Trong giai đoạn chuyển mùa, hiện nay có rất nhiều người hay bệnh cảm vặt, xin giới thiệu đến quý vị vài vị thuốc thông dụng dễ tìm, phòng và trị các chứng cảm mạo thông thường :
1-/ KINH GIỚI



Theo sách thuốc cổ, toàn kinh giới (dùng cành lá dài không quá 40cm tính từ ngọn) 12g phối hợp với sắn dây 24g, sắc uống chữa sốt nóng, nhức đầu, đau mình. Nước sắc toàn kinh giới uống nóng với nước ép măng tre và nước cốt gừng chữa trúng phong, cấm khẩu.

Theo kinh nghiệm dân gian, toàn kinh giới để tươi nấu nước uống và tắm hằng ngày để phòng chống rôm sẩy, mẩn ngứa, mụn nhọt.

Chữa cảm cúm, sốt, đau nhức: lấy toàn kinh giới 5g phối hợp với lá tía tô 3g, cam thảo đất 3g, sài hồ nam hoặc cúc tần 3g, kim ngân 4g, mạn kinh 2g, gừng 3 lát. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày; kết hợp lấy lá kinh giới tươi 50g, giã nát với gừng sống 10g, gói vào vải sạch, đánh dọc sống lưng. Hoặc toàn kinh giới, lá tre, cúc tần, bạc hà, tía tô, cát căn, mỗi thứ 20g; cúc hoa, địa liền, mỗi vị 5g; phơi khô, tán bột, rây mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g.

Chữa cảm hàn ở trẻ em: toàn kinh giới, tía tô, hoắc hung, ngải cứu, mã đề, gừng, mỗi thứ 3 – 4g, sắc nước uống trong ngày.

Chữa ban chẩn: toàn kinh giới, lá dâu, mỗi vị 6g; lá bạc hà, kim ngân, sài đất, mỗi vị 4g; sắc uống ngày một thang.

Chữa chóng mặt, hoa mắt, nghẹt mũi, mắt đỏ: toàn kinh giới, cúc hoa, xuyên khung, cam thảo, bạch chỉ, phòng phong, khương hoạt, hương phụ, tế tân, bạch cương tàm. Các vị lượng bằng nhau, tán nhỏ, rây thành bột mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g với nước ấm, sau bữa ăn.

Chữa sưng vú, mụn nhọt. toàn kinh giới, thương nhĩ tử, vòi voi, liên kiều, mỗi thứ 12g; kim ngân hoa, cỏ mần trầu, hạ khô thảo, mỗi thứ 10g; bồ công anh 8g. Tất cả sắc uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa ho, mất tiếng: toàn kinh giới, tang diệp, tang bạch bì, địa cốt bì, mỗi thứ 12g; tử tô, bán hạ chế, mỗi thứ 8g; trần bì 4g. Sắc uống ngày một thang.


Ngoài ra kinh giới tuệ la hoa kinh giới cũng có rất nhiều tác dụng trong đông y :



Kinh giới tuệ để sống: Có tác dụng thanh nhiệt, tán ứ, giải độc, tiêu viêm.

Chữa cảm lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi: kinh giới tuệ sống và rễ bạch chỉ với lượng bằng nhau phơi khô, tán bột; ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 – 8g với nước chè nóng cho ra mồ hôi.

Chữa cảm, sốt, cúm: kinh giới tuệ sống, tía tô, hương nhu, ngải cứu, hoắc hương, lượng mỗi vị 20g, sắc với nước nhiều lần, rồi cô thành cao đặc, luyện với bột nếp làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 2 lần, người lớn mỗi lần 7 – 8 viên với nước sắc lá tre; trẻ em tùy tuổi, 2 – 4 viên. Thuốc còn chữa kiết lỵ (chiêu thuốc với nước sắc lá mơ lông).

Chữa mụn nhọt: kinh giới tuệ sống 12g; mã đề, bồ công anh, kim ngân, thổ phục linh, ké đầu ngựa, cam thảo nam, mỗi thứ 10g; thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa viêm họng, khản tiếng: Kinh giới tuệ sống 12g, nhân hạt gai dầu 12g, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật làm viên, ngâm làm nhiều lần trong ngày.

Chữa trĩ: kinh giới tuệ sống, hoàng bá, ngũ bội tử, mỗi vị 12g; phèn phi 4g; sắc lấy 300 – 400ml nước, dùng ngâm hậu môn hằng ngày.

Phòng chống bệnh sởi: kinh giới tuệ sống, vỏ quả bưởi, thanh hoa, mỗi vị 20g, đặt lên than đang đỏ hồng, dùng khói xông khắp người trong 15 phút.

Kinh giới tuệ sao vàng: Dùng riêng, tán bột mịn, uống ngày hai lần, mỗi lần 6 – 8g chữa cảm, cúm, sốt, nhức đầu, viêm họng. Hoặc phối hợp với tía tô, lượng mỗi thứ 20g, sắc nước uống, rồi nằm nghỉ, đắp kín cho ra mồ hôi.

Kinh giới tuệ sao đen (dược liệu sống đem rang nhỏ lửa đến khi có màu đen sém, không để cháy thành than). Có tác dụng cầm máu. Dùng riêng, mỗi ngày 12g, dưới dạng nước sắc hoặc thuốc bột. Dùng phối hợp, chữa băng huyết, rong huyết: kinh giới tuệ sao đen, gương sen (sao cháy), ngải cứu (sao đen), cỏ nhọ nồi (sao qua), bách thảo sương, mỗi thứ 12g; rau má 20g; sắc uống ngày một thang.

Chữa tiêu chảy ra máu: kinh giới tuệ sao đen và lá trắc bá sao sém, với lượng mỗi thứ 15 – 20g, sắc uống trong ngày. Dùng 3 – 5 ngày.

Chữa kinh nguyệt ra nhiều không dứt: kinh giới tuệ sao đen 12g, bồ hóng 8g, sao cho hết khói; trộn đều, uống với nước chè làm một lần trong ngày


2/- MÃ TIÊN THẢO (CỎ ROI NGỰA):




Cây mọc hoang ở khắp nơi, miền núi, trung du và đồng bằng đều có; thường gặp ở bờ rào, bờ ruộng, ven đường, chân đê và trên các bãi hoang. Cây sống dai, thân có 4 cạnh, cao từ 10cm đến 1m, lá mọc đối xẻ thùy lông chim, hoa màu xanh mọc thành bông ở ngọn. Vì thân cây mọc thẳng, có đốt như roi ngựa, nên tiền nhân mới gọi nó là “mã tiên thảo” (mã = ngựa, tiên = roi, thảo = cỏ).


Theo Đông y, Cỏ roi ngựa có vị đắng, tính mát vào các kinh Can và Tỳ. Có tác dụng hoạt huyết, tán ứ, thanh nhiệt, giải độc, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng; những năm gần đây các nhà khoa học Trung Quốc còn phát hiện thêm tác dụng ức chế đối với vi trùng gây sốt rét. Trong Đông y, Mã tiên thảo thường dùng để chữa sốt do ngoại cảm, hoàng đản do thấp nhiệt, thủy thũng, kiết lỵ, sốt rét, bạch hầu, bế kinh...

Họng sưng đau: Cành và lá cỏ roi ngựa tươi một nắm to, giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm một lượng sữa người vào, ngậm và nuốt dần từng ít một (Giang Tây Trung thảo dược học)
Bạch hầu: Dùng cỏ roi ngựa khô 30-50g, sắc lấy khoảng 300ml nước thuốc. Người lớn mỗi lần uống 150ml, ngày uống 2 lần, liên tục 3 - 5 ngày, trẻ em 8 - 14 tuổi mỗi lần uống 100ml, ngày uống 2 lần, liên tục 3-5 ngày; trẻ nhỏ dưới 8 tuổi mỗi lần uống 50ml, ngày uống 2 lần, liên tục 3 - 5 ngày. Y dược vệ sinh khoa nghiên tư liệu 1/1972 thông báo: đã thử nghiệm điều trị 50 trường hợp, toàn bộ khỏi bệnh; thuốc viên và thuốc tiêm tác dụng kém thuốc sắc; cỏ tươi có tác dụng tốt hơn cỏ khô (Thảo mộc liệu pháp).
Sốt rét: Dùng cỏ roi ngựa khô 30-60g, sắc nước uống. Trước và sau lúc lên cơn sốt 1-2 giờ uống 1 lần. Đã tiến hành điều trị cho 236 ca, 216 ca có kết qủa tốt. Thuốc có tác dụng ức chế đối với nguyên trùng sốt rét (malarial parasite), khiến trùng bị biến hình và chết (Thảo mộc liệu pháp).
Ăn phải cá độc sinh cổ trướng: Cỏ roi ngựa một nắm to, sắc nước uống nhiều lần trong ngày (Tuệ Tĩnh - Nam dược thần hiệu).
Phòng viêm gan truyền nhiễm: Dùng cỏ roi ngựa 25g, cam thảo 5g, sắc với 150ml nước, đun nhỏ lửa đến khi cạn còn 40ml - đó là liều lượng 1 lần uống đối với người lớn, mỗi ngày uống 3 lần vào trước bữa cơm, liên tục trong 4 ngày.
Hoàng đản (vàng da): Dùng rễ cỏ roi ngựa tươi hoặc toàn cây tươi 50g, sắc lấy nước, bỏ bã, pha thêm đường, chia thành 3 phần uống trong ngày; nếu vùng gan trướng đau thêm sơn tra 15g vào cùng sắc uống (Giang Tây Thảo dược thủ sách).
Tiểu ra máu và dưỡng trấp, kèm theo bí tiểu: Dùng cỏ roi ngựa 60g, sắc nước, chia thành 2 phần uống trong ngày.
Trĩ nội: Dùng cỏ roi ngựa, rau dền gai, mỗi thứ 20g, sắc nước uống thay trà trong ngày, liên tục trong nhiều ngày.
Viêm khoang miệng: Dùng cỏ roi ngựa tươi 30g, sắc nước, uống thay trà trong ngày. Sách Thảo mộc liệu pháp cho biết trường hợp 1 bé gái 4 tuổi, khoang miệng bị viêm đã 4 tháng, nhiều điểm bị mưng mủ, chân răng hay chảy máu, miệng hôi, lưỡi đỏ; đã điều trị bằng thuốc kháng sinh kết hợp với vitamin B2 và vitamin C nhưng không có kết quả. Dùng phương thuốc này trong 5 ngày bệnh đã khỏi, theo dõi một năm sau không thấy tái phát



3-/ HÚNG CHANH :




Húng chanh là loại rau thơm rất quen thuộc của nhân dân ta, được trồng rộng rãi khắp nơi. Là loài cây thảo, cao khoảng 30 - 50cm, phần thân sát đất hoá gỗ. Lá mọc đối, mọng nước, mép khía răng, vò trong tay thấy toả ra một mùi thơm dễ chịu, thoảng mát như mùi chanh. Trong lá Húng chanh có tinh dầu, thành phần chủ yếu là cavaron, tác dụng chữa bệnh của Húng chanh là do tinh dầu này.
Theo Đông y: Húng chanh vị cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng phát tán phong hàn, tiêu đờm, trừ phong, sát khuẩn, được dùng chủ yếu để chữa cảm cúm (lấy 30 - 40g lá Húng chanh tươi, sắc uống khi thuốc còn nóng; hoặc lấy một nắm lá Húng chanh tươi phối hợp với một số lá có tinh dầu nấu nồi nước xông); chữa ho, viêm họng, khản tiếng (lấy mấy lá Húng chanh tươi, rửa sạch bằng nước đun sôi để nguội, ngậm với muối, cắn nhẹ dưới răng và nuốt nước dần; hoặc lấy 20g lá Húng chanh tươi, giã nhỏ, vắt lấy nước uống làm hai lần trong ngày).
Đối với trẻ nhỏ, khó uống thuốc, có thể lấy lá Húng chanh, rửa sạch, giã nhỏ với ít đường, đem hấp cơm, cho trẻ uống làm 2 - 3 lần trong ngày.
Thường người ta chỉ dùng lá Húng chanh tươi, dùng đến đâu hái đến đấy, không nên phơi khô để dành, vừa khó bảo quản, vừa kém phẩm chất. Để tiện dùng, hiện nay người ta đã nghiên cứu cất tinh dầu Húng chanh. Tinh dầu này có mùi thơm như chanh rất dễ chịu. Theo những nghiên cứu gần đây, tinh dầu này có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn như Staphylococcus, Shigella flexneri, sonnei, Shiga, B. subtilis, Es. coli, Streptococcus, D. pneumoniae,… Kết quả nghiên cứu trên đã xác nhận tinh dầu Húng chanh có tính chất kháng sinh mạnh, chữa được nhiều bệnh, phù hợp với kinh nghiệm chữa bệnh cổ truyền của dân tộc ta.

Một số bài thuốc kinh nghiệm
Bài 1: Lá Húng chanh tươi 20g (rửa sạch, thái nhỏ), Đường phèn 20g.
Cho hai thứ vào bát, chưng cách thuỷ, chắt lấy nước, uống từ từ. Bã ngậm trong miệng, mút lấy nước. Mỗi ngày uống một thang, liên tục trong 3 - 5 ngày.
Tác dụng: Chữa chứng ho nhiệt, viêm họng, khản tiếng.
Bài 2: Lá Húng chanh tươi 40 - 60g, rửa sạch, băm nhỏ, cho vào bát, đổ rượu trắng vào vừa xâm xấp, trộn đều, đậy kín.
Nấu nồi nước xông thật sôi, khi nước sôi độ hai phút mới cho bát Húng chanh vào, đậy kín vung, nấu sôi, đem cho bệnh nhân xông; khi xông chùm chăn kín, sau đó lau khô mồ hôi, thay quần áo khác, nằm nghỉ ở chỗ kín gió.
Tác dụng: Chữa các chứng cảm hàn, ho, đau đầu, đau gáy, miệng đắng, sốt không ra mồ hôi.

Chú ý: chỉ dùng cho người lớn, không nên dùng cho trẻ em dễ bị bỏng.


4/- HOA CÚC :



Thuốc thanh đầu mục (nhẹ đầu, sáng mắt)
Chữa chứng đau đầu kèm mắt đỏ do thời tiết nắng gắt gây cảm mạo do hoả bốc, đó là sở trường của hoa Cúc.
- Hoa cúc 30g, Kim ngân hoa 20g, lá Dâu nuôi tằm 15g. Trộn đều, khi dùng chia 6 phần, dùng 6 lần trong ngày, hãm nước thật sôi, uống nóng, cách nhau 2 - 3 giờ.
- Cúc hoa tươi mới hái về, sắc nước cô lại thành cao với Mật ong, mỗi lần 15 g, hoà nước ấm để uống.
- Gối Hoa cúc: Hoa cúc 2 kg phơi khô, cho vào ruột gối thay bông gối đầu để nhẹ đầu, sáng mắt.
Phòng chữa các bệnh mắt
- Ban đậu chạy vào mắt sinh màng mộng: Bạch cúc hoa, Cốc tinh thảo, vỏ Đậu xanh, lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 4g với một quả Thị, một chén cơm nếp nấu cho đến khi cơm chín thì ăn hết. Ngày ăn 3 quả, bệnh nhẹ thì ăn 5 đến 7 ngày, bệnh nặng thì nửa tháng.
- Mắt kém, chống mỏi mắt: Hoa cúc 50g, hạt quả Đậu chín 30g, chia 3 - 5 lần, hãm với nước sôi uống trong ngày.
- Mắt đỏ nhức kéo màng chảy nước mắt sống: Hoa cúc tươi 50g, cho vào cối sạch giã nhuyễn với nước đun sôi để nguội, vắt lấy nước uống làm hai lần
* Bệnh tim mạch
- Chữa cao huyết áp: Hoa cúc 10g, hoa Hòe 6g, Thảo quyết minh 10g. Trộn đều cả ba rồi chia làm 3 lần uống trong ngày bằng cách hãm nước thật sôi.
- Bệnh mạch vành: Sắc 300g hoa Cúc, lấy nước cô thành cao. Mỗi lần uống khoảng 20 - 25ml ngày 2 lần trong 2 tháng.
- Mỡ máu cao, béo phì: Hoa cúc, Sơn tra phiến, Thảo quyết minh, mỗi vị 15g, trộn đều. Mỗi lần dùng 15g, ngày 3 lần. Sắc hoặc hãm nước thật sôi trong 10 - 15 phút để uống.
* Trong dược thiện
: Hoa, búp lá non, thân non, dùng làm thức ăn sống hoặc nấu chín thành canh cháo để phòng chữa các bệnh trên. Dược phẩm Cúc dạng rượu có thể hoà vào nước cơm cháo cho người không uống được rượu.
* Làm thuốc tắm rửa
Dùng hoa cúc tươi hoặc khô hoặc lá, thân, rễ, ngâm vào nước sôi, hoà vào nước tắm để phòng chữa các bệnh ngứa mẩn ngoài da. Người Nhật trọng dụng Cúc để ngâm mình, đắp lên mặt 20- 30 phút trong bồn tắm, họ tin với cách tắm này sẽ trường thọ.
* Thuốc đeo lấy hương
Trong một số bệnh như huyết áp cao, đau đầu, mất ngủ, tim loạn nhịp, viêm tuyến sữa, dùng một số hương liệu cho vào túi vải đeo vào người. Ví dụ chữa huyết áp cao: Dùng hoa Cúc, Hạ khô thảo, Thạch xương bồ, mỗi thứ một ít, tán nhỏ cho vào túi và đeo vào cổ, ba ngày thay một lần.
u Cấm kỵ: Theo Bản thảo kinh tập chú: Không dùng cùng với vỏ lụa trắng của rễ cây Dâu, rễ Câu kỷ, Truật. Theo Bản thảo hối ngôn: Người bị tỳ vị hư hàn, đau dạ dày, biếng ăn, đi lỏng, không dùng, nếu buộc phải dùng thì dùng ít.
Trà Sâm cúc của Công ty Đông dược Bảo Long được phát triển từ cổ phương (dùng Kim cúc làm chủ dược cùng với Thảo quyết minh, Mạch môn, Hoàng kỳ và một số vị thuốc bổ khác). Học viện Quân y đã dùng trà Sâm cúc cho bộ đội và có những nhận xét đáng khích lệ.

* Điều đặc biệt chú ý:
Do hấp thụ được “khí thu” “sương thu”, “tiết thu” Cúc mới có tính dược đặc trưng, vì vậy để làm thuốc, theo dược lý Đông y thì không thể thay thế các vị Thu cúc bằng các loại dược Cúc khác.


Kính chúc Quý huynh tỷ muội mùa an cư kiết hạ an lạc, hoan hỷ!