kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: Ý NGHĨA VÀ CÔNG DỤNG Thập Nhị THẦN CHÚ

  1. #1
    micronbmt
    Guest

    Mặc định Ý NGHĨA VÀ CÔNG DỤNG Thập Nhị THẦN CHÚ

    Những người hành trì Kinh Đại Thừa Phật Giáo đều có tụng các Thần Chú trong các thời khoá nhằm mục đích tiêu trừ nghiệp chướng oan khiên, thêm được phước lành tăng trưởng. Ý nghĩa chữ Thần Chú như trước đã giải thích là lời nói bí mật của chư Phật (Mật ngôn hay Phật ngôn), lời nói đặc biệt này chỉ có các đức Phật trong mười phương nghe biết mà nó không phải là thứ ngôn ngữ thường tình của các chúng sanh trong ba cõi sử dụng, cho nên những thứ ngôn ngữ này người phàm phu không thể nào hiểu rõ. Những ai muốn chư Phật, chư Bồ Tát trong mười phương gia hộ những khổ đau của cuộc đời chỉ cần hành trì Thần Chú được chỉ dẫn sẽ được linh ứng theo sở cầu. Thần Chú của Mật Tông có nhiều loại và mỗi loại có công dụng riêng, nhưng các Thiền Gia trong các Thiền Môn chỉ chọn khoảng một số Thần Chú để sử dụng tụng trong các buổi lễ như Cầu An, Cầu Siêu, Sám Hối, v.v... gồm có Thần Chú Lăng Nghiêm, Thần Chú Đại Bi và mười Thần Chú khác gọi là Thập Chú. Ý Nghĩa và công dụng các Thần Chú nói trên được giải thích như sau:

    1)- Chú Lăng Nghiêm:
    Công dụng của Thần Chú Lăng Nghiêm, theo Triết Lý Đạo Phật hay Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm trong Phật Học Phổ Thông Khoá VI và VII của Hoà Thượng Thích Thiện Hoa, trang 255 và 266 đức Phật nói: “Nếu người nào nghiệp chướng nặng nề không thể trừ được, ông (chỉ ông A Nan) nên dạy họ chí tâm trì chú Lăng-nghiêm này thì các nghiệp chướng đều tiêu diệt” và đức Phật nói tiếp: “Sau khi ta diệt độ các chúng sanh đời sau, nếu có người trì tụng chú này thì các tai nạn: thủy tai, hoả hoạn, thuốc độc, độc trùng, ác thú, yêu tinh, quỉ quái, v.v... đều chẳng hại được”.
    Chúng ta muốn đạt thành những ý nguyện cho cuộc sống được an lạc và thành quả trên con đường giác ngộ giải thoát thì phải chuyên cần hành trì thâm nhập Chú Lăng Nghiêm này để nhờ thần lực chuyển hoá hộ. Điều đó chính đức Phật đã nói trong Kinh Lăng Nghiêm: “Ma Đăng Già là kẻ dâm nữ, không có tâm tu hành còn được thành quả Thánh, huống chi các ông là bậc Thanh văn, có chí cầu đạo vô thượng, lại trì tụng chú này, thì quyết định thành Phật rất dễ, cũng như than gió tung bụi, chẳng có khó gì.”

    2)- Chú Đại Bi:
    Theo Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni giải thích: “Hồi đời quá khứ vô lượng ức kiếp, có đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ ra đời vì ngài Quán Thế Âm mà nói ra chú Đại Bi này. Lúc đó Ngài mới trụ bực Sơ Địa, sau khi nghe chú này rồi thì siêu chứng lên bậc Bát Địa liền, Ngài thấy hiệu nghiệm như vậy liền phát đại nguyện rằng: “Nếu qua đời vị lai có thể đem thần chú này ra làm lợi ích cho chúng sanh thì cho thân Ngài sanh ra ngàn cái tai ngàn con mắt,” v.v...
    Ngài nguyện vừa xong thì quả nhiên tay mắt đều đầy đủ tất cả và lại được chư Phật Phóng quang soi đến thân Ngài, đồng thời soi khắp vô biên thế giới. Khi ấy Ngài lại phát nguyện nữa rằng: “Người nào nếu trì tụng chú này mỗi đêm 5 biến thì đặng tiêu hết những tội nặng sanh tử trong trăm ngàn vạn ức kiếp, đến lúc mạng chung thì có thập phương chư Phật hiện thân tiếp dẫn về cõi Tịnh Độ. Bằng như người nào trì tụng chú này mà sau còn đọa vào ba đường ác và chẳng đặng sanh về cõi Phật hay chẳng đặng những pháp Tam Muội, chẳng biện tài, sở cầu không toại chí, nếu có mấy sự ấy, thì chú này không được xưng là Đại Bi Tâm Đà La Ni”. Chỉ trừ những người tâm không thiện, chí không thành và lòng hay nghi thì không thấy hiệu nghiệm được liền mà thôi.
    Theo Nhị Khoá Hiệp Giải của Hoà Thượng Thích Khánh Anh, trang 74 giải thích: “Thuở ấy, đức Quán Thế Âm rất kín nhiệm Phóng ra hào quang lớn chiếu cả mười phương các cõi nước đều rực rỡ thành màu vàng ròng; rồi chấp tay bạch Phật rằng: Tôi có thần chú.... Đại Bi tâm Đà La Ni, nay tôi muốn nói ra để cho các chúng sanh đều đặng an lạc, vì nó có hiệu lực: tiêu trừ bệnh hoạn, tuổi sống lâu dài, giàu có, thêm điều lành, dứt hết các tội, được toại tâm với sự mong cầu, nên được Phật hứa cho thuyết chú.”
    Đây là những sự linh ứng và diệu dụng của Thần Chú Đại Bi.

    3)- Chú Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni:
    Theo Như Ý Tâm Đà La Ni: Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại vì muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện nên Ngài bạch với Phật xin để Ngài thuyết chú này. Những người trì tụng mà rõ được nghĩa thâm mật của chú này thì cái thắng lợi ấy cũng thí như cây như ý sanh ra những ngọc bảo châu như ý, tuỳ nguyện muốn cầu việc gì cũng được.
    Lúc Bồ Tát thuyết chú này rồi, sáu chưởng chấn động, cung điện của Ma Vương đều nổi lửa cháy sợ hãi không cùng, các loài độc ác chúng sanh đều lăn nhào té ngã, còn những kẻ thọ khổ trong địa ngục và ngạ quỷ thì đều đặng sanh về cõi Trời.
    Người nào nhứt tâm trì tụng chú này thì các thứ tai nạn đều được tiêu trừ mà đến lúc lâm chung lại được thấy đức Phật A Di Đà và Ngài Quán Thế Âm tiếp dẫn về cõi Tịnh Độ.

    4)- Thần Chú Tiêu Tai Cát Tường:
    Theo Kinh Tiêu tai Cát Tường: Khi Phật ở tại từng trời Tịnh Cư nói với các thiên chúng cùng các vị quản lý 28 ngôi sao và 12 cung thần rằng: “Có chú Xí Thạnh Quảng Đại Oai Đức Đà La Ni” của Phật Ta La Vương đã nói hồi trước. Ta nay thuyết ra đây là pháp để trừ những tai nạn. Nếu trong Đế đô quốc giới có các vị đặc trách sao yêu tinh đến làm những điều chướng nạn, hay những vị đặc trách sao quan hệ bổn mạng của nhân loại có gì bất tường phải lập đạo tràng, rồi khắc ký mà niệm chú này 108 biến thì tai chướng tức thời trừ diệt hết.”

    5)- Thần Chú Công Đức Bảo Sơn:

    Theo Viên Nhơn Vãng Sanh có dẫn chứng Kinh Đại Tập nói rằng: “Nếu người tụng chú này một biến thì công đức cũng như lễ Kinh Đại Phật Danh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến (45.400), còn như phạm tội nặng đang đọa vào địa ngục A Tì mà nhứt tâm trì tụng chú này thì trong lúc mạng chung chắc đặng sanh về bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh bên cõi Tịnh Độ mà đặng thấy Phật A Di Đà.”

    6)- Thần Chú Phật Mẫu Chuẩn Đề:

    Câu chú này trích trong Kinh Chuẩn Đề. Bốn câu kệ đầu là: “Khể thủ quy y Tô tất Đế,” v.v... cho đến “Duy nguyện từ bi thùy gia hộ” là của Ngài Long Thọ Bồ Tát. Trong bốn câu kệ:
    * Câu đầu là nói về Pháp Bảo; câu hai là nói về Phật Bảo; câu thứ ba là nói về Tăng Bảo; câu thứ tư là nói mình xin nhờ ơn sự gia hộ của Tam Bảo.
    *) Khể thủ quy y Tô Tất Đế: nghĩa là cúi đầu quy kính Pháp Viên Thành (pháp nhiệm mầu). Chữ Tô Tất Đế: nguyên tiếng Phạn là Susidhi, Tàu dịch là Diệu Thành Tựu, nghĩa là một pháp có năng lực thành tựu được hết thảy sự lý và thành tựu đặng hết thảy tâm nguyện của chúng sanh rất mầu nhiệm.
    *) Đầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi (cu đê): nghĩa là thành tâm đảnh lễ bảy trăm ức Phật. Chữ “Cu Chi” hay là “Cu Đê”, nguyên tiếng Phạn là “Koti”, Tàu dịch là bách ức, nghĩa là trăm ức; cho nên trên đây nói ”thất cu chi” tức là số bảy trăm ức vậy.
    *) Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề: nghĩa là tôi nay xưng tán đức Đại Chuẩn Đề. Chữ “Chuẩn Đề”, nguyên tiếng Phạn là “Candi”, Tàu dịch có hai nghĩa: 1) Thi Vi, 2) Thành Tựu.
    Thi Vi: nghĩa là lời nguyện rộng lớn đúng nơi lý và dùng đại trí để dứt vọng hoặc, vì đủ các nhơn hạnh để ra làm việc lợi tha cho chúng sanh, nên gọi là Thi Vi.
    Thành Tựu: nghĩa là từ nơi pháp không mà hiện ra pháp giả rồi thành tựu đặng pháp tịch diệt.
    Sở dĩ Chú này xưng là “Phật Mẫu Chuẩn Đề” là nói: Pháp là thầy và thiệt trí, là mẹ của chư Phật, cho nên bảy trăm ức Phật đều dùng pháp “Chuẩn Đề Tam Muội” mà chứng đạo Bồ Đề.
    Trong kinh Chuẩn Đề nói rằng: Khi Phật ở vườn Kỳ Đà vì có tứ chúng bát bộ đông đủ, Ngài nghĩ thương những chúng sanh đời mạt pháp sau này, tội dày phước mỏng, nên mới nhập “Chuẩn Đề Định” mà thuyết thần chú như vầy:
    Nam Mô Tát Đa Nẩm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẩm, Đát Điệt Tha, Án, Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề, Ta bà Ha.
    Phật nói: Nếu trì chú này mãn chín mươi vạn (900.000) biến thì diệt trừ được các tội thập ác, ngũ nghịch và tứ trọng; cho đến nhà thế tục chẳng luận tịnh hay uế, chỉ cần chí tâm trì tụng, liền được tiêu trừ tai nạn bệnh hoạn, tăng trưởng phước thọ. Khi tụng mãn 49 ngày, Bồ Tát Chuẩn Đề khiến hai vị Thánh thường theo người ấy hộ trì.
    Nếu có người hoặc cầu mở trí tuệ, hoặc cầu chống tai nạn, hoặc cầu pháp thần thông, hoặc cầu đạo Chánh Giác, chỉ y theo pháp thiết lập đàn tràng, tụng đủ một trăm vạn (1.000.000) biến thì đặng đi khắp mười phương Tịnh Độ, phụng thờ chư Phật, nghe cả diệu pháp mà được chứng quả Bồ Đề.

    7)- Thần Chú Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni:
    Chú này trích trong Kinh Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà La Ni. Kinh ấy nói: “Đức Thích Ca Thế Tôn nghĩ thương chúng sanh đoản mạng trong đời vị lai, muốn cho thêm được thọ số, hưởng được hạnh phúc, nên Phật nói với Đại Trí Huệ Diệu Cát Tường Bồ Tát rằng: những nhơn loại ở trong cõi Diêm Phù Đề này thọ mạng chỉ đặng trăm tuổi, mà ở trong số đó lại có phần đông người tạo lắm điều ác nghiệp nên bị tổn đức giảm kỷ thác yểu chết non. Nếu như nhơn loại thấy đặng chú này, hoặc biên chép, hoặc ấn tống, hoặc thọ trì đọc tụng thì lại tăng thọ mạng sống ngoài trăm tuổi và qua đời sau mau chứng quả Bồ Đề.”

    8)- Thần Chú Dược Sư Quán Đảnh Chơn Ngôn:
    Thần chú này được trích ra từ nơi Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức. Theo như trong kinh, đức Thích Ca Như Lai nói nếu có chứng bệnh gì mà cứ nhứt tâm trì chú này trong nước tịnh thủy đủ 108 biến rồi uống vào thì các bệnh đều lành liền.
    Còn như những người mà trọn đời thọ trì chú này thì đặng khỏi bệnh tật và được sống lâu, đến lúc mạng chung lại được sanh về cõi Tịnh Lưu Ly. Nhưng phải biết rằng: chú này được gọi là “Quán Đảnh” là nói chú này do nơi đảnh quang của Phật mà thuyết ra. Người nào nếu thọ trì đọc tụng chú này mà đặng thanh tịnh ba nghiệp (thân, miệng, ý) thì hào quang Phật chiếu ngay đến nơi đảnh môn của người trì tụng ấy một cách mát mẻ như rưới nước cam lồ vậy.
    Nên biết ánh quang của Phật khác hơn ánh quang của ma, nguyên vì ánh quang của ma thì chói loà khiến cho người ta sợ hãi, còn ánh quang của Phật thì mát mẻ và làm cho ta vui mừng. Vậy ai là người thọ trì chú này hoặc niệm Phật cần phải phân biệt rõ hai cái ánh quang nói trên. Chớ đừng thấy ánh quang của ma lậo lòe trước mắt như ngoại đạo nhìn nến, như kẻ nhìn nhang kia mà nhận lầm cho là thấy tánh.

    9)- Thần Chú Quán Âm Linh Cảm Chơn Ngôn:

    Đức Quán Thế Âm có lòng Đại Bi rất tha thiết, bi nguyện của Bồ Tát rất thâm sâu, công đức độ sanh của Bồ Tát lan rộng khắp mười phương. Người nào thành tâm trì tụng chú này thì liền được lòng Đại Bi của Bồ Tát chắc chắn ủng hộ.

    10)- Thần Chú Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn:

    Chú này được trích ra từ trong kinh Đại Phương Đẳng Đà La Ni. Kinh này nói: “Ngài Văn Thù Sư Lợi nghĩ thương về sau đến đời mạt pháp các chúng Tỳ Kheo có phạm tội Tứ Trọng và các chúng Tỳ Kheo Ni có phạm tội Bát Trọng thì làm sao mà sám hối đặng, nên mới cầu Phật chỉ rõ phương pháp. Lúc ấy Đức Thích Ca Như Lai mới thuyết ra chú này; vì chú này là chú của bảy vị Phật đời trước thường nói, rất có oai lực làm diệt hết các tội Tứ Trọng, Ngũ Nghịch mà đặng phước vô lượng.
    Tứ Trọng, Ngũ Nghịch là tội rất nặng, nếu không phải cách sám hối vô sanh thì tưởng không thể nào tiêu diệt cho đặng. Nhưng vì thần chú này là bảy vị Phật đời trước xứng tánh thuyết ra, cho nên những người trì tụng niệm niệm cũng phải xứng tánh để đặng lý vô sanh thì tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt, cũng như nước sôi đổ vào tuyết thì tuyết liền bị tan biến ngay lập tức.

    11)- Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ:

    Thần chú này được trích từ trong kinh Bạt Nhứt Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni. Thần chú này có công dụng diệt được các trọng tội như: tội Tứ Trọng, Ngũ Nghịch, Thập Ác, Hủy Bán Chánh Pháp. Người nào nếu y pháp mà chí tâm trì tụng chú này thì Đức Phật A Di Đà thường trụ ở nơi đảnh đầu người ấy luôn cả ngày đêm mà ủng hộ, không cho oan gia thừa tiện nhiễu hại, trong lúc hiện thế đặng an ổn và đến khi mạng chung được vãng sanh Tịnh Độ.
    Cách thức hành trì, Trước khi trì tụng chú này, hành giả phải rửa mình, súc miệng cho sạch sẽ, ngày đêm sáu thời, thắp hương lễ Phật, quì gối trước bàn thờ, chấp tay cung kính trì tụng mỗi thời tối thiểu 21 biến thì được linh ứng và hoặc trì tụng đươc ba vạn (300.000) biến thì được thấy đặng Phật A Di Đà thọ ký.

    12)- Thần Chú Thiện Nữ Thiên:

    Thần chú này được trích từ trong kinh Kim Quang Minh. Trong kinh Kim Quang Minh nói rằng: “Nếu chúng sanh nghe nói chú này mà một lòng thọ trì đọc tụng hương hoa cúng dường thì nhứt thiết những thứ thọ dụng như vàng, bạc, châu báu, trâu dê, lúa thóc đều đặng đầy đủ hết thảy”.

    VI.- TỔNG KẾT:

    Nên để ý các Kinh Chú của Phật để lại trong Đại Tạng thì rất nhiều, đa dạng theo mỗi vị Phật trình bày mỗi cách qua kinh nghiệm tu tập của mình. Các Thiền gia thời xưa qua kinh nghiệm của họ rút ra trong Đại tạng một số Kinh Chú theo nhu cầu phổ thông chẳng những cho quần chúng mà cho cả người xuất gia trong thời mạt pháp nghiệp trọng phước khinh ma cường pháp nhược này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để trì tụng là của những vị Phật, những vị Bồ Tát rất quan hệ với các chúng sanh nơi cõi Ta bà ngũ trược ác thế này. Còn các Kinh Chú khác của các vị Phật hay của các vị Bồ Tát khác chỉ quan hệ nhiều với các chúng sanh trong các cõi khác không có ngũ trược ác thế như cõi Ta Bà này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để hành trì có những mục đích như sau:
    1)-Những Kinh Tụng nêu trên ngoài sự Tu Huệ của hành giả và còn nhờ sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ giúp hành giả sớm hoàn thành hạnh nguyện đạt đạo.
    2)- Còn các Kinh khác nhằm tu tập bao gồm Văn Huệ, Tư Huệ và Tu Huệ trong lãnh vực tự độ và tự giác mà không cần sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ, được gọi là tự lực cánh sinh.
    3)- Các Thần Chú nêu trên mà các Thiền gia chọn lựa được rút ra trong các Kinh Tạng của chư Phật chỉ dạy để các hành giả hành trì ngõ hầu đạt được ý nguyện mà không bị phân tâm, không bị loạn tưởng, không bị tẩu hoả nhập ma.
    4)- Còn các Thần Chú khác một số không thấy trong các Kinh Phật mà chỉ thấy trong Mật Tông nếu như hành trì mà thiếu sự hướng dẫn chơn truyền qua sự kinh nghiệm của những người đi trước thì sẽ bị nguy hiểm phân tâm, loạn tưởng, tẩu hoả nhập ma.

    Các Thiền gia Việt Nam cũng chọn những Kinh những Chú đã được liệt kê ở trước ngoài những mục đích và ý nghĩa vừa trình bày còn có mục đích khác là thể hiện văn hoá Phật Giáo Việt Nam mà các Thiền gia Việt Nam đem sự đạt đạo xây dựng quốc gia. Nhìn theo Văn Hoá Phật Giáo Việt Nam, Nhị Thời Khoá Tụng mà các Thiền gia Việt Nam thường sử dụng trong khoá lễ hằng ngày dành cho các Thiền sinh hành trì, ngoài sự tu tập để chứng đắc và còn tiêu biểu cho ba hệ phái Thiền đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực văn hoá trải dài hơn 2000 năm lịch sử. Điều đó được thấy như:
    a)- Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền phái Trúc Lâm Tam Tổ đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia Việt Nam trên lãnh vực thuần tuý thiền tập.
    b)- Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia Việt Nam trên lãnh vực Thiền Mật Tổng Hợp.
    c)- Thiền Phái Thảo Đường đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực Thi Ca và Nghệ Thuật.
    d)- Thiền phái Liễu Quán đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực Thiền Tịnh Song Tu.

    Từ những ý nghĩa và giá trị này, chúng ta là người Việt Nam không nên xem thường Nhị Thời Khoá Tụng mà Thiền gia Việt Nam đã chọn và cũng chứng minh rằng các Thiền gia Việt Nam nhờ Nhị Thời Khoá Tụng này được chứng đắc, cho nên mới để lại cho hậu thế hành trì.
    Last edited by micronbmt; 05-11-2012 at 09:54 PM.

  2. #2
    micronbmt
    Guest

    Mặc định

    NHỊ THẬP NGŨ BỘ CHÚ

    二十伍部 咒

    *****

    1/ NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ LA NI :

    Nam mô Phật đà da--Nam mô Đạt mạ da--Nam mô Tăng già da
    Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát ,cụ đại bi tâm giả .Đát điệt tha
    Án chước yết ra phạt để ,chấn đa mạc ni, ma ha bát đẳng mế,rô rô rô rô ,để sắc tra ,thước ra a yết rị ,sa dạ hồng phấn ta ha .Án,bát đạp ma chấn đa mạc ni ,thước ra hồng. Án ,bát lặc ;đà bát đẳng mế hồng .

    2/ TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ :

    Nẳng mồ tam mãn đa ,mẫu đà nẫm A bát ra để ,hạ đa xá ta nẳng nẫm .Đát điệt tha ,Án khê khê ,khê hế, khê hế ,hồng hồng ,nhập phạ ra ,nhập phạ ra ,bát ra nhập phạ ra ,bát ra nhập phạ ra ,để sắc sá ,để sắc sá ,sắc trí rị ,sắc trí rị ,ta phấn tra ,ta phấn tra ,phiến để ca,thất rị duệ ,ta phạ ha .

    3/ CÔNG ĐỨC BẢO SƠN THẦN CHÚ :

    Nam mô Phật đà da--Nam mô Đạt ma da--Nam mô Tăng dà da
    Án ,Tất đế hộ rô rô,tất đô rô,chỉ rị ba ,kiết rị bà ,tất đạt rị ,bố rô rị ,ta phạ ha .

    4/ PHẪT MẪU CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ :

    Khế thủ quy y tô tất đế, đầu diện đảnh lễ thất cu chi .
    Ngã kim xưng tán đại Chuẩn Đề ,duy nguyện từ bi thùy gia hộ .
    Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề ,cu chi nẫm ,đát điệt tha .

    Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ,ta bà ha .


    5/ THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG ĐÀ LA NI :

    Án, nại ma ba cát ngoả đế ,a ba ra mật đạp ,a ưu rị a nạp ,tô tất nể ,thiệt chất đạp ,điệp tả ra tể dã,đát tháp cả đạt dã, a ra ha đế tam dược tam bất đạt dã đát nể dã tháp .
    Án, tát rị ba ,tang tư cát bị,bót rị thuật đạp ,đạt ra mã đế ,cả cả nại tang mã ngột cả đế ,ta ba ngoã ,tỷ thuật đế ,mã hắt nại dã ,bát rị ngoã rị tá hắt .

    6/ DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHƠN NGÔN :

    Nam mô bạt dà phạt đế,bệ sát xả, lư rô thích lưu ly,bát lặc bà,hắc ra xà dã ,đát tha yết đa da, a ra hắc đế ,tam miệu tam bột đà da .Đát điệt tha . Án ,bệ sát thệ ,bệ sát thệ ,bệ sát xả ,tam một yết đế tá ha .

    7/ QUÁN ÂM LINH CẢM CHƠN NGÔN :

    Án, ma ni bát di hồng ,ma hắc nghê nha nạp ,tích đô đặc ba đạt ,tích đặc ta nạp ,vi đạt rị cát ,tát nhi tán nhi tháp ,bốc rị tất tháp cát nạp ,bổ ra nạp ,nạp bốc rị, thưu thất ban nạp,nại ma lô kiết ,thuyết ra da ,tá ha .

    8/ THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN :

    Ly bà ly bà đế,cầu ha cầu ha đế,đà ra ni đế ,ni ha ra đế,tỳ lê nể đế ,ma ha dà đế,chơn lăng càn đế, ta bà ha .

    9/ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ :

    Nam mô a di đà bà dạ ,đa tha dà đa dạ,đa điệt dạ tha.A di rị đô bà tỳ ,A di rị đa tất đam bà tỳ,A di rị đa tỳ ca lan đế,A di rị đa tỳ ca lan đa.Dà di nị dà dà na.Chỉ đa ca lệ ta bà ha .

    10/ THIỆN THIÊN NỮ CHÚ :

    Nam mô Phật đà, nam mô Đạt mạ, nam mô Tăng dà. Nam mô thất rị, ma ha đề tỷ dã, đát nễ dã tha, ba rị phú lâu na, giá rị tam mạn đà, đạt xá ni, ma ha tỳ ha ra dà đế, tam mạn đà, tỳ ni dà đế, sa ma ha ca rị dã, ba nễ, ba ra, ba nễ, tát rị phạ lặc tha, tam mạn đà, tu bác lê đế, phú lệ na, a rị na đạt mạ đế, ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha Di Lặc đế, lâu phả tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà a tha a nậu, đà la ni.

    11/ ĐẠI BẢO QUẢNG BÁC LÂU CÁC THIỆN TRỤ BÍ MẬT ĐÀ LA NI

    Nam mô tát phạ đát tha nghiệt đà nẫm, ngàn nĩ bổ lã nghiệt bệ, mô nĩ bó lai bệ, đa tha đa nễ, nại sá nẫm, mo nĩ mo nĩ, tô bô lai bệ nĩ mo lê, bà nghiệp lai nghiêm tỉ lệ. Hồng hồng nhập phạ lã, nhập phạ lã, mẫu đà nỉ lồ chỉ đế. Húng hê dạ, điệp sát sỉ đa nghiệt bệ ta bà ha.


    12/ CHÚ NO CƠM ẤM ÁO

    ÚM A VỊ RA HÙM, KHƯ TÁ RA (3 lần)


    13/KIM CANG TÂM CHƠN NGÔN (Hàng phục ma chướng)

    ÁN, Ô LUÂN NI, TA BÀ HA (3 lần)


    14/ BÁT NHÃ VÔ TẬN CHƠN NGÔN (Sanh trí tuệ)

    Nam mô bạt già phạt đế, bát rị nhã, ba la mật đa duệ, đát điệt tha. Án, hột rị địa rị, thất rị, thú rô tri, tam mật lật tri, phạt xả duệ tá ha.

    15/TRỪ ĐỊNH NGHIỆP CHÚ

    Án, bát ra mạt lân đà nãnh, ta bà ha (3 lần)

    16/DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG CHÚ

    Án, a lỗ lặc kế, ta bà ha (3 lần)

    17/ĐẠI QUÁN ĐẢNH QUANG ĐÀ RA NI

    Án, a , mô già vĩ, lô ta nẵng, ma hạ mẫu nại ra, ma nĩ bát nạp ma, nhập phạ lã bát ra, mạt đa dã hồng.

    18/GIẢI OAN NGHIỆP CHÚ

    Án, tam đà ra, dà dà, ta bà ha (3 lần)

    19/A-DI-ĐÀ TÂM CHÚ (Cầu về Tây phương)

    Án, a mật lật, đát đỉnh tĩnh, hắc ra, hồng hộc rị . (càng nhiều càng tốt)


    20.- NGŨ BỘ CHÚ

    *Phật bộ:- Án xỉ lâm, án bộ lâm, án phổ hùng, án giang, án a .

    *Bồ Tát bộ:- Án lãm, án già hồng hộc rị.

    -Án xỉ lâm, bộ lâm, hồng phấn tra.

    -Án ma ha tát đát tha, bác đát ra.

    -Án ma ni bát di hồng.

    -Án, chiếc lệ, chủ lệ, Chuẩn Đề ta bà ha.



    21/ BẠCH Y THẦN CHÚ

    a/-Tịnh Thân Nghiệp Chân Ngôn :- Tu rị tu rị ,ma ha tu rị ,tu tu rị ,ta bà ha (3 lần )

    b/-Tịnh Khẩu Nghiệp Chân Ngôn :-Tu đa rị ,tu đa rị ,tu ma rị ,tu ma rị ,ta bà ha (3 lần )

    c/-An Thổ Địa Chân Ngôn :-Nam mô tam mãn đà ,một đà nẫm ,án, tô rô tô rô,địa vĩ ,ta bà ha (3 lần )

    d/-Bạch y Quán Thế Âm Đại Sĩ Linh Cảm Thần Chú :

    Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn ,quảng đại linh cảm bạch y Quán Thế Âm Bồ Tát . (3 lần )
    Nam mô Phật ,nam mô Pháp ,nam mô Tăng ,nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát .
    Đát chỉ đá,án dà la phạt đá ,dà la phạt đá ,dà ha phạt đá ,la dà phạt đá ,la dà phạt đá ,sa ha. Thiên la thần ,địa la thần ,nhân ly nạn ,nạn ly thân , nhất thiết tai ương hóa vi trần . ( 3 lần )


    22/CẦU PHẬT TIẾP DẪN

    Nam mô ra đát nẵng, đát ra đa dã. Án na ma bà đế, dĩ nhã duệ tất địa tất dà lật đế, ta bà ha.

    23/CẦU BIỆN TÀI

    Án, phạ nhựt ra mãnh, đảm phá duệ, ta bà ha.


    24/PHÁT BỒ ĐỀ TÂM ĐẠI ĐÀ-RA-NI (Chuyển đủ oai đức, khiến tu hành bất thối chuyển)

    Án, bồ địa, thất đa mưu chế, bà đa già nhi.

    25/ HOA NGHIÊM CHÚ (trí tuệ)

    A dà ba, ta na la. Đà bà trà, sa ba đa. Da sắc tra ca, ta ma cà. Tha thả ta, dà sa khư. Xoa ta đa như, hạt la đa bà xa.

    Ta ma ha bà ta, cát ra noa. Ta pha ta ca dã ta, thất ta sa đà.


    *HT Thiền sư Thích Từ Quang (Chơn Đức Thiền Viện)

    Khẩu truyền ngày Phật Đản 2528 (1984)

  3. #3
    micronbmt
    Guest

    Mặc định

    ai cần bắt ấn chú nào thì liên hệ mình sẻ pots cho nhé ^^

  4. #4

    Mặc định

    mong bạn gửi hết ấn của các chú được ko, cảm ơn bạn nhiều
    rose4 :prayingprayingpraying:2 rose4
    VẠN SỰ HOAN HỶ - VẠN SỰ THÔNG

  5. #5

    Mặc định

    Nếu chưa có thầy truyền ấn thì mình nghĩ nên bắt ấn thiền định, ấn hoa sen (chấp tay) hoặc ko bắt ấn là tốt nhất :)

  6. #6

    Mặc định

    kết giới là gì hả các bác?
    Phát tâm bồ đề
    Trên cầu thành Phật
    Dưới độ chúng sinh
    Tự mình hành đạo
    Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát

  7. #7

    Mặc định

    Mình xin bổ sung phần Phạn âm của thập chú

    1. Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni


    Nam Mô Rát Na Tra Da Da, Nam Ma A Ri Da Qua Lo Ki Te Sòa Ra Da Bô Đi Sát Toa Da Ma Ha Sát Toa Da, Ma Ha Ca Ru Ni Ca Da, Ta Đi Da Tha Ôm Chắc Cờ Ra, Qua Rơ Ti, Chin Ta Ma Ni, Ma Ha Bát Mê, Ru Ru Ti Sì Tan, Choa La A Ca Rơ Sà Da, Hùm, Phát, Sô Ha, Ôm Bát Ma Chin Ta Ma Ni Ma Ha Choa La Hùm, Ôm Qua Ra Đa Bát Mê Hùm

    Nam Mô Phật Ðà Da.
    Nam Mô Ðạt Ma Da.
    Nam Mô Tăng Dà Da.
    Nam Mô Quán Tự Tại Bồ Tát ma ha tát, cụ đại bi tâm giả. Ðát diệt tha.
    Án chước yết ra phạt để, chấn đa mạc ni, ma ha bát đẳng mế, rô rô rô rô, để sắc tra thước ra a yết rị, sa dạ hồng phấn ta ha.
    Án, bát đạp ma chấn đa mạt ni, thước ra hồng. Án bát lặc; đà bát đẳng mế hồng.

    Xuất Xứ: Như Ý Tâm Đà La Ni Kinh. Nội dung kinh này nói về Bồ tát Quán Tự Tại được sự chấp thuận của Đức Phật liền tuyên thuyết Vô Chướng Ngại Quán Tự Tại Liên Hoa Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni . Đức Phật lại bảo: Nếu người nào tụng chú này 1 biến thì trừ được tội, qua được tai nạn, thành tựu sự nghiệp. Còn nếu ngày nào cũng tụng 108 biến thì sẽ có cảm ứng khiến thấy được thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà và núi Bổ Tát La nơi Bồ tát Quán Thế Âm cư ngụ, khỏi đọa vào đường ác.

    2. Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú

    Nam Mô Sa Manh Ta Bút Đa Năm, A Bơ Ra Ti Ha Ta Sà, Sa Na Năm, Ta Đi Ya Tha, Ôm Kha Kha, Khà Hí, Khà Hí, Hùm Hùm, Choa La Choa La, Bơ Ra Choa La Bơ Ra Choa La, Tịt Sì Tha Tịt Sì Tha, Si Tri, Si Tri, Sì Phạt Tà, Sì Phạt Tà, Sàn Ti Ca, Sì Ri Dê Sô Ha

    Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẩm. A bát ra để, hạ đa xá ta nẳng nẩm. Ðát diệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca, thất rị duệ, ta phạ ha.

    Xuất Xứ: Kinh Xí Thạnh Quang Đại Oai Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni. Thần chú tiêu trừ các tai nạn, thành tựu việc cát tường. Một trong 4 Đà La Ni thông dụng trong Thiền lâm, cũng là pháp Tức Tai trong Mật giáo. Thần chú này xuất phát từ Kinh Xí Thạnh Quang Đại Oai Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni và Kinh Đại Oai Đức Kim Luân Phật Xí Thạnh Quang Như Lai Tiêu Diệt Nhất Thiết Tai Nạn Đà La Ni.

    3. Công Ðức Bảo Sơn Thần Chú

    Nam Mô Bút Đa Da, Nam Mô Đa Rơ Ma Da, Nam Ma Săng Gà Da, Ôm Sì Tê, Hu Ru Ru, Sin Đu Ru, Cơ Rịt Ba, Cơ Rịt Ba, Sịt Đa Ni, Bù Ru Ni, Sô Ha
    Nam Mô Phật Ðà Da
    Nam Mô Ðạt Ma Da.
    Nam Mô Tăng Dà Da.
    Án, tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.

    Xuất Xứ: Kinh Ðại Tập. Nếu người tụng chú này một biến, công đức cũng bằng như lễ Ðại Phật Danh kinh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến. Lại như chuyển Ðại Tạng 60 vạn 5 ngàn 4 trăm biến. Tạo tội quá mười cõi sát độ, đọa vào A Tỳ địa ngục chịu tội, kiếp hết lại sanh nơi khác để chịu tội. Niệm chú này một biến, tội kia đều được tiêu diệt, không còn đọa vào địa ngục, khi mạng chung quyết định vãng sanh Tây phương thế giới, được thấy Phật A Di Ðà, thượng phẩm thượng sanh.

    4. Chuẩn Đề Thần Chú

    Nam Ma Sáp Tà Nằm, Sam Dắc Săm Bút Đa, Cô Ti Năm, Ta Đi Da Tha, Ôm Cha Lê Chu Lê Chun Đê Sô Ha

    Khể Thủ quy y Tô tất đế, đầu diện đảnh lễ thất cu chi. Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
    Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đề, cu chi nẩm đát điệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, ta bà ha.

    Xuất Xứ: Phật Mẫu Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh. Người trì tụng thần chú này đủ chín chục muôn biến, có thể diệt được các tội thập ác, ngũ nghịch, tiêu trừ tai nạn, bịnh hoạn, tăng nhiều phước thọ.

    5. Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni

    Nam Mô Bà Ga Qua Tê, A Ba Ri Mi Ta, A Du Rơ Nhà Na, Su Qui Ni, Sơ Chi Ta Tê Chô Ra Cha Da, Ta Tha Ga Ta Da, A Ra Ha Tê, Sam Dắc Săm Bút Đa Da, Ta Đi Ya Tha Ôm Sa Rơ Qua Săṃ Si Ca Ra Ba Ri Sút Đa, Đa Rơ Ma Tê, Ga Ga Na, Sam Mút Ga Tê Soa Ba Qua, Qui Sút Đê, Ma Ha Na Da, Ba Ri Qua Ri, Sô Ha

    Án, nại ma ba cát ngỏa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nể, thiệt chấp đạp, điệp tá ra tể dã, đát tháp cả đạt dã, a ra ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát nể dã tháp.
    Án, tát rị ba, tang tu cát rị, bót rị thuật đạp, đạt ra mã đế, cả cả nại, tang mã ngột cả đế, ta ba ngỏa, tỷ thuật đế, mã hắt nại dã, bát rị ngỏa rị tá hắt.
    Xuất xứ: Thánh vô lượng thọ quyết định quang minh vương Như Lai đà la ni kinh.

    6. Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn

    Nam Mô Ba Ga Qua Tê, Bài Sai Gia Gu Ru, Quai Đu Ri Da, Bơ Ra Ba, Ra Cha Da Ta Tha Ga Ta Da, A Ra Ha Tê, Sam Dắc Săm Bút Đa Da, Ta Đi Da Tha, Ôm Bai Sai Giê, Bài Sai Giê, Bài Sai Gia, Sam Mút Ga Tê Sô Ha

    Nam Mô bạt già phạt đế, bệ sát thệ bệ sát xã, lưu lô thích lưu ly, bác lặc bà hắc ra xà dã, đát tha yết da gia, a ra hắc đế. Tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đết tóa ha.
    Nam Mô Dược Sư Lưu ly Quang Vương Phật!

    Xuất Xứ: Kinh Dược Sư. Nếu ai có bịnh chi, chỉ chuyên nhứt tâm đọc thần chú này 108 biến để chú nguyện vào ly nước sạch rồi uống thì các bệnh đều tiêu trừ. Còn người nào chuyên tâm trì tụng trọn đời thì được không đau ốm, đến lúc mạng chung được vãng sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly bên Đông Phương của Phật Dược Sư.

    7. Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn

    Ôm Ma Ni Bát Mê Hùm, Ma Ha Nhà Na, Chít Ta Út Ba Đa, Chít Ta Si Da Na, Qui Ta Cơ Ca, Sa Rơ Qua A Rơ Tha, Bu Ri Sít Đa Ca, Na Bu Ra Na, Na Bơ Rat Dút Banh Na, Nam Mô Lô Cê Soa Ra Da Sô Ha

    Án, ma ni bát di hồng, ma hắt nghê nha nạp, tích đô đặt ba đạt, tích đặt ta nạp, vi đạt rị cát, tát nhi cáng nhi tháp, bốc rị tất tháp cát nạp, bổ ra nạp, nạp bốc rị, thưu thất ban nạp, nại ma lô kiết, thuyết ra da , tá ha.

    Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm ứng Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Xuất Xứ: Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương. Phật bảo Trừ Cái Chướng Bồ Tát rằng: Sáu chữ Ðại Minh Ðà La Ni này khó được gặp gỡ, nếu có người nào được sáu chữ Ðại Minh Vương đây, thì người đó tham, sân, si, độc không thể nhiễm ô. Nếu đeo mang trì giữ nơi thân, người đó cũng không nhiễm trước bịnh ba độc. Chơn ngôn này vô lượng tương ưng, với các Như Lai mà còn khó biết, huống gì Bồ Tát làm thế nào biết được. Ðây là chỗ bổn tâm vi diệu của Quán Tự Tại Bồ Tát.

    8. Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn

    Ri Ba Ri Ba Tê, Cu Ha Cu Ha Tê, Ta Ra Ni Tê, Ni Ga La Tê, Qui Ma Ri Tê, Sô Ha
    Ly bà lỳ bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế, ma ha dà đế, chơn lăng càng đế, ta bà ha.

    Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Thế Nhứt Thiết Phật.
    Xuất xứ : Đại phương đẳng đà la ni kinh. Đây là bài chú của bảy đức Phật đã nói từ những đời quá khứ. Thần chú này hay diệt được các tội tứ trọng, ngũ nghịch và được vô lượng phước, nếu thành tâm trì tụng.

    9. Vãng Sanh Tịnh Ðộ Thần Chú

    Nam Mô A Mi Ta Ba Da Ta Tha Ga Ta Da, Ta Đi Da Tha, A Mơ Ri Tô Ba Quê, A Mơ Ri Ta Sít Đăm Ba Quê, A Mơ Ri Ta Qui Cơ Ràn Tê, A Mơ Ri Ta Qui Cơ Ràn Ta, Gà Mi Ni Ga Ga Na, Cì Rơ Ta Cà Rê Sô Ha

    Nam-mô a di đa bà dạ,
    Ða tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha,
    A di rị đô bà tỳ,
    A di rị đa tất đam bà tỳ,
    A di rị đa tỳ ca lan đế,
    A di rị đa tỳ ca lan đa,
    Dà di nị dà dà na,
    Chỉ đa ca lệ ta bà ha.

    Xuất xứ: Kinh niệm Phật ba la mật. Người chuyên tụng chú này được Phật A Di Đà thường ngự trên đỉnh đầu ủng hộ, hiện đời an ổn, khi mạng chung được tuỳ ý vãng sanh.

    10. Đại Cát Tường Thiên Nữ Chú

    Nam Mô Bút Đa Da, Nam Mô Đa Rơ Ma Da, Nam Ma Săng Ga Da, Nam Ma Sơ Ri Ma Ha Đê Qui Dê, Ta Đi Da Tha, Ôm Ba Ri Bu Ra Na, Cha Rê, Sa Manh Ta Đa Rơ Sa Nê, Ma Ha Qui Ha Ra Ga Tê, Sa Manh Ta, Qui Đa Ma Nê, Ma Ha Ca Rơ Da Bơ Ra Ti Sì Tha Ba Nê, Sa Rơ Qua A Rơ Tha Sa Đa Nê, Su Bơ Ra Ti Bu Ri, A Da Na Đa Rơ Ma Ta, Ma Ha Qui Cu Rơ Qui Tê, Ma Ha Mai Tơ Ri U Ba Săm Hi Tê, Ma Ha Rơ Sê Su Săm Gờ Rật Hi Tê Sa Manh Ta A Rơ Tha A Nu Ba La Nê Sô Ha
    Nam Mô Phật Đà
    Nam Mô Đạt Ma
    Nam Mô Tăng Dà

    Nam Mô thất lỵ, ma ha để tỷ da, đát nể dã tha, ba lỵ phú lầu na giá lỵ, tam mạn đà, đạt xá ni, ma ha tỳ ha ra dà đế, tam mạn đà, tỳ ni dà đế, ma ha ca rị dã, ba nể ba ra, ba nể tát rị phạ lặt tha, tam mạn đà, tu bác lê đế, phú lệ na, a rị na, đạt mạ đế, ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha Di Lặc đế, lâu phã tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà, a tha nậu đà la ni.

    Xuất xứ : Kinh Kim Quang Minh
    Trong kinh này nói những kẻ tụng chú này, phàm muốn cần dùng điều chi thì đều được đầy đủ.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Thần học về Chúa Thánh Thần
    By minhthai in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 17
    Bài mới gởi: 22-08-2014, 09:56 AM
  2. MỘT SỐ TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỨ DÂN TỘC
    By Bin571 in forum Truyền thuyết - Giai thoại - Lịch sử VIỆT NAM
    Trả lời: 14
    Bài mới gởi: 19-05-2013, 08:11 AM
  3. PHƯƠNG TU THỜI TAM KỲ PHỔ ĐỘ
    By kinhvotu in forum Đạo Cao Đài
    Trả lời: 5
    Bài mới gởi: 22-07-2012, 12:50 AM
  4. Ý nghĩa của 64 quẻ và 384 hào
    By Bin571 in forum Dịch Học
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 08-07-2012, 04:04 PM
  5. Trả lời: 20
    Bài mới gởi: 06-04-2012, 11:22 PM

Members who have read this thread: 0

There are no members to list at the moment.

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •