Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 22

Ðề tài: Thiền Cùng Yoga.tây Tạng.

  1. #1

    Mặc định Thiền Cùng Yoga.tây Tạng.

    Dieu hy đã may mắn được tham gia lớp học THIỀN CÙNG YOGA .Do Thầy Trần Đức Hoài làm giảng viên.
    Sau đây Dieu hỷ xin mạn phép thầy nêu một số kiến thức cơ bản và các bài tập thực hành của YOGA TÂY TẠNG.



    Thiền cùng Yoga là gì ?

    Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng trở nên tiện nghi hơn, thì hầu như mỗi chúng ta càng ngày càng phải chịu nhiều áp lực hơn để sẵn sàng đương đầu với thử thách lớn hơn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống luôn đầy biến động. Trở nên thành đạt hơn, đạt được những điều hằng ước ao mong mỏi do dầy công nhọc nhằn phấn đấu, nhưng giờ đây ta lại cảm thấy như không còn hào hứng hay đủ nhiệt tình để tận hưởng những gì đang có hoặc cảm thấy bất toại nguyện vì lại bị cuốn theo những ước vọng mới lớn hơn. Và cứ thế, cuộc sống như ngày càng nhiều điều bất an hơn và dường như chúng ta ngày càng ít khoảnh khắc để sống thực sự thảnh thơi cho chính bản thân mình.

    Thiền và yoga là liệu pháp hữu hiệu để cân bằng giữa cuộc sông vật chất và tinh thần, giải quyết những vấn nạn, những căn bệnh chung của thời đại. Thiền và yoga vốn xuất phát từ Phương Đông như các phương pháp tập luyện để đưa con người tiến tới giác ngộ giải thoát hay hoà đồng với vũ trụ, nhưng ngày nay đã phổ biến khắp trong tất cả các lĩnh vực của cuôc sống như một môn thể thao để rèn trí não và thân thể. Ngoài việc để tăng cường sinh lực , có được cuộc sống quân bình, giữa đời sống vật chất và tinh thần, tại các nước phát triển thiền và yoga đang được áp dụng một cách rộng rãi như một liệu pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu suất lao động trí óc trong mọi giới, từ chính khách, đến nghệ sĩ, doanh nhân, công chức...

    Thiền là gì? Thiền là tỉnh thức để nhận biết tất cả nhưng không bị dích mắc vào sự yêu ghét và thản nhiên trước mọi mọi việc. Sống thiền là buông bỏ mọi ràng buộc, mọi định kiến, thói quen, khuynh hướng, các bám luyến gò bó tâm khiến con người cảm thấy khổ và qua đó ta trở nên thực sự minh mẫn và được sống tự do thoải mái trong sự hoà đồng với tự nhiên.

    Thiền thực chất là đơn giản hơn mọi người thường nghĩ. Hầu hết chúng ta đều đã ít nhiều trải qua khoảnh khắc của thiền. Đó là những khi chúng ta một cách vô thức hoàn toàn tập trung cao độ vào một việc gì đó và lắng nghe được hơi thở của mình, hay dường như nín thở. Khi đó, vô hình chung chúng ta đã giải phóng trí não khỏi toàn bộ những ý nghĩ lộn xộn vốn thường xuyên xâm chiếm tâm trí. Ngày nay chúng ta tiêu hao năng lượng chủ yếu do việc suy nghĩ, do tư duy và tâm trí nhiều lúc bị tràn ngập những tạp niệm bởi tâm trí như con ngựa bất kham chạy theo ngoại cảnh không theo sự kiểm soát của lý trí. Đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho chúng ta cảm thấy mệt mỏi căng thẳng, khiến trong lòng bất an và ở mức độ trầm trọng hơn là dẫn đến những chứng bệnh có nguyên nhân sâu xa do yếu tố thần kinh, như bệnh trầm cảm, bệnh dạ dày, bệnh tim mạch...Thiền là kỹ thuật để chúng ta luyện và làm chủ cả thân và tâm.

    Trong Phật giáo, chữ Thiền được dùng để chỉ định hai cách thực tập. Đó là 'Thiền định' (samatha), và 'Thiền Minh Sát' (Vipassana). Thiền định (Samatha) là cách tập trung tư tưởng vào một sự vật và không để bị chi phối bởi gì khác. Ta chọn một đề mục như hơi thở chẳng hạn, và chú tâm theo dõi hơi thở ra vào. Đây là cách tập thích hợp cho người mới tập thiền. Thiền Vipassana (Minh Sát) hoặc 'Thiền quán” là kỹ thuật thiền khoa học và độc đáo của Phật giáo nguyên thủy. Trong thiền Vipassana bạn chỉ cần sống trọn vẹn với giây phút thực tại, bạn không cần phải chọn đề mục đặc biệt để tập chú tâm, hoặc phải hòa nhập với chúng.Với phương pháp này, bạn chỉ cần chú tâm, tỉnh thức để quan sát mọi hiện tượng mà không kèm theo một định kiến chủ quan về nó cũng như không chủ động tác ý lên sự vật đang quan sát để hiểu đúng bản chất như nó là. Thiền Vipassana là một trạng thái tỉnh thức, nhận biết rất rõ ràng bất cứ ý niệm, tình cảm hay cảm giác nào từ tất cả các giác quan đang khởi lên mà không có phản ứng gì.

    Yoga là gì? Yoga là phương pháp đặt thể xác và hô hấp vào trong các tư thế, trạng thái đặc biệt (asana) dưới sự kiểm soát khắt khe của ý thức, nhằm tìm lại sự quân bình với toàn thể. Điểm tương đồng giữa thiền Vipassana và yoga phật giáo Tây tạng là khi bạn tập yoga, bạn học tỉnh thức, chú tâm rõ ràng đến cơ thể, bạn học làm cơ thể thoải mái, bạn học thân ái và tốt với cơ thể, bạn học dùng những bài thực tập Yoga để cảm thấy giây phút hiện tại. Ðây là vài khía cạnh Yoga tương quan với thiền.



    Thiền cùng yoga là gì?


    Thật không phải là việc dễ dàng đối với đa số khi bắt đầu thử ngồi tĩnh tại, nhắm mắt để tập hành thiền bởi tâm trí còn ngổn ngang và thân thể đang mỏi mệt . Kết hợp thiền cùng yoga sẽ giúp bạn khắc phục điều này

    Thiền xuất phát từ luyện tâm trong tĩnh lặng (âm). Còn yoga bắt đầu từ rèn thân và thiên về động (dương). Thiền cùng yoga là phương pháp kết hợp thiền Vipasana trong các tư thế đơn giản nhất của yoga để giúp chúng ta đạt trạng thái cân bằng một cách dễ dàng nhất. Đây là sự kết hợp hài hoà giữa âm và dương, cương và nhu, động và tĩnh, trong và ngoài. Thiền cùng Yoga là liệu pháp hữu hiệu có tác dụng nhanh chóng và hiệu quả lâu dài nhằm giúp con người chuyển hoá tích cực cả thân và tâm, đưa chúng ta về trạng thái quân bình sảng khoái, minh mẫn và hợp với lẽ tự nhiên của trời đất. Thực tập Thiền cùng Yoga là cách đầu tư dễ dàng và hiệu quả để bạn khai thác và phát triển một tối ưu và bền vững mọi tiềm năng sẵn có trong chính con người bạn nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống.

    Phần lớn những phán đoán của chúng ta trong cuộc sống là không chuẩn xác do dựa trên những định kiến hoặc cảm xúc chủ quan dẫn đến hiểu sai bản chất thật của sự vật và hiện tượng. Do đó dễ dẫn đến những quyết định sai lầm, khủng hoảng, thất vọng và bệnh tật. Kiên trì thực hành thiền, chúng ta sẽ trải nghiệm và hiểu bản chất cuộc sống là: bất như ý (khổ), không có gì thường hằng không thay đổi (vô thường) và không có gì bất biến tồn tại một cách độc lập (vô ngã). Khi đã cảm nhận được tam tướng: khổ, vô thường, và vô ngã trong mọi sự vật thì chúng ta sẽ không còn phiền não hay dính mắc vì bất cứ việc gì, cuộc sống sẽ trở nên niềm an lạc vô biên. Khi đó chúng ta mới không còn bị vô minh để thực sự nhìn nhận mọi sự việc trong cuộc sống đúng như chúng là và đó mới chính là hiểu biết và trí tuệ.
    Last edited by lien hoa dieu hy; 03-06-2008 at 02:04 AM.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  2. #2

    Mặc định

    Những Asana cơ bản của Yoga Tây tạng








    Về kỹ thuật, Yoga Tây tạng gồm 5 bước cơ bản sau:

    1-Asana Yoga: Các động tác hay tư thế để thanh lọc và rèn luyện thân thể .
    2-Prana Yoga: Các kỹ thuật trao đổi prana qua các dòng hạt bindu hay naja để khai mở 7 đại luân xa,14 kinh mạch chính, 3 kênh năng lượng nhằm thanh lọc và làm giàu khí hay năng lượng.
    3-Mantra Yoga: Yoga mật chú chân ngôn các âm thiêng để thanh lọc khẩu - ngữ.
    4-Mandala Yoga: Các kỹ thuật quán ảnh tượng đồ thiên địa nhân hợp nhất nhằm thanh lọc tâm ý tư tưởng.
    5-Natural great perfection Yoga: Yoga hợp nhất đại toàn thiện tự nhiên hay còn gọi là yoga tối thượng.
    Dưới đây là những asana cơ bản của Yoga Tây tạng cho người bước đầu tập Thiền cùng Yoga.


    Yêu cầu của chung của tất cả các asana trong khi tập là:


    Hơi thở để tự nhiên, không gò ép.
    Khi đang ở trong các asana, thả lỏng cơ thể và giữ thăng bằng một cách tự nhiên. Mắt nhắm. Tĩnh tâm quan sát theo dõi những diễn biến của các cảm thọ trên thân, những cảm xúc hay tình cảm trong tâm trong tư tưởng trên toàn cơ thể.
    Thời gian và số lần tập mỗi asana tuỳ theo cơ thể mỗi người và tuỳ lúc, nên giữ tối thiều khoảng 3 đến 5 chu kỳ thở trong mỗi thế asana hoàn thiện.
    Không được tập lúc đói quá hoặc no quá. Nếu cần thiết có thể ăn hoặc uống nhẹ một chút trước khi tập. Nên tập sau bữa ăn chính ít nhất 3 tiếng và tập ở nơi thoáng khí nhưng không bị gió lùa. Sau khi tập nên nghỉ tối thiếu 30 phút truớc khi dùng bữa.
    Nên tắm nước ấm thích hợp trước khi tập, sau khi tập ít nhất nửa giờ mới được tắm lại.
    Nên tập lần lượt các động tác theo thứ tự.
    Chống chỉ định: không được tập khi có chỉ định ngoại khoa, gãy xương, chảy máu, viêm loét và những bệnh nội khoa cấp tính khác đang điều trị .
    Trường hợp phụ nữ đang trong kỳ kinh nguyệt,mang thai hay đang nuôi con bú; Những người có các bệnh hay có các dị tật,khuyết tật đặc biệt sẽ có những bài tập riêng.


    1 Đứng thẳng
    Đứng thẳng người, hai chân ép sát vào nhau.
    Hai cánh tay song song với thân, bàn tay khép các ngón hướng xuống sàn.
    Nâng cơ hoành, thót hậu môn.
    Mắt mở nhìn thẳng.


    2 Tam bộ nhất bái
    Đứng như asana 1. Bước 3 bước lên , bắt đầu bằng chân phải trước, dừng lại chụm 2 chân.
    Hai tay chắp, lần lượt đặt lên đỉnh đầu, trước trán và dưới cằm.
    Để nguyên hai tay trước cằm, ngồi quì xùi
    Lao người nằm xoài ra phia trước, hai tay duỗi thẳng để úp, mặt tiếp sàn.
    Thu hai tay về sát mạng sường, để chống xuống đất. Nâng người ngồi dậy, đứng lên và tiếp tục như trên..


    3 Kim đồng hồ
    Đứng như asana 1.
    Nâng hai tay ngang bằng vai, lòng bàn tay khép các ngón, úp xuống sàn.
    Gót chân phải làm trụ, xoay người từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ, chân trái bước quanh chân phải.
    Mắt nhìn thẳng để tự nhiên không nhìn cố đinh vào điểm nào.

    4 Tay chỉ trăng
    Đứng như asana 1.
    Xoay người và bước sang bên phải
    Hai tay dang ngang, tay phải hướng lên trên, tay trái hướng xuống dưới
    Chân phải chùng, chân trái thẳng.
    Mắt hướng theo tay phải.
    Toàn thân tạo thành một mặt phẳng.
    Đổi bên

    5 Cánh buồm
    Đứng như asana 1.
    Tay trái cầm cổ chân trái
    Làm tương tự như asana 4
    Đổi bên

    6 Con cò
    Đứng như asana 1.
    Cúi gập người. Hai tay nắm cổ chân. Khủyu tay ép sát chân
    Mặt áp sát đầu gối.

    7 Voi quì
    Qùi, chống hai khuỷu tay xuống sàn, đùi và cánh tay vuông với mặt sàn.
    Cằm đặt lên hai lòng bàn tay ôm má.

    8 Voi đưa
    Quì như asana 7.
    Lưng võng, mông cao, đầu hạ thấp.
    Đung đưa thân qua phải, qua trái.

    9 Voi lắc
    Quì như asana 7
    Hai bàn tay đan vào nhau, ôm ghì đầu,
    Hạ vai và đầu sang phải, tiếp sàn.
    Đổi bên.

    10 Voi húc
    Quì như asana 7.
    Hai bàn tay nắm vào nhau, Hai cánh tay sát vào nhau.
    Đầu để trên hai cánh tay.Đẩy người tiến lên phía trước đồng thời gập cổ.Lưng vồng lên tối đa. Hạ người xuống phía sau, mông chạm gót.

    11 Cá sâu vẫy đuôi
    Quì như asana 7.
    Hai tay thả lỏng.
    Hai bàn chân nhấc lên đặt song song.
    Lắc mạnh hai chân qua phải, qua trái
    Đầu lắc theo cùng bên với chân.

    12 Ngồi quì Quì hai đầu gối xuống sàn
    Ngồi trên gót chân
    Hai bàn tay chồng lên nhu, đặt trên đùi.
    Thẳng lưng, mắt nhắm tự nhiên.

    13 Cánh diều
    Ngồi trên hai gót chân.
    Ngửa đầu về phía sau, hai tay chống xuống sàn
    Giữ thăng bằng toàn thân, mắt nhắm.

    14 Ngọn núi
    Ngồi trên hai gót chân.
    Nhổm mông xoài người về phía trước
    Hai cánh tay duỗi thẳng
    Trán và mũi tiếp sàn

    15 Vạc phơi nắng
    Ngồi trên hai gót chân.
    Hai tay đưa sau lưng đan vào nhau, lộn bàn tay, áp xuống sàn
    Cong lưng,ưỡn ngực ra phía trước
    Cổ ngửa, mắt nhắm.

    16 Con công
    Ngồi trên hai gót chân.
    Hai tay đưa sau lưng đan vào nhau, lộn bàn tay giơ lên cao.
    Đầu cúi gập xuống sàn.
    Last edited by lien hoa dieu hy; 03-06-2008 at 02:09 PM.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  3. #3

    Mặc định

    17 Vặn vỏ đỗ
    Ngồi trên hai gót chân.
    Nghiêng người sang phải, mông chạm sàn.
    Vắt chân trái qua đầu gối phải.
    Cánh tay phải thúc vào đầu gối trái.
    Tay trái ôm eo phải
    Toàn thân vặn sang trái
    Đổi bên

    18 Con thỏ
    Ngồi trên hai gót chân.
    Hai tay đưa sau lưng đan vào nhau, xiết chặt
    Đầu cúi gập đặt trán lên đùi

    19 Cá bơi ngửa
    Ngồi trên hai gót chân
    Người ngửa phía sau, chống tay, hạ khuỷu tay xuống sàn
    Nằm ngửa, hai tay duỗi thẳng trên đầu

    20 Tam giác
    Chống hai tay xuống sàn, cánh tay thẳng.
    Chân thẳng, gót chân đặt trên sàn.
    Đầu cúi gập về phía ngực.

    21 Ghế băng
    Ngồi, chống chân và tay xuống sàn.
    Nâng mông lên cao.
    Đầu ngửa, thả lỏng.

    22 Con tôm
    Ngồi co chân, hai tay đan vào nhau ôm chặt gan bàn chân.
    Duỗi mạnh, cúi gập người.
    Trán chạm chân.

    23 Chết ngửa
    Nằm ngửa, hai gót chân chạm nhau.
    Hai tay để ngửa, duỗi theo thân.
    Mắt nhắm, thư giãn.

    24 Cái cày
    Nằm ngửa, hai má trong chân chạm nhau.
    Hai tay úp xuống đất, lấy đà đẩy chân lộn qua vai.
    Chân thẳng, mũi bàn chân chạm sàn.

    25 Chết sấp
    Nằm sấp, hai ngón chân cái chạm nhau.
    Hai tay để ngửa, duỗi theo thân.
    Mắt nhắm, thư giãn.

    26 Con rắn
    Nằm sấp, hai ngón chân cái chạm nhau
    Chống hai bàn tay xuống sàn, nâng phần thân trên lên, cong ra phía sau.
    Đầu ngửa, mặt song song với trần, mắt nhìn lên trần.
    Cổ quay sang phải, mắt nhìn xuống gót chân

    27 Con rùa
    Ngồi quì trên gót chân.
    Cúi xuống, trán chạm sàn
    Ngực tì trên đùi, hai tay duỗi thẳng trên sàn.

    28 Cái cung
    Ngồi quì trên gót chân.
    Hai tay nắm hai cổ chân.
    Ưỡn người, đẩy thân cong ra phía trước.
    Cổ ngửa ra phía sau, thả lỏng.

    29 Cây nến
    Nằm ngửa, hai tay để dọc thân úp xuống sàn,
    Hai má trong bàn chân chạm nhau.
    Nhấc thân thẳng đứng,
    Hai tay chống vào eo.lưng.
    Mắt nhìn hai ngón chân cái.

    p
    30.Bập bênh
    Nằm ngửa, chống chân, ưỡn lưng.
    Hai tay chống vào thắt lưng.
    Giữ thăng bẳng hai nửa thân.

    31 Vòng xích
    Ngồi quì trên gót chân.
    Tay trái để ngửa vòng ra đằng sau lên bả vai phải.
    Tay phải để úp vòng lên phía trên qua vai phải.
    Hai bàn tay bắt lấy nhau.
    Đổi bên.

    32 Lăn tròn
    Nằm nghiêng, Hai bàn chân bắt chéo nhau.
    Hai tay nắm vào nhau duỗi thẳng, ghì chặt lấy đầu.
    Lấy đàn lăn tròn nhiều vòng.
    Lăn đổi chiều

    33 Hoa sen
    Ngồi xếp bằng.
    Hai chân vắt chéo.
    Hai tay đặt trên đùi hoặc chồng lên nhau để trong lòng.
    Lưng và cổ thẳng, mắt nhắm và hơi nhìn xuống
    Last edited by lien hoa dieu hy; 05-06-2008 at 09:01 PM.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  4. #4

    Mặc định

    Khởi động với thiền cùng Yoga



    Tươi trẻ, sảng khoái an lạc một cách tự nhiên và luôn sáng suốt , đó là kết quả cảm nhận của những ai đến với thiền. Những trải nghiệm và cảm nhận này không thể học được từ sách vở và cũng không dễ chia sẻ được cho nhau bẳng lời, cũng như chỉ có tự ăn thì ta mới no. Bạn có thể nếm thử để bước đầu cảm nhận hương vị của thiền và yoga bằng bài tập đơn giản.

    Hai thế dưới đây là hai động tác cơ bản dễ tập nhất và thích hợp cho tất cả mọi người, đặc biệt là khi bạn cảm thấy bị căng thẳng hay mỏi mệt Nếu bạn chưa từng tập yoga, hãy thử bắt đầu với hai động tác khởi động sau:

    Tư thế Ngọn núi:

    - Quì gối, hai chân để song song, úp mu bàn chân sát đất và duỗi ra phía sau;

    - Chống hai khuỷu tay xuống sàn, hai cánh tay để song song và vươn ra phía trước

    - Đầu thả lỏng, trán chống nhẹ trên hai cánh tay ;

    - Chia đều trọng lượng cơ thể lên hai đầu gối, hai khuỷu tay và trán;

    - Điều chỉnh đầu gối và khuỷu tay sao cho bạn ở vị trí thăng bằng.

    - Thả thả lỏng toàn bộ cơ thể, thở tự nhiên và quan sát các cảm giác cùng chuyển động bên trong cơ thể

    Tư thế Cánh diều:

    - Ngồi quì trên hai gót chân kiễng;

    - Hai tay chống ra phía sau;

    - Đầu thả lỏng hoàn toàn về phía sau hoặc gập về phía trước;

    - Chia đều trọng lượng cơ thể lên hai mũi chân và hai bàn tay;

    - Thả thả lỏng toàn bộ cơ thể, thở tự nhiên và quan sát các cảm giác cùng chuyển động bên trong cơ thể;

    Hai động tác này bạn có thể tập cả ngay sau khi ăn cơm, thay cho giấc ngủ trưa.

    Nếu bạn đã tập yoga, hãy kết thức bài tập với động tác cái cày và cái cung


    Sau khi tập xong các động tác yoga khởi động, hãy ngồi quì yên lặng trên chân (ngồi kiểu Nhật), thả lỏng cơ thể, thư giãn

    Chuẩn bị thiền :

    Khi mới tập thiền bạn nên chọn nơi yên tĩnh. Nên thu xếp hoàn tất các công việc trước mắt để bạn không bị phân tâm trong lúc tập. Nên chọn nơi thoáng khí nhưng không bị gió lùa.

    Bắt đầu thiền bằng cách ngồi ngay thẳng và buông xả..

    Bạn có thể ngồi trên sàn hoặc trên ghế, trên giường,

    Tư thế có thể là ngồi xếp bằng, xếp hoa sen, ngồi trên ghế và thả chân xuống đất…miễn là lưng và cổ thẳng.. Tư thế ngồi hoa sen (vắt chéo hai chân) là tốt nhất, nhưng không nhất thiết. Hãy ngồi trong tư thế bạn cảm thoải mái nhất.


    Mắt khép nhẹ và hơi nhìn xuốngt, thả lỏng thân thể và tư tưởng, buông xả mọi suy nghĩ.

    Hai bàn tay để buông lỏng trên hai đầu gối hoặc đặt chồng nhẹ lên nhau trước bụng.

    Toạ thiền :
    Bước đầu hãy chỉ việc để ý, chú tâm đến hơi thở, quan sát hơi thở một cách tự nhiên. Bạn có thể cảm thấy mát ở mũi khi hít vào và ấm ở đó khi thở ra hoặc cảm giác sự căng phồng hay xẹp ở bụng cùng với hơi thở vào ra. Bạn cũng có thể cảm giác hơi thở mình lúc nông lúc sâu, lúc dài lúc ngắn. Hãy mặc kệ, để hơi thở hoạt động một cách tự nhiên.

    Mỗi khi, quên mất việc để ý đến hơi thở, phóng tâm, hãy ghi nhận sự phóng tâm đó và dừng lại, xoay sự chú tâm trở lại với hơi thở. Bất kể ý nghĩ hay cảm xúc gì đến, bạn cũng chỉ cần nhận biết, quan sát chúng từ lúc đến và cho tới lúc đi mà không tác ý thêm vào câu chuyện đang xảy ra trong bạn.

    Khi tự cảm thấy sự chú tâm vào hơi thở tương đối liên tục và dễ dàng, hãy không chỉ tập trung vào hơi thở nữa mà để ý vào bất cứ cảm giác nổi bật nhất đến với bạn. Chẳng hạn cảm giác tê ở chân, mỏi mỏi ở vai, ngứa ở cổ… Ý nghĩ hay cảm giác có thể là sự lo lắng, buồn vui về chuyện gì đó…Bất kỳ một cảm giác nào, một cảm xúc dù tốt hay xấu nổi lên, hãy ghi nhận chúng với thái độ của một người quan sát, và chấp nhận thoải mái sự hiện diện của chúng .

    Khả năng định tâm sẽ tự nó phát triểtn, Theo cách này, dần dần bạn sẽ dễ dàng tập trung tâm ý vào sự an tịnh và có thể hành thiền ở bất nơi đâu. Quan trọng là bạn cần có thái độ đúng khi hành thiền:

    * Không nên chú tâm quá độ. Không nên kiểm soát hay áp chế tâm, mà để cho luồng tư tưởng tự nhiên trôi chảy. Hành thiền không phải là ngăn ngừa tâm suy nghĩ mà nhận biết tư tưởng khi nó vừa khởi sinh hay chấm dứt.

    * Không cần loại bỏ đối tượng của tâm . Chỉ cần quan sát, ghi nhận một cách thoải mái những đối tượng khởi sinh trong tâm thì những ô nhiễm ấy sẽ bị loại bỏ một cách tự nhiên

    * Hãy tỉnh giác trong trạng thái nhẹ nhàng khinh an, quan sát để hiểu biết rõ ràng những gì đang xảy ra., đồng thời không tư duy, không xét đoán, không cầu mong bất cứ điều gì.


    * Đối tượng của tâm không quan trọng.. Sự nhận biết thái độ của bạn với chúng mới là quan trọng.

    * Chỉ chú tâm vào hiện tại. Không tìm lại quá khứ. Không dự tính kế hoạch cho tương lai.

    Mọi sự đều có lý do của nó và không có gì tồn tại mãi. Những tạp niệm, cảm giác đó sẽ thưa dần và biến mất một cách tự nhiên. Những giây phút bình yên, tĩnh lặng trong tâm bạn sẽ nhiều hơn. Trong tĩnh lặng bạn sẽ nhận biết được mọi sự đúng như chúng là.. Đều đặn tập luyện đúng cách, bạn sẽ ngày càng trở nên an lạc và dễ dàng làm chủ được hơn cả thân và tâm mình trong mọi hoàn cảnh.

    Xả thiền:
    Trước khi ngừng thiền nên xoa xát hai bàn tay cho nóng. Sau đó xoa nhẹ lên mặt , đầu và cổ theo hướng từ trong ra ngoài và từ trên xuống dưới. Vuốt nhẹ dọc hai cánh tay, lưng và từ cẳng chân đến mũi bàn chân. Mỗi động tác nên làm 5 đến 10 lần.

    Tư vấn:
    Chỉ cần một chút kiên trì và thường xuyên luyện tập theo hướng dẫn trên, bạn hoàn toàn có thể bước đầu tự tập hành thiền Vipassana. Khi đã quen với thiền ngồi bạn sẽ thiền trong mọi hoạt động của cuộc sống. Sống thiền là sự thỉnh thức để hiểu đúng mọi việc xảy ra đồng thời không bị dích mắc vào bất cứ điều gì.


    Trong quá trình tập luyện, nếu bạn có băn khoăn, xin liên hệThầy giáo yoga:Trần Đức Hoài
    Tel: 04-8313355 ; 0915119198
    Last edited by lien hoa dieu hy; 19-06-2008 at 08:11 PM.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  5. #5

    Mặc định

    những động tác
    có ích lợi cho sức khỏe con người
    ai có ứng dụng tập sẻ thấy giá trị sức khỏe

  6. #6

    Mặc định

    CHUẨN BỊ TRẠNG THÁI KHI VÀO THIỀN



    Cảm thấy hạnh phúc, biết ơn.

    Bạn nên cảm thấy sung sướng vì bạn có thể dành thời gian cho việc học thiền. Sự kiện bạn đã quyết định học thiền cũng đủ để các bạn cảm thấy hạnh phúc về chính mình. Thường chúng ta cảm thấy xấu về mình nhưng cũng rất quan trọng nên cảm thấy tốt về mình. Chỉ cần cảm thấy tốt về bạn vì bạn có thể thu xếp để học thiền. Có người muốn bắt đầu học thiền nhưng vì nhiều lý do khác nhau sắp xếp được. Bạn nên cảm thấy biết ơn bạn có thể và đã sẵn sàng để bắt đầu thực hành thiền.

    Phẩm chất của "chỉ cần biết"

    Trong thiền, một khía cạnh rất quan trọng là sự tập luyện tỉnh thức, quán niệm, chỉ cần hay biết những gì đang xảy ra. Như vậy, trong suốt buổi thiền, bạn cần cố gắng phát triển tính chất rất quan trọng này là chỉ cần biết bất cứ điều gì xảy ra trong tâm và thân từng giây phút với tất cả khả năng của mình. Dầu ngay cả đó là một kinh nghiệm khó chịu, một điều bạn xem là lạ lùng, bạn chỉ cần hay biết những gì đang xảy ra hơn là lo lắng: tôi có làm đúng không? Cảm thấy những điều này có phải bình thường không? Không cần có những ý nghĩ như thế nhưng chỉ cần biết, đây là điều tôi đang cảm thấy, đây là cảm giác tôi đang cảm thấy.

    Từ bi

    Một điểm quan trọng tương quan khác là phải tỉnh thức, phải biết rõ ràng với lòng từ bi, chỉ cần biết điều gì đang xảy ra với thiện cảm, có thể giống như người mẹ đang trông coi, đang quan sát đứa con của mình với lòng trìu mến. Bạn hãy học quan sát, nhận xét, tìm tòi, chỉ cần biết những gì đang xảy ra trong tâm và thân mình giống như một bà mẹ đang trông coi đứa con độc nhất của bà ta với lòng trìu mến, dịu dàng, cởi mở.

    Học làm chậm lại


    Một điểm khác khác liên quan đến tỉnh thức là học làm chậm lại. Cuộc sống hiện đại tạo nên tác phong công nghiệp, luôn nhanh chóng đến vội vã. Với Thiền chúng ta cần phải làm, học cách biết thoải mái và chỉ làm việc rất chậm rãi, chậm chậm và một cách rất thoải mái.

    Thực tập yên lặng

    Với một số người rất khó có thể giữ yên lặng vì một thói quen rất mạnh mẻ. Vì thế bạn hãy cố gắng giữ yên lặng và bạn sẽ thấy một liên quan giữa tỉnh thức, quán niệm và yên lặng. Càng tỉnh thức thì bạn càng trở nên yên lặng hơn, và khi bạn càng yên lặng hơn thì tỉnh thức sẽ đến một cách tự nhiên. Bạn sẽ thích thú với cái khoảng không gian mà yên lặng tạo ra trong tâm bạn.

    Học ở một mình

    Một khía cạnh khác của yên lặng là học ở một mình, chỉ đơn độc một mình. Chúng ta đã trở nên lệ thuộc vào những vật bên ngoài, vì thế chúng ta sẽ cố gắng xem thử chúng ta có thể ở một mình và thích thú làm bạn với mình không, học trở thành người bạn tốt nhất của mình. Rất quan trọng tạo nên mối quan hệ này với chính chúng ta và thấy chúng ta là bạn tốt nhất của chúng ta, người bạn qúi nhất chúng ta có, chúng ta cố gắng liên hệ với mình.

    Phát triển tự tin

    Trong thiền hết sức quan trọng phải tự dựa vào mình, phải có phương pháp riêng của mình. Ðức Phật dạy, cố gắng bản thân là cố gắng tốt nhất và tự dựa vào sức mình. Bạn cần cố gắng phát triển tự tin , tự tin mình có thể đương đầu với bất cứ điều gì xảy ra trong tâm và thân. Trong cuộc sống, hết sức quan trọng có tính tự lực này, có tính tự tin này, chỉ cần biết cái gì đang xảy ra trong tâm và thân, và rồi học hỏi từ những điều đó và đón nhận chúng. Như vậy chúng ta cố gắng làm như trẻ thơ, cố gắng học hỏi, khám phá về những gì đang xảy ra trong tâm và thân chúng ta. Rất quan trọng có cái phẩm chất giống như trẻ thơ này, và học hỏi, tìm tòi, hiếu kỳ về những gì đang xảy ra trong tâm và thân chúng ta, những điều chúng ta thường cho là tất nhiên. Như thế xem thiền như là một chuyến du hành khám phá bản thân, và nếu bạn có được sự cởi mở như thế chúng ta có thể học hỏi từ bất cứ kinh nghiệm nào bạn có. Có thể dễ chịu, có thể khó chịu, nhưng học đặt câu hỏi: Tôi có thể học được gì từ điều này? Ðiều này cho tôi thấy cái gì? Cái thái độ như thế này đối với thiền rất, rất cần thiết.

    Đừng trông mong đạt được một cái gì đặc biệt

    Hãy đừng có quá nhiều kỳ vọng bạn sẽ thực hiện được một cái gì rất đặc biệt. Thiền chẳng phải cái gì đặc biệt;chỉ là đón nhận những việc bình thường, không có gì kỳ lạ cả. Mục đích của Thiền là đưa ta về với cuộc sống bình thường, hợp với lẽ tự nhiên của trời đất. Ðây là một điều xinh đẹp về thiền. Như vậy, thành quả không phải là những kết quả chúng ta sẽ thực hiện nhưng sự tập luyện chính là thành quả;biết những gì đang xảy ra là thành quả, chứ không phải là điều xảy ra tiếp sau đó. Xin vui lòng ghi nhớ điều này. Có lẽ trong nền văn hóa này nhấn mạnh nhiều đến phải có mục tiêu, phải hoàn thành kết quả. Như vậy, trong thiền kết quả chính là sự luyện tập. Ðây là điểm rất lý thú về thiền. Vậy thành quả chính là đón nhận, là biết những gì đang xảy ra từng giây phút, như thế bạn đang sống từng giây phút, sống một cách trọn vẹn và tỉnh thức với từng khoảnh khắc của cuộc sống.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  7. #7

    Mặc định

    QUAN SÁT HƠI THỞ:


    Chúng ta thường gặp nhiều khó khăn và không mấy thoải mái trong việc bước đầu ngồi thiền, một phần vì chúng ta không quen ngồi lâu suốt ngày và cũng không quen trong việc nỗ lực thiền định, nhưng phần lớn là do phương pháp thiền định mà chúng ta thực tập.

    Trong phương pháp thiền Vipassana (Thiền Quán), bước đầu chỉ yêu cầu các bạn theo dõi hơi thở, đúng như bản chất tự nhiên của nó, không có qui định nào cho hơi thở; không sử dụng thần chú hoặc phương thức tưởng tượng hình ảnh nào đó trong phương pháp hành trì này.

    Sử dụng một đối tượng do mình tự tạo ra (self-created), tập trung vào một đối tượng do tưởng tượng - một câu thần chú hoặc một hình tượng - tất cả những cách hành trì này dễ dẫn chúng ta vào những trạng thái hoang tưởng, khó thoát ra khỏi sự định tâm an trú vào những ảo giác mơ hồ mà không giúp được gì trong việc khám phá ra sự thật vi tế của chính chúng ta. Mục đích tối hậu của phương pháp thiền Vipassana không phải là sự định tâm. Sự định tâm chỉ là một yếu tố hỗ trợ, một bước nối dẫn đến mục đích hành thiền cao hơn: Đó là sự thanh lọc tâm, loại trừ mọi tạp niệm của tâm, mọi bất thiện trong tâm, và giải thoát ra khỏi mọi phiến não khổ đau, thành tựu sự giác ngộ viên mãn.

    Tạp niệm sinh khởi trong tâm chúng ta từng khoảnh khắc (sát na), như sân hận, thù hằn, tham lam, sợ hãi, v.v... làm chúng ta phiền nãp đau khổ. Bất cứ lúc nào, khi những điều chúng ta không cầu mong đến, chúng ta rơi vào hoàn cảnh phiền não và tự tạo ra những mầm mống (nhân) bất toại nguyện và đau khổ khác . Những khổ đau này cứ tái diễn mãi trong cuộc sống, cho đến khi thân và tâm chúng ta trở thành một khối phiền não rối rắm (quả). Hơn nữa chúng ta không chỉ đau khổ riêng bản thân mà còn làm ảnh hưởng đến những người thân xung quanh. Tất nhiên, đây không phải là một lối sống thích hợp.

    Học Thiền Quán là để học nghệ thuật sống: đó là làm sao để sống hạnh phúc và an lạc cho chính chúng ta, và cho mọi người; làm thế nào để sống hạnh phúc trong mọi lúc đồng thời hướng đến hạnh phúc tối thuợng với một tâm hồn hoàn toàn thanh tịnh, một tâm hồn tràn đầy tình thương vị tha, lòng từ bi, vui vẻ trước thành công của người khác, và tâm hỷ xả.

    Để học nghệ thuật sống hạnh phúc, trước nhất chúng ta phải tìm nguyên nhân của đau khổ. Nguyên nhân này luôn tiềm ẩn bên trong, vì vậy các bạn phải khám phá thực tại ở nơi mình. Các bạn thực tập phương pháp thiền này là để giúp các bạn quán sát lại thân và tâm của mình, chính thân tâm là nơi chứa nhiều tham đắm dẫn đến kết quả tạo ra những tâm lý căng thẳng và khổ đau. Kinh nghiệm trực tiếp về thực tại là điều rất quan trọng. "Hiểu biết chính mình" (know thyself) các bạn sẽ quán sát thực tại qua nhiều hình thức từ đặc tính thô bên ngoài đến những hình thức có đặc tính vi tế hơn và vi tế nhất biểu hiện qua thân và tâm của các bạn. Sau khi kinh nghiệm qua những thực tại này, chúng ta có thể tiến xa hơn để kinh nghiệm thực tại siêu việt nhất vượt ra ngoài kinh nghiệm của thân và tâm.

    Để có thể nhập vào sự thật vi tế này, chúng ta cũng phải bắt đầu bằng sự thật. Hơi thở là yếu tố thích hợp cho tiến trình thực nghiệm này vì nó gán liền với sự thật Hơn nữa, nếu chúng ta hành trì theo hình thức đọc tụng thần chú hoặc quán tưởng hình tượng của một vị thần nào đó thì phương pháp hành trì này trở thành một phương pháp mang đặc tính giáo phái. Tụng đọc thần chú hoặc quán tưởng hình tượng của một vị thần là nương nhờ vào một tôn giáo. Khổ đau phiền não là căn bệnh chung của con người. Phương thuốc điều trị cho căn bệnh chung này không thể là một phương thuốc của một môn phái nào đó; mà nó phải là một phương thuốc chung cho tất cả. Luyện tập tỉnh giác hơi thở sẽ đáp ứng yêu cầu này bởi hơi thở, là thành tố quen thuộc đối với mọi người: ai cũng có thể áp dụng phương pháp theo dõi hơi thở. Toàn bộ tiến trình tu tập theo phương pháp này phải hoàn toàn vượt ra ngoài chủ nghĩa môn phái.

    Hơi thở là một công cụ và với công cụ này các bạn có thể khám phá ra sự thật về tự ngã của chúng ta. Thực ra, ở mức độ kinh nghiệm, chúng ta biết rất ít về bản thân. Hơi thở là cầu nối của thân và tâm. Đa số chúng ta chỉ biết những hình thức mang tính thô thiển bên ngoài của thân mà chúng ta có thể tự điều khiển những bộ phận và chức năng của nó một cách có ý thức. Chúng ta hầu như không biết gì về những cơ quan bên trong, chúng hoạt động ngoài sự kiểm soát của ý thức. Thân thể được kết cấu do sự phối hợp của vô số tế bào, và những tế bào này luôn luôn thay đổi trong từng sát na. Vô số phản ứng sinh lý và điện lực hấp dẫn liên tục xảy ra trên khắp thân thể, nhưng các bạn không hề biết gì về chúng.

    Thực tập phương pháp này, các bạn sẽ biết những gì mà lâu nay các bạn chưa biết về tự ngã. Hơi thở sẽ giúp các bạn thành tựu mục tiêu này. Hơi thở hoạt động như là một nhịp cầu nối tiếp từ chỗ phân biệt đến chỗ không phân biệt, vì hơi thở đóng một vai trò quan trọng trong thân thể và nó có thể nhận thức hoặc không thể nhận thức, có tác ý hoặc tự nhiên. Chúng ta bắt đầu với sự hít thở có ý thức, có chủ ý, và thực tập chánh niệm hơi thở một cách tự nhiên và bình thường. Và từ đó các bạn sẽ tiến xa hơn để làm lắng đọng những sự thật vi tế hơn trong các bạn. Mỗi bước tu tập là mỗi bước tiến vào thực tại; mỗi ngày các bạn thể nhập sâu hơn để khám phá những thực tại vi tế hơn của thân và tâm.

    Bước đầu các bạn chỉ hãy theo dõi vai trò của hơi thở đồng thời các bạn cũng phải theo dõi tâm thức của mình, vì bản chất của hơi thở có mối quan hệ rất mật thiết với các trạng thái tâm thức của chúng ta. Khi nào tạp niệm, phiền não sinh khởi trong tâm, khi ấy hơi thở trở nên bất thường - chúng ta bắt đầu thở nhanh và mạnh hơn một tí. Khi những phiền não qua đi, hơi thở sẽ trở lại nhẹ nhàng. Vì vậy hơi thở có thể giúp các bạn khám phá ra thực tại không chỉ ở cấp độ thân thể mà còn ở tâm thức nữa.

    Các bạn sẽ bắt đầu kinh nghiệm được \thói quen của tâm là luôn luôn lang thang từ đối tượng này. Nó không muốn an trú vào hơi thở, hoặc tập trung vào bất cứ đối tượng đơn lẻ nào: thay vào đó, tâm nghĩ lung tung. Tâm thức của các bạn rong ruổi về quá khứ hoặc tương lai. Đây là thói quen của tâm; nó không muốn an trú trong giây phút hiện tại. Thực tế, chúng ta phải sống với hiện tại. Quá khứ là những gì đã qua, tương lai là những gì chưa đến, ngoài tầm nắm bắt của chúng ta, cho đến khi nó trở thành hiện tại. Nhớ lại quá khứ và suy nghĩ về tương lai có giá trị quan trọng chỉ khi nào chúng giúp chúng thực sự cần thiết cho giải quyết những vấn đề hiện tại. Nhưng vì thói quen đã bị tập nhiễm từ lâu, tâm thức luôn luôn tìm cách trốn khỏi thực tại và lang thang về quá khứ hoặc tuơng lai một cách vô vọng, và vì vậy tâm hoang vu này tạo ra khổ đau và bất an cho chúng ta. Phương pháp mà các bạn đang học ở đây gọi là "nghệ thuật sống", và cuộc sống thật sự có thể sống đúng nghĩa chỉ trong hiện tại. Vì vậy, bước đầu tiên là học phương cách làm sao để sống với giây phút hiện tại, bằng cách an trú tâm vào thực tại: Đó là hơi thở đang đi vào và ra từ lỗ mũi của các bạn. Đây chính là thực tại của sát na này, mặc dù nó là một thực tại không vi tế. Khi tâm thức lang thang, hãy mỉm cười và không nên khởi lên bất cứ trạng thái căng thẳng nào, chúng ta chấp nhận nó, vì đây là thói quen của tâm. Ngay lúc chúng ta nhận ra tâm thức đã lang thang, tự động nó sẽ trở lại với chánh niệm của hơi thở một cách tự nhiên. Chánh niệm là sự tỉnh thức để hay biết những gì đang xảy ra trong từng sát na.

    Bằng cách quan sát, các bạn sẽ tự nhận ra rằng có những lúc các ý niệm khởi lên một cách ngẫu nhiên, không theo một trật tự nào cả. Thói quen của tâm trong hình thức như vầy thường được xem như một dấu hiệu của sự bất bình thường (madness). Tuy nhiên, ở đây, tất cả các bạn đã khám phá ra rằng các bạn đang ở trong một trạng thái tâm tương đồng với tâm của người bất bình thường, khi nhận ra điều này tâm quí vị không còn vô minh, ảo giác, ảo tưởng (moha). Ngay khi chuỗi ý niệm phát sinh, chúng phát sinh theo đối tượng và tuỳ thuộc vào đối tượng, tâm cảm thọ lạc hoặc khổ. Nếu đối tượng làm cho tâm cảm thọ lạc thì chúng ta bắt đầu ưa thích, rồi tham đắm, chấp thủ và xây những ảo vọng về nó. Nếu tâm cảm thọ một đối tượng là khổ thì chúng ta bắt đầu phản ứng với tâm không thích, rồi oán ghét, sân giận (dosa). Chính những ảo vọng đến từ cảm thọ lạc hay sân hận từ những điều bất như ý sẽ tạo nên những định kiến chủ quan sai lệch với thực tại. Tâm thức luôn chứa đầy vô minh, tham lam và sân hận. Tất cả những tâm bất thiện khác phát nguồn cũng từ ba tâm bất thiện căn bản này, và mỗi tâm bất thiện tạo ra một đau khổ.

    Mục đích của phương pháp này là thanh lọc tâm, để tâm thoát khỏi khổ đau bằng cách đoạn trừ dần những phiền não trong tâm. Đây là một tiến trình giải phẫu đi sâu vào tâm vô thức của chúng ta, thực tập theo tiến trình này để khai mở và loại trừ những phiền não vi tế tiềm ẩn bên trong. Bước đầu của phương pháp luyện tập quán sát hơi thở, có thể suốt buổi tập chỉ có vài giây phút nào đó tâm các bạn tập trung hoàn toàn vào hơi thở, nhưng mỗi khi tâm các bạn ở vào trạng thái này nó có năng lực chuyển hoá những thói quen của tâm thức. Tại giây phút đó các bạn sống trọn vẹn, chánh niệm với thực tại hiện hữu, quan sát hơi thở vào hoặc ra từ hai lỗ mũi, và không khởi lên bất cứ ảo tưởng nào. Các bạn không thể tham muốn thở nhiều hơn nữa hoặc cảm thấy nổi giận đối với hơi thở: các bạn chỉ đơn giản theo dõi, đừng phản ứng với nó. Trong tâm niệm như vậy, tâm sẽ xuất ly khỏi ba căn bản phiền não tham, sân và si mê, đây là tâm thanh tịnh.

    Tâm niệm thanh tịnh ở cấp độ tỉnh thức này có tác động mạnh đến các phiền não đã tích tụ từ lâu trong vô thức. Sự tiếp xúc giữa các động lực thiện và bất thiện tạo ra một sự bùng nổ. Một số phiền não tiềm ẩn trong vô thức hiện ra trên tầng ý thức, và nó biểu hiện thành các trạng thái bất an khác nhau của thân và tâm. Khi chúng ta gặp tình huống như vậy, những chướng ngại tâm sẽ tăng trưởng. Tuy nhiên, chúng ta phải sáng suốt nhận ra rằng những gì có vẻ như chướng ngại khó khăn, thật ra chính nó là dấu hiệu của sự tiến bộ trong việc tu tập thiền định, nói tóm lại, điều này cho thấy phương pháp tu tập bắt đầu có hiệu nghiệm. Việc giải phẩu tâm vô thức đã bắt đầu, và chút ít mủ bị khuất bên trong đã bắt đầu xuất hiện ra ngoài vết thương. Mặc dù tiến trình giải phẩu tâm thức gặp nhiều trở ngại, chỉ có phương pháp duy nhất này mới lấy được mủ ung độc, loại bỏ mọi tạp niệm của tâm. Nếu chúng ta tiếp tục hành trì đúng phương pháp, tất cả chướng ngại lần lượt tiêu tan. Dần dần các bạn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn và từng tí một, tất cả khó khăn sẽ được khắc phục, nếu các bạn nhẫn nại thực hành.

    Không ai có thể tu tập thế cho các bạn; các bạn phải tự thực hành. Các bạn phải khám phá thực tại ở nơi quý vị. Và các bạn phải tự giải thoát khỏi mọi phiền não.

    Theo “Bài giảng trong khoá tu mười ngày thiền quán” của Thiền sư Goenka
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  8. #8

    Mặc định

    TẠI SAO PHẢI CHÁNH NIỆM HƠI THỞ:


    Trích từ "Chỉ Nam thiền tập"
    của Thiền sư Thích Nhất Hạnh


    Khi tâm mình lo lắng hoặc phiền giận, tư duy của mình thường không được chính xác và mình có thể đi đến những quyết định mà sau này mình hối tiếc. Thiền tập giúp cho mình lắng xuống, để mình có đủ thảnh thơi và sáng suốt. Vì vậy Tôi xin mời các bạn mỗi ngày thực tập theo những chỉ dẫn mà Tôi hiến tặng sau đây trong tập “Thiền tập Chỉ Nam – dành cho người trẻ”. Có điều gì chưa rõ trong khi đọc hoặc thực tập, xin bạn cứ hỏi.

    1. Thiền tập có công năng nuôi dưỡng, trị liệu, chuyển hóa, đối trị với sự căng thẳng, lo lắng, buồn phiền, sợ hãi, đem lại được niềm vui sống và giúp phục hồi được truyền thông giữa ta với những người khác.


    Ta có thể thiền tập một mình hay với một đoàn thể. Thực tập trong một đoàn thể giúp ta có cơ hội thừa hưởng được năng lượng tập thể. Năng lượng này nâng đỡ ta, bảo hộ ta, giúp cho ta làm được dễ dàng hơn những gì mà một mình ta thấy khó làm. Những phép thực tập đưa ra trong cuốn chỉ nam này có thể đem lại cho ta những kết quả tốt đẹp trong một thời gian không dài, và nếu ta theo đúng những chỉ dẫn trong sách, ta sẽ an tâm không sợ bất cứ một biến chứng nào.


    2. Thiền trước hết là sự có mặt đích thực của ta trong giây phút hiện tại, ngay tại nơi ta đang có mặt.


    Trong đời sống hàng ngày, tâm ta thường hoặc bị chìm đắm trong quá khứ, hoặc rong ruổi về tương lai, hoặc đang vướng mắc trong những toan tính, lo âu trong hiện tại, vì vậy tâm và thân không có mặt cho nhau. Thiền là đem tâm trở về với thân, đem tâm trở về với tâm, để giúp ta thiết lập được thân và tâm trong giây phút hiện tại, ý thức được sự có mặt của ta, và những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại trong các lĩnh vực thân ta, tâm ta và hoàn cảnh ta.


    3. Có mặt trong giây phút hiện tại có nghĩa là đang thực sự sống, và đang tiếp xúc với sự sống trong ta và chung quanh ta.


    Nếu tâm ta hoặc bị lôi kéo hoặc bởi quá khứ, hoặc bởi tương lai, hoặc bởi những toan tính lo âu hoặc hờn giận thì ta không thực sự đang sống đời sống của ta. Nhà văn Pháp Albert Camus có nói tới những kẻ "sống như một người chết (vivre comme un mort)" (trong tiểu thuyết L'Étranger), là như vậy. Sống có nghĩa là có mặt để tiếp xúc sâu sắc với sự sống trong ta và chung quanh ta.


    (Đọc tới đây xin bạn ngồi thẳng lên, và để ý tới thế ngồi thẳng của bạn. Bạn hãy mỉm cười để chứng tỏ là bạn đang có ý thức về cái lưng đang ngồi thẳng của bạn. Rồi bạn thở vào một hơi chầm chậm, và duy trì ý thức ấy. Thở ra, bạn cũng duy trì ý thức ấy (bạn đang ngồi thẳng) và mỉm cười trong suốt thời gian của hơi thở ra). Nếu bạn thấy làm như thế là dễ chịu, bạn có thể tiếp tục thêm một phút nữa, duy trì lưng thẳng, ý thức nụ cười và hơi thở.


    4. Cái khả năng nhận biết cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, đạo Bụt gọi là chánh niệm, gọi tắt là niệm.


    (Tiếng Phạn là Smrti, tiếng Pali là Sati, tiếng Anh là Mindfulness, tiếng Pháp là Pleine conscience). Đó là năng lượng đưa tâm trở về lại với thân để thân và tâm hợp nhất (thân tâm nhất như), để thân tâm được thiết lập trong giây phút hiện tại. Ta có thể sử dụng hơi thở, bước chân hay nụ cười để làm phát hiện năng lượng ấy, ý thức ấy. Chánh niệm chính là ý thức ấy. Ý thức bao giờ cũng là ý thức về một cái gì (conscience est toujours conscience de quelquechose), chánh niệm cũng thế. Khi ta để ý tới hơi thở của ta, thì đó là chánh niệm về hơi thở, và hơi thở ấy được gọi là hơi thở có chánh niệm.


    Khi ta có ý thức về từng bước chân chúng ta đặt trên mặt đất, thì đó là chánh niệm về bước chân, và bước chân ấy được gọi là bước chân có chánh niệm. Vì thế thực tập hơi thở có chánh niệm hoặc bước chân có chánh niệm là chế tác năng lượng chánh niệm, và duy trì năng lượng chánh niệm. Chánh niệm còn được duy trì thì tâm còn có mặt với thân, và ta (hành giả, người thực tập) đang có mặt trong giây phút hiện tại và có thể xúc tiếp với những gì đang có mặt trong hiện tại.


    (Đọc tới đây, bạn có thể ngồi thẳng lại và thực tập vài hơi thở chánh niệm: tôi đang thở vào, và tôi biết là tôi đang thở vào; tôi đang thở ra, và tôi biết tôi đang thở ra. Hoặc: tôi đang thở vào và tôi ý thức được đây là hơi thở vào của tôi, tôi đang thở ra và tôi ý thức được đây là hơi thở ra của tôi. Bạn thở cho tự nhiên, đừng cố gắng gò ép, thở như thế nào mà bạn cảm thấy dễ chịu trong khi thở. Bạn có thể thực tập: tôi đang thở vào, và thấy trong người khỏe khoắn, tôi đang thở ra và thấy trong người nhẹ nhàng. Bạn thực tập một hoặc hai phút. Thấy khỏe thấy nhẹ thì bạn mỉm cười để nhận diện sự có mặt của cảm giác khỏe và nhẹ ấy.)


    5. Có một kinh gọi là kinh Quán Niệm Hơi Thở, dạy về cách chế tác và duy trì chánh niệm bằng hơi thở.


    (Thời Bụt còn tại thế, tất cả các thầy và các sư cô đều học thuộc kinh này. Kinh này tiếng Phạn là Anapanasmrti sutra, tiếng Hán Việt là An Ban Thủ Ý. An Ban là hơi thở vào ra, Thủ Ý là duy trì chánh niệm). Chánh niệm do hơi thở chế tác và duy trì có công năng làm lắng dịu hình hài, cảm giác, cảm xúc, đem lại sự buông thư và thảnh thơi cho thân và cho tâm. Chánh niệm lại có công năng nhận diện các tâm hành, nuôi dưỡng những tâm hành tốt như niềm tin yêu, sự tha thứ, lòng bao dung, và chuyển hoá những tâm hành xấu như sự bực bội, lòng ganh ghét, sự giận hờn, v.v…Chánh niệm còn nuôi lớn được sự chú tâm (định lực) giúp chúng ta nhìn sâu vào thực tại và khám phá ra được tính bất sanh bất diệt, không tới không đi, không có không không, không một không khác. Thấy được bản chất của thực tại rồi thì ta được giải thoát, vượt thoát sợ hãi, nghi ngờ, giận hờn và tuyệt vọng. Kinh Quán Niệm Hơi Thở là một châu báu trong nền văn học Phật giáo.

    6. Hơi thở tuy thuộc về thân nhưng được xem như là những cây cầu nối liền với tâm.

    Để ý tới hơi thở, ta thiết lập được cây cầu, và chỉ trong một giây đồng hồ hay ít hơn, ta đã có thể làm cho thân tâm hợp nhất. Thân tâm hợp nhất đó là nền tảng của thiền. Thân tâm hợp nhất là điều kiện căn bản để ta nắm bắt được giây phút hiện tại (nghĩa là nhận diện được những gì xảy ra trong giây phút ấy, hoặc ở thân, hoặc ở tâm, hoặc ở hoàn cảnh). Không phải chỉ trong tư thế ngồi thiền ta mới làm được chuyện này. Khi ta giặt áo, tưới rau, lái xe, rửa bát, đi cầu,.v.v. ta cũng có thể đặt mình trong trạng thái thân tâm nhất như ấy.

    (Bạn hãy thử đứng dậy và tập bước đi vài bước trong chánh niệm. Thở vào bạn bước một bước, và ‎ thức được sự xúc chạm của bàn chân trên sàn gỗ, sàn gạch, hoặc mặt đất. Thở ra, bạn bước một bước nữa, tâm ‎ hoàn toàn đặt vào bước chân. Trong khi bước những bước chân như thế, bạn không còn suy nghĩ, vì tâm ‎ bạn đang chú trọng vào bước chân và sự xúc chạm của bàn chân với mặt đất. Bạn tập bước như thế nào mà mỗi bước chân của bạn có thể đem lại cho bạn niềm vui và sự thanh thản. Những người trong xã hội bây giờ quá bận rộn: họ đi như chạy, họ đi như bị ma đuổi, họ không có hạnh phúc và thảnh thơi trong từng bước đi. Có thể bạn cũng đã quen là như họ, nhưng bây giờ bạn muốn thay đổi, để mỗi bước chân có thể đem lại niềm vui, sự vững chãi và sự thảnh thơi.


    Thiền tổ Lâm Tế nói: bước chân trên mặt đất là thể hiện thần thông (địa hành thần thông). Phép lạ không phải là đi trên than hồng, đi trên mây hoặc trên mặt nước. Phép lạ là đi trên mặt đất, đi như một con người tự do, thanh thản, có chủ quyền về đời mình, không bị hoàn cảnh lôi cuốn, không đi như một người mộng du. Bụt đi như thế hằng ngày, và ta cũng có thể tập đi như thế. Trong khi tập đi, nếu thấy dễ chịu, mầu nhiệm, thảnh thơi, bạn hãy mỉm cười để nhận diện sự dễ chịu ấy, phép thần thông ấy.)

    7. Trong kinh Tương Ưng Bộ (S.V, 316) Bụt có nói là khi chưa thành đạo, phép thực tập hơi thở chánh niệm giúp cho thân ngài và hai mắt ngài không mệt mỏi, và giúp cho tâm ngài thảnh thơi không vướng bận.

    Có nhiều kinh trong tạng Hán cũng như trong tạng Pali dạy về phép quán niệm hơi thở. Bạn có thể tham khảo kinh một Pháp trong Tương Ưng Bộ (S, V, 311), kinh này tuy vắn tắt nhưng có đầy đủ 16 phép thực tập. Trong tạng Hán, bạn có thể tham khảo kinh Tạp A Hàm 803, cũng có nội dung tương đương. Bốn bài tập đầu giúp bạn nhận diện hơi thở, theo dõi hơi thở, nhận diện thân thể và buông bỏ sự căng thẳng trong thân thể. Bạn có thể thực tập bốn bài tập này trong bất cứ tư thế nào của thân thể, nằm, ngồi, đi hoặc đứng. Ngồi hoặc nằm thì thực tập dễ hơn. Thực tập bốn bài này, bạn sẽ thấy hơi thở có chánh niệm là cho thân bạn và mắt bạn hết mệt mỏi, và tâm bạn, vì đang chú ‎ý tới hơi thở và sự buông thư, cũng được nghỉ ngơi và không bị tư duy hoặc lo lắng buồn gíận kéo dài.

    (Xin mời bạn thực tập như sau: ngồi xuống, hoặc trên ghế, hoặc trên một cái gối ngồi, đem tâm ‎ ý để vào thế ngồi ngay thẳng của mình, mỉm cười, biết là mình đang ngồi thẳng.

    •Thở vào nhè nhẹ, ý thức đây là hơi thở vào. Đây là bài tập thứ nhất trong Kinh. Thở ra, biết rằng đây là hơi thở ra. Làm ba lần.

    •Thở vào nhè nhẹ, theo dõi hơi thở vào từ đầu đến cuối. Đừng để cho ý thức gián đoạn. Ý bám vào hơi thở vào, buông bỏ hết mọi suy tư. Đối tượng của ý bây giờ chỉ là hơi thở vào. Thở ra nhè nhẹ, theo dõi hơi thở ra từ đầu đến cuối. Đối tượng duy nhất của tâm ý là hơi thở ra, đừng để cho ý thức ấy gián đoạn. Làm ba lần. Nếu bạn cảm thấy khoẻ khoắn, dễ chịu và thích thú trong khi thở, đó là một dấu hiệu rất tốt. Đây là bài tập thứ hai: theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra, đừng để cho ý thức ấy gián đoạn. Với hai bài tập trên, bạn bắt đầu có niệm và có định (định là samadhi).

    •Thở vào nhè nhẹ, trong khi thở vào nhận diện được hình hài mình. Thở vào tôi ý thức được sự có mặt của cơ thể tôi. Thở ra, tôi buông bỏ mọi sự căng thẳng trong cơ thể tôi.


    Đây là bài tập thứ ba và thứ tư trong kinh Quán Niệm Hơi Thở. Chính nhờ hai bài tập này mà ta có thể buông thư, giúp cho cơ thể buông bỏ những sự căng thẳng, giúp cho cơ thể lắng dịu, nghỉ ngơi. Khi cơ thể có cơ hội lắng dịu và nghỉ ngơi thì cơ thể bắt đầu có khả năng tự trị liệu.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  9. #9

    Mặc định

    THỰC TẬP THIỀN VIPASSANA

    Tác giả: Thiền sư U. MAHASI
    Dịch giả: Tỳ khưu KHÁNH HỶ
    Hiệu đính: Hoà thượng KIM TRIỆU

    Dĩ nhiên chẳng ai muốn đau khổ và mọi người đều cố gắng tìm kiếm hạnh phúc. Khắp nơi trên thế giới nhân loại đang tìm đủ cách để ngăn ngừa hoặc làm vơi đi nỗi khổ đau và tạo an vui hạnh phúc. Tuy nhiên mục đích chính yếu của họ chỉ nhằm tạo hạnh phúc thể chất bằng phương tiện vật chất. Thật ra, hạnh phúc hay không đều do ở tâm chúng ta. Vậy mà rất ít người nghĩ đến vấn đề phát triển tinh thần. Những người muốn rèn luyện tinh thần lại càng hiếm hoi hơn.

    Để thỏa mãn những nhu cầu vật chất người ta thường để tâm đến những việc tầm thường như tắm giặt sạch sẽ, ăn mặc gọn gàng. Họ quan tâm nhiều đến việc kiếm thức ăn, quần áo, nhà cửa. Tiến bộ khoa học đã giúp cho họ nhiều trong việc nâng cao đời sống vật chất; chẳng hạn những tiến bộ trong sự chuyên chở và truyền tin, những phát minh y học để ngừa bệnh và trị bệnh. Phải nhìn nhận những cố gắng ấy rất ư là quan trọng, nhưng chúng chỉ giúp bảo vệ và nuôi dưỡng cơ thể mà thôi. Những phát minh và những thành công đó không thể nào tiêu diệt hay giảm thiểu được nỗi khổ của tuổi già, bệnh tật, gia đình xáo trộn và khủng hoảng kinh tế. Tóm lại, không thể nào thỏa mãn con người bằng phương tiện vật chất. Chỉ có sự rèn luyện tinh thần mới có thể giúp con người vượt qua những nỗi đau khổ này. Bởi vậy phải tìm một phương cách hữu hiệu để rèn luyện, ổn định và thanh lọc tâm hồn. Phương cách này được tìm thấy trong Maha Satipatthana Sutta, một thời pháp mà Đức Phật đã giảng dạy cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm. Đức Phật dạy:


    "Đây là cách duy nhất để thanh lọc tâm để vượt qua sự đau đớn và nỗi thống khổ, để tiêu diệt sự uất ức và buồn rầu, để đi trên con đường chân chánh dẫn đến Niết Bàn. Đó là Tứ niệm xứ".


    Nếu bạn thực sự muốn thực tập thiền để đạt được tuệ giác giải thoát ngay trong kiếp hiện tại, bạn phải gạt bỏ mọi tư tưởng và hành vi thế tục trong thời gian hành thiền. Làm như thế là để trau dồi phẩm hạnh thanh cao. Đó là bước căn bản cho việc phát triển thiền. Bạn phải giữ mình trong sạch, đạo đức vì đạo đức là bước cơ bản để phát triển tuệ giác. Bạn phải giữ các giới luật của người Phật tử tại gia hay tu sĩ xuất gia. Trong khóa thiền tập nhiều ngày thiền sinh phải giữ tám giới (bát quan trai).


    1. Không sát sanh.
    2. Không trộm cắp.
    3. Không hành dâm.
    4. Không nói dối.
    5. Không uống rượu và các chất say.
    6. Không ăn phi thời (quá ngọ).
    7. Không múa hát, nhạc kịch, không trang điểm phấn son.
    8. Không nằm ngồi nơi cao sang, xinh đẹp.


    Một điều nữa là không có lời nói hay hành động bất kính đối với những người có trình độ giác ngộ cao (các bậc Thánh).

    Theo truyền thống của các Thiền sư xưa thường khuyên bạn đặt niềm tin vào Đức Phật, vì như thế sẽ giúp cho bạn bớt hốt hoảng khi những hình ảnh bất thiện hoặc đáng sợ xuất hiện trong tâm bạn lúc đang hành thiền. Trong lúc thiền tập bạn cũng có một vị Thiền sư hướng dẫn để chỉ cho bạn biết một cách rõ ràng mình đang thiền như thế nào và kết quả đến đâu, cũng như để chỉ dẫn cho bạn khi cần thiết.


    Mục đích chính và thành quả lớn lao của việc hành thiền là giúp cho bạn loại bỏ tham, sân, si - ba nguồn cội của mọi khổ đau và tội lỗi. Vậy bạn hãy nỗ lực tích cực hành thiền với quyết tâm loại bỏ tham, sân, si; có như thế việc hành thiền mới hoàn toàn thành công. Cách thực tập thiền quán trên căn bản Tứ niệm xứ (satipatthana) này là phương pháp mà Đức Phật và chư Thánh Tăng đã hành trì để giác ngộ. Bạn hãy vui mừng bởi mình có duyên may thực hành loại thiền quý báu này.

    Bốn điều bảo vệ hay quán tưởng sau đây cũng rất cần thiết cho bạn khi bạn bắt đầu vào khóa thiền tập. Bạn hãy suy tưởng đến Đức Phật, đến lòng từ ái, đến thân thể bất tịnh và đến sự chết.


    1. Trước tiên hãy tỏ lòng tri ân kính ngưỡng Đức Phật bằng cách suy niệm đến những đức tánh thánh thiện của Ngài.

    "Con xin thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn".


    2. Sau đó hãy hướng tâm từ ái đến mọi chúng sinh, hãy hòa mình với tất cả mọi loài không mảy may phân biệt.

    "Mong cho tôi thoát khỏi thù hận, bệnh tật và phiền muộn. Mong cho cha mẹ, thầy tổ, bạn bè cùng tất cả mọi người, mọi loài thoát khỏi thù hận, bệnh tật và phiền muộn. Cầu mong tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau".


    3. Hãy suy tưởng đến sự bất tịnh của thân thể, đó là sự luyến ái bất thiện mà phần đông thường mắc phải. Hãy chú ý đến tánh cách bất tịnh, dơ dáy của dạ dày, ruột, đờm dãi, mủ, máu để loại bỏ những tư tưởng luyến ái, bám víu vào xác thân.


    4. Suy tưởng đến tình trạng mỗi người đều tiến dần đến cái chết. Đấy là lối sống suy tưởng có lợi ích về phương diện tâm lý. Đức Phật thường nhấn mạnh rằng: sự sống thật bấp bênh, tạm bợ nhưng cái chết là điều không thể tránh né. Tiến trình của cuộc sống gồm có sanh ra, già đi, bệnh tật, khổ đau và cuối cùng là cái chết.


    Lúc thực tập, bạn có thể ngồi kiết già hay bán già hoặc ngồi hai chân không chồng lên nhau. Nếu thấy ngồi dưới sàn khó định tâm hay làm bạn khó chịu, bạn có thể ngồi trên ghế. Tóm lại, bạn có thể ngồi cách nào miễn thấy thoải mái là được.

    * * *

    BÀI TẬP THỨ NHẤT

    Hãy chú tâm vào phần bụng. Nên nhớ là chú tâm chứ không phải chú mắt nhìn vào bụng. Chú tâm vào bụng bạn sẽ thấy được chuyển động phồng xẹp của bụng. Nếu không thấy rõ được sự chuyển động của bụng, bạn có thể đặt hai tay lên bụng để cảm giác sự phồng xẹp. Một lúc sau, bạn sẽ nhận rõ sự chuyển động vào ra của hơi thở. Bạn hãy nhận rõ sự phồng lên khi hít vào và xẹp xuống khi thở ra. Mọi chuyển động của bụng đều phải được nhận rõ. Từ bài tập này bạn biết được cách chuyển động của bụng. Bạn không cần để ý hình thức của bụng mà chỉ cần theo dõi cảm giác, sức ép do chuyển động của bụng tạo nên mà thôi.


    Đối với những người mới tập thiền, đây là phương pháp rất có hiệu quả để phát triển khả năng chú ý, định tâm và tuệ giác. Càng thực tập lâu càng thấy sự chuyển động rõ ràng hơn. Khi trí tuệ chánh niệm tỉnh giác phát triển trọn vẹn thì ta sẽ tuệ tri được những diễn tiến liên tục của tiến trình tâm - sinh - vật lý của mỗi giác quan. Vì là người sơ cơ hành thiền, sự chú ý và khả năng định tâm còn yếu nên bạn sẽ thấy khó giữ tâm trên những chuyển động phồng xẹp liên tục. Do đó bạn có thể nghĩ rằng: "Ta chẳng biết cách giữ tâm trên mọi chuyển động phồng xẹp này". Bạn cần nhớ rõ đây là một tiến trình học hỏi vì vậy hãy yên tâm tiếp tục hành thiền. Chuyển động phồng xẹp của bạn luôn luôn hiện hữu, vì vậy ta không cần tìm kiếm chúng. Thực ra những thiền sinh mới chỉ cần đơn thuần chú tâm trên hai chuyển động phồng xẹp mà thôi nên sự thực tập cũng không khó khăn lắm. Bạn hãy tiếp tục thực tập bài tập này bằng cách chú tâm vào chuyển động phồng xẹp. Đừng bao giờ lập đi lập lại bằng miệng những chữ phồng xẹp, dầu cho nói thầm cũng không được, chỉ cần nhận rõ sự chuyển động phồng xẹp của bụng mà thôi. Nên thở đều đặn tự nhiên, tránh điều khiển hơi thở dài hay ngắn quá. Nhiều thiền sinh muốn thấy rõ sự phồng xẹp nên hay thở dài hoặc nhanh, làm như thế sẽ khiến bạn mệt.

    * * *

    BÀI TẬP THỨ HAI


    Trong khi thực tập quan sát sự phồng xẹp của bụng những tư tưởng khác sẽ phát sanh là bạn quên mất sự chú tâm. Tư tưởng, ham muốn, ý nghĩ, tưởng tượng v.v... sẽ xuất hiện giữa những thực kiện "phồng, xẹp". Bạn không nên bỏ qua những phóng tâm hay vọng tưởng này mà phải nhận rõ từng phóng tâm một khi chúng phát sanh.

    Khi tâm bạn tưởng tượng một điều gì, bạn phải biết là đang tưởng tượng. Khi bạn chỉ đơn thuần nghĩ đến một điều gì phải biết đang nghĩ. Khi bạn suy gẫm biết đang suy gẫm. Khi bạn có dự định làm điều gì biết đang dự định. Khi tâm bạn đang lang bạt không để ý đến phồng xẹp, biết đang phóng tâm. Khi tưởng tượng đang đi đến một nơi nào phải biết đang tưởng đi. Khi tưởng đến thì biết đang tưởng đến. Khi nghĩ đến gặp người nào thì nghĩ đến đang tưởng gặp. Khi nghĩ đến nói chuyện với ai thì phải biết đang tưởng nói. Khi bàn cãi biết đang tưởng bàn cãi. Khi thấy hình ảnh màu sắc biết là thấy. Mỗi một khi tâm thấy gì, nghĩ gì đều phải nhận rõ cho đến khi chúng tự biến mất. Sau khi chúng biến mất ta lại chú tâm vào sự phồng xẹp. Phải chú tâm hành trì đừng chểnh mảng. Khi định nuốt nước bọt phải nhận rõ: định. Khi nuốt phải nhận rõ động thái nuốt. Muốn khạc nhổ phải nhận rõ: muốn, rồi lại trở về sự phồng xẹp. Nếu bạn muốn khum cổ nhận rõ: muốn, trong khi khum cổ nhận rõ động thái khum. Khi bạn định ngưỡng cổ lên nhận rõ: định, khi ngưỡng cổ lên nhận rõ động thái ngưỡng. Động tác ngưỡng cổ hay khum cổ nên tiến hành thong thả tự nhiên. Sau khi đã chú tâm giác niệm mỗi một động tác đó, ta lại trở về với động thái phồng xẹp.

    * * *

    BÀI TẬP THỨ BA


    Vì phải liên tục thiền trong một khoảng thời gian khá dài với tư thế ngồi hay nằm nên bạn cảm thấy mệt và thấy mỏi tay chân. Trong trường hợp này, bạn hãy chú tâm vào cảm giác mệt mỏi và nhận rõ trạng thái mệt mỏi. Hãy giác niệm một cách tự nhiên, không mau quá cũng không chậm quá. Cảm giác mệt mỏi sẽ dần dần giảm đi và cuối cùng hết hẳn. Nếu sự mệt mỏi kéo dài đến độ không chịu đựng nổi, lúc bấy giờ bạn hãy thay đổi tư thế. Tuy nhiên đừng quên nhận rõ ý muốn trước khi thay đổi tư thế. Mỗi một chi tiết chuyển động nhỏ đều phải được giác niệm một cách trung thực theo trình tự.


    Nếu dự định đưa tay hay đưa chân lên hãy nhận rõ ý định ấy. Trong khi đưa ta hay đưa chân lên hãy nhận rõ động thái đưa lên. Duỗi tay, duỗi chân nhận rõ động thái duỗi. Khi đặt tay xuống nhận rõ động thái đặt xuống. Khi hai chân tay tiếp xúc nhau nhận rõ trạng thái nơi tiếp xúc. Hãy thực hiện mọi động tác khoan thai để dễ nhận biết rõ ràng. Ngay khi bạn đang ở trong tư thế mới, bạn phải tiếp tục chú tâm vào sự phồng xẹp của bụng ngay. Nếu thấy tư thế mới không thoải mái, muốn đổi tư thế thì cũng phải giác niệm như trên.


    Nếu thấy ngứa ngáy một chỗ nào đó, chú tâm vào chỗ ngứa ngáy và nhận rõ cảm giác ngứa. Sự giác niệm phải tự nhiên, đừng quá mau cũng đừng quá chậm. Khi cảm giác ngứa biến mất lại trở về trang thái phồng xẹp.

    Nếu ngứa quá không chịu được muốn gãi, phải nhận rõ ý muốn gãi rồi mới từ từ đưa tay lên, nhận rõ động tác đưa lên. Khi tay đụng chỗ ngứa nhận rõ sự đụng chạm. Khi gãi nhè nhẹ vào chỗ ngứa nhận rõ động tác gãi. Khi đã hết ngứa không muốn gãi nữa và muốn đưa tay về phải nhận động tác đưa về. Khi trở về chỗ cũ và tiếp xúc với tay hay chân nhận rõ sự đụng chạm. Rồi tiếp tục quan sát sự phồng xẹp ở bụng.


    Nếu thấy đau hay khó chịu, hãy chú tâm vào chỗ đau hay khó chịu đó. Hãy giác niệm một cách rõ ràng và chính xác mọi cảm giác phát sinh, chẳng hạn, đau nhức, đè nặng, mệt, tê, cứng v.v.... cần nhớ là những sự giác niệm này phải tự nhiên, đồng thời, đừng vội vã quá cũng đừng chậm trễ quá. Cơn đau, nhức có thể chấm dứt hay gia tăng. Khi cơn đau gia tăng cũng đừng hốt hoảng hay lo sợ gì cả mà chỉ cần tiếp tục thiền và một lát sau cơn đau sẽ lắng đi. Nếu cơn đau nhức vẫn kéo dài không thể chịu đựng nổi thì hãy bỏ qua sự đau nhức và chú tâm vào sự phồng xẹp.


    Khi thiền của bạn tiến triển, bạn sẽ có những cảm giác đau đớn khó chịu. Bạn có cảm giác khó thở, nghèn nghẹn, có khi như bị kim chích, thấy nhột nhạt như có côn trùng bò lên thân mình. Bạn cũng có thể thấy ngứa ngáy, đau đớn như con gì cắn, bị rét run. Khi bạn ngưng thiền thì những cảm giác trên biến mất ngay. Khi bạn tiếp tục thiền trở lại và cứ mỗi khi bắt đầu định tâm thì cảm giác khó chịu trên lại xuất hiện. Những cảm giác này không có gì đáng lo ngại. Đây không phải là dấu hiệu của bệnh hoạn mà chỉ là những cảm giác bình thường vẫn hiện diện trong cơ thể ta nhưng chúng bị che lấp vì tâm ta mãi bận rộn với những đối tượng trước mắt. Khi thiền định tiến triển, tâm ta trở nên bén nhạy, tinh tế nên dễ dàng nhận thấy những cảm giác này. Khi mức độ thiền định tiến triển hơn bạn sẽ vượt qua tất cả những chướng ngại này. Nếu tiếp tục và kiên trì thiền bạn sẽ không còn gặp những cảm giác khó chịu này nữa. Nếu bạn thiếu can đảm, thiếu quyết tâm và gián đoạn một thời gian thì bạn sẽ chạm trán với chúng lần nữa mỗi khi thiền cuả bạn tiến triển. Nhưng nếu gặp những cảm giác khó chịu này bạn vẫn quyết tâm và kiên trì tiếp tục hành thiền thì bạn sẽ chinh phục được chúng và bạn sẽ không bao giờ găp những cảm giác khó chịu này nữa trong lúc hành thiền.


    Nếu bạn dự định xoay mình bạn hãy nhận rõ ý định xoay. Khi đang xoay nhận rõ tư thế xoay. Nhiều khi trong lúc bạn đang hành thiền, bạn thấy thân thể mình lắc lư từ trước ra sau thì bạn cũng đừng sợ hãi, đừng thích thú hay mong muốn tiếp tục lắc lư. Sự lăc lư sẽ chấm dứt nếu bạn chú tâm vào nó và tiếp tục nhận rõ trạng thái lắc lư cho đến khi hết lắc lư. Nếu ghi nhận nhiều lần mà vẫn còn lắc lư bạn hãy dựa vào tường hay nằm xuống một lát và tiếp tục hành thiền. Khi thân bị lay chuyển hay run rẩy cũng chú tâm giác niệm như trên. Khi thiền định tiến triển có lúc bạn cảm thấy rờn rợn run lên hoặc ớn lạnh ở xương sống hay toàn thân. Đó là trạng thái hỉ lạc, một thành quả đương nhiên khi thiền được tiến triển tốt đẹp. Khi tâm an trụ trong thiền định thì bạn rất dễ bị giật mình bởi những tiếng động nhỏ. Lý do là tâm của bạn bây giờ rất bén nhạy trước mọi đối tượng của giác quan.


    Trong lúc thiền nếu bạn cảm thấy khát nước, hãy ghi nhận cảm giác khát. Khi muốn đứng dậy, nhận rõ ý muốn và chú tâm giác niệm mỗi một động tác chuẩn bị đứng dậy. Trong khi đứng dậy chú tâm nhận rõ động tác đứng dậy. Sau khi đứng dậy mắt bạn nhìn về phía trước, nhận rõ: nhìn. Khi muốn đi, nhận rõ ý muốn đi. Bắt đầu bước từng bước, nhận rõ động thái từng bước. Bạn phải tỉnh thức trong mọi bước đi từ lúc bắt đầu cho tới khi đứng lại. Khi tản bộ hoặc thiền hành bạn cũng phải theo những nguyên tắc giác niệm như trên. Hãy tinh tấn giác niệm những bước chân qua hai động tác: dở, đạp... dở, đạp. Khi bạn đã thuần thục với cách này, hãy chú tâm nhận rõ ba động tác: dở, bước, đạp... dở, bước, đạp.

    Khi bạn thấy hoặc nhìn đến chỗ để nước phải nhận rõ: thấy hoặc nhìn.

    Khi dừng chân, nhận rõ: dừng.

    Khi đưa tay, nhận rõ: đưa.

    Khi tay đụng vào chén, nhận rõ: đụng.

    Khi cầm chén, nhận rõ: cầm.

    Khi thọc tay vào lu, nhận rõ: thọc.

    Khi đưa chén lên môi, nhận rõ: đưa.

    Khi chén đụng vào môi, nhận rõ: đụng.

    Khi cảm thấy mát, nhận rõ: mát.

    Khi nuốt, nhận rõ: nuốt.

    Khi để chén xuống, nhận rõ: để xuống.

    Khi thu tay về, nhận rõ: thu về.

    Khi thõng tay xuống, nhận rõ: thõng.

    Khi tay đụng vào đùi, nhận rõ: đụng.

    Khi muốn quay đùi, nhận rõ: muốn.

    Khi quay đùi, nhận rõ: quay.

    Khi đi, nhận rõ: đi.

    Khi đến nơi muốn dừng lại, nhận rõ: muốn.

    Khi dừng lại, nhận rõ: dừng.


    Nếu đứng một thời gian lâu, thì hãy chú tâm vào sự phồn xẹp của bụng. Nhưng khi bạn muốn ngồi hãy nhận rõ: muốn. Khi đi đến chỗ ngồi phải nhận rõ: đi. Đến chỗ ngồi nhận rõ: đến. Xoay người trước khi ngồi, nhận rõ: xoay. Phải ngồi xuống thư thả và nhận rõ mọi chuyển động của sự ngồi. Bạn phải chú ý đến từng động tác của tay chân khi ngồi. Ngồi xong lại tiếp tục theo dõi sự phồng xẹp của bụng.


    Khi bạn muốn nằm, nhận rõ: muốn; rồi lại giác niệm mọi động tác của sự nằm: nghiêng người, chống tay, đặt đầu, duỗi chân, nằm xuống...tất cả những động tác này phải làm thư thả tự nhiên. Lúc nằm xuống rồi lại tiếp tục theo dõi sự phồng xẹp. Trong khi nằm nếu cảm thấy đau nhức, mệt mỏi, ngứa ngáy...đều phải giác niệm. Nhận rõ mọi cảm giác, suy nghĩ, ý kiến, cân nhắc, suy xét và mọi động tác của tay chân và thân thể. Nếu thấy không còn cảm giác gì đặc biệt đáng giác niệm thì hãy tiếp tục nhận rõ sự phồng xẹp. Khi buồn ngủ, nhận rõ trạng thái buồn ngủ. Nếu bạn có đủ năng lực chuyên chú trong thiền, bạn có thể vượt qua sự buồn ngủ và cảm thấy tươi tỉnh, lúc bấy giờ bạn hãy tiếp tục niệm phồng xẹp cho đến khi ngủ. Giấc ngủ là sự liên tục của tiềm thức, giống như trường hợp của tâm lúc tái sanh hay của tâm lúc chết, cái tâm lúc này rất yếu ớt không thể nhận biết được gì cả...Khi bạn thức, tâm này tiếp tục xuất hiện giữa những lúc bạn nhìn, nghe, nếm, ngửi, xúc chạm và suy nghĩ. Nhưng tâm này xuất hiện rất yếu và không tồn tại lâu nên khó nhận thấy. Tâm này sẽ duy trì liên tục khi bạn ngủ. Khi bạn thức dậy, thì mọi tư tưởng và mọi đối tượng sẽ được nhận thức rõ ràng liền.


    Vào lúc thức giấc, bạn phải hành thiền ngay. Là thiền sinh mới vì vậy bạn khó có thể tỉnh thức vào những giây phút đầu tiên lúc mới thức dậy. Nhưng bạn phải giác tỉnh ngay lúc bạn nhớ lại rằng mình đang hành thiền. Chẳng hạn lúc bạn thức dậy, bạn nghĩ tưởng đến điều gì thì phải tỉnh thức mà nhận rõ ngay: nghĩ tưởng. Rồi tiếp tục với phồng xẹp. Khi thức dậy bạn phải chú tâm đến những chi tiết của hoạt động cơ thể. Mọi động tác của tay chân và thân thể phải được nhận rõ một cách tỉnh thức. Lúc thức dậy bạn có nghĩ rằng bây giờ là mấy giờ không? Nếu nghĩ đến giờ thì phải nhận rõ: nghĩ. Bạn chuẩn bị rời khỏi giường ngủ hãy nhận rõ: chuẩn bị. Khi từ từ ngồi dậy thì phải nhận rõ: ngồi dậy. Lúc đang ở tư thế ngồi, nhận rõ: ngồi. Nếu còn ở giường một lúc lâu mới đứng dậy thì phải chú tâm đến phồng xẹp, tiếp theo đó. Lúc rửa mặt hay tắm, cũng phải để tâm nhận rõ mọi chi tiết, chẳng hạn, nhìn, ngắm, duỗi, cầm, nắm, ấm lạnh, chà xát...lúc trang điểm, lúc làm giường, lúc đóng mở cửa, cầm nắm vật gì đều phải chú tâm nhận rõ theo thứ tự.


    Bạn hãy chú tâm giác niệm tư thế, trạng thái của từng động tác một lúc ăn:

    Khi nhìn thức ăn, nhận rõ: nhìn.

    Khi múc thức ăn, nhận rõ: múc.

    Khi đưa thức ăn lên miệng, nhận rõ: đưa.

    Khi thức ăn chạm môi, nhận rõ: chạm.

    Khi thức ăn vào đến miệng, nhận rõ: vào.

    Khi miệng ngậm lại, nhận rõ: ngậm.

    Khi bỏ xuống, nhận rõ: bỏ xuống.

    Khi tay đụng đĩa, nhận rõ: đụng.

    Khi nhai, nhận rõ: nhai.

    Khi biết mùi vị, nhận rõ: biết.

    Khi nuốt, nhận rõ: nuốt.


    Khi thực phẩm vào trong cuống họng và chạm vào cuống họng, nhận rõ: đụng.

    Hãy chú tâm theo dõi mỗi khi bạn múc một muỗng cơm cho đến khi xong bữa ăn. Lúc mới thực hành sẽ có nhiều thiếu sót. Đừng ngại điều đó, sau một thời gian chuyên cần tu tập sự thiếu sót giác niệm sẽ giảm đi. Khi thiền tập tiến triển đến mức độ cao hơn bạn sẽ còn nhận rõ được thêm nhiều chi tiết hơn những điều đã đề cập ở đây.


    BÀI TẬP THIỀN HÀNH CĂN BẢN

    Giữa hai lần thiền tọa là khoảng thời gian từ 30 đến 60 phút để thiền hành. Thiền hành xen kẽ giữa thiền tọa để quân bình năng lượng và những yếu tố của sự định tâm, đồng thời để tránh buồn ngủ. Bạn có thể thiền hành trong phòng hay ngoài sân. Lúc thiền hành bạn nên đi chậm hơn lúc bình thường và đi một cách tự nhiên. Trong lúc thiền hành bạn phải chú tâm vào sự chuyển động của chân. Bạn phải chú tâm khi bàn chân phải bắt đầu nhắc lên khỏi mặt đất, nhận rõ: dở; khi đưa chân tới, nhận rõ: bước; khi chân đặt xuống đất, nhận rõ: đạp. Chân trái cũng làm như thế. (Nói chân trái, chân phải cho dễ hiểu chứ không nên có ý niệm hay gọi tên trái phải).

    Cũng như lúc ngồi thiền; khi đi, mọi phóng tâm hay cảm giác phải được giác niệm. Chẳng hạn chợt nhìn một vật gì đó trong khi bạn đang đi hãy nhận rõ tức thì: nhìn; rồi trở về với những chuyển động của chân. Mặc dù trong khi đi những vật bạn nhìn thấy không liên can gì đến thiền hành nhưng nếu bạn vô tình nhìn thấy nó thì phải nhận rõ ngay: nhìn.

    Khi đi đến mức cuối của đoạn đường kinh hành dĩ nhiên bạn phải trở bước để đi ngược trở lại; lúc còn vài bước đến bước cuối của đoạn đường, bạn phải nhận rõ: muốn quay. Ý định muốn quay có thể khó nhận rõ lúc ban đầu nhưng khi thiền tập của bạn tiến triển, bạn sẽ thấy dễ dàng. Sau khi giác niệm ý định, bạn phải nhận rõ tất cả chi tiết liên quan đến động tác quay. Ở bước cuối cùng của con đường, bạn bắt đầu quay mình, phải nhận rõ: quay; khi chân chuyển động phải kịp thời nhận rõ dở...bước...đạp v.v... trong lúc quay thường vì sự cám dỗ của bên ngoài nên bạn có ý định muốn nhìn xem chung quanh có cái gì lạ không, phải nhận rõ ngay dự định hay ý muốn đó, rồi lại chú tâm vào bước chân.

    Thông thường đối với những thiền sinh mới, chú tâm đến ba giai đoạn dở, bước và đạp rất có hiệu quả. Tuy nhiên, tuỳ theo khả năng của từng người, thiền sư có thể khuyên họ nên chú ý ít hay nhiều giai đoạn hơn. Nhiều lúc thấy sự đi chậm bất tiện, nhất là lúc đi ra ngoài khu vực hành thiền bạn có thể đi nhanh hơn và chỉ cần nhận rõ mỗi khi chân trái và chân phải đặt xuống đất. Ghi nhận nhiều hay ít giai đoạn không quan trọng, điều cốt yếu là bạn có chú tâm tỉnh thức trong từng bước đi hay không.

    THIỀN ĐỊNH Ở MỨC CAO HƠN

    Sau một thời gian hành thiền, định lực của bạn phát triển và bạn dễ dàng theo dõi sự phồng xẹp của bụng, lúc bấy giờ bạn sẽ nhận thấy có một thời gian, hay khoảng hở giữa hai giai đoạn phồng xẹp. Nếu bạn đang ngồi thiền bạn hãy nhận rõ: phồng, xẹp, ngồi. Khi quán niệm bạn hãy chú tâm vào phần trên của thân.

    Khi bạn đang nằm thiền hãy nhận rõ: phồng, xẹp, nằm. Nếu bạn thấy có khoảng thời gian hở giữa phồng, xẹp và xẹp, phồng, bạn hãy nhận rõ: phồng, ngồi, xẹp, ngồi. Nếu bạn đang nằm, hãy nhận rõ: phồng, nằm, xẹp, nằm. Nếu thực hành một lát mà thấy sự quán niệm ba hay bốn giai đoạn như trên không dễ dàng đối với bạn, hãy trở về với giai đoạn phồng, xẹp.

    Trong khi chú tâm theo dõi chuyển động của thân, bạn không cần phải chú ý đến đối tượng thấy và nghe. Khi bạn có khả năng chú tâm vào chuyển động phồng xẹp thì bạn cũng có khả năng chú tâm vào đối tượng nghe và thấy. Tuy nhiên, khi chú ý nhìn một vật gì đó thì bạn đồng thời nhận rõ vài ba lần: thấy, sau đó phải trở về sự chuyển động của bụng. Giả sử có một người nào đó đi vào trong tầm nhìn của bạn, bạn để ý thấy thì phải nhận rõ: thấy, đôi ba lần; rồi trở về với sự phồng xẹp. Bạn có nghe tiếng nói không? Bạn có lắng nghe không? Nếu bạn nghe hay lắng nghe thì phải nhận rõ: nghe hay lắng nghe; sau đó trở về với sự phồng xẹp. Giả sử bạn nghe những tiếng động lớn như tiếng chó sủa, nói chuyện to, tiếng hát bạn phải tức khắc nhận rõ hai ba lần: nghe, rồi trở về với phồng xẹp. Nếu bạn quên không quán niệm khi đang phóng tâm vào sự nghe, điều này có thể khiến bạn suy tưởng hay chạy theo chúng mà quên chú ý đến sự phồng xẹp. Lúc bấy giờ sự phồng xẹp sẽ trở nên yếu đi hay không phân biệt được rõ ràng. Gặp những trường hợp bạn bị lôi cuốn bởi những phiền não chập chồng như thế, bạn hãy nhận rõ hai ba lần: suy tưởng, rồi trở về với sự phồng xẹp. Nếu quên ghi nhận những chuyển động của thân, tay, chân... thì phải nhận rõ: quên, rồi trở về với sự chuyển động của bụng. Bạn có thể cảm thấy lúc bấy giờ hơi thở sẽ chậm lại hay chuyển động phồng xẹp không rõ ràng. Nếu điều đó xảy ra và lúc ấy bạn đang ngồi thì hãy chú tâm nhận rõ: ngồi, đụng. Nếu lúc bấy giờ đang nằm hãy nhận rõ: nằm, đụng. Khi nhận rõ: đụng, không phải bạn chỉ chú tâm vào một điểm của cơ thể đang tiếp xúc, mà phải chú tâm vào nhiều điểm kế nhau. Có nhiều chỗ đụng; ít nhất sáu bảy chỗ bạn phải chú tâm đến. Một trong những điểm đó là đùi, đầu gối, hai tay chạm nhau, hai chân đụng nhau, chớp mắt, lưỡi đụng miệng, môi chạm nhau.

    * * *

    BÀI TẬP BỐN

    Cho đến bây giờ bạn đã hành thiền được nhiều giờ rồi. Bạn có thể bắt đầu cảm thấy làm biếng khi nghĩ rằng mình chưa tiến bộ được bao nhiêu. Đừng bỏ dở, hãy nhận rõ: làm biếng.

    Trước khi thiền của bạn có sức mạnh để phát triển khả năng chuyên chú: định tâm và tuệ giác, bạn có thể nghi ngờ không biết hành thiền như thế này có đúng, có hữu ích không. Gặp trường hợp này hãy nhận rõ: nghi ngờ. Bạn có ao ước hay mong muốn đạt được thành quả tốt trong thiền định không? Nếu bạn có tư tưởng như thế thì hãy nhận rõ: ao ước hay mong muốn. Bạn có tư tưởng xét lại cách thức thực tập để bạn đạt được mức độ này không? Nếu có, bạn hãy nhận rõ: xét lại. Có trường hợp bạn xem xét đối tượng thiền và phân vân không biết đó là tâm hay vật chất không? Nếu có, bạn hãy nhận rõ: xem xét. Có khi nào bạn tiếc nuối vì không đạt được sự tiến bộ nào không? Nếu có bạn hãy chú tâm nhận rõ cảm giác: tiếc nuối.

    Ngược lại, bạn có cảm thấy sung sướng khi mức độ thiền định của bạn tiến triển hay không? Nếu có, bạn hãy nhận rõ: sung sướng. Đấy là cách thức bạn nhận rõ mỗi một trạng thái của tâm hồn, nếu không có những tư tưởng hay quan niệm được nhận rõ thì bạn trở về với sự phồng xẹp.

    Trong một khoá hành thiền tích cực thì thời gian hành thiền bắt đầu từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ. Bạn cần nhớ phải luôn luôn thực hành hoặc bài tập căn bản, hoặc là thực hành sự chú tâm liên tục suốt ngày cho đến đêm, nếu như bạn chưa buồn ngủ. Chẳng nên dừng nghỉ phút nào. Khi thiền định của bạn đạt được một mức độ tiến bộ cao thì bạn không còn cảm giác buồn ngủ mặc dù bạn phải hành thiền rất nhiều giờ; lúc bấy giờ bạn có thể tiếp tục hành thiền cả ngày lẫn đêm.

    Tóm lại trong thời gian hành thiền, bạn phải chú tâm quán niệm đến sự chuyển động của cơ thể, dù đó là những chuyển động lớn hay nhỏ; đến mỗi một cảm giác, dầu cảm giác ấy dễ chiu hay khó chịu, đến tất cả những trạng thái của tâm, dù là trạng thái tốt hay xấu. Trong suốt thời gian hành thiền nếu không có những biến đổi gì đặc biệt xảy ra khiến bạn phải chú ý, thì hãy chú tâm vào sự phồng xẹp của bụng. Nếu bạn đi làm một việc gì đó, chẳng hạn, đi uống nước, bạn hãy chú tâm đến nhưũng động tác cần thiết của sự đi; bạn phải chú tâm tỉnh thức nhận rõ từng bước đi một: đi...đi... Lúc đến nơi bạn hãy quán niệm từng động thái: đứng... cầm... nắm... uống... nhưng khi bạn thực tập thiền hành bạn phải chú tâm đến ba giai đoạn của bước đi: dở, bước, đạp. Thiền sinh phải nỗ lực tập luyện suốt ngày đêm mới có thể khai triển tâm đến tuệ giác thứ tư (tuệ biết )
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  10. #10

    Mặc định

    MỘT SỐ HÌNH ẢNH THIỀN CÙNG YOGA

    -Nhóm thiền sinh Hà Nội tại trường Quốc Tế Miến Điện




    Tọa thiền bên Suối Ngọc Vua Bà:





    Thiền cùng yoga tại fitness club:






    Hành hương đến sứ tuyêt Tây Tạng:





    Tập thiền sau giờ làm tại liên hiệp các hội KHKTVN:



    Last edited by lien hoa dieu hy; 18-09-2008 at 01:21 PM.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  11. #11
    Đai Đen Avatar của laduykhanh
    Gia nhập
    Feb 2008
    Nơi cư ngụ
    Tu viện Drikung Kagyupa
    Bài gởi
    540

    Mặc định

    Côlien hoa dieu hy có học lớp này với Thầy Hoài trên Giảng võ không ạ?
    Lama Drikung Konchog Tinley
    :yb663:Namo Gurube:yb663:

    Thiền quán mà chẳng học Pháp thì như leo núi mà chẳng có chân.
    Học Pháp mà chẳng thực hành thì là bơ bị chua đáng bỏ.

    Y!: laduykhanh

  12. #12

    Mặc định

    @ Chào LDK ! DH là thành viên câu lạc bộ THIỀN CÙNG YOGA của thầy Hoài mà.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  13. #13

    Mặc định

    Gửi bạn LHDH, cho mình hỏi : Yoga Tây Tạng có gì khác với Yoga khác (ví dụ Hatha Yoga)

  14. #14

    Mặc định

    Bạn Trucmai và các bạn thân mến!
    DH xin nêu vài nét về thiền cùng yoga Tây Tạng.
    -Yoga Tây tạng có nguồn gốc từ đạo Phật của Tây Tạng,
    -Đựơc ảnh hưởng và chắt lọc những tinh hoa của yoga Ấn Độ.
    -Thiền cùng yoga Tây Tạng được kết hợp rất nhịp nhàng và khoa học,vừa động vừa tĩnh(các động tác yoga là động-thiền là tĩnh).

    Thân ái!
    LHDH!
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  15. #15

    Mặc định

    Xin chao LHDH, you co the cho biet dia chi hien dang day thien co uy tin o HN duoc khong? Cam on rat nhieu.Dh

  16. #16

    Mặc định

    @ Bạn dhasbv thân mến! Địa chỉ của lớp THIỀN CÙNG YOGA:


    CLB Yoga Tay tang 175 Giang vo Hanoi -Tel: 04.2060498 - 04.8313355 - 04.6430133 Mobile: 0915119198 - 0983640489


    Chúc bạn vui,khỏe và an lạc!
    LHDH!
    Last edited by lien hoa dieu hy; 24-09-2008 at 06:56 PM.
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  17. #17

    Mặc định

    cho tui hỏi ở tphcm thì liên hệ với ai, ở đâu. Xin cám ơn.

  18. #18

    Mặc định

    Xin phép mọi ng cho Trango lôi topic này lên vì Trango đang tìm hiểu về môn này
    vẫn còn đi còn đi

  19. #19

    Mặc định

    Cảm ơn smod rất nhiều vì bài viết bổ ích!
    Trango thích tập yoga, tập yoga trango khỏi bệnh rối loạn tiêu hóa, xoang. Giờ muốn tìm hiểu thêm về thiền nữa. K vì cái j cao siêu, chỉ mong thân tâm khỏe mạnh, minh mẫn.

    Tuy nhiên trango học yoga Ấn Độ, nên có 1 vài điểm mà khi đọc bài của smod trango hơi thắc mắc như là việc nhắm mắt khi tập hay thở tự nhiên. Vì trc h trango tập là phải thở theo quy tắc riêng của từng động tác, khi nào hít vào, khi nào nín thở,.... Và cũng tùy từng động tác mà nhắm hay mở mắt
    1 buổi tập của trango ở trung tâm (trango tập ở AD yoga - tòa nhà Thành Công) là sơ thiền, khởi động, tập asana, nhảy kaoski, xoa bóp, thư giãn, ngồi tĩnh tâm.
    Trango có chút thắc mắc: khi kết hợp thiền và yoga như smod nói thì chắc 1 buổi tập p kéo dài đến 2h? Vì khi trango tập, chỉ ngồi tĩnh tâm khoảng 2p thôi đã mất 1h15p cho 1 buổi tập r. Và thứ tự thì có phải là: sơ thiền, asana, thiền, xoa bóp k hả smod?

    Trango sẽ đến clb smod giới thiệu để tìm hiểu nhưng cũng muốn tham khảo ý kiến của mọi ng trong này. Hi vọng smod k phiền vì 1 topic đã 3 năm r trango còn lôi lên.
    vẫn còn đi còn đi

  20. #20

    Mặc định

    Cám ơn bạn lienhoadieuhy đã chia sẽ những điều rất quí báo cho việc tu luyện từ thấp đế cao, mình may mắn có bộ sách Yoga của ngài Nawami, nhưng mình chỉ áp dụng quyễn Yoga Tối Thượng thôi và chỉ trong vòng một tháng là có kết quả. Nói thật ra mình có xem một vài quyễn khác nữa như :"Pháp Bảo Đàn Kinh, Đốn Ngộ Pháp của Ngài Huệ Năng, sách của vị tu Tiểu Thừa có được chứng đắc, kinh Diệu Pháp Liên Hoa". Đã được tiếp điện từ Ngài Hộ Pháp chỉ dạy trong vòng một tuần mà trên 300 Ấn, thấy nhiều quá mình xin ngưng nếu cần thì tiếp điện chỉ dạy, hay có thắc mắc gì khi tiếp giao với các đồng tu, như Ấn Ngũ Lôi, Ấn Chuẩn Đề, Ấn Trừ Thiên Linh Cái/Bùa/Ngãi và Ấn thu các Ấn
    và có một hôm sử dụng làm tan mây đang mưa, mới biết được Hoa Sen Ngàn Cánh là như thế nào. Sau một thời gian không dùng Ấn hay Chú nữa mà dùng ý Lực, có bữa mấy cô Linh Căn dùng Ấn thử mình, chỉ dùng Điển ở giữa hai mắt đưa ra thì hai cô buông Ấn ra liền và kêu giải tán cuộc họp, còn các Cô Cậu Đồng Bóng thì khỏi lên luôn. Nhưng trên đường tu rất nhiều thử thách, nếu không kiên trì thì sẽ mất hết . Có chút ít chia xẻ cùng các bạn có gì xin góp ý cho mình thêm tiến bộ trong việc tu luyện được như ý hơn.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •