Có 1 điều TN thắc mắc rất lâu rồi, đó là khi xem trên phim thường thấy những người tu Mật lập đàn để bảo vệ nhà cửa, ... khỏi bùa chú, ma quỹ mà họ gọi là kết giới. Vậy không biết ngoài đời thực có giống vậy không???
Thanks,...
Có 1 điều TN thắc mắc rất lâu rồi, đó là khi xem trên phim thường thấy những người tu Mật lập đàn để bảo vệ nhà cửa, ... khỏi bùa chú, ma quỹ mà họ gọi là kết giới. Vậy không biết ngoài đời thực có giống vậy không???
Thanks,...
andy tang ban raaz:
green3
Last edited by HoaTuLien; 02-05-2013 at 12:38 PM.
[B][COLOR="Red"] ನೀಎ ಮಹ್ಹ ಖ್ಲ್ಲರ್ ಘರ್ ಹ್ಲೂವ ನ್ಮುಲ್ಲ್ ನೀ ಲಕ್[/COLOR][/B]
what do you mean, andy? :D
hihi ban phai gai thoat cho ban khoi cai khung sat kien thuc , hihi
[B][COLOR="Red"] ನೀಎ ಮಹ್ಹ ಖ್ಲ್ಲರ್ ಘರ್ ಹ್ಲೂವ ನ್ಮುಲ್ಲ್ ನೀ ಲಕ್[/COLOR][/B]
thời nay tào lao thì có nhiều mà nhiều vô số kể tuỳ theo túi tiền của bạn mà họi gọi mưa gọi gió, gió mưa về hay không thì tuỳ bản lãnh của họ.
các vị cao nhân ngày nay điều ẩn mình nơi rừng sâu núi thẩm chứ không phải nhởn nhơ ngoài chợ hay góc phố nào và có ghi quảng cáo trên báo hay truyền miệng v.v.v.
phải tự chính lực mình muốn ma quỹ trọng mình thì phải tu đức mà muốn ma quỹ hay bùa chú không hại mình thì phải từ bi hỷ xã và bồi tâm đức thì chẳng có bùa chú nào hại nổi vì chẳng có ma lực nào hại được mà ngược lại sẽ phò trợ cho bạn khỏi tiền mất tật mang
đàn pháp, hay trận pháp đều có thật; tuy nhiên trong thời bình ít dùng tới, chỉ dùng để bảo vệ mùa màng, nhà cửa, chống trộm....những cao thủ đàn pháp cấp cao thường ở chợ, còn cấp trung thì thường ở vùng hẻo lánh, cấp tà tà thì ở đâu cũng có....nếu hữu duyên sẽ gặp.
Chào bạn chủ host mình nói ngăn dọn cho bạn dể hiểu là,lập đàn có 3vấn đề
1:người chưa đủ đạo hạnh nên họ mới lập đàn cung thỉnh hộ pháp kim cang đến trừ tà,ma qủi
2:do đạo thấp kém nên làm những chuyện khoa trương thân thế,chứ việc lập đàn kg phải như 1số người ở d-đàn này biết và nói
3:khi người trì 1số chú kim cang lâu năm thì lập tức hộ pháp về,chứ khổi lập đàn năng nỉ ỷ ôi,mình có cách nghĩ như thế này khi mình muốn hỏi 1chuyện gì đó mình hãy tự suy nghĩ trước rồi nên hỏi hay kg,người thật biết lập đàn thì người ta kg dám chỉ bạn đâu,còn người chẵng biết gì,họ chỉ bạn lập đàn để làm gì họ cũng chẵng biết,thỉnh ai họ cũng trã biết,trên bàn những dụng cụ để lập đàn cũng kg biết có những thứ gì,
Có 1thành viên to mồm nhứt chuyên mục mật tông,mình nhắn tin hỏi ông ta khi lập đàn ông ta thỉnh vị nào,bài chú khai đàn là gì,trên bàn đàn gồm có những gì thì mình nhận được câu trả lời bằng 0,mình biết có người trải qua 10 mấy năm mong 1chút thành tụ là mừng lắm,chứ mà tu 3,4năm thần thông nhận đệ tử cứu này dúm người khi,chính bản thân của họ còn kg cứu nổi họ mà cứu ai,
vô minh diệt vô minh tận
vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc
Cám ơn phanquanbt nhiều nhé!!!
TN nghe cho rõ lời lão nói nhé...đàn pháp của đạo gia hay của bất cứ giáo phái nào lão k biết...nhưng đàn pháp của mật tông rất quan trọng chứ k phải tào lao như cái ông phanquanbt kia nói đâu...đàn pháp của mật tông k phải nói muốn lập là lập,khó khăn là cái thứ nhất,vật liệu,cách thức,chơn ngôn,thủ ấn...v..v
các nước theo truyền thống mật tông như tây tạng,ấn độ,nhật bản lập đàn rất tỷ mỉ đúng như pháp trong kinh đã dạy...khá tốn kém và khó khăn.
còn ở việt nam thì rất hiếm thấy vị nào dám lập đàn mật...thường thì trong các lễ lớn như chẩn tế,đàn dược sư,đàn quán âm,...v.v mới có lập,và cũng lập theo cách việt nam chứ chẳng giống trong kinh mô tả.
nói tóm lại,chỉ là phật tử thì cứ lo tu hành cái dễ thôi,...mấy phần khó này thì chừng nào cạo tóc xuất gia rồi hả nghiên cứu sâu vào nhá....
TaLiDa=>Tà Là Tao Đá
খুব খুব সন্ত্রাসবাদ চূড়ান্ত পাগল ফ্যান্টাসি নির্বাণ জৈব :praying:2
Thật ra trong nghi lễ phật giáo....Đàn Chẩn Tế cũng là Mật đàn của Mật Tông Đại Thừa, Ấn Chú, Chơn Ngôn, Mật Chú, Mật Ấn, Lời kinh tiếng kệ được dung hòa vào đàn này để Cầu Siêu cho người mất Cầu An cho người sống....Hiển Mật tương ứng ở đó vậy....
còn đây là Mật đàn của Chơn Ngôn Tông (Đông Mật) Nhật Bản, đàn này của 1 vị hành giả ở Việt Nam, HCM.
https://fbcdn-sphotos-c-a.akamaihd.n...51208034_n.jpg
https://fbcdn-sphotos-b-a.akamaihd.n...65310644_n.jpg
https://fbcdn-sphotos-h-a.akamaihd.n...0c5e45f5e48389
https://fbcdn-sphotos-h-a.akamaihd.n...bbebe08ae18d98
Vạn Pháp huyền môn
Tam tề thiên tôn sắc lệnh - Chúng Thần lâm đàn tọa trấn. rose4
Bạn này nói chưa đúng rồi.
Thầy tôi dạy các đệ tử tu Mật bắt buộc phải có đàn thành. Và Thầy dạy luôn cả các chọn vị trí, đặt, xem, hướng, trang trí đàn thành tối thiểu như thế nào.
Khi vào đàn thành tu pháp thì ra làm sao.
Trong trường hợp đi xa hoặc chưa đủ điều kiện để lập đàn thành thì phải quán tưởng ra đàn thành, kết giới và ngồi trong đó.
"Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, chịu biến hoại, hãy tinh tiến tu học"
TaLiDa=>Tà Là Tao Đá
খুব খুব সন্ত্রাসবাদ চূড়ান্ত পাগল ফ্যান্টাসি নির্বাণ জৈব :praying:2
Đây là đàn tu hệ Đông Mật chân ngôn tông
Đàn đơn của riêng 1 hành giả..
Còn đây là đàn mandala của Tây Tạng mật tông
dạng 3d
dạng đồ hình bằng cát.
1 số đàn ở việt nam
đàn dược sư.
đàn chuẩn đề.
đàn chẩn tế.
TaLiDa=>Tà Là Tao Đá
খুব খুব সন্ত্রাসবাদ চূড়ান্ত পাগল ফ্যান্টাসি নির্বাণ জৈব :praying:2
chào bạn talida tui thấy bạn cũng to mồn bạn có thể giải những cách dụng sau đây nếu biết rồi hãy nói to nhé
Phải xả thế nào.
Phải dụng tâm ra sao
Phải dụng ý thế nào
Phải dụng lực làm sao
Phải trì tụng thế nào trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi.
Phải làm thế nào Tam mật tương ứng
Phải làm lợi ích cho chúng sanh thế nào, và
Phải hồi hướng công đức ra sao.
vô minh diệt vô minh tận
vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc
Chất chứa Có người nọ nghe nói về một đạo sư nổi tiếng nên tìm đến hỏi đạo. Đến nơi, anh thấy trong nhà của vị đạo sư trống trơn, chỉ có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cuốn sách. Anh ngạc nhiên hỏi: "Sao nhà đạo sư trống trơn, không có đồ đạc gì cả?"
Đạo sư hỏi lại: "Thế anh có hành lý gì không?"
Anh đáp: "Dạ có một va li".
Đạo sư hỏi: "Sao anh có ít đồ vậy?"
Anh đáp: "Vì đi du lịch nên đem ít đồ".
Đạo sư nói: "Tôi cũng là một người du lịch qua cuộc đời này nên không mang theo đồ đạc gì nhiều".
Chúng ta thường quên mất mình chỉ là khách du lịch qua cuộc đời này, lầm tưởng mình sẽ ở mãi nơi đây, nên tham lam, ôm đồm, tích trữ quá nhiều đồ vật, tài sản. Đàn bà thì chất chứa quần áo, vòng vàng, nữ trang. Đàn ông thì máy móc, xe hơi, ti vi, máy điện tử.
Tranh Chấp
Mỗi khi có sự tranh chấp, buồn phiền, chúng ta thường có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác. Sau đây là ba trường hợp:
a. Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng và người kia lỗi 100%.
b. Người bắt đầu học đạo, biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%.
c. Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%.
1/ Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng 100%. Do vô minh và chấp ngã quá lớn, cho mình là người quan trọng nhất, nghĩ cái gì cũng phải, cũng đúng, nên xảy ra chuyện gì trái ý cái ngã (cái ta) thì tức giận bắt lỗi người khác. Thí dụ một chuyện thật xảy ra ở Hoa Kỳ, có một bà già vào mua cà phê tại tiệm Starbucks, không biết vì lý do gì, bà uống ly cà phê bị phỏng miệng. Thế là bà nổi giận làm đơn kiện tiệm này đã bán cho bà ly cà phê quá nóng khiến bà bị phỏng miệng và đòi bồi thường hai triệu đô la. Bà ta không thấy lỗi mình là khi cầm ly cà phê lên, nếu thấy nóng thì phải biết thổi cho nó nguội rồi mới uống, đàng này có thể vì tham ăn, tham uống, thấy ly cà phê bốc mùi thơm phức, mờ mắt húp cái ực nên bị phỏng miệng. Trong khi đó biết bao nhiêu người khác uống đâu có bị phỏng? Không những không biết lỗi mình mà còn đi kiện người ta!
Một chuyện khác có thật cũng xảy ra tại Hoa Kỳ. Một ông nọ đưa bộ đồ vét (veste, suit) đến một tiệm giặt ủi. Khi lấy bộ đồ về thì nhận ra cái quần không phải của mình. Ông đem trả lại tiệm và khiếu nại. Khoảng một tuần sau, chủ tiệm đưa cho ông một quần khác, nhưng ông vẫn không công nhận là quần của ông. Thế rồi ông làm đơn kiện tiệm giặt ủi. Chủ tiệm đề nghị bồi thường ông 12.000 đô la nhưng ông không chịu mà đòi 54 triệu. Đương nhiên là quan tòa đã bác đơn của ông ta.
2/ Người bắt đầu học đạo và biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%. Ở đây nói 50% là nói tượng trưng, vì có thể là 40% và 60%, hoặc 30% và 70%, hoặc 20% và 80%, v.v... Khi xảy ra một sự tranh chấp, cãi nhau thì đương nhiên phải có một người bắt đầu. Thí dụ như ông A và bà B cãi nhau. Ông A là người bắt đầu, nhưng nếu bà B im lặng bỏ đi, không chửi lại thì ông A không thể đứng đó chửi mãi. Nhưng nếu ông A nói một câu và bà B nói lại hai câu thì ông A sẽ tức lên nói ba câu hoặc năm, sáu câu liên tiếp. Và nếu bà B không biết ngừng thì cuộc cãi nhau sẽ leo thang. Nếu bà B biết ngừng thì cuộc khẩu chiến sẽ chấm dứt. Nhưng sau đó cả hai bên đều mang vết thương lòng và hận nhau. Về nhà, nếu bà B là người hiểu đạo thì sẽ nhận ra mình cũng có lỗi trong chuyện cãi nhau, và nếu nhận ra mình có lỗi 40% thì cơn giận của bà sẽ giảm xuống 40%. Nếu bà B nhận ra mình có lỗi 60% thì cơn giận của bà sẽ hạ xuống 60%.
3/ Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%. Trong một cuộc tranh chấp mà thấy mình lỗi 100% thì coi bộ lỗ quá. Nhưng nếu hiểu đạo, đạo ở đây là luật nhân quả và nhân duyên thì biết là không thể nào tự nhiên vô cớ mà người kia lại gây sự với mình. Có thể mình đã nói hoặc đã làm điều gì tổn thương người ta mà mình không nhớ. Và nếu xét cho kỹ mà vẫn không thấy mình làm gì sai quấy thì có thể đời trước, hay nhiều kiếp trước mình đã não hại người ta, nên bây giờ họ gặp lại mình thì gây sự, kiếm chuyện trả thù.
Thấy mình lỗi đã là quý, nhưng nếu biết xin lỗi thì càng quý hơn vì có thể giải tỏa ân oán và oan gia.
Hạnh phúc xả ly
Ở đời người ta thường cho hạnh phúc là có được cái này, cái kia: Có nhà lầu, xe hơi, có vợ đẹp, con ngoan, có tài sản, quyền thế, v.v... Khi chưa có thì muốn có, làm đủ mọi cách để cho có. Có rồi thì sợ mất hoặc xem thường rồi lại muốn có cái khác. Nếu không được thì buồn phiền, bất mãn, khổ sở.
Người biết tu thì thấy "không có" là một hạnh phúc. Không có ở đây là do trí tuệ quán chiếu thấy mọi sự phiền toái đều do ham muốn mà ra. Bởi thế người tu không muốn có, nếu đã có rồi thì tập xả ly. Vì những thứ "có" trên thế gian này đều là ràng buộc.
Tuy nhiên đối với những người chưa có, chưa thỏa mãn được những mong ước, thèm khát, còn mải mê chạy theo vật chất thì xả ly là một việc thật khó làm, vì họ chưa có thì lấy gì mà xả bỏ.
Ðức Phật khi còn là thái tử đã có vợ con, vàng bạc, của cải, cung phi mỹ nữ, đầy đủ vật chất mà trong lòng vẫn nặng trĩu âu lo, không cảm thấy hạnh phúc. Do đó Ngài mới xả bỏ ra đi tìm chân lý, tìm hạnh phúc chân thật. Trong khi đó có những người tu lại chạy theo vật chất, của cải, tài sản, danh lợi bởi vì trong đời họ chưa được thỏa mãn, chưa cảm thấy có đầy đủ. Chỉ khi nào có được rồi và trải qua kinh nghiệm thấy những thứ mà họ đã nhọc công tìm kiếm chỉ đem lại phiền toái và khổ đau thì lúc đó ý nghĩ xả ly mới xuất hiện.
Trước hết có thân thì phải lo cho thân ăn, mặc, ở, sống. Phải đi làm kiếm ăn, phải mua quần áo mặc, phải thuê nhà ở tránh mưa nắng. Khi thân đau ốm phải lo thuốc men, chạy chữa. Nếu có gia đình thì phải lo làm ăn buôn bán kiếm tiền nuôi vợ con. Suốt ngày chỉ lo suy nghĩ và làm đủ mọi chuyện cho cái ta và những thứ của ta.
Hạnh phúc xả ly tương đương với thiểu dục tri túc, có nghĩa là tâm không ham muốn, và luôn cảm thấy đầy đủ dù trong tay không có gì hết. Với người tu, không có sở hữu gì thật là một hạnh phúc. Nói như vậy có vẻ ngược đời, nhưng người tu là kẻ đi ngược dòng đời kia mà!
Xả ly giống như người đang mang gánh nặng trên vai mà đi, nay bỏ được gánh nặng xuống thì cảm thấy nhẹ nhàng sung sướng vô cùng. Người tu cần tập xả ly, vì xả nhiều chừng nào thì nhẹ chừng nấy. Xả ly không có nghĩa là phải vứt bỏ hết tài sản, của cải đang có.
Xả ly trước hết là xả bỏ sự ham muốn và buồn giận trong tâm, kế đến là xả bỏ sự bám víu vật chất bên ngoài. Tuy sống giữa tài sản, vật chất, nhưng tâm không còn nhớ nghĩ những thứ đó là của ta, nếu có ai xin hoặc mất thì xem như nhẹ gánh nặng.
Tập xả ly tới mức cùng cực thì khi chết, ta xem như trút hết gánh nặng, nhất là cái thân tứ đại già yếu, bệnh hoạn. Ta đã phải mang nó trên vai suốt cả cuộc đời, nay bỏ được nó, há không phải là sung sướng lắm sao? Vì thế các thiền sư đắc đạo, khi chết đều vui vẻ an nhiên tự tại ra đi.
Khi đói thì ta thèm ăn, nhưng khi ăn thì đòi thứ này thứ kia rồi ăn cho cố, đau bụng, nặng bụng, khó thở. Khi khát thì thèm uống, nhưng khi uống thì thích những thứ độc hại như rượu bia, rồi say mèm, ói mửa. Nhiều khi sinh ra ung thư hay sưng gan.
Người tu là người đi tìm hạnh phúc chân thật, hạnh phúc này chỉ có khi tâm không còn bám víu, dính mắc, thèm khát mọi sự vật trên đời này. Như vậy hạnh phúc chính là sự giải thoát của tâm ý. Và muốn có giải thoát thì phải tập xả ly. Hãy nhìn vào tự tâm, xem mình còn bám víu, dính mắc, ưa ghét cái gì không? Có người xả bỏ được vợ con nhưng lại dính mắc vào chùa chiền, xả bỏ được tài sản nhưng lại dính mắc vào danh lợi, địa vị. Xả bỏ được cái này nhưng rồi lại dính mắc vào cái khác!
Lão xả theo cách này...xả đắc,xả đắc có xả mới có đắc...
TaLiDa=>Tà Là Tao Đá
খুব খুব সন্ত্রাসবাদ চূড়ান্ত পাগল ফ্যান্টাসি নির্বাণ জৈব :praying:2
Phải dụng tâm ra sao
Phải dụng ý thế nào
Phải dụng lực làm sao
nếu có thể nói cặn kẻ với cậu thì hay quá ...nhưng thật sự lão ngu dốt quá nên k biết phải nói thế nào...lão cũng k biết có vị nào khi dụng tâm,dụng ý,dụng lực tu học mà có thể nói với người khác được...thôi thì cậu nói đi
TaLiDa=>Tà Là Tao Đá
খুব খুব সন্ত্রাসবাদ চূড়ান্ত পাগল ফ্যান্টাসি নির্বাণ জৈব :praying:2
sư phụ của lão chỉ dạy thế này Nếu muốn mau cầu tam-ma-địa này, thường trong tứ oai nghi đi đứng nằm ngồi nên thường tụng đà-ra-ni ấy, dụng công nhớ niệm chớ có tạm bỏ qua, đều rất mau hiệu nghiệm.
Nam mô khể thủ thập phương Phật
Chơn như hải tạng cam lồ môn
Tam hiền thập thánh ứng chơn tăng
Nguyện tứ oai thần gia niệm lực.
Hi hữu tổng trì thiền bí yếu
Năng phát viên minh quảng đại tâm
Ngã kim tùy phần lược xưng dương
Hồi thí pháp giới chư hàm thức.
còn cách của cậu chắc lão k biết,...
TaLiDa=>Tà Là Tao Đá
খুব খুব সন্ত্রাসবাদ চূড়ান্ত পাগল ফ্যান্টাসি নির্বাণ জৈব :praying:2
Tam mật là thân mật, khẩu mật, ý mật, là phương pháp tu trì cơ bản của Mật tông. Thông qua tu hành tam mật có thể khiến ba nghiệp thân, khẩu, ý của người tu hành được thanh tịnh, đạt được cảnh giới chuyển thức thành trí, tức thân thành Phật. Tam mật là nội dung chủ yếu trong tất cả pháp tu của Mật tông, là điểm mấu chốt trong tu hành, cũng là phương pháp và lí luận cơ bản mà người tu hành Mật tông nhất định phải tin theo, nghiêm khắc tuân thủ và thực hệin. Tu trì bản tôn cũng không ngoại lệ.
Tam mật của Phật tức là chỉ ba nghiệp của Phật, có đặc điểm “sâu xa và vi tế, suy nghĩ của người thường không thể đạt đến được, thập địa đẳng giác cũng không thể thấy nghe”. Chúng sinh đều có tính Phật, bản tính cũng giống như tam mật của Phật. Tam mật của Phật và tam nghiệp của chúng sinh tương ứng, thì có thể thành tựu nghiệp dụng không thể ngờ tới. Tam nghiệp của chúng sinh không chỉ phù hợp với tam nghiệp của Phật, mà còn hàm ẩn trong tam nghiệp của Phật.
Tam mật gia trì và tam mật tương ứng
Tam mật có hai loại là hữu tướng và vô tướng. Tam mật hữu tướng chỉ Phật và chúng sinh hoà hợp, bước vào cảnh giới Du già, chúng sinh thân kết ấn (thân mật), miệng tụng chân ngôn (khẩu mật), ý nghĩ quán tưởng bản tôn (ý mật); tam mật vô tướng chỉ tất cả hành vi của thân thể, ngôn ngữ và những suy nghĩ trong nội tâm của chúng sinh đều là tam mật.
Về phương pháp tu hành cụ thể, Mật tông có phương pháp tu hành tam mật gia trì và tam mật tương ứng. Căn cứ vào tam mật hữu tướng, tam mật của Phật sẽ gia hộ nhiếp trì trên tam nghiệp của chúng sinh, gọi là tam mật gia trì. Tam mật của Phật và tam mật của chúng sinh tương ứng hoà hợp, gọi là tam mật tương ứng. Nếu căn cứ vào phương pháp tu hành, tức là người tu hành tay kết ấn khế, miệng tụng chân ngôn, trong lòng quán tưởng, thì có thẻ khiến tam nghiệp thân, khẩu, ý của mình được thanh tịnh, tương ứng với thân, khẩu, ý của bản tôn, tức thân thành Phật.
Thân mật
Thông thường, tu hành thân mật lấy thủ ấn làm chủ yếu, tức là tay kết ấn khế, cũng có nghĩa là thông qua sự kết hợp của bàn tay và ngón tay tạo thành những thủ ấn có những hình dạng khác nhau, đồng thời phối hợp với tưởng tượng và ý niệm, hình thành một loại pháp tu. Chủng loại thủ ấn Mật tông có rất nhiều, có hàng nghìn kiểu, mỗi vị bản tôn đều có những ấn tướng đặc biệt của mình, mỗi loại thủ ấn đều có chức năng, tên riêng và nội hàm đặc biệt của nó. Thông qua tay kết ấn khế, hơi thở thân mật của người tu hành và các chư Phật, Bồ Tát đã thành tựu pháp giới tương ứng với nhau, từ đó chuyển hoá thân nghiệp của bản thân người tu hành thành thân mật của Phật.
Ngoài việc kết thủ ấn, thân mật còn bao gồm các loại tư thế ngồi, tư thế thường thấy là ngồi kiết già hoặc bán kiết già. Tư thế kiết già là hai mu bàn chân lần lượt đặt lên đùi trái phải, tư thế nửa kiết già tức là đặt bàn chân trái bên dưới đùi phải, pchân phải đặt lên đù trái, tay phải đặt trên tay trái, hoặc trái phải đặt đối nhau.
Ngoài ra thân mật còn bao gồm các phương pháp tu khí, tu mạch, tu minh điểm và chuyết hoả…
Khẩu mật
Khẩu mật còn gọi là ngữ mật, thanh mật, cũng gọi là lời chú, chân ngôn. Phật giáo Tây Tạng cho rằng, chữ viết, ngôn ngữ thế gian đều là giả pháp vô căn cứ, không có thực, chỉ có những ngôn ngữ bí mật của Phật, Bồ Tát mới là minh ngôn chí lí chân thật không giả tạo. Thành tâm trì tụng chân ngôn, có thể kêu gọi những thệ nguyện, công đức mà chư Phật, Bồ Tát đã thành tựu, để gia trì vào người tu hành, khiến công đức tự tính vốn có của người tu hành được hiển hiện, tạo ra hiệu lực không thể ngờ được, có thể diệt tội, tăng phúc, ích trí, trừ chướng, tiêu tai, tránh tà, nhập định, đạt được các loại mục đích thế gian và xuất thế gian, thậm chí tức thân thành Phật.
Cũng phải nói thêm rằng, khi tụng niệm chân ngôn, chỉ cần chú ý vào âm thanh, không cần nghiên cứu ý nghĩa của nó. Cũng có nghĩa là khi tụng niệm, không cần hoạt động tư duy để suy nghĩ về ý nghĩa của chân ngôn, chỉ cần kiên định lòng tin và tâm niệm, chuyên tâm bền chí tụng niệm thì có thể đạt được mục đích.
Ý mật
Ý mật là phần quan trọng nhất trong tam mật, cách tu hành chủ yếu của ý mật là quán tưởng, tức là dùng phương pháp suy nghĩ, tưởng tượng, coi bản vô thành hiện hữu để tu hành. Trong Phật giáo Tây Tạng, đối tượng để quán tưởng vô cùng đa dạng, thông thường gồm bốn loại là tự, sự, pháp, nhân. Tự tức là quán tưởng một số chữ Phạn (Tất Đàm), chữ Tạng. Sự tức là quán tưởng về các vật như nguyệt luân, hoa sen. Pháp là quán tưởng các pháp như từ bi, tính không. Nhân tức là quán tưởng về người như thượng sư, bản tôn… Người tu hành thông qua việc chuyên tâm vào một niệm, từ đó tiêu trừ được ngã chấp, vô minh, chuyển thức thành trí.
Phương pháp quán tưởng bản tôn là một trong những đặc sắc lớn của Phật giáo Tây Tạng. Người tu hành kết thủ ấn của bản tôn, niệm chân ngôn của bản tôn, quán tưởng bản tôn hiển hiện trên bầu hư không trước mặt, phát ra ánh sáng bao trùm lên bản thân, sau đó di chuyển lên đỉnh đầu mình, phát ra ánh sáng lớn lao, từ trong ánh sáng chảy ra nước cam lộ, tràn thân thể, khiến khí đen trong cơ thể thoát ra từ các lỗ chân lông, cuối cùng bản tôn hoà nhập hoàn toàn với người tu hành, người tu hành hoá thân thành bản tôn.
Trên thực tế, cách tu trì thân, khẩu, ý của Tạng Mật, đặc biệt là tu trì phép quán tưởng là nhằm mục đích nhập định, trong tiếng Phạn là Tam ma địa, hoặc Tam muội. Nhập định là pháp môn cao nhất và cảnh giới cao nhất trong tu trì mật pháp Phật giáo. Mục đích của tất cả các phép tu trong Tạng Mật đều là nhập định.
TaLiDa=>Tà Là Tao Đá
খুব খুব সন্ত্রাসবাদ চূড়ান্ত পাগল ফ্যান্টাসি নির্বাণ জৈব :praying:2
Làm lợi lạc có nghĩa là đem lại sự lợi ích và niềm an vui cho kẻ khác. Sự lợi ích và niềm an vui về tâm linh và tinh thần, đây là một điều mà chỉ có những người tu Mật Tông là có thể làm được.
Làm lợi lạc bằng cách “Chú nguyện”, dùng “Chân ngôi Chú pháp”. Đây là một hình thức bố thí có thể được xếp vào loại “Pháp thí”. Kinh Phật dạy: “Pháp thí cao hơn tài thí”, có nghĩa là cao hơn cho người ta tiền bạc. mà sự bố thí này lại là Ba la mật, nghĩa là tuyệt đỉnh, ở chỗ mình đem cho mà chẳng cần người được cho biết đến, và cũng không cần họ đền ơn.
TaLiDa=>Tà Là Tao Đá
খুব খুব সন্ত্রাসবাদ চূড়ান্ত পাগল ফ্যান্টাসি নির্বাণ জৈব :praying:2
There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)
Bookmarks