kết quả từ 1 tới 9 trên 9

Ðề tài: HÀNH TRÌNH DÂN CHÚA TRONG ĐẠO VIỆT NAM

  1. #1

    Mặc định HÀNH TRÌNH DÂN CHÚA TRONG ĐẠO VIỆT NAM

    Phần 1. Giai đoạn công nhận Đạo Việt Nam

    Tin Mừng được các nhà Thừa Sai Tây Phương truyền bá tới Việt Nam. Trong số đó nổi bật hàng đầu phải kể đến Alexandre de Rhodes (1591 – 1660) là người có công rất lớn biên soạn ra chữ Quốc Ngữ, tức là cách đọc và viết tiếng Việt vô cùng tiện lợi hiện nay.
    Đầu năm 1625, Alexandre de Rhodes cùng với bốn cha Dòng Tên khác và một tín hữu Nhật Bản, cập bến Hội An, gần Đà Nẵng. Ngài bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Đắc Lộ. Thầy dạy tiếng Việt cho ngài là một cậu bé khoảng 10, 12 tuổi. Ngài ghi lại:
    “Chỉ trong vòng 3 tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có một kiến thức gì về ngôn ngữ Châu Âu, thế mà, cũng trong vòng 3 tuần lễ này, cậu đã có thể hiểu được tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời, cậu học đọc, học viết tiếng Latin và đã có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu bé. Sau đó, cậu trở thành thày giảng giúp việc các cha truyền giáo trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của thầy và nơi vương quốc Lào láng giềng.
    Khi chúng tôi vừa đến kinh đô Bắc Kỳ, tức khắc nhà vua truyền lệnh cho tôi phải xây một nhà ở và một Nhà Thờ thật đẹp. Dân chúng tuốn đến nghe tôi giảng đạo đông đến nỗi, tôi phải giảng đến 4 hoặc 6 lần trong một ngày. Chị vua và 17 người thân trong gia đình vua xin lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Nhiều tướng lãnh và binh sĩ cũng xin theo đạo. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là thấy các vị sư đã mau mắn từ bỏ bụt thần để theo đạo Công Giáo. Tất cả đều dễ dàng chấp nhận khi tôi giải thích cho họ hiểu giáo lý đạo Công Giáo rất phù hợp với lý trí và lương tâm con người.
    Các tín hữu Công Giáo Việt Nam có Đức Tin vững chắc đến độ, không gì có thể xóa đi Đức Tin ra khỏi lòng họ. Nhiều người phải đi bộ suốt 15 ngày đường để được xưng tội hoặc tham dự Thánh Lễ. Nhưng phải thành thật mà nói, tôi không thể chu toàn cách tốt đẹp mọi công tác truyền đạo này, nếu không có trợ giúp tuyệt vời của các thầy giảng. Vì nhận thấy mình là Linh Mục duy nhất giữa một cánh đồng truyền đạo bao la, nên tôi chọn trong số các tín hữu, những thanh niên không lập gia đình và có lòng đạo đức sâu xa cũng như có nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng, để giúp tôi. Những người này công khai thề hứa sẽ dâng hiến cuộc đời để phụng sự Chúa, phục vụ Giáo hội, sẽ không lập gia đình và sẽ vâng lời các cha Thừa Sai đến Việt Nam truyền đạo. Hiện tại có tất cả 100 thầy giảng đang được thụ huấn trong Chủng Viện và được các tín hữu trang trải mọi phí tổn.
    Vào năm 1651, cha Đắc Lộ cho in cuốn Từ Điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) dựa trên các ký tự tiếng Việt của những Giáo Sĩ người Bồ Đào Nha và Ý trước đó. Có thể coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Ngoài ra một tác phẩm khác cùng tầm quan trọng do Giáo Sĩ Đắc Lộ soạn là cuốn “Phép giảng tám ngày” (tựa Latinh: Catechismus). Khác với phần tự điển ghi từ vựng, “Phép giảng tám ngày” là tác phẩm văn xuôi, phản ảnh văn ngữ và ghi lại cách phát âm của tiếng Việt vào thế kỷ 17.

    Khi các Giáo Sĩ Dòng Tên vào truyền giáo ở Việt Nam, các ngài cho phép Giáo Dân thờ kính Khổng Tử và các tổ tiên đã qua đời, theo phong tục Việt Nam. Năm 1625, các Thừa Sai ở Hội An nhắn nhủ bổn đạo: “Đạo Đức Chúa Blời buộc mọi người phải tỏ lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ, nên phải thi hành nghi lễ cúng vái, trừ ít điều mê tín dị đoan, như đốt vàng mã, hay khi cúng lại tin là tổ tiên về ăn của cúng”.
    Khi truyền giáo tại Trung Hoa, Dòng Tên cho phép các giáo hữu tại đây được tôn kính Đức Khổng và người qua đời như nghi thức người Hoa quen thi hành đối với tổ tiên và các triết gia của họ.

    Phần 2. Giai đoạn phủ nhận Đạo Việt Nam

    Nhưng chủ trương hội nhập văn hóa bản địa của Dòng Tên mà vào 400 năm trước mang một tầm nhìn vượt hẳn thời đại, dù đã làm cho việc loan báo Tin Mừng vô cùng thuận lợi, lại gặp phải phản ứng gay gắt ngay từ chính… Vatican.

    Năm 1633, Linh Mục Juan Bautista Moralez, Dòng Đa Minh (OP) và Linh Mục Antonio de Santa Maria Caballero, Dòng Phanxicô (OFM) đến tỉnh Phước Kiến, Trung Hoa dưới triều Đại Minh. Hai vị chứng kiến các nghi lễ tôn kính Khổng Tử nhưng lại kết án là mê tín dị đoan và có phản ứng quyết liệt. Triều đình cho rằng hai vị chống lại phong tục văn hóa trong nước, gây nguy hại cho trật tự xã hội. Vua Minh trục xuất hai vị đó ra khỏi Trung Hoa. Moralez và Caballero về Roma khiếu nại với Toà Thánh.

    Năm 1645, Giáo Hoàng Innocentê X ra tự sắc cấm tuyệt đối các tín hữu Công Giáo thi hành các nghi lễ cúng bái tổ tiên và Khổng Tử.

    Ngày 25.1.1707, Giáo Hoàng Clêmentê XI cử Giám Mục Carlo Tommaso Maillard de Tournon đến Nam Kinh công bố lệnh cấm các Linh Mục làm chủ tế hoặc tham dự lễ tế Khổng Tử hoặc người quá cố và đặt bài vị người chết trong nhà. Ai không tuân theo, sẽ tức khắc bị vạ tuyệt thông.

    Các văn kiện đó, thời xưa Giáo Hội Việt Nam quen gọi là cuộc tranh tụng “lễ phép nước Ngô”, cũng cấm luôn các nước chung quanh, vốn chịu ảnh hưởng ít nhiều văn hóa Trung Hoa, như Mãn Châu, Nhật Bản, và Việt Nam. Roma không chỉ cấm thờ cúng tổ tiên đã khuất mà còn giới hạn hình thức hiếu thảo cả khi cha mẹ đang còn sống. Từ đó, người Công Giáo có sự cách xa với các anh chị em lương dân.

    Không chỉ dừng lại ở đó mà thôi, vào năm 1773, Giáo Hoàng Clêmentê XIV giải thể luôn Dòng Tên trên toàn thế giới. Các Tu Sĩ Dòng Tên ở Việt Nam cũng cùng chung số phận.

    Mãi đến ngày 7.8.1814, Đức Giáo Hoàng Piô VII mới ra trọng sắc Sollicitudo omnium Ecclesiarum tái lập Dòng Tên trên toàn giới. Phải đợi đến năm 1957, Dòng Tên mới quay trở lại Việt Nam.

    Chính sách đó của Giáo Hội với Dòng Tên và nền văn hóa Á Đông đã làm cho việc Loan Báo Tin Mừng đang đi từ chỗ thuận lợi sang bị chống đối kịch liệt và bị bách hại tàn khốc, gây nên nhiều cuộc tử đạo không đáng có, dẫn tới tình trạng bị ngưng trệ luôn trong một thời gian rất dài cho tới tận hôm nay.

    Phần 3. Tính cực đoan của các tôn giáo Tây Phương

    Ba tôn giáo độc thần Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo đều phát xuất từ Tây Á nhưng sau đó lại được phát triển mạnh mẽ tại Âu Châu, tuy cùng tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất nhưng lại tự tôn tự đại phủ nhận lẫn nhau, nhất định cho rằng chân lý chỉ có nơi mình và không ngần ngại lao đầu vào những cuộc thánh chiến đẫm máu để tiêu diệt đối phương.
    Giáo Hội Công Giáo đã phát động nhiều cuộc Thập Tự Chinh cũng như đã xử tử nhiều người trên dàn hỏa thiêu vì gán cho họ tội phù thủy hay dị giáo, trong số đó có cả Thánh Nữ Jeanne d’Arc.
    Giáo Hoàng Innocent III (1160 – 1216) đã ra tự sắc quy định bất kỳ ai có quan điểm cá nhân về Thiên Chúa đi ngược lại với giáo huấn của Giáo Hội phải bị thiêu sống. Ngài phát động cuộc Thập Tự Chinh thứ 4 chống lại Hồi Giáo và thúc ép Vua Philip II Augustus của Pháp tiến đánh miền Albigense vì họ lỡ sát hại Khâm Sứ Tòa Thánh là Pierre de Castelnau. Sau khi chiến thắng, quân Pháp đã tàn sát luôn 20 ngàn người dân ở Albigense.

    Tại Mỹ Châu Latinh thực dân Tây Ban Nha đã thẳng tay giết chóc dân bản địa và dẹp bỏ các nền văn hóa địa phương, ép buộc thổ dân phải theo Công Giáo. Hậu quả là ngày nay đa số dân miền đó đều nói tiếng Tây Ban Nha và là người Công Giáo.
    Cho đến tận nay nhiều người Hồi Giáo vẫn mang não trạng tin rằng đánh bom tự sát để giết bọn vô đạo, tức là những người không theo đạo Hồi sẽ mang lại phần thưởng thiên đàng cao nhất cho họ.
    Não trạng tôn giáo cực đoan này đã lây lan qua cả các ý thức hệ chính trị phát xuất từ Âu Châu. Chủ nghĩa Quốc Xã Đức không ngần ngại thủ tiêu 6 triệu người Do Thái. Chủ nghĩa Mác–Lê đã gây nên cái chết của 100 triệu người.
    Giáo Hội đã phải rất vật vã, đau đớn, khó nhọc, và vô cùng chậm chạp để đọc ra Thiên Chúa không hề bị gò bó trong một con đường duy nhất để đi đến với con người.
    Trong gần 2.000 năm, nhiều Công Đồng và Giáo Hoàng đã tuyên bố chắc như đinh đóng cột rằng: Bên ngoài Giáo Hội Công Giáo không có ơn cứu độ (Hors de l’Église, pas de salut).
    Đó là tuyên tín long trọng của Giáo Hoàng Innocent III năm 1208, Boniface VIII năm 1302, Công Đồng FLorence năm 1442, Giáo Hoàng Piô IV năm 1564, và Pô IX năm 1854.
    Mãi cho đến tận thế kỷ 20, năm 1965, Đức Thánh Cha Phaolô VI tại Công Đồng Vatican II, khai mạc đúng 50 năm trước vào ngày 11.10.2012, mới tuyên xưng: Tất cả các Kitô Hữu (gồm cả Cải Cách, Anh Giáo, Chính Thống) đều liên kết với chúng ta trong Thánh Thần bởi vì Thánh Thần cũng ban cho họ những ân huệ và ân sủng cũng như hoạt động nơi họ bằng quyền năng thánh hóa (Lumen Gentium, số 15).

    Công Đồng Vatican II long trọng tuyên xưng rằng 2/3 nhân loại không theo Kitô Giáo cũng vô cùng thân thiết với Thiên Chúa: Vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi cuối cùng của con người thực ra là duy nhất, nghĩa là do Thiên Chúa, cho nên ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh ấy, theo một cách nào đó chỉ có Chúa biết thôi. (Gaudium et Spes, số 22, Giáo Hoàng Học Viện).
    Nếu Giáo Hội toàn cầu đã như thế thì Giáo Hội Việt Nam cũng có rất nhiều giới hạn trong tầm nhìn về những giá trị truyền thống của dân tộc.

    Phần 4. Tính bao dung của Đạo Việt Nam

    Tại Á Đông, trong hàng ngàn năm đã không hề có các cuộc chiến tranh nhân danh tôn giáo nào. Nhân dân theo các tín ngưỡng dân gian rất nhẹ nhàng bao dung, cùng tồn tại hài hòa song song, không có các tổ chức quy củ và các giáo điều tuyệt đối.
    Trích: Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn. Tín ngưỡng không có tổ chức chặt chẽ, không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì cũng lẻ tẻ và rời rạc.
    Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển... được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các Tu Viện, Thánh Đường, học viện... có tổ chức Giáo Hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng, có sự tách biệt giữa siêu nhiên và con người.
    Tín ngưỡng chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ. (Hết trích, nguồn: Ngô Đức Thịnh, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2001)
    Giống như Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt Nam chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của nền văn hóa Trung Hoa trong đó đời sống tinh thần thiên về tín ngưỡng dân gian phóng khoáng, không mang tính cách tôn giáo với tổ chức quy củ như ở Tây Phương với các giáo điều nặng nề, áp đặt và khắt khe.
    Tại Á Đông người ta có thể đọc sách Thánh Hiền, ngưỡng mộ Khổng Tử, trung với vua, thanh thoát theo kiểu Lão Tử, thoải mái tôn thờ Phật và cúng vái tổ tiên. Đối với họ, tất cả các triết thuyết khác nhau đó không hề mâu thuẫn với nhau mà còn làm cho đời sống tinh thần của họ thêm phong phú.
    Một tôn giáo đặc thù của Việt Nam là Cao Đài tôn thờ chung Phật, Lão, Khổng và cả Chúa Giêsu nữa.

  2. #2

    Mặc định

    Ôi, người tuyên truyền tà đạo dám vào trong box Thiên Chúa Giáo
    ”Vì Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.”

  3. #3

    Mặc định

    Cho link đi bạn ngheodoi, sách của ai viết đấy?
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  4. #4

    Mặc định

    nguồn: Ngô Đức Thịnh, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2001

    Người ta có ghi nè

  5. #5

    Mặc định

    Có quốc gia nào hok có pháp luật mà tồn tại !

    Không có ơn cứu độ nào ngoài hội thánh - đúng ! Nếu có thì chúa jesus chẳng cần mất công lùa chiên về thành 1 đàn
    Chúa thánh thần hoạt động trên tất cả mọi tôn giáo, mọi người nhưng chỉ tạo điều kiện để ta bik chúa mà theo chúa để hưởng ơn cứu độ chứ hok phải có thánh thần là có ơn cứu độ

    Về việc đốt vàng mã , cúng này nọ ,...nếu để tôn kính người chết thì hok có gì , mỗi nước có cách tôn kính khác nhau

  6. #6

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Vitxiem Xem Bài Gởi
    Cho link đi bạn ngheodoi, sách của ai viết đấy?
    cậu ta trích từ bài.báo công giáo EPHATA số 539
    tôi đã cóp cả bản đầy đủ ở cạnh.như thế ta cũng cần có một cách nhìn lại với các tôn giáo việt nam.hòa hợp đúng với đức tin hơn.:)
    Last edited by vohinh69; 11-12-2012 at 08:04 AM.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  7. #7

    Mặc định

    Alexandre de Rhodes (A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ) (15 tháng 3, 1591 – 5 tháng 11, 1660) nhưng nhiều nguồn khác ông sinh năm 1593 tại Avignon, Pháp. Gia đình Alexandre de Rhodes thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn dưới bóng Giáo Hoàng vì thời ấy Avignon là đất của Giáo Hoàng, nên tên ông là Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ). Người Việt gọi Alexandre de Rhodes là Giáo sĩ Đắc Lộ. Ông đã gia nhập dòng Tên tại Roma ngày 24 tháng 4 năm 1612, đó là thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển.
    Ngày 4 tháng 4 năm 1619 Ông lên đường truyền giáo tại Nhật Bản, nhưng sau đó lại được chỉ định đi Trung Hoa. Đầu năm 1625 Ông đặt chân đến Việt Nam. Ở đây Ông đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại bằng mẫu tự La tinh. Trong 20 năm ở Việt Nam Ông bị trục suất đến 6 lần và ngày 5 tháng 11 năm 1660 Ông mất ở Ispahan, Ba Tư, 15 năm sau lần cuối cùng bị trục xuất khỏi Việt Nam.
    Truyền giáo.
    Ông đã gia nhập dòng Tên tại Roma ngày 24 tháng 4 năm 1612, đó là thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển. Tuy nhiên, cùng với đà tiến này, Giáo Hội Công Giáo cũng gặp sức kháng cự vũ bão của chính quyền các dân tộc được rao giảng Tin Mừng. Vì thế, bên cạnh nhiệt tâm truyền giáo, còn phải kể ước muốn được đổ máu đào minh chứng cho Chúa Jesus của các vị thừa sai tiên khởi.
    Trong bối cảnh đó, cha Alexandre de Rhodes đã xin và được Bề Trên chỉ định đi truyền giáo tại Nhật Bản. Ngày 4 tháng 4 năm 1619, ông lên đường vào tuổi 26, cùng với kiến thức sâu rộng về thiên văn học và toán học. Cha Alexandre de Rhodes là một người cường tráng, vui vẻ và lạc quan, luôn nhìn khía cạnh tích cực của vấn đề. Ông thích nghi nhanh chóng với mọi môi trường sống và cư xử giản dị trong giao tế với người khác.
    Đầu tiên, cha Alexandre de Rhodes cập bến tại Goa, đợi chờ cơ hội thuận tiện đặt chân lên đất Nhật Bản. Nhưng tình hình bách hại Kitô Giáo dữ dội tại đây đã khiến các Bề Trên buộc lòng chỉ định ông đi Trung Quốc. Ông lên tàu đi Ma Cao, ở đó ông đã ghi lại những nhận xét về người Trung Hoa:
    "Người Trung Hoa rất ngạc nhiên khi nhìn thấy bản đồ chúng tôi vẽ. Trung Quốc vĩ đại của họ chỉ còn là chấm nhỏ trong vũ trụ Trái Đất bao la. Trái lại, nơi bản đồ trái đất hình vuông do họ vẽ, Trung Quốc nằm chính giữa, đúng như tên gọi (Trung Quốc-nước ở giữa). Sau đó, họ vẽ biển nằm bên dưới Trung Quốc, trong đó rải rác mấy đảo nhỏ, và họ đề tên: Châu Âu, Châu Phi và Nhật Bản..."
    Ông còn viết:
    "Chúng ta thường tỏ ra quý chuộng những người ngoại giáo. Nhưng khi họ trở thành Kitô hữu, chúng ta không đoái hoài đến họ nữa. Thậm chí còn bắt các người theo đạo phải từ bỏ y phục địa phương. Chúng ta đâu biết rằng, đây là một đòi buộc quá khắt khe, mà ngay cả Thiên Chúa, Ngài cũng không đòi hỏi như thế. Chúng ta ngăn cản người ngoại giáo, không cho họ cơ hội dễ dàng gia nhập Giáo hội Công giáo. Riêng tôi, tôi cực lực phản đối những ai muốn bắt buộc người đàn ông Trung Hoa, khi theo đạo, phải cắt bỏ mái tóc dài họ vẫn để, y như các phụ nữ trong xứ. Làm vậy, chúng ta gây thêm khó khăn cho các nam tín hữu Trung Hoa, một khi theo Công giáo, không còn tự do đi lại trong xứ, hoặc tìm được dễ dàng công ăn việc làm. Phần tôi, tôi xin giải thích rằng, điều kiện để trở thành Kitô hữu là phải từ bỏ lầm lạc, chứ không phải cắt bỏ tóc dài..."
    Tại Việt Nam
    Đầu năm 1625, cha Alexandre cùng với bốn cha dòng Tên khác và một tín hữu Nhật Bản, cập bến Hội An, gần Đà Nẵng. Ông bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Thầy dạy tiếng Việt cho ông là một cậu bé khoảng 10, 12 tuổi. Ông viết:
    "Chỉ trong vòng 3 tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có một kiến thức gì về ngôn ngữ Châu Âu, thế mà, cũng trong vòng 3 tuần lễ này, cậu đã có thể hiểu được tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời, cậu học đọc, học viết tiếng Latin và đã có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu bé. Sau đó, cậu trở thành thày giảng giúp việc các cha truyền giáo và là một dụng cụ tông đồ hữu hiệu trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của thày và nơi Vương quốc Lào láng giềng."
    Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha Alexandre de Rhodes, nhưng cuộc đời truyền giáo của ông ở đây rất bấp bênh và trôi nổi. Trong vòng 20 năm, ông bị trục xuất đến sáu lần. Nhưng sau cả sáu lần ấy, ông đều tìm cách trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép.
    Ông đến truyền giáo ở Đàng Trong vào năm 1625 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên và ở Đàng Ngoài vào năm 1626 dưới thời chúa Trịnh Tráng. Thời gian cha Alexandre de Rhodes giảng đạo tại Việt Nam cũng là thời kỳ các cha thừa sai dòng Tên hoạt động rất hăng say và hữu hiệu. Riêng cha Alexandre de Rhodes, ông đã truyền đạo từ Nam ra Bắc.
    Ông kể lại công cuộc truyền giáo tại Bắc Phần:
    "Khi chúng tôi vừa đến kinh đô Bắc Kỳ, tức khắc nhà vua truyền lệnh cho tôi phải xây một nhà ở và một nhà thờ thật đẹp. Dân chúng tuốn đến nghe tôi giảng đạo đông đến nỗi, tôi phải giảng đến 4 hoặc 6 lần trong một ngày. Chị vua và 17 người thân trong gia đình vua xin lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Nhiều tướng lãnh và binh sĩ cũng xin theo đạo. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là thấy các vị sư đã mau mắn từ bỏ bụt thần để theo đạo Công giáo. Tất cả đều dễ dàng chấp nhận khi tôi giải thích cho họ hiểu giáo lý đạo Công giáo rất phù hợp với lý trí và lương tâm con người. Các tín hữu Công giáo Việt Nam có Đức Tin vững chắc đến độ, không gì có thể rút Đức Tin ra khỏi lòng họ. Nhiều người phải đi bộ suốt 15 ngày đường để được xưng tội hoặc tham dự thánh lễ. Nhưng phải thành thật mà nói, tôi không thể chu toàn cách tốt đẹp mọi công tác truyền đạo này, nếu không có trợ giúp tuyệt vời của các thầy giảng. Vì nhận thấy mình là linh mục duy nhất giữa một cánh đồng truyền đạo bao la, nên tôi chọn trong số các tín hữu, những thanh niên không lập gia đình và có lòng đạo đức sâu xa cũng như có nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng, để giúp tôi. Những người này công khai thề hứa sẽ dâng hiến cuộc đời để phụng sự Chúa, phục vụ Giáo hội, sẽ không lập gia đình và sẽ vâng lời các cha thừa sai đến Việt Nam truyền đạo. Hiện tại có tất cả 100 thày giảng đang được thụ huấn trong chủng viện và được các tín hữu trang trải mọi phí tổn."
    Năm 1645, ông bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Khi trở lại châu Âu, Alexandre de Rhodes vận dụng mọi khả năng hiểu biết về công cuộc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu, đã xin Tòa Thánh gửi các giám mục truyền giáo đến Á Châu, để các ngài có thể truyền chức linh mục cho các thày giảng bản xứ.
    Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1660 ở Ispahan, Ba Tư, 15 năm sau lần cuối cùng bị trục xuất khỏi Việt Nam.
    Quan điểm hiện nay cho rằng các giáo sĩ vừa đi truyền đạo vừa làm gián điệp. Nếu nói rằng các nhà truyền đạo là gián điệp thời xưa thì hơi gay gắt. Nhưng trong khi vua chúa Pháp còn mê mải bởi các trận chiến tranh giành đất ,giành người hay vì đam mê tửu sắc, cản trở bởi quần thần trong triều đình, hay lo hưởng thụ, thì Giáo Hoàng đã gởi riêng các giáo sĩ đi khắp nơi để truyền giáo trên thế giới. Chính vì các giáo sĩ đi đó đi đây, biết cảnh biết người, tiếp xúc nhiều, có khả năng phán đoán và nhận xét một cách khoa học, được giáo dân tôn trọng kính nể, họ là những nguồn tin tức sống động và đáng tin cậy, và trên thực chất họ là những người đi khai phá.
    Mãi cho đến thế kỷ thứ 16, theo lịch sử chánh thức của triều đình Việt Nam (Khâm Định Việt Sử) thì từ năm 1533 đời vua Lê Trang Tông có chiếu chỉ cấm đạo Công Giáo ở Việt Nam.
    Khai sinh chữ quốc ngữ
    Vào năm 1651, ông cho in cuốn Từ Điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) dựa trên các ký tự tiếng Việt của những giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý trước đó. Có thể coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ.
    Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày qua đời của cha Alexandre de Rhodes, nguyệt san MISSI, do các cha Dòng Tên người Pháp điều khiển, đã dành trọn số tháng 5 để tưởng niệm và ca tụng Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng. Nguyệt san MISSI nói về công trình khai sinh chữ Quốc ngữ với tựa đề: "Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ".
    Tiếp đến, tờ MISSI viết:
    "... Khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, cha Alexandre de Rhodes đã giải phóng nước Việt Nam.
    "... Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.
    "... Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre de Rhodes Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.
    "... Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Đắc Lộ khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, cha Đắc Lộ là người đưa công trình chế biến chữ Quốc ngữ đến chỗ kết thúc vĩnh viễn và thành công, ngay từ năm 1651, là năm mà cuốn tự điển Việt-Bồ-La chào đời. Đây cũng là năm sinh chính thức của chữ Quốc ngữ. Và cuộc khai sinh diễn ra tại Roma, nơi nhà in Vatican. Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình.
    "... Đã từ lâu đời, người Việt Nam viết bằng chữ Tàu, hoặc bằng chữ Nôm, do họ sáng chế ra. Nhưng đa số người Việt Nam không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì theo lời cha Đắc Lộ, Tàu có đến 80 ngàn chữ viết khác nhau. Các nhà truyền giáo đầu tiên khi đến Việt Nam, đã bắt đầu dùng mẫu tự La Tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Khi cha Đắc Lộ đến Việt Nam, đã có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La Tinh rồi. Vì thế, có thể nói rằng, công trình sáng tạo ra chữ Quốc ngữ trước tiên là một công trình chung của các nhà thừa sai tại Việt Nam. Nhưng khi chính thức in ra công trình khảo cứu chữ viết tiếng Việt của mình, là cùng lúc, cha Đắc Lộ đã khai sinh ra chữ viết này, ban đầu được các nhà truyền giáo sử dụng, sau đó, được toàn thể dân Việt Nam dùng và biến nó thành chữ quốc ngữ. Tất cả các nước thuộc miền Viễn Đông từ đó ước ao được có chữ viết cho quốc gia mình y như chữ Quốc ngữ này vậy."

    Bản thân Alexandre de Rhodes đã viết như sau:
    "Khi tôi vừa đến Nam Kỳ và nghe người dân bản xứ nói, đặc biệt là phụ nữ, tôi có cảm tưởng mình đang nghe chim hót líu lo, và tôi đâm ra ngã lòng, vì nghĩ rằng, có lẽ không bao giờ mình học nói được một ngôn ngữ như thế. Thêm vào đó, tôi thấy hai cha Emmanuel Fernandez và Buzomi, khi giảng, phải có người thông dịch lại. Chỉ có cha Francois Pina là hiểu và nói được tiếng Việt, nên các bài giảng của cha Pina thường đem lại nhiều lợi ích hơn là của hai cha Fernandez và Buzomi. Do đó tôi tự ép buộc mình phải dồn mọi khả năng để học cho được tiếng Việt. Mỗi ngày tôi chăm chỉ học tiếng Việt y như ngày xưa tôi học môn thần học ở Roma. Và nhờ ơn Chúa giúp, chỉ trong vòng 4 tháng, tôi học biết đủ tiếng Việt để có thể giải tội và sau 6 tháng, tôi có thể giảng được bằng tiếng Việt. Kết quả các bài giảng bằng tiếng Việt lợi ích nhiều hơn các bài giảng phải có người thông dịch lại."
    Nguyệt san MISSI đã ca ngợi vai trò của Alexandre de Rhodes hơi quá, vì chính họ cũng viết rõ là trước de Rhodes đã có một số nhà truyền giáo ghi lại tiếng Việt bằng chữ cái La tinh, nhưng tiếp theo đó lại tôn vinh de Rhodes là người khai sinh ra chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên, de Rhodes rõ ràng đã có công lớn trong việc hệ thống hóa việc ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái La tinh một cách đầy đủ. Nhờ cuốn từ điển Việt-Bồ-La của ông, chữ Quốc ngữ mới bắt đầu phổ biến trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đặt nền móng cho việc sử dụng rộng rãi sau này.
    Ngoài cuốn Tự Điển Việt-Bồ-La Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum đã được Kho Tàng trữ của Thư viện Quốc gia Bồ Đào Nha scan và đưa lên mạng Internet , còn có nguyên bộ các tác phẩm khác trong ấn bản đầu tiên ở thập niên 1650 mà Giáo sĩ Đắc-Lộ viết bằng tiếng Latin và tiếng Pháp có thể tìm thấy tại Thư viện Maurits Sabbe của Đại học Công giáo tại Louvain (Université catholique de Louvain) tại Bỉ. Ngoài ra, có thêm một số ấn bản hoặc tái ấn bản cũng được tìm ra trong cơ sở dữ liệu PORBASE của Liên hiệp các thư viện ở Bồ Đào Nha.
    Tưởng niệm
    Năm 1943, chính quyền thuộc địa Đông Dương phát hành một con tem 30 xu để tôn vinh những đóng góp của ông trong quá trình phát triển tiếng Việt. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng phát hành một bộ tem 4 con kỷ niệm 300 năm ngày mất của ông, nhưng ra trễ 1 năm (phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1961). Tên ông được đặt cho một trường trung học và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay vẫn còn tượng ông đặt tại Viện Ngôn ngữ học Việt Nam để tưởng nhớ tới công lao và những đóng góp của ông trong việc phát triển chữ quốc ngữ.
    thuvienkhoahoc.com

  8. #8

    Mặc định

    Câu này hay:

    Công Đồng Vatican II long trọng tuyên xưng rằng 2/3 nhân loại không theo Kitô Giáo cũng vô cùng thân thiết với Thiên Chúa: Vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi cuối cùng của con người thực ra là duy nhất, nghĩa là do Thiên Chúa, cho nên ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh ấy, theo một cách nào đó chỉ có Chúa biết thôi. (Gaudium et Spes, số 22, Giáo Hoàng Học Viện)

    Khi xâu chuỗi lại sẽ thấy vì sao lạc thuyết Arius về Chúa Giê Su là sai lầm.

    Vì nếu Chúa Giê su không phải cùng bản tính và ngang hàng với ngôi Cha, thì Nhân Tính của Chúa Giê Su sẽ không còn ý nghĩa gì trong việc cứu chuộc.

    Lúc đó chiếc cầu nối Nhân Tính và Nhân Tính được bắc bởi Chúa Giê Su thành ra vô nghĩa, tức là con người không thể tiến tới Thiên Tính và trở nên con cái Thiên Chúa 1 cách trọn hảo nhất.
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

  9. #9
    Tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái. (Mahatma Gandhi)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 112
    Bài mới gởi: 21-05-2019, 08:28 AM
  2. TÂM VŨ TRỤ
    By doxuantho in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 242
    Bài mới gởi: 26-03-2012, 02:27 PM
  3. Kinh Lạy Cha cho Phật tử và Giáo dân
    By nhoc_salad in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 28-02-2012, 08:28 AM
  4. Tìm hiểu về TĐGCL
    By tinhkhithan in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 33
    Bài mới gởi: 28-06-2011, 05:51 PM
  5. Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 24-06-2011, 10:10 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •