Em tình cờ có đọc qua bài này:
Các Thần Chú đặt Trong Bảo Tháp, Chuông Và Tượng Phật


CÁC THẦN CHÚ ĐẶT TRONG BẢO THÁP, CHUÔNG VÀ TƯỢNG PHẬT

Rất không tốt khi để bảo tháp, chuông và tượng Phật trống rỗng bên trong, điều đó cũng giống như cúng dường không có gì hết đến các Đức Phật. Vì vậy, điều quan trọng là phải đặt một cái gì đó vào trong tháp, chuông và tượng Phật, thậm chí chỉ cần một ít các câu thần chú cũng được. Sau đây là các thần chú thường được đặt trong các bảo tháp, chuông và tượng Phật.

A. Bốn Thần Chú Xá Lợi Pháp Thân - The Four Dharmakaya Relic Mantras

Bốn Thần chú Xá lợi Pháp thân là những xá lợi linh thiêng. Đó là những xá lợi tối thượng của Đức Phật, xá lợi của Pháp thân. Những xá lợi khác mà ta thường nhìn thấy, chẳng hạn như xá lợi của y áo hay những phần thân tướng của Đức Phật, là xá lợi thứ yếu. Bốn thần chú này là xá lợi tối thượng. Đây thường là những thần chú cốt tủy mà chúng ta nên đặt trong bảo tháp, chuông và tượng v.v.. Bằng cách đặt những thần chú này bên trong một bảo tháp, pho tượng thậm chí là một cái chuông điều này mang lại lợi ích không thể tưởng tượng nổi. Ví dụ, nghiệp xấu của tất cả chúng sinh khi nghe thấy những âm thanh của chuông đó sẽ được thanh tịnh và họ được giải phóng khỏi tái sinh xuống các cõi thấp. Nếu chúng ta đặt các thần chú này trong một bảo tháp, một pho tượng hay trong chuông, chư thiên sẽ đến kính lễ linh vật này ba lần mỗi ngày.

B. Thần Chú Namgyälma - Namgyälma Mantra

Nếu bạn đặt thần chú Namgyälma bên trong một bảo tháp hay pho tượng, chỉ cần bóng của tháp hay pho tượng chạm vào chúng sinh, nó giải phóng họ khỏi những đau khổ nặng nề và nghiệp xấu, và giải phóng họ khỏi sự tái sinh trong cõi địa ngục, hoặc như ma đói, động vật, hoặc a-tu-la.

C. Thần Chú “ Ánh Sáng Hoàn Toàn Thuần Khiết Cao Quý ” - Stainless Beam Mantra

Nếu câu thần chú này được đặt trong một bảo tháp hay pho tượng, tất cả những chúng sanh được thấy, được nghe nói đến, được chạm vào bảo tháp hay pho tượng sẽ được thanh tịnh những nghiệp tiêu cực và vì vậy họ được tái sinh vào những cõi cao, không còn tái sinh vào những cõi thấp.

D. Nhứt Thiết Như Lai Tâm Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà La Ni – Casket Seal Dharani

Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện, Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di viết chép Kinh Điển này tức là viết chép Kinh Điển do 99 trăm ngàn câu chi Như Lai đã nói. Tức ở nơi của 99 trăm ngàn câu chi Như Lai ấy gieo hạt giống sinh căn lành. Tức được các Như Lai ấy hộ niệm nhiếp thọ. Nếu có người đọc tụng tức là đọc tụng Kinh Điển do tất cả chư Phật đời quá khứ đã nói. Nếu có người viết chép Kinh này, đặt ở trong tháp thì ngôi tháp đó tức là Nhất Thiết Như Lai Kim Cương Tạng Suất Đổ Ba, cũng là Nhất Thiết Như Lai Đà La Ni Tâm Bí Mật Gia Trì Suất Đổ Ba, tức là nơi Thần Lực hộ trì của tất cả Như Lai. Nếu có Hữu Tình hay đối với Tháp này gieo hạt giống sinh căn lành thì quyết định ở A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề được Bất Thoái Chuyển. Nơi chỗ tháp thần lực của tất cả Như Lai đã gia hộ. Chỗ ấy không bị gió bão, mưa đá, sấm sét làm hại, không bị độc xà, rắn rít, bồ cạp, độc trùng, độc thú làm tổn thương, không bị sư tử, cọp beo, ong nhện làm thương hại, cũng không bị dược xoa, la sát, ly mỵ, vọng lượng điên cuồng gây sợ hãi, cũng không bị tất cả bịnh lạnh nóng, bịnh ghẻ lở, lác hủi gây nhiễm.

In thần chú ra tờ giấy A4 màu vàng,mỗi tờ A4 dùng kéo cắt riêng thành từng cột,rồi quấn các cột lại theo chiều kim đồng hồ thành từng bó.Sau đó đặt vào trong tượng,tháp,chuông.
và trên 1 diễn đàn khác thì lại thấy
"Theo truyền thống thì trong lòng các pho tượng Phật phải đặc Kinh chú tùy theo pho tượng to nhỏ. vd: Chú đại bi, Tâm kinh, chú Lăng Nghiêm... cho đến cả bộ Kinh Hoa Nghiêm. Truyền thống của người Tây Tạng thì tuyệt đối phải đặc kinh điển vào nếu không đặc vào họ bảo... Phật không "linh". Ngoài ra còn bỏ thất bửu (đối với thất bửu có cũng được mà không cũng được) Chính vì điều này mà các pho tưọngw Phật cổ của các nước Phật giáo bị đập ... vì thất bửu. Nếu bạn có đất tứ động tâm hay cành lá cây bồ đề bỏ vào cũng tốt. Trên nguyên tắc là vậy nhưng chúng tôi thấy ít người làm. "
còn trên trang web http://www.matkinhsaigon.com.vn/foru...-dia/t346.html thì em thấy:
A/ BỐC BÁT NHANG : bát nhang sau khi được tẩy uế , ngừơi ta lót ở đáy bát nhang một mảnh giấy trang kim vàng ( vừa để lót , đồng thời phòng trường hợp hóa bát nhang , các đồ yểm trong bát không bị cháy theo ) . Sau đó người ta thường bỏ một vài tờ tiền giấy " Ngũ Lộ Thần tài " vào dưới , kèm theo tờ 1 hay 2 USD thật và một gói " Thất Bảo " gồm 1 lá vàng , 1 lá bạc và 5 thứ mã não , trân châu , ngọc .. Xịt một chút nước hoa vào và gói các thứ đó lại để ở đáy bát nhang . Sau đó người ta đổ tro đốt bằng rơm nếp vào cho đầy . dienbatn lưu ý các bạn không nên dùng cát thay cho tro nếp , vì khi cúng rất nặng . dienbatn thường cho thêm vào bát nhang một tờ giấy in kinh Bát Nhã hoặc Đại bi tâm chú bằng Phạn tự .

Sau đây là hình của Thất Bảo :


Hình Bát Nhã Tâm Kinh và một chủng tử Om Ah Hum có thể bỏ vào bát nhang hay tượng .


HÌNH ĐẠI BI TÂM CHÚ BẰNG PHẠN TỰ:


Sau khi làm xong các việc trên , người ta thường dán ra ngoài bát nhang ở chính diện ( Chỗ mặt trời có 2 con rồng chầu vào ) một mảnh giấy đỏ có viết chữ bằng mực Tàu tên của bát nhang . Sau cùng là đọc Kinh hay Chú Mật Tông , Tiên Gia tùy theo môn phái của Thày để an vị .

2/HÔ THẦN NHẬP TƯỢNG ( KHAI QUANG - ĐIỂM NHÃN )

Đây là một tài liệu về cách HÔ THẦN NHẬP TƯỢNG ( KHAI QUANG ) dienbatn sưu tập được của Tiểu Không mà quên mất nguồn :
" Tượng mới chưa dùng thỉnh về từ các tiệm buôn cần tẩy uế, hay rửa cho sạch bụi. Dùng một bát nước sạch, trì chú Thanh Tịnh Pháp Án Lam Xóa Ha (21 hay 27 (9x3) lần) dùng với ấn Bảo thủ và kiết tường. Dùng nước đó để rửa sạch tượng. Dùng một bát nước sạch, bỏ vào ít nước hoa, trì chú Thanh Tịnh Pháp Án Lam Xóa Ha, tri thêm chú Cam Lồ Thủy vào nước (7 hay 9). Dùng nước đó để rửa tượng. Nước đã dùng đổ ra trước sân hay vẩy chung quanh nhà, không đổ xuống cống.

In Kinh Đại Bi Sám Pháp, Đại Bi Tâm Chú với chủng tử Phạn ngữ, Bát Nhã Tâm Kinh với chủng tử Phạn Ngữ. Dùng nước hoa thơm thấm vào 4 góc và chính giữa kinh. Trì chú Thanh Tịnh Pháp vào trong kinh (7 hay 9 lần). Trì tụng kinh đó 7 hay 9 ngày.

Dùng chỉ ngũ sắc kết lại thành dây. Ngũ sắc là năm mầu của ngũ hành: Vàng, Trắng, Đen (hay xanh da trời), Xanh lá cây, và Đỏ. Dùng chú tẩy uế rồi vừa kết chỉ vừa trì Lục tự Đại Minh Thần Chú Án Ma Ni Bát Di Hồng.

Sau khi đã đầy đủ, để kinh Bát Nhã phạn tự trên Kinh Đại Bi Sám Pháp, để Đại Bi Tâm chú phạn tự chồng trên kinh Bát Nhã, rồi cuốn tròn lại, cuộn sao cho thấy các chủng tử ở ngoài. Dùng dây chỉ ngũ sắc đã kết cột kinh lại. Có thể gấp lại và bỏ trong bao, dùng dây ngũ sắc cột miệng bao lại.

Vẽ 3 chủng tử Om Ah Hum (phạn tự hay Tạng tự đều được) canh vẽ sao cho chữ Om phần giữa hai lông mày, Ah ở miệng, và Hum ở cổ của tượng - khoản cách đều nhau. Hay in ra rồi lấy mực đỏ đồ lên. Khi vẽ chữ Om thì trì chữ OM, vẽ chữ Ah thì trì chú AH, vẽ chữ Hum thì trì chú HUM. Nếu tập vễ các chủng tử, tập vẽ rồi mang tất cả ra ngoài đốt.

Dùng giấy có Om Ah Hum dán ở trong lòng tượng đúng theo vị trí như trên. Để kinh đã cuốn dựng đứng trong lòng tượng. Để cho chữ viết đúng, đừng để ngược xuống. Niêm kín lỗ rỗng dưới lòng tượng lại. Phân này luôn trì Nam Mô Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Linh Cảm Ứng.

Tất cả vật dụng đều phải dùng chú để tẩy uế!

Sau đó đọc kinh an vị Phật (xem trong kinh nhật tụng)

Các tượng Phật Bồ Tát khác cũng làm như thế. Vẽ thêm chủng tử của vị Phật hay Bồ Tát của hình tượng ở phần đầu của chú Đại Bi Tâm phạn tự.

Hình của Bồ Tát cũng theo trên mà làm. Dùng nước thanh tịnh để lau chùi khung ảnh. Phần sau của hình thì vẽ các chủng tử Om Ah Hum như đã dẫn ở trên. Hay in ra dùng mực đỏ vẽ đồ lên các chủng tử rồi dán sau hình cũng được. Kinh và dây ngũ sắc để phía sau hình.

Đây là cách cho các bạn ở xa không phương tiện nhờ chư Tăng hay các thầy điểm nhãn cho hình tượng chư Phật hay Bồ Tát.

Hình tượng đã thờ lâu ngày không cần phải làm.

Để đỡ tốn tiền mực, dùng hình kinh Bát Nhã phạn tự chữ đen trên nền trắng.

- TK "

Một cách khác của Thày Sương Mãn Thiên chỉ cho dienbatn như sau : Tượng mới thỉnh về cũng làm sạch như đối với bát nhang . Các đồ cho vào tượng qua lỗ trống ở dưới đáy tương tự như khi cho vào bát nhang . Sau đó , dùng băng keo dán kín lỗ ở dưới lại .Còn theo Mật Tông thì sau khi đọc xong nghi quỹ của bổn tôn , các bạn chỉ cần trì 21 biến của BẠCH Y THẦN CHÚ , LỤC TỰ MINH CHÚ HAY CHUẨN ĐỀ ... vào tượng . Sau cùng là hồi hướng cho các chư vị Thần là xong .

Và ở trang web http://old.thuvienhoasen.org/khaiquangdiemnhan.htm thì em cũng có thấy:
IV .Theo Phật Giáo Chánh Tín:

An vị Phật là một nghi thức do các hàng tín đồ xưa tổ chức là một nghi lễ rất rườm rà, lắm khi sai lệch tôn chỉ từ bi và giáo lý chơn truyền của Ðạo Phật, điển hình như: làm lễ khai nhãn, hay truyền oai lực từ tượng Phật cũ sang tượng Phật mới v.v... đây là những việc làm không cần thiết và không liên quan đến việc thực hành theo giáo lý của Ðức Phật.

Tại sao chúng ta thờ phượng và lễ bái Ðức Phật, trong khi Ngài không có mặt để thọ lãnh sự lễ bái đó, mà chỉ là một hình tượng vô tri vô giác. Ðứng trước pho tượng Phật người Phật tử chỉ hồi nhớ lại những đặc tánh của Ngài, chúng ta phải tri ân vì Ngài đã khám phá chơn lý và vạch ra con đường giải thoát cho chúng sanh. Do đó không có việc xem tượng Phật là một thần linh cần phải truyền oai lực.

Vậy người Phật tử muốn làm lễ an vị Phật, chỉ cần thỉnh tượng Phật về tư gia, tịnh xá, niệm Phật đường hay chùa chiền, an vị một nơi trang nghiêm và thỉnh chư Tăng chứng minh lòng thành của mình đối với Tam Bảo bằng thân, khẩu, ý, cúng dường đến chư Tăng sau khi các vị tụng thời kinh An Vị. Ðó là một cách an vị Phật rất giản dị và đúng theo nghi thức Phật giáo.

Khi thỉnh tượng Phật Bồ Tát về nhà, nhiều người thích làm lễ gọi là "khai quang". Theo quan điểm Phật giáo chính thống thì nghi thức đó không cần thiết. Bởi vì tượng Phật và Bồ Tát chỉ là những công cụ để tu hành. Điều quan trọng ở đây là đức tin và lòng thành, lòng sùng kính, chứ đâu phải ở nơi tượng Phật và Bồ Tát.Bên Phật Giáo nguyên thủy thì đúng nghĩa họ không có nghi thức này. Thậm chí chuyện đúc tượng vẽ ảnh cũng là sau này mà ra. Cái này tùy theo Pháp môn mà có sự khác biệt nên cũng không thể nói đúng sai được.

Khi Phật Thích Ca còn tại thế, lúc Phật lên cõi trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ ba tháng, dân chúng ở cõi người chúng ta có tạo tượng Phật để cúng dường. Lúc bấy giờ không thấy chép có nghi thức khai quang. Về sau này kinh sách Phật, tranh tượng Phật, các pháp khí chùa chiền, bảo tháp đều có ý nghĩa biểu tượng cho tính thường trụ của đức Phật và Phật pháp. Nghi thức càng long trọng càng thu hút nhiều người phấn khởi tín tâm. Vì vậy càng ngày càng có nhiều nghi thức cúng dường, mà khai quang tượng Phật, Bồ Tát là một trong những nghi thức đó. Các nhà chùa, tu viện hiện nay, mỗi lần đặt tượng Phật, Bồ Tát mới đều có triệu tập đông đảo tín đồ làm lễ khai quang, cũng tương tự như lễ khai giảng năm học mới, khai mạc công ty hay cửa hàng mới, khánh thành một công trình kiến trúc mới phải tổ chức để công bố cho đông đảo quần chúng biết.

Còn như đặt tượng, tranh Phật, Bồ Tát ở gia đình thì không cần cử hành nghi thức khai quang làm gì, cũng không cần triệu tập đông người đến chứng kiến. Chỉ cần có lòng thành kính, đem tượng Phật Bồ Tát bố trí ở nơi thích đáng, rồi ngày ngày cúng hương hoa quả trái, không ngày nào quên. Lễ vật cúng dường phải đảm bảo thường xuyên tươi tốt và mới, như vậy sẽ phát huy đầy đủ tác dụng của bàn thờ Phật, Bồ Tát, đạo tâm của người cúng dường nhờ vậy mà được tăng tiến.

Những người thờ Phật tại gia khi lập bàn thờ Phật trước hết phải nhờ người làm lễ khai quang các tượng Phật, Bồ Tát, lại phải chọn ngày tốt, hương tốt. Đó cũng là do tín ngưỡng dân gian hoặc phong tục dân gian. Theo quan điểm "vào làng nào theo tục lệ làng ấy" mà nói thì tục lệ đó cũng không có gì sai trái lắm, làm lễ khai quang là để tỏ ý thận trọng, chọn ngày chọn hướng là để tỏ ý cầu mong tốt lành. Nhưng theo quan điểm Phật giáo thì chư Phật, Bồ Tát có ở khắp mọi nơi, không một chỗ nào không ứng hiện. Tất cả mọi hướng đều có chư Phật thập phương, Tam bảo thập phương, Long thiên hộ pháp. Như vậy, đương nhiên là không hề có những vấn đề do tín ngưỡng dân gian tưởng tượng ra. Chỉ cần chọn một chỗ nào mình cho là tôn quí nhất, rồi với tình cảm thành kính nhất và chọn một thời điểm thích đáng nhất để đặt tượng thờ Phật là được.

V. Kết Luận:

Như vậy, các tranh ảnh tôn tượng Phật Bồ Tát thỉnh về thì đã có mắt rồi, đâu cần có ai " điểm nhãn ", mà " điểm nhãn " để làm gì cơ chứ ?

Những bức tượng vô tri vô giác thì làm thế nào mà linh được? Nên vấn đề " Khai Quang Điểm Nhãn "là khai như thế nào? Mà chúng ta phải khai cho ai? Khi mua (thỉnh) 1 bức tượng về để thờ cúng, người ta thường nhờ 1 bậc chân tu " Khai Quang Điểm Nhãn " cho người muốn thờ ảnh tượng đó! Đây là lúc mà vị chân sư sẽ chỉ điểm cho hành giả cách hành lễ thờ cúng, giữ giới luật, những điều kiêng kỵ, sau cùng là " Phép Trấn Thần " nơi bức tượng ấy không cho vong linh hỗn tạp tá nạp vào. Đó chính là Khai Quang Điểm Nhãn cho người trần tục khi bước vào con đường tu hành chứ chẳng phải Khai Quang Điểm Nhãn cho các Đấng Thiêng Liêng (Vì Các Đấng này lúc nào cũng linh hiển và biết rất rõ, và thấy rất rõ, chứ chẳng phải đợi có người Khai Quang Điểm Nhãn thì mới thấy được ). Như vậy mục đích Khai Quang Điểm Nhãn chính là việc khai thị cho người mới tập tu hành vậy. Thật vô lý và nực cười làm sao! Khi mình là một con người trần tục mà lại đi Khai Quang Điểm Nhãn cho Bậc Đại Giác và Chư Tôn Bồ Tát cùng hàng Tiên Thánh? Chỉ có nhờ vào sức mạnh của lòng tin và kiên trì tu tập thì Ảnh-Tượng đó sẽ hiển linh do tư tưởng chân chính của chính hành giả gia trì hằng ngày (Linh tại ngã, bất linh tại ngã).

Nghi thức này do đâu mà có? Sỡ dĩ có chuyện Khai Quang hay An Vị là vì người ta tin rằng nếu không làm lễ Khai Quang tức là đưa Thần Lực của Phật an ngự vào tôn tượng thì có những loài ma quỷ sẽ nhập vào đó để hưởng hương khói và sự cúng dường, Và như vậy, chúng ta quỳ lạy tôn tượng Phật Bồ Tát mà thực sự ra là quỳ lạy ma quỷ. Niềm tin này xét về phương diện giáo lý của Đạo Phật là không có cơ sở vì như vậy đã biến Đấng Giác Ngộ của chúng ta thành 1 ông Thần! Chưa kể việc dùng Kính đàn có phần nào giống với việc làm của những ông thầy cúng ( thầy phù thủy )! Nghi thức này, theo như chúng tôi thấy thì không phải là một Nghi thức chánh truyền, theo bộ phận nghi lễ của Giáo Hội trước đây thì không hề có 1 văn bản chính thức nào nói về Nghi lễ này cả. Khi tham bác một số Chư Tôn Đức về vấn đề này thì các Ngài tỏ ra không tán đồng, thậm chí còn xem Nghi lễ này là do các ông thầy cúng bày ra để kiếm ăn! Nói thì nói như vậy, thế nhưng có những chuyện " Xưa bày, nay làm ", nếu có Phật tử thỉnh quý Ngài đến để An vị Phật thì quý Ngài cũng sẽ đi, bởi vì " Phụng sự chúng sanh là phụng sự Chư Phật ",nếu có chúng sanh nào cần có Nghi thức " An vị Phật " mới có thể "an " được thì quý Ngài cũng giúp cho họ được " an " vậy. Tùy duyên mà.

Vậy em xin hỏi ý kiến các bác trên diễn đàn thì mình có nên làm theo cách trên là đặt thần chú hay in kinh ra bỏ trong lòng tượng không?Còn nếu như các tượng Phật họ làm bằng thạch cao hay xi-măng,không có lỗ trống dưới lòng tượng mà dưới đít tượng họ tráng thạch cao (xi-măng) làm phẳng đít tượng lại luôn thì làm sao mình nhét hay đặt thần chú và các tờ giấy in kinh vào lòng tượng được ?Chứ không lẽ mình xếp các thần chú và kinh chồng lên nhau,dùng dây chỉ ngũ sắc cột các thần chú và kinh đó lại,đặt dưới đít tượng Phật,rồi sau đó đặt tượng Phật ngồi an vị lên thần chú và kinh đó phía bên dưới à?
Xin các bác trả lời gấp giúp em câu hỏi này?Em thật sự thắc mắc và cần có sự giải đáp.Em xin thành thật cảm ơn !