kết quả từ 1 tới 19 trên 19

Ðề tài: Pháp môn hành Đạo của Phật Thầy Tây An

  1. #1

    Mặc định Pháp môn hành Đạo của Phật Thầy Tây An

    BẮT ĐẦU TỪ CHỮA BỊNH

    Sau thời gian trở về làng, Ngài đến một cái am của ông Kiến, là muốn có chỗ để thờ Phật cho dân chúng dễ bề đến lễ bái, và nhân đó dìu dắt họ từ chỗ khâm phục đến chỗ tin phụng.

    Bởi thế, sau khi dùng huyền diệu của Phật gia trị bịnh bá tánh, Ngài được dân chúng trong làng Kiến Thạnh tôn thờ là một vị Phật sống. Tiếng đồn một ngày một lan rộng ra các vùng kế cận. Dân chúng vui mừng, vì rằng từ đây chẳng những đối với bịnh ôn dịch mà đối với mọi tật bịnh, người ta không còn phải lo sợ hay cho là bất trị nữa, bởi họ có một vị cứu tinh có tài cải tử hoàn sanh.

    Bởi thế, thiên hạ khắp nơi ai có mắc bịnh chi cũng kéo nhau lũ lượt đến cho Ngài chữa trị, chen lấn nhau còn hơn đi xem hát hội ở làng, diễn nên một quang cảnh vô cùng náo nhiệt:
    Dầm trời thiên hạ như mưa,
    Ban mai đến tối phát chưa rồi bùa.
    Người đi tới trước vô chùa,
    Mấy người tới trễ lạy đùa ngoài sân.
    Kẻ lui người tới rần rần,

    Và để chứng tỏ sự đông đảo, hãy xem số thuốc của Ngài phát ra:
    Tro nhang đốt chẳng biết bao,
    Một đôi ba chậu thỉnh sao đủ rày.

    Thiên hạ kéo nhau tới nườm nượp, nhang khói xông lên nghi ngút tối ngày. Thế mà tro nhang không đủ phát cho bịnh nhơn. Cách độ bịnh của Ngài thật là thần diệu:
    Phù linh hay tợ thuốc Tiên,
    Bịnh chi Thầy cũng độ yên muôn ngàn.
    Hết phù Thầy bước lại bàn,
    Thỉnh bông cúng Phật chân nhang âm phù.

    Bịnh gì cũng thế, Ngài chỉ cho uống phù, chưn nhang, bông cúng Phật, thế là hết bịnh. Về bịnh tà ma, cách chữa trị cũng không khác:
    Bịnh nhân đem tới đông vầy,
    Kêu la than khóc lạy Thầy cứu sanh.
    Thầy đang bày tỏ ngọn ngành,
    Bịnh nhân than khóc động tình Thầy thương.
    Vội vàng liền thỉnh chân hương,
    Để vào tô nước giải đường quỉ ma.
    Bịnh nằm đang khóc đang la,
    Phù Thầy phun giải bịnh mà như không.

    Nhưng đặc biệt nhứt là cách Thầy phát thuốc:
    Giấy vàng rọc nhỏ ngón tay,
    Thầy ngồi tưởng Phật phát rày sau lưng.

    Ngài không bao giờ để bịnh nhân đứng trước mặt, và mặc dầu họ đứng sau lưng, Ngài vẫn biết họ đau gì, muốn gì. Và bất luận bịnh gì, Ngài cũng trị lành hết:
    Tiếng Thầy đồn nức bốn phang,
    Suyễn, ho, cổ xạ muôn ngàn bịnh nhơn.
    Điên cuồng chí những bịnh đơn,
    Bịnh hậu, thổ huyết gặp cơn hội này.
    Mấy người noi gốc làm Thầy,
    Trùng tang thảm khốc lạy Thầy xin cho.
    Gặp Thầy thiên hạ hết lo.

    Nhưng mỗi khi chữa bịnh nào, Ngài cũng luôn luôn có lời căn dặn:
    Dặn cùng già trẻ gái trai,
    Giữ lòng niệm Phật lâu dài đừng quên.
    Thảo ngay nhơn nghĩa cho bền,
    Thờ cha kính mẹ, tưởng trên Phật Trời.
    Nói cho lớn nhỏ ghi lời,
    Nhứt tâm niệm Phật, Phật Trời độ cho.

    Thì ra, từ chỗ dùng huyền diệu chữa trị bịnh nhân, Đức Phật Thầy đã dìu dắt chúng sanh đến chỗ cải sửa tánh tình, biết điều nhân nghĩa, ngay thảo mẹ cha, kính thờ Trời Phật. Ngài nhận thấy căn tánh chúng sanh trong thời kỳ này quá cạn cợt. Nếu đem Phật pháp thậm thâm ra hoằng hóa chẳng dễ gì khiến cho họ nghe hay tin tưởng. Con người ở thời này chỉ thiết những cái gì đem lại kết quả nhãn tiền cho họ thấy được rờ được, chớ không thiết những điều cao siêu mà muốn cho hiểu được phải vận dụng nhiều tâm tư trí não.

    Vả lại từ lâu lối tu hành của nhà thiền theo phái Thần Tú, đã gieo rắc vào tâm não họ lắm điều mê tín dị đoan, nay muốn đem họ lại con đường chánh giác chẳng phải là dễ.

    Đức Phật Thầy đã hiểu rõ căn cơ của chúng sanh, cho nên muốn cứu vớt họ, Ngài không thể đem ngay giáo lý của Phật ra khai thị, mà phải lợi dụng tấm lòng tin phục những điều linh thính của họ để dắt họ từ chỗ tà tưởng đến nơi chánh tín. Không có phương pháp nào làm cho họ tin phục bằng dùng huyền diệu chữa trị các bịnh căn, vì rằng người đời bởi có cái tâm quá tham dục, nên lúc nào cũng sợ chết. Thế cho nên, khi mà họ thấy cái chết hiện ra trước mắt, nếu ai có thể cứu cho họ khỏi chết thì dầu với điều kiện khó khăn nào bắt họ làm, họ cũng vâng lời ưng thuận. Bịnh thời khí phát sanh, chính là cơ hội cho Đức Phật Thầy hóa độ những người thiển căn ấy. Lợi dụng cái lòng sợ chết của họ, Ngài đã dắt họ vào con đường đạo hạnh.

    Ban sơ, Ngài bắt bịnh nhơn muốn được lãnh thuốc hay sau khi lãnh thuốc rồi, phải lại làm lễ bàn thờ Phật. Ngài còn dặn khi về nhà muốn cho hết bịnh phải năng niệm Phật. Gặp bịnh nào không thể trị thì nhơn đó Ngài dạy cho họ hiểu luật nhơn quả báo ứng. Điều cốt yếu là Ngài khuyên họ ăn ngay ở thật, làm lành lánh dữ và nhứt là phải thờ kính mẹ cha, tin tưởng Trời Phật.

    Dần dần, Ngài cho chỉnh đốn cái cốc thành một cái chùa, hay nói rộng ra thành một cơ cấu tôn giáo, có nghi thức thờ phượng lễ bái. Về cách trần thiết, Ngài cho thờ một tấm trần điều thay thế cho hình ảnh hay tượng cốt. Ngoài bông hoa, nước lã và đèn nhang trên bàn thờ Phật không còn bài biện món chi thêm nữa. Đó là nghi thức thờ phượng mà Ngài chỉ dạy cho dân chúng làm theo, nó khác hẳn cách thờ phượng của nhà thiền.

    Sau khi chỉ dạy về nghi thức thờ phượng để gây cho bá tanh có có đức tin về Trời Phật. Ngài mới mở ra nơi pháp hóa độ những kẻ thiện căn. Chính bắt đầu từ đó, qui mô tổ chức của Ngài đã trở thành mối đạo.

    Thế là Đức Phật Thầy từ chỗ lợi sanh tiến đến cơ hoằng pháp, mở ra một mối đạo đi đúng với giáo pháp vô vi, khác hẳn các giáo phái chú trọng về âm thinh sắc tướng.

    Chẳng bao lâu mà số người đến qui y thọ giáo không thể tưởng tượng. Từ làng này sang làng nọ trên đường cũng như dưới sông rạch, thiên hạ kéo nhau như nước vỡ bờ. Người ta đông đảo cho đến chen nhau dựng liều trại chung quanh cốc làm nơi ngơi nghỉ; còn dưới sông thì ghe xuồng san sát đen nghẹt đậu chật cả một khúc kinh.

  2. #2

    Mặc định

    CHÙA VÀ TRẠI RUỘNG

    Để cho có chỗ thờ Phật và làm nơi phát phù trị bịnh, Đức Phật Thầy đi đến đâu cũng hay dựng lên cái cốc và trại ruộng. Sở dĩ Ngài không lập chùa chiền như các nhà thiền, cũng có nhiều lý do.

    Một là, lúc ban sơ Ngài cũng muốn có một chỗ vừa đủ cho Ngài phát phù trị bịnh, không tốn kém bao nhiêu. Chớ nếu cất chùa thì phải tốn kém nhiều tiền, và như thế là Ngài không muốn vì sợ hao tiền của bá tánh. Mặc dù là một cái cốc nhỏ, Ngài vẫn trang bị cho nó đủ nghi thức thờ phượng, song có điều, thay vì thờ phượng cốt, Ngài cho thờ một tấm trần điều thật hết sức đơn giản, đúng với giáo pháp vô vi chơn truyền của Phật Thích Ca.

    Hai là Ngài muốn hiển thị cho môn nhơn đệ tử thấy rằng pháp môn hành đạo của Ngài vẫn không theo đời bỏ đạo, hay theo đạo bỏ đời. Ngài cho lập trại ruộng chớ ít cho lập chùa là vì cái lý ấy. Với danh từ trại ruộng, mặc dù ở đó có thờ ngôi Tam bảo như các chùa, người tín đồ của Ngài vẫn nhớ đến bổn phận của mình, trong lúc tu hành, còn phải làm ruộng rẫy để mà sống chớ không nên sống vào kẻ khác để mà tu. Như thế là hiển thị cái pháp môn tu nhân học Phật.

    Lúc sanh tiền,, Đức Phật Thầy đã tạo nhiều trại ruộng và cốc, nhưng sau khi trải qua những cuộc biến thiên trong thời kỳ quân Pháp kéo đến, ngày nay còn giữ được bốn di tích của Ngài lưu lại, ấy là: Tây An cổ tự ở làng Long kiến, chùa Tây An ở núi Sam, chùa Thới sơn ở Nhà bàn và Bữu Hương Các ở Láng Linh.

    Bấy nhiêu di tích cũng đủ biểu dương cái qui mô đạo hạnh hoằng đại của Đức Phật Thầy, vì rằng dầu trải qua bao nhiêu cuộc biến thiên, chẳng những nó không phai mờ theo thời gian mà trái lại một ngày một tu chỉnh thêm uy nghiêm, nêu cao tinh thần sùng ngưỡng đạo đức.

  3. #3

    Mặc định

    TÂY AN CỔ TỰ Ở LONG KIẾN

    Chính nơi đây Đức Phật Thầy giáng thế cứu đời phát phù trị bịnh cho vạn dân bá tánh. Nguyên trước khi Ngài đến thì chỗ này đã có một cái cốc. Cái cốc ấy vốn của ông đạo Kiến lập lên để ở và độ thuốc cứu bịnh cho dân trong làng. Hồi Đức Phật Thầy đến đây thì quang cảnh cái cốc gần như điêu tàn bởi ông đạo Kiến đã hóa ra người thiên cổ. Ngài cho tu bổ lại, trang bị thành một cơ cấu tôn giáo.

    Chính ở đây lần đầu tiên Đức Phật Thầy chỉ dạy các nghi tiết thờ phượng lễ bái cùng cách thức tu hành cho môn nhơn đệ tử. Thế cho nên người ta có thể nói tấm trần điều được đặt nơi ngôi Tam Bảo thay thế cho tượng Phật, chính là ở chùa này trước hơn hết. Một khi hiểu được cách thờ phượng ở chùa này, người ta dễ phân biệt chùa nào còn noi theo chơn truyền của Đức Phật Thầy và gia đình Phật tử nào là môn nhơn đệ tử của Ngài.

    Khi Đức Phật Thầy bị đòi lên tỉnh An giang, thì cái chùa này cũng chưa có đặt tên. Mãi cho đến năm Bính Thìn (1856) trước khi Ngài tịch bảy ngày, Ngài mới chịu cho hiệu chùa ở núi Sam là Tây An tự và đồng thời Ngài cho người xuống Kiến Thạnh đặt hiệu cho cái cốc của ông đạo Kiến cũng là Tây An tự. Nhưng muốn phân biệt chùa ở Kiến Thạnh với chùa ở Núi Sam cũng đồng một tên Tây An, về sau người ta gọi chùa ở Long Kiến là Tây An Cổ Tự, bởi ngôi chùa nầy lập trước ngôi chùa ở Núi Sam.

    Cứ theo những người cố cựu trong làng thì khi Đức Phật Thầy từ đình Kiến Thạnh dời về cái cốc của ông Kiến, lúc đó đã có ông cai Bồng theo hầu rồi. Khi Đức Phật Thầy lìa khỏi cái cốc này thì việc nhang khói giao lại cho cha con ông cai Bồng truyền nhau săn sóc.

    Khi ông cai Bồng qua đời, con ông là ông Tám Vẹn nối nghiệp cha mà gìn giữ ngôi chùa. Sau ông Vẹn thì có em rể của ông là ông Tám Chữ thay thế; rồi sau đến sư Huynh. Và sau chót hết là ông Trần Văn Tại.

    Năm 1918, cây dầu trồng ở phía trước chùa bị đốn đi để làm cầu và cất trường học, sau một thời gian sống sáu mươi năm, gốc nó lớn hơn một thước. Đến năm Đinh Mão (1927) chùa bị phát hỏa làm cho ba cây dầu trồng ở phía sau chùa cùng bị cháy theo nên chết hết.

    Theo lời các vị bô lão thì khi chùa phát hỏa, có lắm người cảm tử quyết xông vô, giành lại những bửu vật của Đức Phật Thầy để lại mà người coi chùa, trên một thế kỷ thay phiên nhau nâng niu cất giữ. Những bửu vật ấy chẳng chi khác hơn là một cái cơi trong đó đựng một mớ tóc rối của Đức Phật Thầy, một cây quạt lông, ba tàn thuốc lá đã bị mọt ăn lủng lỗ và một quyển kinh. Mặc dầu họ tận tâm cứu chữa, nhưng vô hiệu quả. Ngôi chùa bị cháy rụi không còn sót một vật gì.

    Đến năm Nhâm Thìn (1952) ông Nguyễn Giác Ngộ cùng anh em đồng đạo các nơi đồng tâm hiệp lực chấn chỉnh trùng tu thành một ngôi chùa rất phong quang, uy nghiêm hùng vĩ như ngày nay. Lễ khánh thành đã cử hành vào ngày rằm tháng giêng năm Quí Tỵ (1953).


    Chùa Tây An Cổ Tự ở Long Kiến - Chợ Mới, An Giang

    Người ta có thể nói ngôi chùa này là cổ nhất và còn giữ được cách thờ phượng đúng với chơn truyền của Đức Phật Thầy, nghĩa là thờ trần điều, tượng trưng lòng bác ái đối với tất cả chúng sanh.

    Trong một phiên giảng ứng khẩu ở chùa này, ông Thanh Sĩ, một hậu thế lỗi lạc của Bửu Sơn Kỳ Hương, đã có đoạn làm nổi bật cái đặc trưng chơn truyền ấy, với những câu:

    Ai có đến Tây An Cổ tự,
    Cũng lấy làm lạ mắt mọi điều;
    Sự phượng thờ hay cách biểu nêu,
    Đều có chỗ vô vi huyền bí.
    Mong ai có để lòng suy nghĩ,
    Nhắc người không quên chữ trần điều.
    Tuy vật khinh mà giá cao siêu,
    Hãy thành kính chớ lời khinh bội.

    CHÙA TÂY AN Ở NÚI SAM

    Từ thị xã Châu Đốc vô Núi Sam khoảng 5 cây số. Khi đi đến ngã ba nơi chân núi, thì trước mặt sừng sựng một cảnh chùa nguy nga, kiến trúc nửa tân, nửa cựu. Trước chùa có một cái cửa chánh trên có đề một hàng chữ nho: Tây An môn ; nhưng ngỏ này không vào ra gì được. Chỉ có cái cửa có đề ba chữ Việt: Tây An tự là vào được mà thôi. Muốn vào chùa, phải bước trên mười nấc thang lót gạch. Vượt qua cửa và vòng hàng rào rất kiên cố là đến sân, ngó qua phía đông có ba ngôi tháp cao vọt khỏi nóc chùa.


    Chùa Tây An, núi Sam

    Nếu là khách thập phương đến hành hương lần thứ nhứt, khi thấy ngôi tháp đồ sộ này thế nào cũng đinh ninh rằng: Trong mấy ngôi tháp ấy thế nào cũng có ngôi mộ của Đức Phật Thầy. Nhưng người ta đều lầm.

    Đó là mấy ngôi tháp của những vị hòa thượng trụ trì từ ngày Đức Phật Thầy tịch trở lại đây. Còn chính ngôi mộ của Ngài thì lại khiêm nhượng nằm trên triền núi, ẩn phía sau giải tháp nguy nga ấy. Ngôi mộ này do thiện nam tín nữ chung nhau tu bổ hồi tháng sáu năm Kỷ mão (1939). Bên ngoài mộ có một vòng thành bề dài lối 5 thước, bè ngang lối 4 thước. Ngả vào có hai cánh cửa, sáng mở ra cho thiện nam tín nữ vào lễ bái, tối đến thì đóng khóa lại. Hai trụ cửa có hai câu đối:

    Phách vãng Tây phương, bật thảo điêu tàn chu vị tử,
    Hồn qui thọ vức, đàm hoa lạc khứ hữu dư hương.

    Phía ngoài cửa, một bên vách có khắc ba bài thơ bát cú như vầy:
    Tây An Phật cảnh Cao cung
    Nam mô nhị tự chánh liên hoa,
    Di Đà cứu khổ niệm tam thinh.
    Phật truyền nhơn nguyện tà tâm giải,
    Khẩn niệm Như Lai Phật độ sanh.
    Tụng đắc hàng ma trừ yêu quái,
    Tâm trung tưởng niệm diệt thanh niên.
    Gia trạch bình an viên công niệm,
    Thường hành tế độ phước lai tâm.

    ***

    Dạ đoản canh sơ, sơ canh trường,
    Cộng ngâm thị nhã cộng bình trường.
    Bá vạn thiết thiết tâm mưu vọng,
    Vạn lý bôn lai sơ hải cường.
    Quá khứ vi lai thiên cổ tích,
    Phàm nhơn tụng niệm diệc thanh cường.
    Tâm thường bình đẳng nhàn cộng niệm,
    Cứu khổ tai ương bất ngộ ương.

    ***

    Lòng ở từ bi đã bấy chầy,
    Thanh nhàn cực lạc chốn Phương Tây.
    Năm hằng đạo đức hằng vui vẻ,
    Sáu ngả luân hồi chẳng chuyển xoay.
    Lặn lội theo người xa bể khổ,
    Dắt dìu cứu kẻ bước thang mây.
    Đã nguyền tế độ cơn lâm nạn,
    Vì việc nhơn gian mới đến đây.

    Tương truyền mấy bài thơ này là của Đức Phật Thầy giáng bút từ lâu, nên được khắc vào đây làm kỷ niệm.

    Trước mộ có một tấm bia, khắc như vầy:
    Nguơn sanh Đinh mão niên, thập ngoạt, thập ngũ nhựt, ngọ thời chú sanh.
    Tự Lâm tế gia chư thiên phổ tam thập bát thế, thượng pháp hạ tạng tánh Đoàn, pháp danh Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh chi miễn tọa.
    Tịch ư Bính thìn niên, bát ngoạt thập nhị nhựt, ngọ thời thị tịch diệt.

    Mộ không có đắp nấm cao lên như các mộ khác, vì trước khi tịch, Đức Phật Thầy đã di giáo làm như vậy.



    Ngoài ngôi mộ, Đức Phật Thầy còn để lại một di tích nữa là cái giếng nước ở lưng chừng giữa triền núi cách mộ lối 200 thước. Chỗ đó trước kia là một cái khe nước chảy rỉ rả, nhưng từ ngày được Ngài khai vét thành một cái ao nhỏ thì quanh năm nước chứa xài không hết. Từ ngày Ngài tịch về sau, có một độ dân chúng xem nó như cái suối ở thành Lourdes bên Pháp. Những người có bịnh đến múc nước ấy, lượm vài lá xoài, lá mít rụng bên mộ Ngài đem về nấu nước uống, thế mà cũng hết bịnh.


    Mộ không đắp nấm mộ

    Chỉ mới đi vòng ngoài chùa Tây An, người ta đã gặp bao nhiêu di tích của Đức Phật Thầy. Ai cũng tưởng khi vào phía bên trong chùa, thế nào cũng còn được thấy nhiều bửu vật của Ngài nữa. Nhưng người ta không khỏi ngạc nhiên khi bước qua ngưỡng cửa, thấy trong chùa thờ la liệt những tượng cốt, khác hẳn nghi thức thờ phượng mà Ngài đã truyền lại ở Tây An Cổ tự. Càng ngạc nhiên hơn nữa là ngày cũng như đêm, trong những thời khóa tụng, vang lên những tiếng chuông mõ, đọc tụng ó la.

    Đứng trước cảnh tượng ấy, người hiểu đạo của Đức Phật Thầy không khỏi băn khoăn tự hỏi: Sao người ta nói chùa nầy là chùa chánh của Đức Phật Thầy mà lại nghi thức thờ phượng không trần thiết đúng với chơn truyền?

    Có hiểu qua lịch sử chùa Tây An mới biết sự khác biệt ấy. Nhắc lại khi Đức Phật Thầy được triều đình nhìn nhận sắc phong, và muốn Ngài lập một cảnh chùa như bao chùa khác tại tỉnh thành An Giang, nhưng Ngài không muốn. Sau khi xem địa thế, Ngài vào Núi Sam lập một ngôi chùa cột săng lợp lá. Đương nhiên chùa này phải là chùa công. Mà đã là chùa công thì nghi thức thờ phượng phải nhất trí và cùng một hệ thống với chùa công khác. Chừng như khi cất xong chùa, nhà cầm quyền có phái một vị hòa thượng đến hiệp cùng Đức Phật Thầy trong công việc trần thiết nhứt trí ấy.

    Sau khi Đức Phật Thầy tịch, chùa Giác Lâm ở Chợ lớn lại phái sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa lên thế cho Ngài mà trụ trì chùa Tây An.

    Một bằng chứng là trong bài vị Đức Phật Thầy thờ ở chùa Tây An, có câu: “Tự Lâm Tế Gia Chư Thiên Phổ Tam Thập Bát Thế Thượng Pháp Hạ Tạng... “.

    Lâm Tế là một trong năm giáo phái ở Tàu truyền qua nước ta như: Lâm tế, Tào động, Qui ngưỡng, Vân môn và Pháp nhãn. Chùa Giác lâm ở Chợ lớn là một chùa theo phái Lâm tế và được triều đình chính thức nhìn nhận. Chừng như lúc bấy giờ, các chùa trong miền Nam đều đặt dưới sự chi phối của chùa này, nên chi khi Đức Phật Thầy tịch thì sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa đương chức Yết Ma chùa Giác Lâm được phái lên chùa Tây An thay thế. Có lẽ vì thế mà trong bài vị, người ta gáng Đức Phật Thầy vào phái Lâm Tế.

    Từ ngày Đức Phật Thầy tịch, chùa Tây An hoàn toàn thuộc vào phái Lâm Tế, do sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa trụ trì. Về sau sư cụ được thăng lên chức hòa thượng và tịch năm Giáp Thân, tức năm 1884, thọ 50 tuổi. Tháp của ông rất lớn, nằm kế bên chùa.

    Người thứ nhì thừa kế sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa là sư cụ Nguyễn văn Khiêm, pháp danh Hoàng Ân, cũng là một nhà sư của chùa Giác lâm phái lên. Sư Hoàng Ân tịch năm Giáp dần (1914), nghĩa là trụ trì được 30 năm.

    Khi sư cụ Nguyễn Văn Khiêm tịch thì trưởng tử là Nguyễn Trang Nghiêm, pháp danh là Huệ Quang lên thay thế. Rồi tiếp đó là ông Nguyễn Thuần Hậu ở Hà Tiên được mời về trụ trì. Sau ông Hậu thì có ông Ngô Văn Hòa là người ở tại chùa từ nhỏ được đưa lên kế vị.

    Cứ xem đó cũng đủ thấy chùa Tây An, từ hồi Đức Phật Thầy tịch cho đến nay, các nhà sư Lâm Tế liên tiếp nối nhau trụ trì.

    TRẠI RUỘNG Ở THỚI SƠN


    Muốn vào trại ruộng ở Thới Sơn, phải đi theo con lộ trải đá ở Núi Sam vô Nhà Bàng độ 10 cây số. Từ Nhà Bàng vào trại ruộng Thới Sơn là con đường truông đi quanh co trong rừng dưới chân núi đầy cát trắng. Khi vào gần tới chùa, bên phía tay mặt có thấy một cây lâm vồ to cỡ năm sáu người ôm. Tương truyền cây lâm vồ này là của Đức Phật Thầy Tây An trồng khi trước.

    Ngày nay, nhờ có đường lộ bằng thẳng cho nên từ Núi Sam đi vào trại ruộng Thới Sơn kể ra cũng không khó, chớ còn hồi thời Đức Phật Thầy, từ châu thành An Giang đi vào Núi Sam cũng đủ thấy khó nhọc lắm rồi, nữa là từ Tây An tự đi vào trại ruộng Thới Sơn, vì rằng lúc bấy giờ còn rừng hoang cỏ rậm, không có đường xá, lại thêm thú dữ rất nhiều. Nếu có việc cần phải đi, người ta hiệp nhau thành đoàn và phải có người võ nghệ cao cường theo hộ tống. Thế nên, từ ngày con kinh Vĩnh Tế thông thương người ta thường dùng ghe xuồng đi vô ngang núi, rồi đổ bộ đi lên, nhưng đi như thế cũng khó khăn không thua gì đi bộ từ tỉnh thành vào Núi Sam.

    Có hiểu những nổi khó khăn trong việc đi đường lúc bấy giờ, mới hiểu tại đâu Đức Phật Thầy không chịu cất chùa ở tỉnh thành mà lại vào cất ở Núi Sam và tại đâu lập trại ruộng ở Thới Sơn. Ngài vào Thới sơn lập trại ruộng để tổ chức việc thờ phượng theo đúng giáo pháp của Ngài. Con đường đi vào Thới Sơn là con đường đầy hiểm trở thì chắc rằng những người không có tâm đạo sẽ không mấy khi lặn lội đi đến, Ngài gọi tên cái chùa ấy là trại ruộng!

    Khi Đức Phật Thầy đến Thới Sơn lập trại ruộng, thì dân cư rất là thưa thớt chẳng được mấy người, làng xóm chưa tổ chức, vì địa thế hiểm trở mà thú dữ cũng nhiều không ai dám ở. Sau khi Ngài đến ở, phát rẫy làm ruộng và cứu dân độ bịnh thì lần lần dân chúng mới kéo đến.

    Tương truyền rằng từ ngày Ngài đến Thới Sơn thì thú dữ không còn phá hại dân cư nữa, mà trái lại nó trở nên hiền lành. Có lẽ nhờ phép huệ linh của Ngài mà chúng nó thuần phục chăng? Nhờ đó, dân chúng mới dám đến ở, mở mang rừng bụi, làm rẫy, làm ruộng, trồng đủ các loại cây trái. Cũng có người cho rằng dân cư đông đúc nên thú dữ phải vào chốn sâu để sinh sống.

    Đã mang tên là trại ruộng thì cũng phải mua sắm nông cụ, Đức Phật Thầy còn nuôi hai con trâu mà Ngài đặt tên là: con Sấm, con Sét. Một điều mà ai cũng lấy làm lạ là chỉ có Đức Phật Thầy điều khiển thì chúng mới chịu làm, còn ngoài ra thì không ai sai khiến gì được. Có lẽ vì thế mà người ta kêu tôn hai con trâu ấy là ông Sấm, ông Sét.


    Bàn thờ trần điều

    Cách trần thiết bên trong nơi thờ tự thì hoàn toàn đúng theo nghi thức mà Ngài đã trang bị cái cốc ở Xẻo Môn. Thế cho nên ở đây, mặc dầu là một nơi hẻo lánh, môn nhơn đệ tử của Ngài qui tụ rất đông, nhứt là hàng đại đệ tử, như anh em ông Đình Tây, ông Đạo Lập, ông Đạo Xuyến.. .

    Trại ruộng Thới Sơn nằm trong hệ thống của dẫy Thất Sơn là chỗ hoang vắng, chung quanh bao bọc những núi, rất tiện cho các môn đệ lên đó tu luyện. Khi hoàn thành trại ruộng ở Thới Sơn, Đức Phật Thầy cũng không ở đây thường trực. Ngài chỉ tới lui trông nom, còn mọi việc thì Ngài giao cho anh em ông Đình Tây coi sóc. Có phải vì thế mà Ngài thị tịch ở Chùa Tây An, con anh em ông Đình Tây thì tịch ở Thới Sơn.

    Từ ngày anh em ông Đình Tây tịch về sau, trại ruộng được tu bổ và mở rộng qui mô thành một cảnh chùa. Phía trước có đào ao sen và trồng một hàng dương. Đến năm Tân Tỵ (1941), chùa được sùng tu nguy nga to tác như nền chùa còn thấy hiện nay. Nhưng đến ngày 23 tết năm Bính Tuất (1946) chùa bị phóng hỏa trong một cuộc hành binh.

    Mặc dầu ngày nay trại ruộng Thới Sơn đã cháy rụi, nhưng ở đây Đức Phật Thầy còn lưu lại vài di tích đáng quí. Ngài còn để lại một mớ tóc cho ông chủ Dương, nhà ở gần bên chùa. Hiện nay, vì tình thế bất ổn, con của ông này đã dời về tỉnh thành Châu đốc và vẫn còn giữ kỹ bảo vật ấy.


    Thới Sơn Tự

    Còn mấy dụng cụ của Ngài rèn, như lưỡi mun, lưỡi câu, sợi dây, hai cây độc để cho ông Đình Tây trị “ông năm chèo” (cá sấu) sau này, thì hiện nay rể ông Đình Tây là ông ba Hương còn cất giữ.

    Ngày nay khách thập phương có đến viếng chùa Thới Sơn là để chiêm ngưỡng ngôi mộ ông Đình Tây và anh của ông là ông Tăng. Hai ngôi mộ ấy chôn gần bên chùa.

    TRẠI RUỘNG Ở LÁNG LINH

    Láng Linh thuộc về làng Thạnh Mỹ Tây, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc huyện Châu Phú, An Giang. Nó nằm cách sông Hậu Giang gần 10 cây số, từ kinh xáng Vịnh Tre đi vô.

    Ở đây Đức Phật Thầy còn lưu lại hai di tích: một là trại ruộng, hai là cây thẻ mà người ta thường gọi là ông thẻ. Đây là một cây thẻ trong bốn cây thẻ mà Đức Phật Thầy cho trồng chung quanh vùng Thất Sơn. Hiện nay, chừng như vì thấy nó hư nứt, nên người nhổ lên, rồi làm một nơi để thờ phượng. (Sẽ có bài viết riêng về các ông Thẻ của Phật Thầy Tây An).

    Cũng như ở Thới Sơn, ở Láng Linh Đức Phật Thầy lập một trại ruộng bằng tre lá. Cách xếp đặt vẫn cùng một thể thức như trại ruộng ở Thới Sơn đúng theo giáo pháp vô vi của Ngài, nghĩa là tượng trưng lối thờ trần đỏ.

    Điều đáng để ý là Đức Phật Thầy đặt hiệu cho trại ruộng nầy là Bửu Hương Các. Đây là lần đầu tiên Ngài nêu giáo phái của Ngài cho người đời thấy. Từ lâu, mỗi khi có một tín đồ nào đến xin qui y thì Ngài phát cho một lòng phái trong đó vỏn vẹn có bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương”. Cái lòng phái này mỗi tín đồ của Ngài đều giữ kỹ, sống chết gì cũng phải giữ cho còn, không hề trao cho ai.

    Từ ngày cất xong Bửu Hương Các, Đức Phật Thầy thường lên xuống Láng Linh và giao phó trại ruộng này cho ông Cố Quản Trần Văn Thành, một đại đệ tử của Ngài coi sóc.

    Về sau khi ông bà Cố Quản tịch, người con là cậu hai Trần Văn Nhu đứng ra cất một ngôi chùa gần Bửu Hương Các, cách độ 200 thước. Thể theo ý của Đức Phật Thầy, cậu Hai mượn danh hiệu của trại ruộng mà đặt tên cho ngôi chùa ấy là Bửu Hương Tự.

    Mãi đến năm 1941, Bửu Hương Các, rồi sang năm 1942 Bửu Hương Tự, được sùng tu chấn chỉnh, qui mô rộng lớn như nền chùa còn thấy hiện nay.

    Cuộc sùng tu hai ngôi chùa này là do ông Nguyễn Văn Tịnh cũng gọi là ông Năm Tịnh, một điền chủ ở Bình Thủy, thuộc tỉnh Cần Thơ, phát tâm làm công đức. Ông là một môn đệ của Cậu Hai. Cái cao cử của Cậu Hai trong công cuộc cất Bửu Hương Tự, nêu lại cho ông một tấm gương trong sáng để noi theo trong việc sùng tu hai ngôi chùa ấy.

    Sau khi Bửu Hương Tự được chỉnh đốn nguy nga đồ sộ, ông tư Nhạn có viết bốn câu liễn đầy ý nghĩa, mãi đến nay còn truyền tụng trong nhân gian:
    Bửu điện Long Châu khải triệu Nam Phương, Phật pháp hòng khai huyền bí,
    Sơn xuyên Hưng Thới cơ đồ Bắc khuyết, thiền môn chiếu diệu anh linh,
    Kỳ nguyện thiên nhiên, vạn tải lưu phương, Phật giáo sùng tu cổ tự,
    Hương dương địa thới thiên thu phổ đức, sư truyền đạo lập tân dân.

    Đại ý như vầy:
    - Điện báu Long Châu khai mở ở Nam phương, Phật pháp hoằng khai huyền bí,
    - Nơi chốn núi sông Hưng Thới là cơ đồ ngôi báu, cửa thiền chói rạng anh linh.
    - Kỳ nguyện với thiên nhiên muôn thuở lưu danh, Phật giáo sùng tu chùa cổ,
    - Hương dậy đất yên, ngàn năm phổ đức, noi theo chơn truyền của Thầy đem đạo lập tân dân.

    Long Châu là tên của Đức Phật Thầy đặt cho đất Láng Linh; như ngày nay tại Láng Linh có dựng lên một cái chợ gọi là chợ Long Châu. Còn Hưng Thới là tên đặt cho vùng núi Voi trước kia.


    Bửu Hương Tự

    Năm 1948, Bửu Hương Các cũng như Bửu Hương Tự đều bị triệt hạ trong lúc binh biến. Mặc dầu trong cuộc triệt hạ này, ông Năm Tịnh mất hết hai người con trai yêu quí của ông, nhưng ông vẫn không nao núng. Nên chi liền sau đó, ông dọn dẹp đống gạch ngói ngổn ngang, rồi xếp từ miếng gạch này lên miếng gạch khác làm thành vách, trên thả đòn tay lợp ngói mà dựng lại Bửu Hương Các vừa đủ chỗ làm nơi thờ phượng cho thiện nam tín nữ đến lễ bái. Còn ông tạm dựng cái nhà cao cẳng ở phía sau.

  4. #4

    Mặc định

    THẾ NÀO LÀ TU NHÂN HỌC PHẬT

    Diệu dụng của pháp môn Tu Nhân Học Phật là trước hết đem con người trở lại con đường thiện, sống đúng với đạo nhân, tức là đạo làm người đối với gia đình, xã hội, phù hợp với luân thường đạo lý Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Phàm là con dân thì biết yêu tổ quốc, hy sinh thân mạng đền bù nợ quốc gia; làm con thì hiếu thảo phượng thờ cha mẹ, anh em thì hòa thuận nhau; chồng vợ thì lấy ân nghĩa đối đãi nhau… Nói tóm lại, người có đạo nhân là người lấy nhân nghĩa đạo đức làm phương châm xử thế.

    Đó là bước đầu của nấc thang tiến lên con đường đi đến quả vị Tiên Phật. Ai muốn được giải thoát, muốn thành Phật thành Tiên cũng phải trải qua nấc thang đó trước; nếu chưa hành xong nhân đạo thì sao thành được Phật đạo.

    Đức Phật nói: "chúng sinh là Phật sẽ thành". Câu này hàm súc ý nghĩa sâu xa về con đường tu tiến. Phật cũng từ địa vị chúng sinh, tức là một con người bằng xương bằng thịt, tu hành đắc quả. Phật từ chúng sinh mà ra. Thế nên muốn thành Phật, trước phải làm chúng sinh, hay nói một cách khác, trước khi làm Phật cần phải làm con người.

    Đức Phật Thích Ca là một người hoàn toàn nhứt. Trong ba đại a tăng kỳ kiếp, Ngài đã từng làm qua những việc Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, đã từng làm vua, quan, nghệ sĩ, thầy tu, thương buôn… nhứt nhứt về món nào Ngài cũng tỏ ra siêu quần xuất chúng cả, nghĩa là Ngài đã hoàn toàn làm tròn cái đạo Nhân khi Ngài còn là con người ở thế tục.

    Như thế, đạo Nhân quả là mối đạo mà người nào muốn đạt thành quả vị Tiên Phật, cần phải tu trước hết. Không tu Nhân đạo trước mà chỉ chuyên tu Phật đạo thì có khác nào muốn cất nhà mà không cần xây nền đắp móng trước sau gì cũng phải sụp đổ.

    Đạo Thanh Hòa Thượng có nói:
    Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo;
    Nhân đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỷ

    Nghĩa là: Muốn tu đạo Tiên Phật, trước phải tu đạo làm người; đạo làm người mà không tu thì đạo Tiên đạo Phật không có thể đến được.

    Phương chi trong kinh điển còn cho biết rằng: nhờ kiêm tu phước huệ gồm cả Nhân đạo và Phật đạo mà Đức Phật Thích Ca đã siêu kiếp: đáng lẽ, ngoài ba đại a tăng kỳ kiếp còn phải tu thêm một trăm đại kiếp nữa như các hàng Bồ tát tiểu thừa mới đến quả vị diệu giác, thế mà Đức Phật nhờ kiêm tu phước huệ nên siêu được một trăm đại kiếp ấy.

    Tu Nhân đã phù hợp với trình tự tu tiến và siêu thắng như thế. Vậy muốn thành Phật, trước phải tu Nhân, cũng như muốn cất nhà trước phải xây nền đắp móng cho vững chắc.

    Thế nên, đồng thời với Tu Nhân, cần phải Học Phật để trang nghiêm con đường tiến tu giải thoát sau này. Có học Phật, có làm theo những điều của Phật dạy, mới tránh được những lỗi lầm do vô minh dốt nát gây nên và nhận rõ con đường đạt đến chân lý.

    Con đường tu tiến để đi đến quả Phật là cả một con đường gồm có tu Nhân và học Phật. Nhưng nếu chỉ chuyên tu Nhân mà không học Phật, chỉ lo việc phước đức nghĩa nhân thì kết quả chỉ gặt được phước báo của cõi Nhân Thiên, vẫn còn mãi chịu lăn lộn trong con đường luân hồi sinh tử. Và như thế, đạo Phật không còn là đạo Phật nữa, vì nó không khác Đạo Nho hay các cơ quan từ thiện hay xã hội.

    Đạo Phật là đạo giải thoát. Thế nên muốn được giải thoát, phải học theo Phật. Đức Phật đã tìm thấy con đường giải thoát, theo những điều của Ngài giáo huấn, chúng ta mới tránh được bao nhiêu chướng ngại mà đạt đến chỗ hoàn toàn giải thoát.

    Thời kỳ mạt pháp này, theo lời Phật cho biết, chúng sinh phần đông căn tính cạn cợt, phước huệ mỏng manh, có được bao nhiêu người thượng căn thượng trí, phước đức đủ đầy, hoàn thành giai đoạn tu Nhân để tu theo hạnh của Phật mong thành đạo. Thế nên, để phù hợp với trình độ của chúng sinh trong thời kỳ Hạ nguơn, Đức Phật Thầy Tây An đã khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật.

    Đó là một giáo pháp: tu phước và tu huệ, tu Đời lẫn Đạo mà Đức Phật đã chỉ dạy, nếu khuyết đi một thì chẳng khác một cỗ xe hai bánh mà thiếu đi một bánh, không sao tiến tới được.

    Nhiều người quan niệm Đời và Đạo là hai lãnh vực khác biệt nhau, không thể hòa hợp nhau được. Đời vẫn là Đời mà Đạo vẫn là Đạo. Khi thất thời lỡ vận, đau khổ với Đời thì người ta đâm ra chán Đời, tìm đường náu thân nơi cửa Đạo, không còn thiết gì đến việc Đời. Vì vậy mà Đạo Phật đôi khi bị hiểu lầm là Đạo xuất thế. Và cũng do chỗ nhận thức sai lệch ấy mà người tu không tiến được xa trên giáo pháp của Như Lai.

    Thực ra, Đạo Phật không phải là Đạo tránh Đời mà là Đạo vì Đời. Trong Tăng nhứt A hàm kinh có đoạn nói rằng nếu không có sự sanh, sự già, sự chết thì Như Lai chẳng giáng trần làm gì và Phật pháp cũng chẳng có cơ hội để ban rải ánh sáng siêu việt khắp thế gian.

    Như vậy, Đạo rất cần cho Đời, mà Đời cũng rất cần có Đạo. Đạo là ngọn đuốc soi sáng khắp nẻo tối tăm; Đạo là chiếc thuyền đưa người từ bờ mê sang bến giác… Đời mà không Đạo thì tàn ác, bạo ngược, vô liêm, như ốc mượn hồn, như thuyền không đáy. Cho nên muốn tìm Đạo phải tìm ở trong Đời. Nếu bỏ Đời mà tìm Đạo thì có khác chi kẻ đội nón mà kiếm nón, người cỡi trâu mà lại tìm trâu.

    Đạo, Đời đi cấp tu chơn
    Bên nào cũng gắng chớ sờn chi nhân.
    Đời lo vẹn, Đạo ân cần.
    Trả xong nhân Đạo thì thân cũng thành

    Đó là tinh thần căn bản của pháp môn Tu Nhân Học Phật. Với pháp môn rất thích hợp với trình độ cơ cảm của chúng sinh trong thời mạt pháp, Đức Phật Thầy Tây An đã xây dựng nền móng vững chắc cho công cuộc chấn hưng đạo Nhân và xương minh đạo Phật.

    (bskh.net)

  5. #5

    Mặc định

    PHÁP MÔN TU PHƯỚC HAY LÀ HÀNH XỬ TỨ ÂN

    Đạo làm người hay Nhân đạo dạy con người bao nhiêu điều hiếu nghĩa mà người tu Nhân đạo phải làm tròn. Đức Phật Thầy Tây An thường khuyến khích môn nhân đệ tử phải lo đền đáp Tứ Đại Trọng Ân.
    1- Ân tổ tiên cha mẹ,
    2- Ân đất nước,
    3- Ân Tam bảo,
    4- Ân đồng bào nhân loại.

    Trong kinh sách của nhà Phật nêu ra Tứ Ân gồm có:
    1- Ân phụ mẫu,
    2- Ân quốc vương,
    3- Ân Tam bảo,
    4- Ân chúng sanh.

    Như thế thì về Tứ Ân giữa kinh điển và Đức Phật Thầy nguyên lý không có chỗ sai biệt. Thay vì dùng từ ngữ hán học, Đức Phật Thầy lại dùng nghĩa nôm cho thích hợp và dễ hiểu. Như thế nhận thấy rằng Đức Phật Thầy dạy ngoài bổn phận đối với quốc gia xã hội, còn có bổn phận đối với đồng bào và nhân loại nữa; nếu thiếu cái ân đối với nhân loại thì không thể đạt đến giới hạn của tình bác ái, tình yêu thương cả thảy chúng sanh.

    Hành tướng và phương tiện để đền đáp Tứ Ân, theo Đức Phật Thầy dạy như sau:



    1- Ân Tổ tiên Cha mẹ: Con người sanh ra là nhờ cha mẹ, mà sanh ra cha mẹ là công ơn Tổ tiên. Thế nên biết đến công ơn cha mẹ thì đương nhiên phải biết đến công ơn của Tổ tiên.

    Công ơn khó nhọc của cha mẹ không sao kể cho xiết được. Nào là công của cha mẹ sanh đẻ, chín tháng cưu mang, mất ăn mất ngủ. Đến khi sanh đẻ còn chịu bao sự đau đớn. Trong lúc ấy thì người cha chạy lo chu cấp cho mẹ con được an toàn, hết lòng chăm nom săn sóc. Sau khi sanh con ra, mẹ phải cho bú sữa, mớm cơm, bồng ẵm dắt dìu, không giờ phút nào được nhàn rỗi. Khi đau ốm, người mẹ phải bỏ ăn bỏ ngủ, lo sợ phập phòng, săn sóc nâng niu, lo thuốc thang cơm cháo.

    Đến khi lớn lên, còn phải chăn nuôi dạy bảo giáo hóa cho thành người, chạy tiền cho con ăn học được nên danh nên phận, thông minh hiểu biết như người. Công ơn cha mẹ thật là vô biên, không có chi đền đáp cho vừa được. Có một câu châm ngôn nói rằng:
    Người biết ơn và nhớ ơn là rất hiếm.
    Nhưng có người mà ta không thể trả ơn, đó là Cha Mẹ ta.

    Trong kinh Đại thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán có nói: “Nếu chúng tỳ kheo mà có người nào vai bên tả cõng cha, còn vai bên hữu cõng mẹ, cõng như thế đến muôn ngày năm, nào là cung cấp đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm đồ đắp, thuốc men trong khi đau ốm, mỗi mỗi đều sẵn có ở bên vai, cho đến cha mẹ ỉa đái trên vai cũng chịu đựng, như thế mà còn chưa đền được ơn thay! Vậy cho nên chúng tỳ kheo phải phụng dưỡng cha mẹ, thường nên hiếu thuận, chẳng được sai thời khắc”.

    Lại trong kinh Nhẫn Nhục có nói: “Hiếu là cái cực điểm trong sự lành, còn bất hiếu là cái cực điểm trong sự ác”.

    Kinh Đại Tập cũng nói: “Nếu đời không có Phật xuất thế mà thờ cha mẹ một cách cho hoàn thiện tức là thờ Phật vậy.”

    Vậy đối với công ơn to tát của cha mẹ, phận làm con phải đền đáp cách nào? Trong lúc cha mẹ còn sanh tiền, phận làm con phải hết lòng tôn kính, vâng lời dạy bảo, hết dạ phụng thờ. Cần nhứt là phải nuôi dưỡng cha mẹ cho chu toàn về mọi phương diện, phải luôn luôn đừng làm cho cha mẹ phiền lòng bằng cách làm mất danh dự của gia tộc hay tư cách làm người, mà trái lại phải làm cho cha mẹ vui lòng đẹp dạ bằng cách cư xử hòa hiếu giữa anh em trong gia đình và hiển danh cha mẹ bằng cách tạo lập hạnh phúc và danh giá cho mình. Thảng như cha mẹ có làm điều chi trái nghịch với đạo lý, phận làm con phải tìm đủ cách khuyên lơn, nhứt là khuyến khích cha mẹ cải tà qui chánh, qui y Tam bảo như gương của Đức Thích Ca khi thành đạo trên cõi Trời Đạo Lợi khuyến hóa cha mẹ và về thành Ca tỳ la vệ giáo độ phụ vương.

    Đến khi cha mẹ khuất bóng qua đời, phận làm con phải thờ phượng nhớ thương như lúc còn sanh tiền và hằng cầu nguyện cho cha mẹ thoát cảnh mê đồ, vãng sanh nơi cõi Tây Phương Cực Lạc.

    Trong kinh Trường A Hàm có nói: “Làm con kính thờ cha mẹ có năm điều:
    1- Cung cấp đồ dùng cho cha mẹ đừng kém thiếu;
    2- Làm việc gì, trước phải thưa với cha mẹ;
    3-Những việc của cha mẹ làm, mình phải kính thuận;
    4- Mạng lịnh của cha mẹ không dám cãi;
    5- Chẳng đặng đoan tuyệt cái nghề nghiệp chánh đáng của cha mẹ.”

    Như vậy đủ thấy phận sự làm con đối với công ơn cha mẹ thật rất lớn vậy.

    Đến như muốn đền đáp công ơn của Tổ tiên, phận làm con cháu phải cố gắng làm cho vinh hiển đời mình để cho dòng dõi được thơm lây và đừng làm điều chi điếm nhục đến tông môn. Thảng như Tổ tiên có làm điều gì di hại hay xú nhục cho con cháu, phận làm con cháu chẳng vì thế mà sanh lòng oán trách, mà phải làm sao cứu vớt những điều tủi hổ đau thương ấy bằng cách hy sanh đời mình rửa nhục cho tông môn.



    2- Ân đất nước: Phàm con người sanh ra đời, ai cũng có quê hương xứ sở. Không ai có thể chối cãi rằng ta sống không nhờ quê hương đất nước ta. Nếu không ai giữ vững bờ cõi yên lặng, phỏng thân ta có được yên; xứ sở có nghiêng nghèo, phỏng nhà ta có được vững? Như thế thì bất cứ người dân ở chốn nào cũng đều phải sống nhờ có đất nước. Người ta có thể nói đời sống của đất nước và đời sống của ta là một. Thế thì, muốn cho đời sống của ta được yên, nhà ta được vững, ta có cái bổn phận giữ vững quê hương xứ sở đừng để cho ai điếm nhục xâm lăng. Luôn luôn ta có bổn phận là nâng đỡ cho nước nhà vững chãi phú cường. Thảng như đất nước có lâm nguy, quốc gia có điên bái vì nạn ngoại xâm, ta phải hy sinh thân ta, nhà ta, mà bảo vệ nó, vì nếu ta để cho đất nước bị dày xéo, cũng chẳng khác thân ta hay nhà ta bị dày xéo vậy.

    Còn như ta cảm thấy không đủ sức đảm đương việc lớn, hay chưa có cơ hội thuận tiện cho ta hy sanh, ta cũng không làm điều chi tổn hại đến quê hương hay giúp cơ hội và phương tiện cho quân địch chống lại quê hương xứ sở. Như thế là ta đền đáp ơn của ta đã thọ hưởng của đất nước vậy.



    3- Ân Tam bảo:
    Về phương diện thể chất, con người sanh ra là nhờ Tổ tiên Cha mẹ, còn sống là nhờ quê hương đất nước. Đến như về phương diện tinh thần, con người phải nhờ ơn Tam bảo, tức là ân Phật bảo, ân Pháp bảo và ân Tăng bảo. Tại đâu con người về mặt tinh thần, phải nhờ ân Phật bảo, ân Pháp bảo và ân Tăng bảo?

    Vì mục đích cứu độ chúng sanh, Phật đành bỏ quốc thành, thê tử, xuất gia tầm đạo giải thoát, chẳng quản đói rét, khổ hạnh trong sáu năm và tham thiền dưới cội cây bồ đề. Đến khi thành đạo, trong 49 năm lao khổ, Ngài đi khắp nơi thuyết pháp độ sanh, lưu truyền chánh giáo.

    Chính nhờ có giáo pháp của Phật mà chúng ta biết đường tu hành thoát ly anh tử. Và cũng nhờ có Pháp bảo mà chúng ta nhận rõ lý về vũ trụ và phân biệt các pháp tà chánh.

    Sở dĩ Pháp bảo được bảo tồn và lưu truyền đến ngày nay cũng là nhờ có Tăng bảo phát triển xiển dương, diễn giảng ba Tạng giáo điển, giúp cho Phật pháp một ngày một rạng. Sau khi Phật tịch diệt, chính nhờ các vị Tăng già, những bực đại đệ tử của Ngài, kết tập những giáo pháp của Phật, ra công phát triển trùng tu, truyền nhau đời này qua đời nọ, đem đạo mầu giáo hóa quần sanh.

    Ông bà Tổ tiên ta, từ lâu đã theo Tam bảo, vun trồng đạo hành bằng noi gương các bực đại đức, gia công bồi đắp phụng hành, lưu lại cho nước nhà một tinh thần đạo hạnh rất cao và lắm phong tục thuần mỹ.

    Bổn phận của chúng ta ngày nay là phải noi theo chí đức của tiền nhơn, tiếp tục công trình khai thông đạo đức hầu dìu dắt chúng sanh trên con đường đạo hạnh, gây những đức tánh từ hòa nhân ái trong dân gian cho một ngày một rộng, cho cả quần sanh đều diệt lòng tham nhũng, biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, sống yên vui dưới lòng từ bi của Phật. Có như thế ta mới không phụ ơn Tam bảo vậy.

    4- Ân đồng bào và nhơn loại: Con người vừa mở mắt chào đời, đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của những người xung quanh, và cái tuổi càng lớn thêm bao nhiêu, sự nhờ cậy càng thêm nhiều chừng nấy.

    Ta nhờ hột cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm thân, nhờ nhà cửa của họ mới tránh cơn phong vũ. Vui sướng, ta đồng hưởng với họ. Hoạn nạn, họ cùng chịu với ta. Họ và ta cũng chỉ một màu da, cũng nói một thứ tiếng. Ta và họ hợp nhau thì thành lại làm một Quốc gia đó. Họ là đồng bào vậy.

    Đại lược ý nghĩa của Tứ Đại Trọng Ân là thế. Dầu là kẻ sang người hèn, hễ sống trên đời đều phải mang bốn cái ân ấy cả.

    Theo Đức Phật Thầy, hễ sanh ra làm người ai cũng có bổn phận đền đáp bốn cái ơn ấy, vì đó là căn bản của đạo làm người. Nó là nấc thang thứ nhứt đưa con người tiến trên con đường đạo hạnh, bởi cổ ngữ có câu:

    Thiên kinh vạn quyển, hiếu nghĩa vi tiên
    Nghĩa là: Ngàn muôn quyển kinh của Phật Thánh Tiên đều dạy sự hiếu nghĩa làm đầu.

    Bởi thế, Đức Phật Thầy, vẫn khuyến khích chúng sanh tu Nhân đạo cho trọn vẹn, bởi đó là căn bản của pháp môn Tu Phước. Nhưng ngoài pháp môn tu phước, Đức Phật Thầy con hoằng dương pháp môn Tu Huệ để dìu dắt chúng sanh tiến trên con đường Phật Pháp.

    (bskh.net)

  6. #6

    Mặc định

    PHÁP MÔN TU HUỆ HAY LÀ THIỀN TỊNH SONG TU

    Noi theo giáo pháp vô vi chơn truyền của Phật, Đức Phật Thầy rất chú tâm đến pháp môn Tu Huệ, nên hằng khuyến khích môn nhơn đệ tử về đường tu tâm luyện tánh để mở huệ tâm, như Ngài đã viết:

    Riêng chiếm non bồng một cảnh Tiên,
    Tu trì phép đạo khác màu thiền.

    Cái chỗ “khác màu Thiền” ấy, là Ngài không khuyến khích chuông mõ, đọc tụng, hay cúng dường, mà chỉ dạy môn nhơn đệ tử chuyên cần về pháp tu tâm dưỡng tánh, tự mình mặc cải lấy mình.

    Theo Đức Phật Thầy, sở dĩ người tu bấy lâu không đắc chánh quả, là vì mải duyên theo âm thanh sắc tướng bên ngoài mà không thấy tự nơi tâm của mình là một kho tàng chứa đủ giác và mê, ma và Phật. Lời Phật thường giải: Hễ giác là Phật, còn Mê là chúng sanh.

    Bởi thế, Đức Phật Thầy thường khuyên:
    Lọc lừa thì đặng nước trong,
    Ma Phật trong lòng lựa phải tầm đâu.

    Cái tâm ví như một căn nhà. Sở dĩ nó tối tăm là bởi các cửa đều đóng bít, không có ánh sáng lọt vào. Một khi mở cửa ra, hay đốt ngọn đèn lên thì tức khắc căn nhà bấy lâu tối tăm kia sẽ được sáng tỏ. Đức Phật Thầy bảo hãy mở cửa ra, đốt ngọn đèn lên thì thấy được Tâm Vương:

    Mở cửa lầu ra vào ngày tháng,
    Một ánh đèn soi rạng mười phương.
    Muốn cho thấy chúa Tân vương,
    Vào non bể ngạn kiết tường huê khai.

    Cái tâm cũng ví như một kho tàng quí báu. Nó đã sẵn có chứa ngọc minh châu, chỉ vì người bỏ luống không giồi mài đó thôi. Đã sẵn có ngọc nơi lòng mà không biết, lại đi tầm ngọc ở đâu đâu; vì thế mà tầm mãi không được ngọc:

    Đạo Thánh Hiền tầm đâu cho khó,
    Ai dạy mình, mình lại dạy ai.
    Ngọc nhà luống bỏ chẳng mài,
    Tiểu tâm vì bởi cậy tài nên xa.

    Cái tâm cũng ví như dòng nước. Nó đục là vì nó còn vọng động; chỉ khi nào nó không vọng động thì nó sẽ trong. Mà hễ nó trong thì soi thấu đáy nước, nhìn thấy rõ bóng trăng. Cái tâm mà vắng lặng như nước trong kia thì khó gì mà chẳng thấy được tánh, chẳng thấy được bổn lai diện muc.

    Đức Phật Thầy khéo tả cái diệu tánh của tâm trong mấy câu này:
    Thủy thanh nguyệt ảnh hiện tự nhiên,
    Táo tận trần ai mãn tuế duyên.
    Thủy nguyệt quang âm minh cảnh chiếu,
    Danh như bổn tánh đoạn tiền khiên.

    Không có phép tu nào mau ngộ bằng phép tu định tâm kiến tánh, bởi cái tâm là căn bản của các pháp, như kinh Lăng Già đã nói: Tâm sanh pháp sanh, tâm diệt pháp diệt. Nghĩa là tâm mình sanh thì các pháp theo đó mà phát sanh, tâm mình diệt thì các pháp cũng theo đó mà tiêu diệt.

    Bởi các pháp đều do tâm, cho nên không cần phải tầm đâu xa cho nhọc. Đức Phật Thầy không dứt khuyên môn nhơn đệ tử:
    Đi đâu cho khó nhiên đàng,
    Kìa non Bửu tự nọ ngàn Ma ha.
    Kiểng nào kiểng chẳng có hoa,
    Non nào non chẳng có tòa Thiên thai!

    Chỉ cần quán tâm, tự lực trau sửa cái tâm thì tức nhiên thấy được tánh. Như thế là Đức Phật Thầy Tây An đã noi theo Đức Lục Tổ Huệ Năng hưng truyền pháp môn tu kiến tánh trong hàng môn nhơn đệ tử của Ngài.

    Ngài hằng bộc lộ lòng sùng ngưỡng của Ngài đối với Đức Lục Tổ trong câu:
    Khát thời uống nước Tào Khê,
    Đói ăn Ma phạn tối về canh tân.

    Tào Khê là nơi Đức Lục tổ Huệ Năng hoằng pháp, cho nên nói Tào Khê tức là ám chỉ Đức Huệ Năng.

    Pháp môn tu kiến tánh của Đức Lục tổ là pháp môn tự lực, nghĩa là mình tự độ lấy mình bằng cách trở về chỗ sáng tỏ của tự tâm. Nhưng pháp môn này chẳng phải ai cũng có đủ đại lực để hành trì mà đạt đến địa vị Phật quả. Bởi vì khó tu, cho nên người ta thường gọi là pháp môn “Thụ xuất tam giới” cũng gọi là “nan hành đạo”. Thụ xuất tam giới có nghĩa là do bề đứng mà ra khỏi tam giới, tức là đạo khó hành, ví như con mọt ở trong cây tre mà cứ đụt lần hồi từ mắt một, đục hết mắt tre này đục lên mắt tre trên, cứ đục như thế cho hết mắc tre mới ra khỏi được, bởi thế cho nên gọi là Thụ xuất, nghĩa là đi ra bằng bề đứng.



    Bởi nhận thấy pháp môn tự lực tu hành của phái Thiền tông khó khăn như vậy, nên chi đồng thời với pháp môn tu kiến tánh, Đức Phật Thầy còn khai thị cho môn nhơn đệ tử của Ngài pháp môn tha lực tu hành của phái Tịnh độ tông, chỉ chuyên tâm niệm Phật A Di Đà để cầu được tiếp dẫn về cõi Tây Phương Cực lạc, vì hễ được vãng sanh về cõi Tịnh độ rồi thì không còn bị thối chuyển, không như pháp tu tự lực kia cần phải trải qua nhiều kiếp. Vì thế mà pháp môn niệm Phật được gọi là pháp môn “Hoành siêu tam giới” hay là “dị hành đạo”.

    Hoành siêu tam giới có nghĩa là do bề ngang mà ra khỏi tam giới, tức là đạo dễ làm, ví như con mọt ở trong cây tre, hễ đục ngang cây tre là tự nhiên nó được ra khỏi, chớ không có khó khăn lâu lắc như cách đục bề đứng từ mắt một của cây tre.

    Đức Phật Thầy khai thị pháp môn niệm Phật là vì Ngài thấy chỉ có pháp môn tu cầu tha lực mới mong cấp cứu chúng sanh trong thời kỳ Nguơn Hạ này, là thời kỳ chúng sanh dễ bị ác duyên chướng ngại. Nếu tự lực tu hành để cầu liễu sanh thoát tử thì chẳng phải là một việc dễ, bởi nếu bị ác duyên chướng ngại mà thối chuyển thì tất phải trầm luân sa đọa không biết lúc nào mới trở lại được.

    Ngài Thiên Như Hòa Thượng cũng có nói: Chánh pháp, tượng pháp chi hậu, chư kinh diệt tận, chỉ lưu “A Di Đà Phật” từ tự cứu độ mạt pháp chúng sanh, kỳ hữu bất tín giả ưng đọa địa ngục: Nghĩa là: Sau khi Chánh pháp và Tượng pháp qua rồi, thì các kinh lần lần tiêu diệt, chỉ còn lại bốn chữ “A Di Đà Phật” là cứu độ được chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp, nếu ai không tin sẽ đọa vào địa ngục.

    Sở dĩ Phật khai ra pháp môn Tịnh độ. Là bởi chúng sanh ở thời mạt pháp, căn cơ thiển bạc, nếu đem những pháp môn khó tu mà dạy thì chi cho họ khỏi sanh lòng chán ngán.

    Chỉ có Pháp môn niệm Phật là pháp môn tối thắng, dầu chúng sanh với trình độ tiến hóa cao thấp thế nào cũng đều có thể tu tập mà thoát nẻo luân hồi sanh tử.

    Vì đâu vậy? Là bởi Đức Phật A Di Đà có đoạn nói rằng: “Nếu có người thiện nam thiện nữ nào, nghe nói Phật A Di Đà mà chấp giữ cái danh hiệu ấy; hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, một lòng không tán loạn thì người ấy lúc gần lâm chung sẽ thấy Phật A Di Đà và các Thánh chúng hiện thân trước mặt, mà khi chết tâm không điên đảo tức thời được vãng sanh về cõi Cực Lạc”.

    Pháp môn niệm Phật còn có cái công năng là không tu sáu pháp Ba la mật mà vẫn được sáu pháp ấy, như kinh Di Đà Sớ Sao đã nói: Tịnh độ pháp môn chí huyền, chí diệu bất tu dư hạnh như đắc lục Ba La Mật; nghĩa là: Pháp môn Tịnh Độ rất huyền rất diệu, chẳng tu hành nào mà đặng tất cả sáu pháp Ba La Mật.

    Ngài Tịnh Nguyệt Lão pháp sư còn chứng nhận rằng niệm Phật còn thâu nhiếp sáu căn. Ngài giải rằng: Trong lúc niệm Phật mà con mắt chẳng bị các “sắc” hoặc nhiễm, ấy là con mắt niệm Phật; lỗ tai chẳng bị các thứ “tiếng” hoặc nhiễm, ấy là lỗ tai niệm Phật; lỗ mũi chẳng bị các thứ “mùi” hoặc nhiễm, ấy là lỗ mũi niệm Phật; cái lưỡi chẳng bi các thứ “vị” hoặc nhiễm, ấy là cái lưỡi niệm Phật; cái thân chẳng bị các thứ “xúc động” hoặc nhiễm, ấy là cái thân niệm Phật; ý chẳng bị các “sự vật” hoặc nhiễm, ấy là cái ý niệm Phật.

    Cái công năng của pháp môn niệm Phật đã thù thắng như thế, cho nên Đức Phật Thầy Tây An không dứt khuyên môn nhơn đệ tử:

    Giữ lòng niệm Phật Di Đà,
    Thời lên sơn lãnh thấy mà thời hay.

    Đêm ngày tưởng niệm Như Lai,
    Lòng ta đốc quyết hoài hoài đừng quên.
    Hỡi người niệm Phật cho bền,
    Mai sau cũng đặng gần bên Phật Thầy.

    Ở thời kỳ mạt pháp này chỉ có pháp môn niệm Phật là cứu được chúng sanh mà thôi. Nhưng chớ lấy thế mà chỉ cầu tha lực, bỏ phần tự lực. Mình phải tự cứu lấy mình rồi sau Phật mới cứu mình. Bởi thế cho nên với Đức Phật Thầy, Ngài chẳng những khai thị cho môn nhơn đệ tử pháp môn tu kiến tánh của phái Thiền tông mà còn khai thị pháp môn niệm Phật của phái Tịnh độ tông nữa, nghĩa là pháp môn Thiền Tịnh song tu.



    Thế là, như một ông lương y tùy bịnh chẩn trị, Đức Phật Thầy Tây An sau khi nhận rõ: Hoàn cảnh, nhơn tâm và thời cơ của chúng sanh, khai thị cho chúng sanh những pháp môn hành đạo thích nghi gồm cả phần tu phước và tu huệ.

    Đây chúng ta thử đem một bài kệ của Phật ra phân tách sẽ thấy rõ pháp môn hành đạo của Đức Phật Thầy đi đúng với yếu chỉ pháp môn hành đạo của Phật.

    Nhà Phật có bài kệ rằng:
    Chư ác mạc tác,
    Chúng thiện phụng hành;
    Tự tịnh kỳ ý,

    Thị chư Phật giáo.

    Nghĩa là:
    Điều ác đừng làm,
    Điều lành gồm làm.
    Tự lắng lấy lòng,
    Phật dạy như thế.

    Trong bài kệ này chia ra làm hai phần rõ rệt: Mỗi phần gồm có hai câu. Phần thứ nhất hiển thị pháp môn Tu Phước, còn phần thứ hai hiển thị pháp môn Tu Huệ.

    Mà thế nào gọi là tu phước và thế nào gọi là tu huệ?

    Cứ theo hai câu: Điều ác đừng làm, điều lành gồm làm, thì tu phước có nghĩa là dầu ở cảnh nào, kẻ tu hành trước hết chẳng nên làm điều chi tổn hại đến người mà chỉ lo làm việc lành, làm những việc có ích lợi cho quần sanh. Đó là căn bản của phép tu nhơn đạo.

    Còn tu huệ là tự tu sửa lấy mình để được minh tâm kiến tánh, nhận rõ chơn lý, đoạn các nghiệp phiền não, liễu thoát sanh tử luân hồi, nghĩa là tin sâu vào lời Phật dạy.

    Trong sáu phép Ba La Mật, có cái trình tự Tu Phước và Tu Huệ cũng thấy biểu lộ rõ ràng. Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục là cả pháp môn Tu Phước; còn Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ là cả pháp môn Tu Huệ.

    Đức Phật Thầy khai thị pháp môn hành đạo Tứ Ân và Thiền Tịnh song tu, là hiểu rõ pháp môn Tu Nhơn Học Phật, đúng với giáo pháp của Đức Thích Ca về pháp môn tu phước và tu huệ vậy.

    Ngài đã thấu rõ cơ huyền, thấy rằng đời Hạ Nguơn sắp mãn mà chúng sanh căn tánh lại cạn cợt, nếu thi thiết những pháp môn tu nhứt thừa thiệt tướng làm chi cho chúng sanh không theo được mà còn sanh lòng ngờ chán nữa.

    Vả lại, Ngài lâm phàm là vì sứ mạng thức tỉnh người đời trong thời kỳ mạt pháp, có lý nào để cho chúng sanh chìm đắm trong biển pháp mà chẳng cứu vớt họ ra. Đứng trước những điều kiện bất lợi của hoàn cảnh, nhơn tâm và thời cơ, Ngài phải thi thiết những phương tiện nào vừa mau vừa dễ mới mong hoàn thành được sứ mạng.

    Phải vừa mau mà lại vừa dễ, đó là đặc điểm của pháp môn tu của Đức Phật Thầy, cốt làm sao cho chúng sanh hồi tâm hướng thiện, dọn mình cho được hiền đức hầu có đủ tư cách đón rước sự giáng lâm của Đức Di Lặc.

    Những pháp môn tu phước và tu huệ của Đức Phật Thầy mở ra, phải nên hiểu là không ngoài mục đích đào tạo chúng sanh cho được hiền đức. Mà muốn trở thành con người hiền đức, theo Ngài, chỉ phải làm sao cho tròn cái đạo làm người và học theo những điều của Phật dạy, nghĩa là cả pháp môn: Học Phật, Tu Nhơn.

    Về phương diện Tu Nhơn thì không ngoài phép khắc kỷ xử thế của sách minh tâm và việc đáp đền bốn điều ân trọng đại.

    Đến như về phương diện Học Phật thì trong thời kỳ mạt pháp này, chúng sanh cần hành cả hai pháp tu tự lực và tha lực, tức là pháp môn Thiền Tịnh song tu.

    Đó là cả pháp môn hành đạo của Đức Phật Thầy khai thị cho môn nhơn đệ tử của Ngài.

    (bskh.net)

  7. #7

    Mặc định

    Cam on nhe Love Tamlinh de thuong!:)

  8. #8
    damquangvinh
    Guest

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi lotus74 Xem Bài Gởi
    Cam on nhe Love Tamlinh de thuong!:)
    .........thế mới gọi là yêu đó ...ố ô ...ố ồ ...

  9. #9
    damquangvinh
    Guest

    Mặc định

    Noi theo giáo pháp vô vi chơn truyền của Phật, Đức Phật Thầy rất chú tâm đến pháp môn Tu Huệ, nên hằng khuyến khích môn nhơn đệ tử về đường tu tâm luyện tánh để mở huệ tâm, như Ngài đã viết:

    Riêng chiếm non bồng một cảnh Tiên,
    Tu trì phép đạo khác màu thiền.

    Cái chỗ “khác màu Thiền” ấy, là Ngài không khuyến khích chuông mõ, đọc tụng, hay cúng dường, mà chỉ dạy môn nhơn đệ tử chuyên cần về pháp tu tâm dưỡng tánh, tự mình mặc cải lấy mình.


    đúng là cái vinh tìm kiếm bấy lâu nay !!!
    cảm ơn thầy .

  10. #10

    Mặc định

    - Ố Ồ Ồ nói xa thì xa mút tí tè
    nói gần thì gần ngay trước mắt.

  11. #11

    Mặc định

    Ý NGHĨA TẤM TRẦN ĐIỀU BỬU SƠN KỲ HƯƠNG

    TỪ TẤM TRẦN ĐIỀU CỦA PHẬT THẦY TÂY AN

    Các sách và tư liệu về Bửu Sơn Kỳ Hương đều nói rằng về nghi lễ và cách thờ cúng trong những chùa Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật Thầy Tây An khởi dựng, không bài trí hình ảnh hay cốt tượng Phật, mà chỉ thờ một tấm vải màu đỏ, gọi là Trần Điều tại chính điện. Trên bàn thờ bày hoa, nước trắng, nhang, đèn. Theo quan niệm của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương thì tấm Trần Điều thể hiện tấm lòng từ bi, bác ái, đoàn kết, yêu mến đồng bào, nhân loại.

    Ngày nay các đạo hữu vẫn giữ truyền thống đó, nhưng bổ sung một vài chi tiết theo quan niệm và tín ngưỡng của mỗi gia đình.


    Hình 01: Trần điều


    Hình 02: Trần điều và tên Phật Thầy Tây An


    Hình 03: Trần điều và Thần Nguyễn Trung Trực


    Hình 04: Trần điều và Bác Hồ

    Pháp môn tu do Phật Thầy truyền dạy, như đã giới thiệu ở phần trước đó là:
    + tu Nhân học Phật
    + tu Phước hay hành xử Tứ Ân
    + tu Huệ hay Thiền Tịnh song tu

    nhưng chưa thấy một tài liệu nào cho biết lý do tại sao Phật Thầy Tây An đã chọn tấm Trần Điều là biểu tượng trung tâm của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, được bài trí chính thức trong ngôi chánh điện, và ý nghĩa Trần Điều liên quan như thế nào đến pháp môn tu do Phật Thầy khởi xướng.

    Đức Huỳnh Giáo Chủ trong quyển 6 “Sám Giảng Thi Văn Toàn Bộ” có đoạn giải thích về ý nghĩa Trần Điều và Trần Dà như sau:

    “Từ trước đến nay, các chùa chiền đã tạo quá nhiều hình tượng. Ðành rằng vì tôn kính đấng Từ Bi mới làm ra thờ phượng Ngài… Cách thờ phượng ấy tùy theo điều kiện các sư mà chúng ta cũng có thể sùng ngưỡng đặng. Nhưng riêng về cư sĩ ở nhà nên thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn, hơn là sự hào nháng bề ngoài.

    “Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Ðức Phật Thầy Tây An để lại. Từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Vì vậy chúng ta dùng trong thờ phượng để tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật

    Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả.

    ĐẾN TẤM HÌNH THIỀN CỦA BÀ DADI JANKI

    Bà Dadi Janki được thế giới biết đến kể từ thập kỷ 80, khi trường Đại học Tâm linh Quốc tế Brahma Kumaris trụ sở tại Ấn Độ do bà làm giám đốc với các dự án thành công lớn được Liên Hiệp Quốc tài trợ. Hiện nay đã có 100 quốc gia thành lập Trung tâm Giá trị sống (LVEP - Living Value Education Program) thực hành các liệu pháp mang lại tâm thân an lạc theo chương trình của trường Đại học Tâm linh Quốc tế Brahma Kumaris.

    Website Đại học Tâm linh Quốc tế Brahma Kumaris:
    http://www.bkwsu.org/index_html


    Bà Dadi Janki với cô Trish Summerfield - GĐ LVEP Viêt Nam

    Bà đã có 75 năm cống hiến không mệt mỏi cho đời sống cộng đồng, được Liên Hiệp Quốc chọn vào nhóm “Những người nắm giữ sự thông thái” (Keepers of Wisdom), gồm 10 lãnh tụ tâm linh có uy tín giúp tư vấn cho Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Brazil năm 1992, nhằm tìm các giải pháp trước sự Biến đổi Khí hậu toàn cầu.

    Ngày 08/06/2006, khi bước sang tuổi 90, lần đầu tiên bà đến Việt Nam, có buổi chia sẻ xoay quanh chủ đề “Nội tâm tĩnh lặng đem lại sức mạnh, sự hài hòa thể xác và tâm hồn” với hơn 500 người nghe tại khách sạn Omni Sài Gòn, Tp.HCM do Hội Đông y TP.HCM tổ chức. Bà Dandi Janki cũng đã có buổi trò chuyện và hướng dẫn thực hành cho khoảng 100 doanh nhân về phương pháp tìm sự an lạc trong cuộc sống.


    Bà Dadi Janki chụp hình lưu niệm với các học viên

    Giữ cho Nội tâm Tĩnh lặng - một liệu pháp quan trọng để chữa mọi căn bệnh của xã hội hiện đại. Thiền định và suy nghĩ đúng đắn cũng như một liều thuốc.Theo bà Dadi, nguồn gốc của bệnh là do tâm trí. Nhưng nếu trí tuệ của con người không bị tâm trí trấn áp, mà ngược lại trí tuệ kiểm soát được tâm trí sẽ giúp ta nhận biết điều gì đúng, điều gì sai. Khi trí tuệ mạnh mẽ còn có thể ra lệnh cho các giác quan của cơ thể. Khi ta làm chủ được mình, điều khiển tâm trí của mình, thì sẽ không có gì vây hãm chúng ta được.

    Trong cuộc trò chuyện tại VN, bà Dadi Janki đã chia sẻ những gì bà thực chứng được để có sự bình an trong tâm hồn bằng những phương pháp đơn giản mà hiệu quả. Bà chào tất cả mọi người bằng câu nói quen thuộc: “Om Sanni”, có nghĩa là Bình Yên, tôi bình yên, và bạn cũng bình yên.

    Trong buổi thực hành Thiền Định, bà đã giới thiệu một tấm hình đặt trước mặt các học viên giúp hành giả quán chiếu khi ngồi Thiền.


    Hình ảnh quán chiếu khi Thiền Định

    Ý NGHĨA TẤM TRẦN ĐIỀU VÀ TẤM HÌNH THIỀN CỦA BÀ DADI JANKI

    Chúng ta thấy rằng có nhiều điểm tương đồng giữa tấm Trần Điều và tấm hình Thiền do bà Dadi Janki mang sang Việt Nam, như phân tích sau đây:

    1. Cả hai đều sử dụng một màu nền đỏ đậm. Nếu như tấm Trần Điều của Phật Thầy Tây An là một màu đỏ đồng nhất, thì trên tấm hình Thiền của bà Dadi Janki có ánh linh quang từ trung tâm tỏa sáng ra tứ phương. Phải chăng do kỹ thuật in ấn của năm 1849 khi Phật Thầy Tây An khai đạo chưa thể in được hình ảnh linh quang, nên Phật Thầy truyền dạy chỉ sử dụng một tấm Trần Điều màu đỏ thuần nhất mà thôi. Ngày nay với kỹ thuật in ấn hiện đại thế kỷ 21 nên bà Dadi Janki có thể đưa vào hình ảnh linh quang tỏa sáng dễ dàng hơn như hình ảnh nói trên.

    2. Màu đỏ tượng trưng cho màu gì? Chúng ta biết rằng tất cả sinh vật bậc cao đều có Trái Tim để chuyển dòng máu đỏ khắp các tế bào nuôi dưỡng cơ thể. Màu đỏ tượng trưng cho Trần Gian, nơi sinh sống của tất cả muôn loài, trong đó Con Người tạm thời là sinh vật cao nhất đại diện cho chúng sinh để giao tiếp với Phật Thánh Tiên.

    Một cách khái quát, màu đỏ cũng tượng trưng cho Thế giới Ta Bà, nơi mọi sinh vật sống trong tranh chấp, còn đấu tranh sinh tồn, còn phải sàng lọc giữa Thiện và Ác, và cũng là môi trường tu tập tốt nhất để tiến hóa cho tất cả chúng sinh, như lời Đức Huỳnh Giáo chủ nói trên: “… Màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và cá nhân…”.

    3. Khi hành thiền, hành giả buông xả tất cả, từ thể xác đến suy nghĩ, đưa Tâm và Thân về trạng thái tĩnh lặng của tánh Không. Khi đó chúng ta sẽ trở về với Bản Thể của chính Ta, chạm được đến Tâm của chính Ta, và đạt đến trạng thái hòa nhập giữa Bản Thể và Vũ Trụ, giữa Tiểu Vũ Trụ và Đại Vũ Trụ. Ý nghĩa tấm hình Thiền bà Dadi Janki đã đưa sang Việt Nam chỉ một màu nền đỏ duy nhất. Ánh linh quang tỏa sáng chính là Tâm, là Phật Tánh của chính ta hòa nhập là một với Phật Tánh của Vũ Trụ.

    Điều này cũng có thể hiểu được ý nghĩa tấm Trần Điều mà Đức Phật Thầy lựa chọn cho đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Khi đứng trước bàn thờ với tấm Trần Điều, trước mắt chúng ta sẽ không bị chi phối bởi các hình tướng, do đó giúp Tâm chúng ta dễ dàng Định, hơn nữa Phật Thầy cũng khuyên dạy không nên chuông mõ, tai chúng ta không bị chi phối bởi các âm thanh, giúp cho đạo hữu tập trung toàn Tâm, toàn Ý trước bàn thờ, trong khói hương thơm mùi trầm, chỉ còn Ta giao tiếp với các Đấng thiêng liêng, các Đấng vô hình. Vì vậy người ta gọi pháp môn tu của Bửu Sơn Kỳ Hương là pháp Vô Vi.

    4. Màu của Vô Vi: Những điểm tương đồng giữa tấm Trần Điều năm 1849 của Phật Thầy Tây An với tấm hình Thiền năm 2006 của bà Dadi Janki, cho phép chúng ta kết luận rằng có một sự thống nhất xuyên suốt của Thế Giới Vô Hình, hay còn gọi là của Vô Vi, không phân biệt thời gian, không phân biệt vùng miền. Phật Thầy Tây An đã nhận được thông điệp của Vô Vi cho biết cần phải sử dụng tấm Trần Điều cho đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, hay bà Dadi Janki là một trong “Những người nắm giữ sự thông thái”, cũng nhận được thông điệp tương tự như vậy, giúp chúng ta Định được Tâm, làm chủ tâm trí và khai mở Tuệ, đó là sứ mạng của trường Đại học Tâm linh Quốc tế Brahma Kumaris đang thực hiện.

    Như vậy chúng ta thấy rằng, cách đây 160 năm, từ năm 1849 Đức Phật Thầy Tây An đã áp dụng pháp môn hành đạo rất phù hợp khoa học, phù hợp với ý nghĩa đạo, và sự lựa chọn tấm Trần Điều làm ý nghĩa biểu tượng cho đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là một ứng dụng rất có giá trị về tu học, minh chứng cho sự tiên phong của nội đạo Việt Nam.

  12. #12

    Mặc định

    Xin góp ý cùng huynh love_tamlinh ngôi chùa Tây an cổ tự ở làng long kiến lúc trước nay thuộc về xã Long giang hyện Chợ mới,giáp với xã Kiến thành chứ không phải là Kiến thạnh.Đệ là người ở đây.
    PHẬT TỬ Phước Thảo
    Tìm an lạc giữa cuộc đời

  13. #13

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi votrunghieu79 Xem Bài Gởi
    Xin góp ý cùng huynh love_tamlinh ngôi chùa Tây an cổ tự ở làng long kiến lúc trước nay thuộc về xã Long giang hyện Chợ mới,giáp với xã Kiến thành chứ không phải là Kiến thạnh.Đệ là người ở đây.
    Cám ơn bạn votrunghieu79 đã hiệu đính giúp, bạn là người ở đó thì chắc chắn chính xác rồi.
    Chúc bạn tâm thân an lạc.

  14. #14

    Mặc định

    khá khen bạn love-tamlinh ,sưu tâm`...các tai` liệu vê` đức phật thây` TÂY AN..........
    PHẬT TRUYỀN NHÂN NGUYỆN TÀ TÂM GIẢI KHẨN NIỆM NHƯ LAI ĐỘ CHÚNG SINH

  15. #15

    Mặc định

    Cám ơn love_tamlinh đã tập hợp và hệ thống hóa rất nhiều thông tin về bskh và về đức thầy. Coco nhận thấy love_tamlinh là người có liên hệ rất mật thiết với thầy ở một khía cạnh nào đó ? Giọng văn của love_tamlinh cũng rất giống với 1 người coco rất ngưỡng mộ.

  16. #16

    Mặc định

    Đại Đức Thích Tuệ Hải, trụ trì chùa Long Hương, giảng về Phước Huệ song tu

    Phần 01
    http://www.youtube.com/watch?v=rBfzywPvsqs

    Phần 02
    http://www.youtube.com/watch?v=zoJL5...eature=related

  17. #17

    Mặc định

    Đệ thấy các hình thờ LTL giới thiệu trên đây tôi thấy đúng như ở Phước Điền Tự ( Chùa ở Trại Ruộng - huyện Tịnh Biên - Châu Đốc - An Giang ). Trong Chùa các bàn thờ như: Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi hiệp nhất và Phật Thầy không có hình ảnh. Trong đó có 2 bàn thờ có hình là bàn thờ Ngài Trung Thần Nguyễn Trung Trực và bàn thờ Bác Hồ.
    Last edited by Tuduong; 22-04-2011 at 10:38 PM.

  18. #18

    Mặc định

    Hòa thượng Thích Huyền Vi giảng về Thiền Tịnh song tu

    http://youtu.be/ELPg8uy-cF4

  19. #19

    Mặc định

    LỄ VÍA ĐỨC PHẬT THẦY TÂY AN

    Hôm nay ngày 12 tháng 8 âm lịch, các đạo hữu Bửu Sơn Kỳ Hương tổ chức trọng thể Lễ vía Đức Phật Thầy Tây An năm thứ 155, và năm nay ngày vía đúng ngày trùng cửu 09/09/2011 dương lịch.

    Vào ngày lễ vía hàng năm, đạo hữu ở khắp các tỉnh thành miền Tây, miền Đông cùng về dự ngày lễ trọng đại này. Thông lệ lễ vía tổ chức trong 3 ngày 12, 13 và 14 tháng 8 âm lịch, và năm nay nhằm vào 3 ngày cuối tuần từ thứ Sáu đến Chủ Nhật.

    Theo một tuyến đường chính của xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, An Giang, có 3 ngôi chùa lớn của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, mang dấu tích từ xa xưa của Phật Thầy Tây An, qua hơn 150 năm nay được trùng tu thành cụm di tích Bửu Sơn Kỳ Hương, mà đạo hữu thường kính trọng gọi là chùa 3 ngôi gồm có: Thới Sơn Tự, Bửu Hương Tự và Phước Điền Tự.


    Thới Sơn Tự


    Bửu Hương Tự


    Phước Điền Tự

    Dịp nghỉ lễ 2/9 vừa qua chúng tôi có dịp về miền đất Bửu Sơn Kỳ Hương, được một đạo hữu thuần đạo đưa đi lễ chùa 3 ngôi. Cảnh chùa nay đã khang trang nhiều, chung quanh sân chùa những cây xanh đã thành những cây cổ thụ, xanh tươi tỏa bóng mát khắp sân chùa. Từ trước ngày lễ vía 10 ngày, mà khi chúng tôi đến Thới Sơn Tự đã có đông đạo hữu từ các tỉnh xa về chùa, và ở lại đây cho đến ngày cuối của kỳ lễ vía mới trở về. Đây cũng được xem như một khóa tu ngắn hạn cho mọi người, được cơ duyên ăn chay, sám hối, và tham dự các thời lễ hàng ngày tại chùa.

    Hàng năm có khoảng vài ngàn người hành hương về Thới Sơn, miền đất gốc đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, các sân chùa 3 ngôi chật kín các đạo hữu. Ban trị sự và ban tổ chức phải sắp xếp có đủ không gian sinh hoạt cho mọi người, và lo toan chu đáo thực đơn chay 3 bữa cho hàng ngàn đạo hữu trong suốt 3 ngày lễ vía.

    Không chỉ riêng trong nước, tại miền Nam California, Hoa Kỳ, như thường lệ hàng năm long trọng tổ chức lễ Vía Đức Phật Thầy Tây An tại Hội Quán Phật Giáo Hòa Hảo tại Đại lộ McFadden, Santa Ana. Tuy không quy tụ đông đảo như tại gốc đạo An Giang, nhưng các hội ái hữu miền Tây vẫn tổ chức trong không khí thân ái, hướng về cội nguồn, về gốc đạo do Phật Thầy Tây An khai đạo.




    Lễ vía Đức Phật Thầy Tây An năm 2010 tại Hoa Kỳ.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Thích Thông Lạc giảng Pháp mà phỉ bán Phật ?
    By lamquochung in forum Đạo Phật
    Trả lời: 70
    Bài mới gởi: 22-07-2011, 08:03 AM
  2. Đạo Từ Của ĐỨC PHÁP CHỦ Tại Vĩnh Phúc
    By delightdhamma in forum Đạo Phật
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 22-12-2010, 01:40 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •