DANH TÁNH CÁC VỊ ĐẠT LAI LẠT MA VA BAN THIỀN LẠT MA
Đạt Lai Lạt Ma và hệ chuyển sanh.
Danh từ Đạt Lai (Dalai) vốn chẳng phải là tiếng Tây Tạng mà xuất phát từ danh từ Gia Mục Thố (Rgyamt'so) của Mông Cổ. Gia Mục Thố theo tiếng Tây Tạng có nghĩa là Hải (biển), cũng là danh từ để tôn xưng các vị Lạt Ma đạo cao đức trọng, chứ chẳng giới hạn dành riêng đức Đạt Lai Lạt Ma, nên trong pháp danh của các vị đại Lạt Ma thường có danh từ Gia Mục Thố. Tổng cộng, Tây Tạng có mười bốn vị Đạt Lai Lạt Ma.
Vào năm 1578, vua Mông Cổ là Thuận Nghị Yêm Đáp Hãn (1) sai sứ thần là A Nhĩ Thản cung nghinh ngài Tỏa Lãng Gia Mục Thố (Đạt Lai Lạt Ma đời thứ III) đến vùng Sát Bốc Tể Lặc Nhã (ở Thanh Hải) và Mông Cổ hoằng pháp, cùng tôn xưng vị này là Đạt Lai (2). Từ đó, Lạt Ma giáo của phái Hoàng giáo được lưu hành khắp nước Mông Cổ. Đương thời, vua Yêm Đáp Hãn cũng ban hiệu cho vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ III là Đạt Lai Lạt Ma Kim Cang Chấp Trì (Vajra-dhara). Từ đó, danh hiệu này được thông dụng khắp Mông Cổ và Trung Quốc, cùng khắp toàn thế giới (trong hiện tại).
Người Tây Tạng vốn không xử dụng danh từ Đạt Lai, mà chỉ dùng vào lúc ngoại giao. Bình thường dân Tây Tạng tôn xưng Đạt Lai Lạt Ma là: 1/ Gia Mục Cung Lâm Bảo Gia (Sky-ads-mgon-po-c,e), nghĩa là Cứu Hộ Tôn Giả; 2/ Cái Ngõa Lâm Bảo Gia (Rgyal-ba-rin-po-c,e), nghĩa là Đắc Thắng Tôn Giả; 3/ Đạt Mục Tiền Kham Ba (T'ams-Cad-mk'yeu-pa), nghĩa là bậc Nhất Thiết Trí. Tương truyền, những vị Đạt Lai Lạt Ma vốn là hóa thân của Bồ Tát Quán Âm.
Vào năm 1650, vua Mông Cổ Cố Thỉ Hản (Gu-sri-khan) thuộc bộ lạc Hòa Thác Đặc giao trọn quyền về mặt Chánh Trị và Tôn Giáo của xứ Tây Tạng cho vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ V (A Vượng La Bốc Tạng Gia Mục Thố). Từ đó cho đến hiện tại, các vị Đạt Lai Lạt Ma chuyển sanh không những là vị giáo chủ của Hoàng giáo, mà còn là vị lãnh tụ tinh thần tối cao của toàn thể nước Tây Tạng về các mặt chánh trị cũng như tôn giáo.
Những nhân viên cận vệ của Đạt Lai Lạt Ma là Bố Cách (Sbugs, nghĩa là Đại Nội).
Dưới đây là pháp danh của mười bốn vị Đạt Lai Lạt Ma.
1/ Căn Đôn Chủ Ba, (1391-1475, Dge-vdun-grub-ba (Gedun Drunb), dịch là Tăng Thành) đại đệ tử của đại sư Tông Khách Ba, sanh quán tại vùng Hiệp Đa Đạt Thác ở Hậu Tạng.
2/ Căn Đôn Gia Mục Thố (1475-1543, Dge-gdun-rya-mtsho (Gedun Gyatso), dịch là Tăng Hải) sanh quán tại vùng Đạt Na Sai Mễ ở Hậu Tạng.
3/ Tỏa Lãng Gia Mục Thố (1543-1588, Bsod-nams-rgya-mtsho (Sonam Gyatso), dịch là Phước Hải) sanh quán tại vùng Trạch Hát Khang Tắc Cống ở Đối Lũng.
4/ Vinh Đơn Gia Mục Thố (1588-1616, Yon-tam-rgya-mtsho (Yonten Gyatso), dịch là Công Đức Hải) sanh quán tại vùng Thổ Mặc Đặc Bộ ở nội Mông Cổ.
5/ A Vượng La Bốc Tạng Gia Mục Thố (1617-1682, Nagdban blo-bzan rgya mtsho (Ngawang Lobsang Gyatso), dịch là Thiện Huệ Hải) sanh quán tại vùng Tần Ngõa Đạt Tắc ở Quỳnh Kiết.
6/ Thương Ương Gia Mục Thố (1683-1706, Tshans-dbyans-rgya mtsho (Tsanyang Gyatso), dịch là Phạm Âm Hải) sanh quán tại vùng Vực Tùng ở Môn Địa.
7/ Cách Tang Gia Mục Thố (1708-1758, Skal-bzan-rgya-mtsho (Kelsang Gyatso), dịch là Hiền Kiếp Hải) sanh quán tại vùng Lý Đường ở Tứ Xuyên.
8/ Khương Bạch Gia Mục Thố (1758-1805, Hjam-dpal-rgya-mtsho (Jampal Gyatso), dịch là Diệu Kiết Hải) sanh quán tại vùng Thác Gia Lạp Nhật Cương ở Tạng Đống.
9/ Long Đa Gia Mục Thố (1806-1816, Lun-rtogs-rgya-mtsho (Lungtog Gyatso), dịch là Giáo Chứng Hải) sanh quán tại vùng Đan Khước Khoa ở Đa Khang.
10/ Sở Xưng Gia Mục Thố (1816-1837, Tshul-khrim-rgya-mtsho (Tsultrim Gyatso), dịch là Giới Hải) sanh quán tại vùng Lý Đường ở Tứ Xuyên.
11/ Khải Châu Gia Mục Thố (1838-1855, Mkhas-sgrub-rgya-mtsho (Khedrup Gyatso), dịch là Thiện Thành Hải) sanh quán tại vùng Mộc Nha Tháp ở Đa Khang.
12/ Xưng Lặc Gia Mục Thố (1856-1875, Sprin-las-rgya-mtsho (Trinlay Gyatso), dịch là Sự Nghiệp Hải) sanh quán tại vùng Hát Chương Tế ở Nương Bố.
13/ Thổ Đan Gia Mục Thố (1876-1933, Thubbstan-rgya-mtsho (Thubten Gyatso), dịch là Phật Giáo Hải) sanh quán tại vùng Đạt Bố Lang Đôn.
14/ Lạp Mộc Đăng Châu Gia Mục Thố (1935- ; Nag-dban blo bzan bstan hdsin rgya mtsho (Tenzin Gyatso), dịch là Trì Giáo Hải) sanh quán tại vùng Hoàng Trung Kỳ Gia Xuyên ở Thanh Hải.
Ban Thiền Lạt Ma (hay Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni) và hệ chuyển sanh Ban Thiền Lạt Ma
Đời thứ nhất là Khắc Chủ Kiệt, và là đại đệ tử của đại sư Tông Khách Ba. Qua nhiều đời, Ban Thiền Lạt Ma và Đạt Lai Lạt Ma đều hỗ tương làm thầy trò. Vị Đạt Lai Lạt Ma thứ năm thỉnh vị thầy là La Tang Khước Tiếp (Ban Thiền Lạt Ma đời thứ IV) trụ trì chùa Trát Thập Luân Bố ở vùng Nhật Cách Tắc (Bkra'sis lhum-po) ở Hậu Tạng. Vào năm 1645, vua Cố Thỉ Hản (1) thống trị hai vùng Vệ và Tạng, tôn phong ngài La Tang Khước Tiếp làm Ban Thiền Bác Khắc Đa (2). Nhân vị này trụ trì chùa Trát Thập Luân Bố, nên người ngoại quốc gọi là Trát Thập Lạt Ma (Tshi-lama). Sau này hệ Ban Thiền Lạt Ma đều tiếp nối truyền thừa trụ trì ngôi chùa đó.
Ban Thiền vốn là phiên âm của tiếng Tàu, mà nguyên âm là Pan-dita, cũng là hợp âm của tiếng Phạn và Tây Tạng; tiếng Phạn gọi là Ban Đệ Đạt (3); tiếng Tây Tạng gọi là Thiền Bảo (4); kết hợp lại thì thành nghĩa Đại Phạm Ngữ Học Sư, hay nghĩa Bác Học Quảng Đại, nên dịch là Đại Phật Học Sư; danh xưng Ban Thiền không phải mới được gọi sau này; thật ra danh từ nầy từ xưa đã có mà điển hình là vị Ban Thiền Thích Ca Sư Lợi.
Vị Ban Thiền Lạt Ma đời thứ năm được triều Thanh phong tặng danh hiệu là Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni; Ngạch Nhĩ Đức Ni (Ertini hay Erdeni) là tiếng Mãn Châu, nghĩa là Trân Bảo hoặc Như Ý Bảo Châu, vì Ngài là vị Đại Bảo Sư hoặc Đại Như Ý Bảo Sư. Người Tây Tạng tin tưởng rằng Ban Thiền Lạt Ma là hóa thân của Phật A Di Đà; các vị Ban Thiền Lạt Ma vốn có mối quan hệ thầy trò với các vị Đại Lai Lạt Ma. Tuy có quyền thế, nhưng những vị Ban Thiền Lạt Ma chuyển sanh chỉ làm cố vấn cho chính quyền địa phương, mà không có toàn quyền như những vị Đạt Lai Lạt Ma chuyển sanh.
Hệ của Ban Thiền Lạt Ma có mười vị như sau:
1/ Khắc Chủ Kiệt (1385-1438, hay Khải Chu (Mkhas-grub-rje)), đại đệ tử của đại sư Tông Khách Ba, sanh quán tại vùng Lạp Đa Đóa Hùng ở Hậu Tạng.
2/ Toản Lãng Tiếp Ngang (1439-1504, Bsod nams phyogs-glan) sanh quán tại vùng Ân Tát ở Hậu Tạng.
3/ Ân Sư Ba (1505-1556, Dben-sa-pa) sanh quán tại vùng Ân Tát ở Hậu Tạng.
4/ La Tang Khước Tiếp (1567-1662, Blo-bjan chos-kyi, rgyal-mtshan) sanh quán tại vùng Lan Chu Giáp ở Tạng Đống.
5/ La Tang Ích Tây (1663-1737, Blo-bzan Ye-ses) sanh quán tại vùng Thác Gia Trúc Luân ở Hậu Tạng.
6/ Ban Hựu Ích Hy (1738-1779, Dpal-ldan ye-ses) sanh quán tại vùng Thác Tây Mục.
7/ Đăng Tất Ni Mã (1781-1852, Blo-bjan bstan pahi ni-ma) sanh quán tại vùng Tát Nam Mộc Kiết Hùng ở Hậu Tạng.
8/ Đăng Tất Vượng Tu (1854-1882, Chos kyi grags-pa bstan-pahi dban-phyug) sanh quán tại vùng Thác Gia ở Hậu Tạng.
9/ La Tang Khước Kinh (1883-1935, Blo-bzan thub-bstan chos-kyini ma) sanh quán tại vùng Đạt Bố Hoài Ba.
10/ Cung Bảo Từ Đan (1938-1989, Blo- bzan phrin-las lhun-grub) sanh quán tại vùng Tuần Hóa ở Thanh Hải.
Trừ Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma ra, Hô Tất Lặc Hãn (Tulku-lama) của Lạt Ma Hoàng giáo có Triết Bố Tôn Đơn Ba (chấp chưởng ở ngoại Mông Cổ), Chương Gia (chấp chưởng ở nội Mông Cổ).
Tóm lại, các tu sĩ Hồng giáo vốn có vợ con, nên thường truyền ngôi pháp vị cho vợ con kế nhiệm. Để chấn chỉnh đạo pháp, đại sư Tông Khách Ba cấm chỉ tăng sĩ có vợ con, mà lập ra chế độ Hô Tất Lặc Hãn (5), để định người kế thừa ngôi pháp vị Đại Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma. Nguyên nhân có chế độ này vì sợ rằng nếu dùng chế độ tuyển chọn, thì tăng chúng sẽ phân quyền chia bè phái, khiến cho Hoàng giáo bị phân tán và suy diệt. Sau này, để xác lập địa vị Lạt Ma của các vị Lạt Ma đạo cao đức trọng, các giáo phái khác ở Tây Tạng cũng dùng chế độ chuyển sanh mà kế thừa. Điển hình, Hồng giáo (Nyingma) cũng bắt chước chế độ này mà truyền pháp.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks