LÝ THUYẾT :
Pháp môn niệm LỤC TỰ DI ÐÀ, hay tu tịnh độ, tức tịnh lục căn để độ lục trần bằng cách niệm liên tục sáu chữ "Nam Mô A Di Ðà Phật", thu nhiếp lục căn để khỏi nhiễm lục trần, tịnh sáu căn để ngăn sáu giặc, lau chùi Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý cho trong sạch để khỏi bị ô nhiễm dơ bẩn bởi Thanh, Sắc, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Ðấy là về mặt hữu vi. Về mặt vô vi, niệm LỤC TỰ DI ÐÀ để khai thông sáu luân xa trong bản thể. Sáu luân xa này khai thông thì sáu căn thanh tịnh sáng suốt, giúp con rời uế độ, tiến dần sang tịnh độ, tức cõi thanh tịnh, an lạc, sáng suốt. Cho đến một lúc nào đó, bỗng nhiên tâm linh con bừng sáng thể nhập được Phật-Tri-Kiến tức là con thật sự vãng sanh vào cõi Tây phương Tịnh độ còn gọi là Quốc độ Cực lạc của A Di Ðà hay nói đúng hơn TRÍ con đã thâu nhập được vào thể TRÍ sáng suốt của Càn Khôn đó vậy.
Pháp môn " Mật niệm bát chánh" phát triển lên từ pháp môn niệm LỤC TỰ DI ÐÀ . Ðây là pháp môn thâu nhiếp hết các pháp, bao trùm luôn cả pháp môn niệm Lục Tự Di Ðà, vì Lục Tự Di Ðà chỉ tịnh lục căn để độ lục trần. Còn pháp môn "MẬT NIỆM BÁT CHÁNH" vừa khai thông ngũ quan, vừa phát triển tam thức. Pháp môn này chẳng những thanh lọc bản thể cho thanh tịnh, mà còn khai tâm, mở trí, luyện ý cho tiểu hồn con ngày càng hiền từ hơn, sáng suốt hơn, tin tưởng hơn vào chánh pháp của CHA và các vị Giáo Chủ.Nếu con đã thật tâm tu tịnh độ rồi, dù cho chúng ma kéo đến, cũng chẳng làm hại con được, vì lúc đó luồng điển quang phát ra trong sáu luân xa trong bản thể của con thật sáng mạnh, đẩy văng chúng ra xa không cho chúng đến gần con được.Còn con nào giả tu tịnh độ, mượn Ðạo tạo Ðời, sáu luân xa không phát ra thành điển được, mà còn bị trược điển bao phủ đè nặng, thời lũ Ma nó mới đến gần con được để kéo con vào tội lỗi xấu xa y như nó đặng trả cho tròn cái nghiệp mượn Ðạo tạo Ðời, giả tu giả chứng vậy.
THỰC HÀNH :
Trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy, các con ngồi xềp bằng niệm "NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT" , phối hợp với sự tập trung TÂM-TRÍ-Ý vào tám luân xa trong bản thể như sau:

1) Luân xa nơi chót mũi, để khai mở tỷ thức chơn chánh.
2) Luân xa nơi giữa hai hàng lông mày, để khai mở nhãn thức chơn
chánh.
3) Luân xa nơi đỉnh trán, để khai mở ý thức chơn chánh.
4) Luân xa nơi xoáy óc, tức đỉnh đầu, để khai mở TRÍ THỨC chơn
chánh.
5) Luân xa nơi ngọc chẩm (giữa óc và sọ) để khai mở NHĨ THỨC
chơn chánh.
6) Luân xa nơi ót, để khai mở thiệt thức chơn chánh.
7) Luân xa nơi tim, để khai mở TÂM THỨC chơn chánh.
8) Luân xa nơi rún, để khai mở THÂN THỨC chơn chánh.

Tám luân xa trong bản thể là những trung tâm lực điều khiển sự hoạt động của ngũ quan và tâm trí ý, trong tiểu hồn còn gọi là Bát thức liên hệ mật thiết với Bát Chánh Ðạo là phần hữu vi bên ngoài.

- TÂM thức chơn chánh tức chánh định (luân xa ở tim).
- TRÍ thức chơn chánh tức chánh tư duy
- Ý thức chơn chánh tức chánh niệm
- NHÃN thức chơn chánh tức chánh kiến
- NHĨ thức chơn chánh tức chánh nghiệp
- TỶ thức chơn chánh tức chánh tinh tấn
- THIỆT thức chơn chánh tức chánh ngữ
- THÂN thức chơn chánh tức chánh mạng

Tâm thức, Ý thức, Trí thức còn gọi là Tâm Trí, Ý Chí, Lý Trí, còn xưa kia Thích Ca nó đặt tên là A Lại gia thức, Mạt na thức (hay Từ lượng thức), Truyền thống thức.

Tuy là pháp môn mầu nhiệm, nhưng song song với việc MẬT NIỆM BÁT CHÁNH, các con phải siêng năng tinh tấn, công phu thiền định và ngăn ngừa đắm nhiễm ngũ quan vào ngũ dục. Ðồng thời ngăn ngừa sự nổi dậy của tam độc (THAM, SÂN, SI) làm rối loạn lu mờ tam thức của con, bằng cách lúc nào ngũ dục nổi lên, tam độc khởi dậy, con liền tập trung MẬT NIỆM BÁT CHÁNH, tức đem hết TÂM-TRÍ-Ý niệm "NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT" vào tám luân xa, từ chót mũi đến rún, mỗi luân xa niệm một câu "NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT". Nếu giáp một vòng mà chưa đè nén nổi, thời liền niệm tiếp vòng thứ hai nhưng đổi là: "NA MÔ A MI TA BA" cho mau hóa giải hơn, vì âm ba phạn ngữ gần bằng độ chấn động điển của âm ba Càn Khôn Vũ Trụ. Nếu chưa hết, thời cứ tiếp tục niệm cho đến khi nào hết mới thôi. Mỗi lần tụng niệm khoảng từ 10 phút trở lên , nếu càng chú tâm tụng được lâu thì tốt lắm .
ƯU ĐIỂM CỦA PHÁP NÀY :
-Mọi người mọi lứa tuổi già trẻ , gái trai đều thực hành được
-Không cần không gian quá rộng cũng như dụng cụ nên mọi giới kẻ cả người nghèo không có điều kiện vật chất cũng tu tập được
-Có thể tu tập tại gia không nhất thiết phải đến chùa
-Thời gian , địa điểm tập có thể linh động
-Không quá đòi hỏi về vấn đề sức khỏe
-Đơn giản ,dễ thuộc , dễ nhớ , dễ thực hành và mau cho kết quả cao trong một khoảng thời gian ngắn

(Trích : TỨ ĐẠI PHÁP KINH)