật.
    2- Quán tưởng niệm Phật: Ngồi yên quán sát, tưởng niệm công đức của Phật.
    3- Thực tướng niệm Phật: Quán tưởng pháp thân của Phật là lý thực tướng trung đạo chẳng phải có, chẳng phải không.
    Nhưng, phương pháp niệm danh hiệu Phật là dễ dàng và thông dụng nhất. Niệm Phật, dù niệm danh hiệu đức Phật nào theo bản nguyện của mình đều được, nhưng điều quan trọng hơn hết là phải nhất niệm. Nghĩa là chỉ nhớ nghĩ tới Phật, đức tính Phật, không một vọng niệm (nhớ nghĩ xằng) nào xen vào.
    Người nhất tâm niệm Phật, huân tập đức tính Phật, không tưởng niệm mông lung, sẽ tạo cho mình có đức tính như Phật, cải tạo thế giới vẩn đục, độc ác, thành thế giới trong sạch, yên vui.
    Người Phật tử cần tinh tiến niệm Phật.
    III- Lần tràng
    Lần tràng (chuỗi) là một hình thức trợ duyên cho chính niệm khỏi bị tạp niệm xen vào; là tiêu chuẩn cho ý định niệm Phật của người niệm và là biểu tượng đối trị của chính niệm diệt trừ phiền não.
    Lần tràng gắn liền với niệm Phật. Khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, tràng mang theo mình và chí tâm niệm Phật, không phân tán ý niệm, được công đức vô lượng.
    Tràng có nhiều thứ: 1.080 hạt, 108 hạt, 54 hạt, 42 hạt, 27 hạt, 21 hạt và 14 hạt.
    Số mục của tràng hoặc lớn hoặc nhỏ đều có biểu thị cho các tôn vị, các quả vị để đối trị phiền não.
    Vật liệu làm tràng hoặc bằng vàng, bạc, châu báu hay các thứ hạt, các thứ gỗ, nhưng nhiều phúc báo hơn phải kể là tràng bằng hạt bồ đề , hạt sen, kim cương.
    Phép lần tràng tay phải sạch sẽ, tay hữu cầm tràng để vừa trước ngực ngang trái tim; chuỗi tràng để trên ngón tay giữa, đầu ngón tay cái và đầu ngón tay chỏ cầm vào hạt tràng, mỗi niệm lần một hạt. Lần từ hạt giáp hạt giữa, lần vòng đến khi lại giáp hạt giữa, lần quay trở lại không được lần qua hạt giữa.
    Lần tràng có nhiều ý nghĩa như trên, người Phật tử nên cố gắng thực hành.
    IV- Ăn chay
    Ăn chay là ăn các thức rau, trái.
    Loài vật cũng là một động vật như người, cũng biết ham sống, sợ chết, cũng biết thương xót trước cảnh biệt ly và đau đớn trong khi xúc phạm tới thân thể, vì thế người có lòng từ bi không nỡ giết và ăn thịt nó.
    Thịt sinh vật có nhiều chất kích thích, làm cho người ăn nó sinh ra tính tình hung bạo, nhiều dục vọng, nhiều bệnh tật và kém phần trí tuệ, nên nhiều nhà y học khuyên ta không nên ăn thịt hay là nên ăn ít.
    Vì hai lẽ trên, người Phật tử giữ giới, ăn chay. Tuỳ điều kiện cụ thể m à có thể ăn chay tuyệt đối hoặc ăn chay theo mức độ
    V- Sám hối
    Là con người, trong sự hoạt động thường ngày chưa chắc đã tránh khỏi lỗi lầm. Có lỗi lầm, biết ăn năn sửa đổi, tu tiến là một cử chỉ đáng khen và nên theo. Đó là sám hối, theo danh từ Phật học.
    Sám hối có nghĩa là tự mình bày tỏ những lỗi mình làm trước, ăn năn từ nay xin sửa đổi, không dám phạm nữa.
    Sám hối có ba pháp:
    1- Tác pháp sám: Y pháp, hướng Phật tiền sám hối (hoặc lễ danh hiệu Phật).
    2- Thủ tướng sám: Định tâm vận tưởng sám hối.
    3- Vô sinh sám: Chính tâm, quán lý vô sinh (không sinh diệt).
    Nơi con người từ vô thỉ tới nay do thân, miệng, ý tạo ra biết bao nhiêu tội lỗi. Lỗi lầm càng che dấu, tội báo càng tăng thêm, càng vòng quanh trong sinh tử mãi mãi, thế nên cần phải sám hối.
    Người Phật tử cho sám hối là phương thức tốt đẹp nhất trong đường tu hành của mình. Sám hối viên dung (dung hợp đầy đủ) cả sự, lý sẽ được như kinh Nghiệp báo nói: “Người gây tội nặng, thâm tâm tự trách, sám hối không làm nữa sẽ nhổ hết được những tội căn bản ”.
    VI- Phát nguyện
    Việc làm của con người muốn đạt tới mục đích không thể không có một đề án, một chương trình, một sư cam kết hay một sự hứa hẹn. Người Phật tử bước chân vào đạo cũng phải có sự hứa hẹn ấy, nhưng theo danh từ Phật học gọi là Phát nguyện.
    Phát nguyện có nghĩa là tự đáy lòng chân thành của mình phát khởi ra lời thề nguyện, làm tiêu chuẩn cho mình tu tiến, khả dĩ xứng đáng là Phật tử, là vị Phật tương lai.
    Lời phát nguyện tùy theo tâm niệm, hoàn cảnh có nhiều, nhưng đại để chư Phật, Bồ tát, Thánh tăng hay chúng ta noi theo, có thể tóm tắt trong bốn điều chính yếu này:
    Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
    Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
    Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
    Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

  11. #11

    Mặc định

    TỨ VÔ LƯỢNG TÂM: TỪ, BI, HỶ, XẢ

    Đạo Phật thường được gọi là đạo từ bi, đạo cứu khổ. Ở đâu có Đạo Phật, ở đó có tình thương. Phương châm tu tập của Phật Giáo là từ, bi, hỷ, xả. Người Phật tử lấy từ, bi, hỷ, xả làm nền tảng cho sự phát triển thánh hạnh; tâm từ bi được coi là tâm Phật. Trong quá trình truyền giáo, Đạo Phật chưa bao giờ gây chiến tranh hay đổ máu, thông điệp tình thương cứu khổ, giúp đời đã được Đức Phật tuyên thuyết ngay từ thời kỳ sơ khai thành lập giáo đoàn.
    Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Đức Phật dạy người Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm.
    Tâm Từ
    “Từ” là lòng lành giúp ích cho người, lòng thương yêu, thường đem vui cho tất cả chúng sinh. “Tâm từ” là lòng mong ước cho tất cả chúng sinh đều được an lành vui vẻ. Ngược lại với tâm từ là lòng “sân hận”.
    Tâm từ không phải là sự yêu thương thiên về xác thịt, về tình dục, cũng không phải là lòng trìu mến vị kỷ, lòng luyến ái đối với người nào. Tâm từ không phân biệt kẻ thân người sơ. Hơn nữa tâm từ không phải chỉ nên có giữa người và người mà phải bao trùm tất cả chúng sinh, bởi vì, loài cầm thú cũng cần đến sự giúp đỡ và tình thương.
    Nói tóm lại, tâm từ bao la, rộng rãi, trải ra đồng đều đối với chính mình cũng như đối với những người thân cận, dù không quen biết, dù có ác cảm với mình. Người thực hiện từ tâm đến mức độ cùng tột sẽ thấy mình đồng hóa với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là “ta” không còn nữa. Mọi sự chia rẽ đều biến mất như đám sương mù tan trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất. Khi tâm từ xuất hiện thì lòng sân hận, ác ý, thù oán không thể phát sinh. Đức Phật dạy chỉ có tâm từ mới dập tắt được lòng sân. Không những dập tắt được lòng sân, tâm từ còn diệt được các mầm tư tưởng bất thiện. Nhìn thái độ của loài người đối với hận thù.
    Tâm Bi
    “Bi” là lòng thương xót cứu khổ, thương dứt trừ đau khổ cho hết thảy chúng sinh. Bi là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác. Đặc tính của “tâm bi” là ý muốn giúp người khác thoát khỏi cảnh khổ.
    Tâm bi là vị thuốc có thể tiêu trừ bệnh hung bạo. Lòng của người có tâm bi thật là mềm dịu. Lắm khi người có tâm bi không ngần ngại hy sinh đến cả tính mạng. Chính do nơi tâm bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi phục vụ kẻ khác, giúp mà không bao giờ mong đền ơn, đáp nghĩa.
    Đối tượng của tâm bi là những kẻ nghèo đói, túng thiếu, đau ốm, cô đơn dốt nát, hư hèn và cả những người có đời sống buông lung, phóng đãng tội lỗi. Tâm bi phải bao trùm tất cả chúng sinh đau khổ, rất bao la và bình đẳng
    Tâm hỷ
    “Hỷ” là lòng vui, tự mình vui và mừng giùm cho người được điều thiện. Hay muốn nói cho đủ là tùy hỷ: vui theo, cùng vui với người khác. Phản nghĩa của hỷ là “ưu phiền”. Hỷ không phải là trạng thái thỏa thích suông, cũng không phải là cảm tình riêng đối với một người nào. Hỷ là lòng cùng vui thích với người khác khi họ có hạnh phúc hay họ được thành công, nhất là khi sự thành công ấy tiến về nẻo thiện, hướng đến mục đích giải thoát.
    Lòng “ganh tị” là kẻ thù trực tiếp của hỷ. Nhiều người lấy làm bực tức khi thấy người khác thành công hay vui khi thấy người khác thất bại. Chính tâm hỷ làm tiêu tan lòng ganh tị đó.
    Người có tâm hỷ sẽ trực tiếp hưởng nhiều lợi ích do tâm ấy đem lại cho mình hơn cả người khác. Nếu so sánh với tâm từ và tâm bi, tâm hỷ lại càng khó thực hiện. Muốn có tâm hỷ, phải có ý chí mạnh mẽ và hết sức cố gắng. Để tạo sự an vui, hạnh phúc trong đời sống cá nhân cũng như tập thể và vươn mình lên sống đời trong sạch, cao thượng, người Phật tử nên thực hành tâm hỷ.
    Tâm xả
    “Xả” là lòng buông xả ra mọi vật của mình cho tất cả chúng sinh không phân biệt kẻ oán người thân. Xả là bố thí, bỏ đi, không chấp, không ghi giữ trong lòng. Xả là trông thấy đúng đắn, nhận định chân chính, suy luận vô tư, tức là không ghét bỏ cũng không luyến ái; không ưa thích cũng không bất mãn. Phản nghĩa của “tâm xả” là “cố chấp”.
    Người cao thượng luôn giữ tâm bình thản trước sự khinh rẻ, phỉ báng, nguyền rủa. Giữa cuộc thăng trầm của thế gian đó, Đức Phật dạy ta nên luôn bình thản, hành tâm xả, vững chắc như tảng đá sừng sững giữa trời, vững như voi, như mãnh hổ. Ví như gió thổi ngang màn lưới mà không bị vướng trong lưới, tuy sống giữa chợ người mà ta không luyến ái những lạc thú hão huyền và vô thường của cuộc đời. Như hoa sen từ bùn nhơ nước đục vươn lên, chúng ta cũng vượt lên bao nhiêu quyến rũ của thế gian để sống trong sạch, tinh khiết, luôn luôn bình tĩnh và an vui.
    Kẻ thù trực tiếp của xả là “luyến ái” và kẻ thù gián tiếp của tâm xả là sự “lãnh đạm”. Tâm xả lánh xa lòng tham ái và trạng thái bất mãn. Thái độ vô tư, thản nhiên, an tịnh là đặc tính quan trọng của tâm xả. Người có tâm xả không thích thú trong vui sướng cũng không bực tức trong phiền não. Người có tâm xả đối xử đồng đều giữa kẻ tội lỗi và bậc thánh nhân. Đức Phật luôn khen ngợi, khuyến khích hàng đệ tử thực hành tâm xả.
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

  12. #12

    Mặc định

    Chân thành cảm ta các quý thân hữu : DaiHongCat, nhuocca,, big_stone09, nhuocca ), Nonamepas, phaolon, son72 , THICHTHIENTAM09, thihuy7381, spirit82, nhanhoa123m... đã chia sẻ, động viên và để lại lời vàng,
    ---------------------------
    Cây muốn lặng, gió chẳng đừng
    Thuyền cũng muốn dừng mà sóng chẳng yên
    Đời là biển động triền miên
    Mỗi thân phận, một con thuyền lênh đênh..

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Việc tương lai của phật di lặc
    By Cầu Trí Bát Nhã in forum Đạo Phật
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 28-07-2013, 02:18 AM
  2. ÐẠI THỪA VÀ SỰ LIÊN HỆ VỚI TIỂU THỪA
    By phanquanbt in forum Đạo Phật
    Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 08-02-2013, 09:12 PM
  3. Tìm kinh!
    By Nhất Niệm in forum Đạo Phật
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 22-10-2012, 09:14 PM
  4. Trả lời: 22
    Bài mới gởi: 01-06-2012, 11:51 AM
  5. Trả lời: 5
    Bài mới gởi: 31-05-2012, 12:09 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •