kết quả từ 1 tới 16 trên 16

Ðề tài: điều vĩ đại của kitô giáo

  1. #1

    Arrow điều vĩ đại của kitô giáo

    Đ
    IỀU VĨ ĐẠI CỦA KITÔ GIÁO" là bản lược dịch cuốn "What's So Great About Christianity" của Dinesh D'Souza, với mục đích đem lại cho độc giả www.nguoitinhuu.com một cái nhìn về Kitô Giáo qua các lý luận sắc bén của D'Souza, một trong những văn gia hộ giáo nổi tiếng ngày nay của Kitô Giáo.

    Nếu quý học giả muốn biết tường tận hơn về các lý lẽ trong sách, xin đọc sách tiếng Anh với các tham khảo đầy đủ mà trong bản dịch chúng tôi không phụ đính.

    Ước mong bản dịch này sẽ giúp quý độc giả hiểu biết thêm về Kitô Giáo.

    Pt Giuse Trần Văn Nhật

    MỤC LỤC

    1. Sự Suy Thoái của Chủ Nghĩa Vô Thần: Sự Chiến Thắng Toàn Cầu của Kitô Giáo.

    2. Sự Sống Còn của Điều Linh Thiêng: Tại Sao Tôn Giáo Đang Thắng Lợi.

    3. Giới Vô Thần Tấn Công Tôn Giáo: Thiên Chúa Không Vĩ Đại.

    4. Giáo Dục Trẻ Em Sai Lạc: Đừng Để Chúng Bị Ảnh Hưởng của Cha Mẹ.

    5. Của Xêda Trả Lại Cho Xêda: Những Nền Tảng Tinh Thần của Chính Quyền Hạn Chế.

    6. Sự Dữ Mà Tôi Không Muốn: Kitô Giáo và Sự Sai Lầm Con Người.

    7. Được Dựng Nên Bình Đẳng: Nguồn Gốc Phẩm Giá Con Người.

    8. Kitô Giáo và Lý Trí: Nguồn Gốc Thần Học của Khoa Học.

    9. Từ Lời Đến Vũ Trụ: Kitô Giáo và Những Sáng Tạo của Phát Minh.

    10. Một Ngụ Ngôn Vô Thần: Tái Mở Hồ Sơ Galilê.

    11. Một Vũ Trụ Với Khởi Đầu: Thiên Chúa và Các Nhà Thiên Văn.

    12. Một Hành Tinh Được Hoạch Định: Vị Trí Đặc Biệt của Con Người Trong Sự Tạo Dựng.

    13. Paley Nói Đúng: Sự Tiến Hoá và Lý Luận Phát Sinh từ Sự Hoạch Định.

    14. Vấn Đề Sáng Thế: Chủ Thuyết Vô Thần Có Phương Pháp của Khoa Học.

    15. Thế Giới Bên Ngoài Các Giác Quan: Kant và Những Giới Hạn của Lý Lẽ.

    16. Trong Bụng Cá Mập: Tại Sao Phép Lạ Có Thể Xảy Ra.

    17. Canh Bạc Hoài Nghi: Pascal và Tính Cách Hợp Lý của Đức Tin.

    18. Nghĩ Lại Toà Thẩm Tra: Tội Ác Tôn Giáo Được Thổi Phồng.

    19. Quyền Giết Người: Thuyết Vô Thần và Sự Tàn Sát Trong Lịch Sử.

    20. Luật Tự Nhiên và Luật của Thiên Chúa: Các Nền Tảng Khách Quan của Luân Lý.

    21. Bóng Ma Trong Bộ Máy: Tại Sao Con Người Thì Hơn Vật Chất.

    22. "Tôi" Hống Hách: Khi Cái Tôi Trở Nên Quan Toà của Luân Lý.

    23. Thuốc Phiện của Sự Băng Hoại Luân Lý: Tại Sao Sự Hoài Nghi Lại Quá Hấp Dẫn.

    24. Vấn Đề Sự Dữ: Thuyết Vô Thần Ở Đâu Khi Có Sự Dữ Xảy Ra?

    25. Đức Giêsu Trong Các Thần Khác: Sự Độc Đáo của Kitô Giáo.

    26. Nếm Thử Vĩnh Cửu: Làm Thế Nào Kitô Giáo Có Thể Thay Đổi Đời Bạn.

    CHƯƠNG 1

    SỰ SUY THOÁI CHỦ NGHĨA VÔ THẦN:
    SỰ CHIẾN THẮNG TOÀN CẦU CỦA KITÔ GIÁO

    T
    HIÊN CHÚA ĐÃ TRỞ LẠI ĐỜI SỐNG. Thế giới đang mục kích sự phát triển rầm rộ của sự hoán cải và gia tăng tôn giáo, và Kitô Giáo phát triển nhanh hơn bất cứ tôn giáo nào khác. Lời tuyên bố của Nietzche, "Thiên Chúa đã chết", giờ đây đang được chứng minh là sai lầm. Nietzche đã chết. Hàng ngũ những người không có đức tin đang thu hẹp thành một phần của dân số thế giới. Chủ nghĩa thế tục đã mất đi căn tính của nó theo đà tiến bộ và hiện đại hóa, và hậu quả là nó mất đi sự hấp dẫn chính yếu. Thiên Chúa thật sống động, và viễn ảnh tương lai của Người có vẻ thật xuất sắc. Đây là câu chuyện trở lại của thế kỷ hai mươi mốt.

    Nếu Thiên Chúa trở lại, tại sao chúng ta không thấy? Lý do là vì nhiều người chúng ta sống sai khu vực. Brent Staples viết trong tờ New York Times, "Hãy bất ngờ ghé vào một nhà thờ trong ngày Chúa Nhật, và có lẽ bạn sẽ thấy khoảng một chục người phân tán mỏng trong một nơi tôn nghiêm được xây cất cho hàng trăm hay hay ngàn người." Phải, tôi đã từng thấy "các hàng ghế vắng tanh và giáo đoàn tóc bạc" mà Staples diễn tả. Nhưng, Staples sống ở Nữu Ước và tôi sống ở California . Chúng tôi sống giữa những người vô thần.

    Dĩ nhiên, những hàng xóm của tôi không nghĩ là họ vô thần. Rất ít người trong họ thuộc về một tổ chức vô thần hay có ghi danh mua sách báo vô thần. Một số người trong họ rất có học thức và tự cho mình là người theo thuyết bất khả tri: họ chưa quyết định vì chưa thấy chứng cớ. Còn có những người tự cho mình là Kitô Hữu, hoặc vì họ được sinh ra như vậy hoặc thỉnh thoảng họ có đến nhà thờ. Đặc điểm của những người này là họ sống như thể Thiên Chúa không hiện diện. Thiên Chúa không tạo nên điều gì khác biệt trong đời sống của họ. Đây là "chủ thuyết vô thần thực tiễn". Tất cả chúng ta đều có biết những người giống như vậy. Một số chúng ta ít khi biết được những người không như vậy. Và nhiều khi chính chúng ta sống như vậy.

    Nếu chúng ta sống sai khu vực, sự nguy hiểm là chúng ta không biết đến sự phát triển quan trọng nhất trong thời đại chúng ta: sự hồi sinh tôn giáo trên toàn cầu. Nó đang xảy ra trong mọi lục địa. Trong quê hương Ấn Độ của tôi, Ấn Giáo đang phục hồi. Hồi Giáo cũng thế. Khi tôi viết về chủ nghĩa Hồi Giáo cực đoan và khủng bố tôi thường tự hỏi, "Khi nào người Hồi Giáo hiểu được sự quan trọng của chủ thuyết thế tục? Khi nào chúng ta nhìn thấy phong trào Cải Cách Hồi Giáo?" Câu trả lời của tôi là người Hồi Giáo không bao giờ hiểu được sự quan trọng của chủ thuyết thế tục. Họ cũng không cần hiểu, bởi vì như chúng ta sẽ thấy, chủ thuyết thế tục ngày càng trở nên không quan trọng, không như một hiện tượng toàn cầu. Hơn thế nữa, Hồi Giáo đang ở giữa thời kỳ cải tổ. Chúng ta thấy người Hồi Giáo đạo đức đang hồi sinh không chỉ ở Trung Đông nhưng còn ở Nam Dương, Mã Lai, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ, và Đông Phi Châu. Có lúc Thổ Nhĩ Kỳ là một tấm gương của Hồi Giáo thế tục, nhưng không còn nữa. Không quốc gia Hồi Giáo nào đi theo con đường của Thổ Nhĩ Kỳ, và trong những năm gần đây ngay cả Thổ Nhĩ Kỳ cũng chấm dứt kiểu cách của mình.

    Một số phân tích gia Tây Phương diễn tả những cuộc hồi sinh tôn giáo trên thế giới như sự lớn mạnh của "thuyết duy văn tự" (fundamentalism). Đây là ảo tưởng của chủ thuyết vị chủng (cho dân tộc mình là hơn cả), khi nhìn thế giới qua lăng kính của thành kiến. Hãy nhớ rằng thuyết duy văn tự là một danh từ xuất phát từ Kitô Giáo Tin Lành. Đó là một danh từ mới được đặt ra để ám chỉ một nhóm Tin Lành tích cực hoạt động vào đầu thế kỷ hai mươi để chống với thuyết tiến hóa của Darwin và họ cổ võ việc đọc Kinh Thánh theo nghĩa đen. Thuyết duy văn tự là một danh từ vô nghĩa nằm ngoài khung cảnh này.

    Dĩ nhiên, cũng có các dân quân Ấn Giáo và Hồi Giáo cực đoan của nhánh "bin Laden", và quả thật họ là mối đe dọa cho thế giới. Nhưng sự gia tăng của dân quân tôn giáo và sự gia tăng tôn giáo thì rất khác biệt. Nhóm này có thể lợi dụng nhóm kia, nhưng không thể lẫn lộn hai điều này với nhau. Sự hồi sinh tôi muốn nói đến là sự phục hồi toàn cầu của tôn giáo truyền thống. Điều này có nghĩa Ấn Giáo truyền thống, Hồi Giáo truyền thống, và Kitô Giáo truyền thống. Chữ "truyền thống" có nghĩa tôn giáo từng được hiểu và được thực hành trong nhiều thế kỷ. Đây là loại tôn giáo đang phát triển.

    Tôn giáo truyền thống là nguồn chính, nhưng nó không chỉ là hình thức tôn giáo ngày nay. Còn có tôn giáo phóng khoáng. Người ta khó có thể nói về người Hồi Giáo phóng khoáng, vì trong thế giới Hồi Giáo tuyệt nhiên không có chủ nghĩa tự do. Nhưng có người Do Thái Giáo phóng khoáng, mà đạo Do Thái đối với họ dường như chỉ là vấn đề ký ức lịch sử và thói quen văn hóa. Ở Tây Phương có rất nhiều Kitô Hữu phóng khoáng. Một số tín hữu ấy tự khoác cho mình một loại sứ vụ đảo ngược: thay vì là các nhà thừa sai của giáo hội cho thế giới, họ trở thành các nhà thừa sai của thế giới cho giáo hội. Họ dành nhiều sức lực để làm cho giáo hội trở nên dân chủ hơn, để bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ, để hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, và vân vân. Một nhánh nhỏ nhưng có ảnh hưởng của nhóm Kitô Giáo phóng khoáng đã tẩy chay mọi học thuyết cốt yếu của Kitô Giáo. H. Richard Niebuhr đã thật tài tình tóm lược tín điều của nhóm này: "Một Thiên Chúa không trừng phạt đưa con người không tội lỗi vào một vương quốc không có sự phán xét qua sự chăm sóc của một Kitô không thập giá."

    Tôi đã gặp các Kitô Hữu phóng khoáng, họ là những người tốt và thành thật. Nhưng quan điểm Kitô Giáo của họ thì đang đi lùi, trong hai ý nghĩa. Người Kitô Giáo phóng khoáng được phân biệt bởi những điều luân lý và sự hiểu biết mà họ nhìn nhận đối với các kẻ thù của Kitô Giáo. "Cứ cho là không ai có lý trí còn tin vào phép lạ, nhưng…" "Đúng vậy, Thiên Chúa trong Cựu Ước dường như là một người đầy căm thù, nhưng…" "Phải thú nhận rằng tôn giáo có trách nhiệm về hầu hết các cuộc xung đột và đàn áp trong lịch sử, nhưng…."

    Loại Kitô Giáo đúng-nhưng này ngày càng trở nên ít quan trọng. Các giáo hội phóng khoáng đang mất dần hàng loạt phần tử. Có lúc các giáo hội này tiếp nhận một trong sáu người Hoa Kỳ; bây giờ họ chỉ còn một trong ba mươi. Trong năm 1960 giáo hội Presbyter có 4.2 triệu phần tử; giờ đây chỉ còn 2.4 triệu. Giáo hội Episcopal từng có 3.4 triệu; giờ đây chỉ có 2.3 triệu. Giáo hội "United Church of Christ" từng có 2.2 triệu; giờ đây chỉ còn 1.3 triệu. Các Kitô Hữu truyền thống vẫn ở trong các giáo hội phóng khoáng thì ngày càng trở nên xa lạ. Một số quá chán ngán đến độ họ tự đặt mình dưới thẩm quyền của các giáo sĩ ít phóng khoáng hơn có cơ sở ở các quốc gia như Nigeria , Ghana , và Ivory Coast .

    Không may, những đề tài chính yếu của một số giáo hội phóng khoáng này thì càng giống với chủ đề của các tổ chức như "American Civil Liberty Union", "National Organization for Women," và các phong trào tranh đấu cho quyền đồng tính luyến ái. Sao lại phải lắng nghe John Shelby Spong, giám mục Anh Giáo, lải nhải trong khi bạn có thể nghe cùng luận điệu ấy trong một quang cảnh ngoạn mục hơn của cuộc diễn hành đầy tự hào của người đồng tính luyến ái tại San Francisco? Các giáo hội truyền thống chứ không phải các giáo hội phóng khoáng thì đang lớn mạnh tại Hoa Kỳ. Tỉ như, trong năm 1960 các giáo hội chi nhánh của "Southern Baptist Convention" có 8.7 triệu thành viên. Giờ đây họ có 16.4 triệu.

    Sự lớn mạnh của tôn giáo truyền thống và sự sút giảm của tôn giáo phóng khoáng đặt ra một vấn đề quan trọng về đường lối hiểu biết các khuynh hướng tôn giáo hiện nay. Đây là đường lối thế tục: họ nghĩ rằng khoa học, lý lẽ, tiến bộ, và sự hiện đại hóa sẽ đưa đến kết quả không thể tránh được là Tây Phương sẽ tiếp tục ngày càng tục hóa, sau đó cả thế giới sẽ theo sau. Những người tiêu biểu cho phong trào tục hóa tin tưởng rằng, như Peter Berger đã viết, "rồi thì các thầy đạo Iran, mục sư Pentacost, và thầy tu Tibet sẽ suy nghĩ và hành động như các giáo sư văn chương tại các đại học Hoa Kỳ."

    Trong một phần của thế kỷ qua, lời tường thuật ấy dường như hợp lý. Người đời tin điều đó và hân hoan, trong khi tín đồ cũng tin điều đó và than vãn. Nhưng giờ đây chúng ta thấy luận đề đó có một khó khăn. Nếu phong trào tục hóa tiến triển liên tục thì các tín đồ phải ngày càng ít đạo đức, và các giáo hội truyền thống sẽ thu hẹp trong khi các giáo hội phóng khoáng sẽ gia tăng. Nhưng thực tế lại trái ngược.

    Một số học giả ghi nhận điều này là sự "phản hồi" đối với phong trào tục hóa, nhưng điều này càng làm cho người ta thắc mắc: điều gì đã gây nên sự phản hồi? Luận điệu của phong trào tục hóa được dựa trên giả thuyết rằng khoa học và sự hiện đại hóa sẽ thỏa mãn những khao khát và nhu cầu như tôn giáo trước đây đã làm được. Nhưng một cuộc nổi dậy chống với sự tục hóa cho thấy có lẽ các nhu cầu quan trọng vẫn chưa được đáp ứng, và vì thế người ta đang tìm kiếm một sự hồi sinh tôn giáo—có lẽ trong một hình thức mới--để giải quyết các lưu tâm đặc biệt trong một xã hội trần tục.

    Dĩ nhiên luận điệu của phong trào tục hóa không phải là hoàn toàn vô căn cứ. Trong Âu Châu, Úc Châu, và Gia Nã Đại, tôn giáo đã bị xóa bỏ khỏi dòng văn hóa chính. Nó bị hạ cấp đến độ chỉ còn là một hiện tượng du lịch; khi bạn đến Chartres hay Canterbury , hướng dẫn viên nói với bạn về lịch sử kiến trúc và nghệ thuật nhưng rất ít nói đến niềm tin của những người đã tạo ra các công trình ấy. Theo bản thăm dò có tên "European Values Survey", số người đi nhà thờ thường xuyên trong khoảng 10 đến 25 phần trăm dân số, tùy theo quốc gia. Chỉ có một phần năm người Âu Châu cho rằng tôn giáo thì quan trọng trong đời sống. Tổng thống Tiệp là Vaclav Havel đã rất đúng khi diễn tả Âu Châu là "nền văn hóa vô thần đầu tiên trong lịch sử con người."

    Bức tranh tôn giáo ở Âu Châu không phải là không ngừng ảm đạm. Chín mươi phần trăm người Hy Lạp nhìn nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, và chỉ 5 phần trăm người Hy Lạp là vô thần. Ái Nhĩ Lan vẫn có số người đến nhà thờ khoảng 45 phần trăm, gấp đôi toàn thể lục địa này, mặc dù đạo Công Giáo ở Ái Nhĩ Lan cũng suy yếu trong các thập niên gần đây. Cùng với Ái Nhĩ Lan, Ba Lan và Slovakia là hai quốc gia đạo đức nhất Âu Châu. Và một số bình luận gia nhận xét rằng ngay cả người Âu Châu không đạo đức vẫn tiếp tục coi mình là "có tinh thần". Các phân tích gia này lý luận rằng, tổng quát Âu Châu chưa từ bỏ tôn giáo nhưng chỉ "sắp xếp lại" tôn giáo.

    Nhưng nếu Âu Châu nói chung hỗ trợ các luận điệu tục hóa thì Hoa Kỳ là một trường hợp nhiều khó khăn hơn. Hoa Kỳ không đi theo con đường của Âu Châu. Thật đúng là số người đến nhà thờ ở Hoa Kỳ sút giảm trong ba thập niên qua. Nhưng, khoảng 40 phần trăm người dân Hoa Kỳ nói rằng họ đến nhà thờ trong ngày Chúa Nhật. Trên 90 phần trăm người Hoa Kỳ tin vào Thiên Chúa, và 60 phần trăm nói rằng đức tin là điều quan trọng. Nghiên cứu dữ kiện về tôn giáo, Paul Bloom viết trong tờ "Atlantic Monthly" rằng "trên một nửa người Hoa Kỳ tin có phép lạ, ma quỷ, và thiên thần. Hầu hết người Hoa Kỳ tin rằng sau khi chết họ sẽ được thực sự gặp lại thân nhân và được gặp Thiên Chúa." Tất cả những điều này là một khó khăn trầm trọng cho luận điệu tục hóa, vì Hoa Kỳ đứng đầu sự hiện đại hóa. Luận điệu này tiên đoán rằng Hoa Kỳ sẽ là xã hội trần tục nhất trên thế giới. Thực tế, Hoa Kỳ là quốc gia đạo đức nhất trong thế giới Tây Phương.

    Có lẽ khó khăn lớn nhất cho thuyết tục hóa là trong một thời đại ngày càng hiện đại hóa và toàn cầu hóa, thế giới nói chung thì ngày càng đạo đức, chứ không bớt. Trong một cuộc thăm dò mới đây, Pippa Norris và Ron Inglehart tóm lược các chứng cớ. Bất kể sự tiến bộ của phong trào tục hóa ở Tây Phương, họ viết, "Toàn thể thế giới giờ đây lại có thêm những người có quan điểm tôn giáo truyền thống hơn trước, và họ tạo thành một lực lượng ngày càng gia tăng của dân số thế giới." Kết quả, Tây Phương thì càng tục hóa nhưng "toàn thể thế giới ngày càng đạo đức."

    Đáng chú ý hơn nữa là sự hồi sinh tôn giáo đang xảy ra ở những nơi có sự hiện đại hóa nhanh chóng. Trung Cộng và Ấn Độ ngày nay có tỉ lệ gia tăng nhanh nhất thế giới, và tôn giáo đang lớn mạnh ở cả hai nơi. Thổ Nhĩ Kỳ là một trong các quốc gia Hồi Giáo tân tiến nhất, và người Hồi Giáo vững vàng phát triển mạnh. Ở Trung và Nam Mỹ, các giai cấp đang lên hiện đi theo Kitô Giáo Pentecost.

    Sự lan tràn của văn hóa Hoa Kỳ, cùng với các giá trị trần tục, dường như không ngăn cản và ngay cả làm trì trệ sự bộc phát tôn giáo. Lý do là vì nhiều văn hóa không phải Tây Phương đang tích cực chống với chủ thuyết tục hóa. Một khẩu hiệu phổ thông ở Á Châu ngày nay là "hiện đại hóa nhưng không Tây Phương hóa". Nhiều người muốn sự thịnh vượng của Hoa Kỳ và kỹ thuật của Hoa Kỳ, nhưng họ muốn dùng những điều này để duy trì và củng cố nếp sống truyền thống của họ. Họ muốn sống trong một thế giới nhiều sự hiện đại hóa.

    Chúng ta thường nghe nói Hồi Giáo là tôn giáo phát triển nhanh nhất. Không đúng. Kitô Giáo là tôn giáo phát triển nhanh nhất trên thế giới ngày nay. Hồi Giáo đứng thứ nhì. Trong khi Hồi Giáo gia tăng phần lớn nhờ sự sinh sản--người Hồi Giáo thường có gia đình đông—Kitô Giáo lan tràn qua sự cải đạo nhanh chóng cũng như gia tăng tự nhiên. Hồi Giáo trở nên tôn giáo phát triển nhanh nhất ở Âu Châu, mà trước đây trên một ngàn năm nó từng là mái nhà của Kitô Giáo. Năm 1920, văn sĩ Công Giáo Hilaire Belloc viết "đức tin là Âu Châu và Âu Châu là đức tin." Belloc tin rằng tương lai của Kitô Giáo nằm ở Âu Châu.

    Thật cay đắng, trong khi Âu Châu tách rời khỏi Kitô Giáo, tôn giáo này lại phát triển ảnh hưởng ở Trung và Nam Mỹ Châu, ở Phi Châu, và ở Á Châu. Vì lần đầu tiên trong lịch sử, Kitô Giáo trở nên một tôn giáo hoàn vũ. Nó thực sự là tôn giáo duy nhất ở khắp nơi. Phật Giáo và Hồi Giáo, cũng như Kitô Giáo, là các tôn giáo có khát vọng toàn cầu, nhưng những khát vọng này chưa được thực hiện. Phật Giáo chưa bao giờ được chính thức hóa ngay cả trong phần đất nơi phát sinh, là Ấn Độ, dù nó có quan hệ chặt chẽ với các nền văn hóa Đông và Nam Á Châu. Tuy có ít tín đồ ở Tây Phương, Phật Giáo vẫn là một tôn giáo có ảnh hưởng trong vùng. Hồi Giáo thì vững mạnh rộng lớn hơn, nhưng ngay cả như vậy Hồi Giáo chỉ có tính cách địa phương, ít có ảnh hưởng ở Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Trung và Nam Mỹ Châu, hay Úc Châu. Ngược lại, Kitô Giáo là một lực lượng trong mọi lục địa và trong mọi vùng chính yếu của thế giới, với ngoại lệ duy nhất là Trung Đông, tâm điểm của Hồi Giáo.

    Khuôn mặt mới của Kitô Giáo không còn là da trắng hay hoe vàng nhưng là da vàng, da đen và da nâu. Philip Jenkins viết trong The Next Christendom, "Nếu chúng ta muốn hình dung ra một Kitô Hữu tiêu biểu đương thời, chúng ta phải nghĩ đến người phụ nữ sống trong ngôi làng ở Nigeria hay trong khu lụp xụp ở Brazil ." Các trung tâm quan trọng của Kitô Giáo ngày nay không còn ở Geneva , Rôma, Ba Lê, hay Luân Đôn. Mà là Buenos Aires, Manila, Kinshasa, và Addis Ababa. Jenkins nhận xét, "Thời đại Kitô Giáo Tây Phương đã qua đi trong cuộc đời chúng ta, và những ngày của Kitô Giáo Nam Phương đang ló dạng."

    Trong năm 1990, trên 80 phần trăm Kitô Hữu sống ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ngày nay 60 phần trăm sống trong thế giới đang phát triển. Trên hai phần ba tín hữu Kitô hiện sống ở Á Châu, Phi Châu, và Nam Mỹ Châu. Sau đây là những con số Jenkins cho biết: Âu Châu ngày nay có 560 triệu Kitô Hữu và Hoa Kỳ có 260 triệu, tuy nhiên nhiều người chỉ mang danh là Kitô Hữu. Trong khi có 480 triệu Kitô Hữu ở Nam Mỹ, 313 triệu ở Á Châu, và 360 triệu ở Phi Châu. Phần lớn những người này là Kitô Hữu có sống đạo. Ở Ghana có nhiều người phái Presbyter đến nhà thờ hơn là ở Scotland.

    Đã vậy, sự gia tăng Kitô Hữu này xảy ra sau khi chấm dứt sự xâm lăng và chủ nghĩa thực dân của Âu Châu. Những người đội nón thuộc địa từ lâu không còn nữa, nhưng đức tin đi theo với họ đến đây lần đầu tiên vẫn còn kéo dài và giờ đây đức tin ấy phát triển mà không cần họ. Nó giống như thời Kitô Giáo tiên khởi. Sau khi Constantine trở lại đạo và Theodosius công bố Kitô Giáo là quốc giáo cho đến khi chấm dứt thế kỷ thứ tư, Kitô Giáo được đế quốc La Mã chống đỡ. Tuy nhiên đức tin ấy lại lan tràn mau hơn sau khi đế quốc xụp đổ, và không lâu toàn thể Âu Châu là Kitô Hữu. Chúng ta đang chứng kiến một bước phát triển tương tự cho Kitô Giáo trên toàn thế giới.

    Một thế kỷ trước, ít hơn 10 phần trăm Phi Châu là Kitô Hữu. Ngày nay nó gần 50 phần trăm. Đó là sự gia tăng từ 10 triệu người trong năm 1900 đến hơn 350 triệu ngày nay. Chỉ nước Uganda thôi có gần 20 triệu Kitô Hữu và được dự đoán sẽ có 50 triệu vào giữa thế kỷ này. Một số giáo phái Phi Châu phát triển quá mạnh đến độ nhà thờ của họ không còn chỗ. Trong khi các nhà thuyết giáo Tây Phương lúc nào cũng phải nài nỉ dân chúng đến nhà thờ ngày Chúa Nhật để lấp đầy các hàng ghế, một số nhà giảng thuyết Phi Châu lại phải yêu cầu tín đồ giới hạn sự tham dự để giúp cho người khác có cơ hội được nghe tin mừng.

    Trung và Nam Mỹ đang chứng kiến sự gia tăng vượt bực của phái Pentacostal. Như David Martin cho thấy trong cuốn "Tongues of Fire", một phần của sự kiện này là vì sự chuyển đổi trong lòng Kitô Giáo: hàng triệu người Công Giáo Nam Mỹ đi sang các giáo phái Tin Lành. Thí dụ, ở Brazil, hiện giờ có khoảng 50 triệu người Tin Lành trong khi một vài thập niên trước đây không đủ để đếm. Tuy nhiên, sự chuyển đổi của người Công Giáo sang Tin Lành không chỉ thuần túy có tính cách chiều ngang, mà sự hoán cải của người Công Giáo ủy mị sang người Tin Lành tích cực, hăng hái có thể coi là một mối lợi cho Kitô Giáo. Ngay trong Công Giáo cũng có phong trào canh tân đoàn sủng đang lớn mạnh để phản ứng với sự thành công của các giáo phái Tin Lành. Sự canh tân đoàn sủng Công Giáo nhấn mạnh đến cùng chủ đề tỉ như Kitô Giáo "tái sinh", bao gồm sự tương giao cá biệt với Chúa Kitô. Và số giáo dân Công Giáo vẫn to lớn: Brazil có 50 triệu người Công Giáo trong 1950, nhưng giờ đây nó có đến 120 triệu.

    Bất kể những bó buộc do nhà cầm quyền Trung Cộng áp đặt, người ta ước lượng hiện giờ có khoảng 100 triệu Kitô Hữu trong các giáo hội thầm lặng, Công Giáo cũng như Tin Lành. Với tỉ lệ phát triển hiện thời, David Aikman nhận xét trong cuốn Jesus in Bejing rằng trong một vài thập niên tới, Trung Cộng sẽ trở thành quốc gia Kitô Giáo lớn nhất thế giới. Ở Đại Hàn, số Kitô Hữu vượt cả số tín đồ Phật Giáo, có nhiều nhà thờ thật lớn với sức chứa trên 10,000 người. Giáo Hội Yoido Full Gospel cho biết có 750,000 thành viên. Giáo hội Công Giáo ở Phi Luật Tân cho biết có 60 triệu phần tử, và dự trù sẽ lên đến 120 triệu vào giữa thế kỷ này.

    Điều đặc biệt của các Kitô Hữu này, Philip Jenkins cho biết, là họ đắm mình trong thế giới của Kinh Thánh đến độ một Kitô Hữu Tây Phương đạo đức không thể sánh được. Với người nghèo trên thế giới, hoàn cảnh xã hội của thời Kinh Thánh thì thật quen thuộc. Họ cũng sống trong một thế giới khổ cực, nghèo đói, có kẻ cho vay ăn lời và người phong cùi. Các đề tài tha hương và sự bách hại như còn âm vang trong lòng họ. Ma quỷ dường như rất thực đối với họ, và họ không có khó khăn gì với ý niệm hỏa ngục. Một số người còn trông đợi các phép lạ thời xa xưa sẽ xảy ra ngay trong cuộc đời họ. Tôi nhớ có một mục sư Phi Châu đến thăm nhà thờ mà tôi thường tham dự ở Northern Virginia. Ông nhấn mạnh rằng nhờ ơn Chúa ông đã chữa lành biết bao nhiêu người. Khi một linh mục phó xứ nhìn ông có vẻ nghi ngờ, ông chỉ tay vào cuốn Kinh Thánh và nói, "Này bạn, đó là sự khác biệt lớn lao giữa bạn và tôi. Bạn thấy cuốn sách kia không? Chúng tôi tin cuốn sách ấy."

    Kitô Giáo của Thế Giới Thứ Ba này đang đến với chúng ta. Nam Hàn đã trở nên nguồn cung cấp các nhà truyền giáo đứng hàng thứ hai trên thế giới với 12,000 người đang rao giảng khắp nơi. Chỉ có Hoa Kỳ là gửi nhiều các nhà truyền giáo sang nước khác. Có thể chúng ta đang thấy khởi đầu của một sự đảo ngược. Đã có lần các nhà truyền giáo Kitô đến những lục địa xa xôi ở Phi Châu và Á Châu, là nơi các linh mục mặc áo chùng trắng rao giảng Kinh Thánh cho những người da nâu và da đen đang trố mắt nhìn và không hiểu. Trong tương lai, có thể chúng ta sẽ thấy các nhà truyền giáo da đen và da nâu rao giảng Kinh Thánh cho những người da trắng ở Tây Phương đang trố mắt nhìn và không hiểu.

    Chúng ta có thể nghĩ rằng lời rao giảng này sẽ không được đón nhận. Nhưng tôi không chắc. Tờ Washington Post cho biết có 150 nhà thờ ở Đan Mạch và trên 250 ở Anh do người ngoại quốc điều hành như "một phần của khuynh hướng đang lan tràn là các nhà thuyết giáo từ các quốc gia đang phát triển đến với Âu Châu Tây Phương." Stendor Johansen, một thuyền trưởng người Đan Mạch, dường như phản ảnh tình cảm của nhiều người Âu Châu đang gia nhập các giáo phái mới. Ông nói, "Giáo hội Đan Mạch thì chán chường. Tôi cảm thấy có sinh lực khi từ bỏ." Nếu có nhiều người chia sẻ các tình cảm như thế này thì có lẽ sau cùng phong trào tục hóa sẽ bị đảo ngược ngay ở Âu Châu.

    Peter Berger viết về điều mà ông gọi là "huyền thoại tục hóa." Ông muốn nói các luận điệu của phong trào tục hóa giờ đây đã mất tín nhiệm. Thật vậy, nó đã đi theo thần Zeus và Baal. Tác phẩm của Berger đề cập đến các lý do của vấn đề này. Thành thật mà nói, phong trào tục hóa có thể bị đảo ngược ngay ở Âu Châu.

    Berger lý luận rằng sự hiện đại hóa làm cho người ta có nhiều hơn những gì cần thiết nhưng nó cũng tạo ra một khủng hoảng sâu đậm về mục đích trong đời sống hiện đại. Ảnh hưởng của sự hiện đại hóa càng lớn thì sự lo âu của xã hội càng mạnh cũng như sự phấn đấu cho "điều gì hơn nữa". Như Wolfhart Pannenberg có viết, "Văn hóa thế tục tự nó tạo ra một nhu cầu sâm đậm về ý nghĩa cuộc đời và bởi thế cũng có nhu cầu về tôn giáo." Tôn giáo này có thể không phải là tôn giáo cùng một hình thức mà nó tiêm nhiễm ở Nigeria hay Đại Hàn, nhưng nó là tôn giáo truyền thống rất giống vậy, không kém quan trọng khi được thu nhận vào hoàn cảnh mới. Rất có thể là một Kitô Giáo được canh tân có thể thăng tiến đời sống hiện đại bằng sự chấn chỉnh một số thiếu sót và kiềm chế một số quá đáng của hiện đại.

    Tôi thấy điều này rất đúng ngay trong chính đời tôi. Tôi sinh ở Ấn, và tổ tiên của tôi trở lại Kitô Giáo bởi các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha. Vì đây là thời đại của Tòa Thẩm Tra Bồ Đào Nha, một số vũ lực và dùi cui đã được sử dụng. Khi tôi đến Hoa Kỳ với tư cách một sinh viên năm 1978, đạo nghĩa của tôi phần lớn là vì sinh trưởng và thói quen. Nhưng khi tôi lao vào đời sống hiện đại ở Hoa Kỳ, đức tin của tôi từ từ sâu đậm. G.K. Chesterton gọi đó là "cuộc khởi nghĩa tìm về chính thống". Cũng như Chesterton, tôi thấy mình nổi lên chống với chủ nghĩa thế tục cực đoan và tìm thấy trong Kitô Giáo một số câu trả lời cho những lưu tâm thực tiễn và trí thức. Bởi thế tôi biết ơn các vị thẩm tra lạnh lùng vì đã đưa tôi vào quỹ đạo của Kitô Giáo, dù rằng tôi không chắc tổ tiên tôi có cùng một nhiệt huyết như tôi hay không. Sự hăng hái của tôi là một Kitô Hữu ngược dòng văn hóa trong ý nghĩa là nó chống với các xu hướng mạnh mẽ trong văn hóa Tây Phương hiện đại. Tuy vậy nó hoàn toàn hiện đại vì nó đề cập đến các vấn đề và nhu cầu được phát sinh bởi cuộc sống trong văn hóa đó. Tôi không biết làm thế nào mà tôi có thể sống mà không có nó.

    Dù vậy, nói cho cùng, câu chuyện của tôi không đáng quan tâm lắm, và dù Tây Phương có trở lại Kitô Giáo hay không thì cũng vậy. Có lẽ Kitô Hữu ngoài Tây Phương sẽ hoán cải những người Tây Phương không có đức tin, và có lẽ sẽ không phải như vậy. Cách nào đi nữa, họ là tương lai, họ biết điều đó, và bây giờ chúng ta cũng biết như vậy. Kitô Giáo có thể đến dưới một dạng thức khác hơn trong quá khứ của vài thế kỷ qua, nhưng Kitô Giáo sẽ chiến thắng, và chủ nghĩa thế tục sẽ thua. Tương lai thì không thể tiên đoán, nhưng có một chiều hướng dường như rất rõ. Thiên Chúa là tương lai, và chủ thuyết vô thần thì đang trên đà suy thoái.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  2. #2

    Mặc định

    CHƯƠNG 2

    SỰ SỐNG CÒN CỦA ĐIỀU LINH THIÊNG:
    TẠI SAO TÔN GIÁO ĐANG THẮNG LỢI

    "Cường tráng, mạnh khỏe, và vui sướng thì tồn tại và phát triển."
    Charles Darwin, The Origin of Species

    S
    ự phát triển liên tục của tôn giáo trên toàn thế giới không thể lọt qua mắt của những người vô thần có thế lực. Một số những người không có đức tin này, hầu hết theo thuyết Darwin , thẳng thắn bày tỏ sự kinh ngạc trước sự tồn tại mạnh mẽ của tôn giáo. Những người theo thuyết Darwin tin rằng phải có những giải thích có tính cách sinh vật học về lý do tại sao trong mọi nền văn hóa kể từ khi bắt đầu có lịch sử, người ta đã tìm thấy và tiếp tục tìm thấy sự khuây khỏa nơi tôn giáo. Nhà sinh vật học Richard Dawkins thú nhận rằng tôn giáo đề ra "vấn đề nan giải lớn lao cho bất cứ ai suy nghĩ theo đường lối của Darwin ."

    Theo cái nhìn tiến hóa, đây là nan đề. Các học giả như nhà nhân loại học Scott Atran cho rằng niềm tin tôn giáo thì không gì khác hơn là ảo giác. Artran quả quyết rằng niềm tin tôn giáo đòi hỏi phải chấp nhận "những gì sai lạc về vật chất sẽ trở nên đúng" và "những gì đúng về vật chất sẽ trở nên sai lạc." Atran và những người khác tin rằng tôn giáo đòi hỏi một sự ủy thác vào "những thế giới không thể đúng như sự thật." Vậy, câu hỏi được đặt ra là tại sao loài người lại tiến hóa theo một phương cách nào đó để rồi họ tin vào những gì không hiện hữu.

    Triết gia Daniel Dennett phát biểu vấn đề một cách rõ ràng: "Nền tảng để đo lường giá trị tiến hóa là sự phù hợp--khả năng sinh sôi nảy nở thành công hơn đối phương." Nhưng xét theo bề ngoài, tôn giáo dường như vô dụng theo quan điểm tiến hóa này. Nó mất thời giờ và tiền bạc, và nó xui giục các tín đồ hãy hy sinh sự thịnh vượng của mình cho những ích lợi của tha nhân, là những người nhiều khi hoàn toàn xa lạ.

    Các tín đồ xây thánh đường và kim tự tháp mà các cơ sở ấy không được dùng trong công việc gì khác hơn là thờ phượng và chôn cất. Đạo Do Thái xưa sát tế những con bê béo để dâng lên Giavê, và ngày nay họ còn giết cả chiên và gà trên bàn thờ. Các tín đồ đôi khi còn kiêng cữ một vài thức ăn nào đó—đối với người Ấn Giáo con bò thì linh thiêng, và con heo thì xấu xa đối với người Hồi Giáo. Kitô Hữu đóng góp và tặng tiền bạc cho giáo hội. Người Do Thái tuân giữ ngày Sabát, như tín hữu Kitô giữ ngày Chúa Nhật. Tín đồ đọc kinh và đi hành hương. Một số trở thành nhà truyền giáo hoặc hy sinh cuộc đời để phục vụ người khác. Một số sẵn sàng hy sinh tính mạng vì niềm tin tôn giáo.

    Nhà sinh vật học theo thuyết tiến hóa bị lúng túng: tại sao các tạo vật tiến hóa như con người, có khuynh hướng tồn tại và sinh sản, lại thi hành những điều dường như không có liên can và ngay cả độc hại đối với đối tượng? Đây là một câu hỏi hóc búa, không chỉ vì tôn giáo đưa ra một nan đề có tính cách trí thức cho giới Darwin, nhưng cũng vì giới Darwin hy vọng rằng khi giải thích được sự hiện hữu của tôn giáo họ có thể phô bầy các nguồn gốc tự nhiên của tôn giáo và sự hiểu biết về quyền lực siêu nhiên của tôn giáo. Nhà sinh vật học E.O. Wilson viết "chúng ta đi đến một giai đoạn chủ yếu trong lịch sử sinh vật học khi chính tôn giáo phải chịu sự giải thích của các khoa học tự nhiên." Ông bày tỏ sự hy vọng rằng một ngày nào đó không lâu "khía cạnh quyết liệt sau cùng sẽ đến khi ngành khoa học tự nhiên sẽ giải thích được tôn giáo truyền thống, địch thủ chính yếu của nó, như là một hiện tượng hoàn toàn vật chất."

    Cho đến bây giờ, các thuyết tiến hóa này đã có tiến bộ nào khi giải thích về sự thành công của tôn giáo chưa? Dawkins viết, "Nguyên do gần đúng của tôn giáo có thể là tính hiếu động trong một giao điểm đặc biệt nào đó của não bộ." Ông cũng suy đoán rằng "ý tưởng bất tử được tồn tại và lan tràn vì nó nuôi dưỡng mơ tưởng." Nhưng nó không tạo ra ý thức tiến hóa để trí óc phát triển thành những điều tin tưởng khuây khỏa mà hiển nhiên là sai lầm. Tâm lý gia về nhận thức là Steven Pinker giải thích, "Một người đang chết cóng thì không thấy khuây khỏa khi tin rằng mình đang ấm áp. Một người đang đối diện với sư tử thì không an tâm khi tin rằng mình là một con thỏ." Mơ tưởng theo kiểu này sẽ tan biến mau chóng khi chủ thể bị chết cóng và bị ăn thịt.

    Tuy nhiên, giải pháp của chính Pinker thì cũng không khá hơn của Dawkins. Ông đưa ra giả thuyết rằng có lẽ trong não bộ có một "yếu tố Thiên Chúa" khiến người ta tin vào Đấng Toàn Năng. Pinker viết, yếu tố đó có thể không nhằm mục đích sinh tồn nhưng có thể biến hóa thành một phó sản phẩm của các yếu tố khác với giá trị tiến hóa. 8 Kiểu nói này không khác gì thú nhận rằng không thể giải thích theo kiểu Darwin . Nói cho cùng, nếu một "yếu tố Thiên Chúa" tạo ra niềm tin nơi Thiên Chúa, thì "yếu tố Darwin " tạo ra niềm tin nơi sự tiến hóa?

    Tuy vậy, vấn đề được nêu lên bởi giới Darwin thì không phải là điên rồ. Các nhà sinh vật học như Dawkins và Wilson nói rằng tuyệt đối phải có sự giải thích có tính cách tiến hóa và tự nhiên về tính phổ quát và kiên trì của niềm tin tôn giáo, và họ rất đúng. Có sự giải thích như vậy, và tôi rất vui để cung cấp một sự giải thích trong chương này. Mục Sư Randy Alcorn, người sáng lập phái Eternal Perspective Ministries ở Oregon, nhiều khi trình bầy cho khán giả hai câu chuyện tạo dựng và ông hỏi họ vấn đề sự thật của câu chuyện có quan trọng không. Trong câu chuyện thế tục, "Quý vị là hậu duệ của một tế bào nhỏ xíu của một nguyên sinh chất thời xa xưa bị trôi dạt vào một bờ biển trống vắng cách đây ba tỉ rưỡi năm. Quý vị là sản phẩm bất chợt và tùy tiện của thời gian, cơ hội, và các động lực tự nhiên. Quý vị chỉ là một mớ phân tử, một chất kết hợp di truyền. Qúy vị hiện hữu trong một tinh cầu li ti trong một thái dương hệ nhỏ xíu ở một góc vô nghĩa của vũ trụ. Qúy vị thuần tuý chỉ là một thực thể sinh vật học, chỉ khác biệt ở mức độ nhưng thể loại thì không khác gì vi trùng, vi khuẩn. Ngoài thể xác quý vị không có thực chất, và khi chết qúy vị sẽ tuyệt đối ngừng hiện hữu. Nói tóm lại, qúy vị đến từ hư không và không biết sẽ đi về đâu."

    Ngược lại, theo quan điểm Kitô Giáo, "Quý vị là tạo vật đặc biệt của một Thiên Chúa nhân lành và toàn năng. Qúy vị được dựng nên theo hình ảnh của Người, với khả năng suy nghĩ, cảm nhận, và thờ phượng mà nhờ đó cao hơn tất cả các hình thức sự sống khác. Qúy vị khác với loài vật không chỉ ở mức độ nhưng còn ở bản tính. Bản tính của qúy vị không chỉ độc đáo, nhưng chính qúy vị còn độc đáo giữa dòng giống. Đấng Tạo Hóa rất yêu thương qúy vị và rất muốn được bầu bạn với qúy vị và muốn dành được thiện cảm qúy vị đến độ Người đã hoạch định một chương trình tuyệt hảo cho cuộc đời qúy vị. Ngoài ra, Thiên Chúa đã hy sinh mạng sống đứa con duy nhất của Người để quý vị có thể sống vĩnh viễn với Người. Nếu quý vị muốn đón nhận món quà cứu độ, quý vị có thể trở nên con cái Thiên Chúa."

    Bây giờ hãy tưởng tượng ra hai nhóm người—hãy gọi đó bộ lạc thế tục và bộ lạc tôn giáo—với hai quan điểm nói trên. Nhóm nào có vẻ muốn sinh tồn, phát triển và sinh sản? Bộ lạc tôn giáo được hình thành bởi những người có ý thức mạnh mẽ về mục đích. Bộ lạc thế tục gồm những người không biết chắc tại sao họ lại hiện hữu. Bộ lạc tôn giáo bao gồm những người lưu tâm đến từng ý nghĩ và hành động như hậu quả đương nhiên. Bộ lạc thế tục được hợp thành bởi những thể chất mà không thể giải thích được tại sao nó có thể suy nghĩ.

    Các chuyên gia thuyết tiến hóa như Dennett, Dawkins, Pinker, và Wilson liệu có ngạc nhiên khi thấy các bộ lạc tôn giáo phát triển không? Trên toàn thế giới, các nhóm tôn giáo thu hút rất đông tín đồ và người có tôn giáo cho thấy họ rất tin tưởng vào đường lối sinh hoạt của đời sống họ và tin tưởng vào tương lai khi họ sinh sản. Trái lại, các nghị hội người vô thần chỉ thu hút một số ít các linh hồn cay đắng. Một trong những tổ chức vô thần lớn nhất là American Atheists có khoảng 2,500 thành viên. Bạn ném một viên đá vào bãi đậu xe của một đại học ưu tú ở Hoa Kỳ hay Âu Châu, có lẽ hòn đá ấy sẽ trúng được một người vô thần. Nhưng ném viên đá ấy ở bất cứ chỗ nào khác, bạn phải nhắm cho kỹ.

    Điểm quan trọng thì không chỉ là chủ nghĩa vô thần không thể cạnh tranh với tôn giáo trong sự thu hút tín đồ, nhưng còn là lối sống thực tế của người vô thần dường như tạo ra các bộ lạc lờ phờ mà chính họ cũng không muốn sinh sản. Nhà xã hội học Pippa Norris và Ron Inglehart nhận xét rằng nhiều quốc gia giầu có, tục hóa "chỉ sinh sản khoảng một nửa số trẻ em cần thiết để thay thế cho số dân lớn tuổi" trong khi các quốc gia nghèo hơn, ngoan đạo hơn thì "sinh sản gấp đôi hay gấp ba số trẻ em cần thiết để thay thế số dân lớn tuổi." Hậu quả, quá dễ tiên đoán đến độ hầu như người ta gọi đó là quy luật, là "dân có tôn giáo thì gia tăng nhanh, trong khi dân thế tục thì lại thu hẹp."

    Nga là một trong những quốc gia vô thần nhất thế giới, và sự phá thai vượt quá sự sinh sản với tỉ lệ sinh một thì chết hai. Sinh xuất của Nga xuống thấp đến độ quốc gia này đang mất khoảng 700,000 người hàng năm. Nhật Bản, có lẽ là quốc gia trần tục nhất Á Châu, có số dân đang thu hẹp: 130 triệu hiện nay sẽ rút xuống còn 100 triệu trong vài thập niên tới. Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, và Tân Tây Lan cũng thấy mình trong tình trạng khó khăn tương tự.

    Và rồi đó là Âu Châu. Lục địa trần tục nhất của địa cầu thì suy đồi theo nghĩa đen khi dân số của nó đang thu hẹp cách nhanh chóng. Sinh xuất vô cùng thấp ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Cộng Hòa Tiệp, và Thụy Điển. Các quốc gia Tây Âu ngày nay cho thấy mức sinh xuất xuống thấp đến độ kỷ lục, và sinh xuất của Đông Âu thấp tương đương. Các sử gia nhận xét rằng Âu Châu đang đau khổ vì sự sút giảm dân số kể từ khi có trận dịch hạch trong thế kỷ mười bốn, cứ ba người thì một người chết vì bệnh dịch. Thiếu căn tính tôn giáo mạnh mẽ mà trước đây từng được coi là quốc gia Kitô Giáo, Âu Châu vô thần dường như chỉ còn là một nền văn minh dẫy chết. Nietzsche tiên đoán rằng sự suy thoái của Âu Châu sẽ tạo ra một "con người sau cùng" khốn khổ không còn bất cứ mục đích gì khác ngoài việc sống thoải mái và cung cấp sự gian dâm thường xuyên. Vậy thì "con người sau cùng" của Nietzsche đã có đây, và tên của hắn là Sven.

    Erich Kaufman từng nhận xét rằng ở Hoa Kỳ, là nơi mức độ di dân cao đã giúp bù đắp cho sự sa sút của sinh xuất, sinh xuất trong những người có tôn giáo thì hầu như cao gấp đôi so với người thế tục. Chiều hướng này cũng được nhận thấy ở Âu Châu. Điều này có nghĩa là, bởi sự chọn lựa tự nhiên, Tây Phương dường như đang tiến về chiều hướng đạo đức hơn. Chiều hướng này sẽ gia tăng nếu các xã hội Tây Phương tiếp tục du nhập người di dân từ các xã hội đạo đức hơn, dù là tín hữu Kitô Giáo hay Hồi Giáo. Như thế chúng ta có thể mong chờ rằng ngay cả các vùng trần tục nhất của thế giới sẽ trở nên ít trần tục hơn qua thời gian, hoàn toàn nhờ vào sự hợp lý của nhân khẩu học.

    Trong các thập niên trước đây, các học giả cố gắng dùng kinh tế thuần túy để giải thích cho chiều hướng di dân. Ý tưởng chung cho rằng dân số là một yếu tố định đoạt sự sung túc. Các nhà xã hội học nhận xét rằng khi người dân và quốc gia ngày càng giầu hơn, họ có ít con hơn. Có lẽ xã hội sơ khai cần con cái để giúp việc đồng áng, và xã hội giầu sang hơn thì không cần. Người nghèo còn được nghĩ rằng họ có nhiều con hơn vì sinh hoạt tình dục là một trong những phương tiện giải trí duy nhất. Hơn thế nữa, người nghèo thường dốt nát về ngừa thai hay không có phương tiện. Từ quan điểm này, gia đình đông thường được giải thích là một hiện tượng của sự nghèo khổ và dốt nát.

    Sự giải thích có tính cách kinh tế này chỉ đúng một phần, nhưng nó không thấy được toàn cảnh. Nhiều người nghèo có gia đình đông dù họ có thể ngừa thai và phương tiện giải trí; hoá ra họ thường muốn có đông con. Chắc chắn họ trông nhờ vào con cái về phương diện kinh tế, nhưng đàng khác, khi giầu hơn người ta thường có điều kiện để có thêm con cái. Người giầu ở Hoa Kỳ ngày nay có khuynh hướng chỉ có một con hay không có đứa nào, nhưng các gia đình giầu thời xưa thường có ba con hay hơn. Sự khác biệt thực sự không chỉ ở mức độ lợi tức—nhưng chính là vì thời xưa con cái được quý trọng như các quà tặng của Thiên Chúa, và các văn hóa truyền thống vẫn còn coi như vậy.

    Các quốc gia theo Hồi Giáo, với lợi nhuận của dầu hỏa, thì không cách chi được coi là nghèo nhất thế giới, tuy vậy họ có sinh xuất thuộc những quốc gia cao nhất. Những tín hữu đạo đức trong Công Giáo, Do Thái chính thống, Mormon, và Tin Lành thì không phải là những nhóm nghèo nhất ở Hoa Kỳ, tuy vậy họ có gia đình đông. Hiển nhiên yếu tố tôn giáo có vai trò ở đây. Sự sút giảm sinh xuất ở Tây Phương, một cách tổng quát, đáng lưu ý nhất là vì phong trào tục hóa. Động lực tôn giáo để sinh con đã bị giảm bớt rất nhiều, và ngày nay con cái được nhiều người coi là các phương tiện để tự ban thưởng. Nguyên tắc xưa trong Kinh Thánh là "Hãy sinh sôi nẩy nở." Nguyên tắc mới là "có đông con càng nâng cao nếp sống."

    Các nhà tiên đoán kinh tế về sự biến dạng của tôn giáo đã tự minh chứng họ là các tiên tri giả. Tôn giáo không chỉ thịnh vượng, nhưng nó còn phát triển vì giúp người ta thích ứng và tồn tại trong thế giới. Trong cuốn Darwin's Cathedral, tác giả là nhà sinh vật học tiến hóa David Sloan Wilson lý luận rằng tôn giáo cung ứng điều gì đó mà xã hội trần tục không có: một cái nhìn về mục đích siêu việt. Hậu quả là người có tôn giáo vui thích với đời sống, trong một ý nghĩa, trái tự nhiên. Họ cho thấy sự hy vọng về tương lai mà nó vượt quá những điều được cảnh cáo về chiều hướng thế giới. Và họ rèn đúc các quy tắc luân lý và bác ái chỉ để liên kết với nhau hơn, thích ứng hơn, và thành công hơn các nhóm mà phần tử của nó thiếu động lực ràng buộc và phấn khởi.

    Tôi kết luận rằng không phải tôn giáo nhưng chủ thuyết vô thần cần được giải thích theo thuyết của Darwin . Thuyết vô thần thì hơi giống đồng tính luyến ái: người ta không biết nó thích hợp ở chỗ nào trong thuyết lựa chọn tự nhiên. Tại sao thiên nhiên lại chọn những người mà họ luyến ái với người đồng tính, một tiến trình không mang lại ích lợi sản xuất chút nào? Dường như cũng phức tạp tương tự tại sao thiên nhiên lại phát sinh ra một nhóm người mà họ không thấy mục đích cao cả hơn đối với đời sống và với vũ trụ. Đây là chỗ các chuyên gia sinh vật học như Dawkins, Pinker, và Wilson có thể chứng tỏ sự sáng chói. Có lẽ họ có thể xoay ống kính Darwin về chính họ và giúp chúng ta hiểu làm thế nào mà chủ thuyết vô thần lại tồn tại như một vật còn sót lại của thuyết tiến hóa sau thời nguyên thủy xa xưa của loài người.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  3. #3

    Mặc định

    CHƯƠNG 3

    GIỚI VÔ THẦN TẤN CÔNG TÔN GIÁO:
    THIÊN CHÚA KHÔNG VĨ ĐẠI

    B
    ị hoảng sợ bởi sức phát triển tôn giáo trên toàn thế giới, người vô thần Tây Phương ngày nay lên tiếng và tranh đấu nhiều hơn. Điều chúng ta đang chứng kiến ở Hoa Kỳ là phản ứng dữ dội của giới vô thần. Người vô thần nghĩ rằng họ đang chiến thắng, nhưng giờ đây họ nhận thấy rằng, tôn giáo chẳng những âm thầm dẫy chết nhưng lại đang tăng tiến trên toàn cầu. Bởi thế người vô thần đang phản công, họ dùng mọi nguồn tài nguyên có thể để vận động. Đây không phải là một cuộc chiến tôn giáo nhưng là cuộc chiến trên tôn giáo, và nó đã được tuyên bố bởi các người vô thần nổi tiếng Tây Phương, họ đã khởi đầu thái độ thù nghịch.

    Con số thống kê cho thấy dường như số người vô thần ở Hoa Kỳ đang gia tăng. Chương trình "Pluralism Project" ở đại học Harvard cho biết những người không gia nhập tôn giáo giờ đây gần bốn mươi tỉ. Con số đó hầu như chiếm 15 phần trăm dân số, gia tăng từ mức độ dưới 10 phần trăm trong 1990, và như vậy chỉ trong một thập niên đội ngũ vô thần gần gấp đôi. Văn gia khoa học John Horgan rêu rao rằng "chúng tôi có nhiều người không tôn giáo hơn bạn tưởng." Người ta không rõ dữ kiện đó là vì có nhiều người vô thần hay chỉ vì nhiều người có thái độ cởi mở với chủ nghĩa vô thần.

    Người vô thần xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tạo thành bè phái riêng cho chính mình. Có những người theo chủ nghĩa thế tục (secularist), người không tín ngưỡng (nonbeliever), người không tin thần thánh (non-theist), người vô thiên hướng (apatheist), người chống thần thánh (anti-theist), người bất khả tri (agnostic), người hoài nghi (skeptic), người độc lập tư tưởng (free-thinker), và người theo chủ nghĩa nhân văn (humanist). Sự phân biệt tinh tế sẽ nhận thấy sự khác biệt giữa các nhóm này. Trong khi người bất khả tri nói rằng họ không biết Thiên Chúa có hiện hữu hay không thì người thờ ơ tôn giáo nói rằng họ chẳng mấy lưu tâm. Một số nhóm này thực sự không phải vô thần, vì người vô thần là người tuyên bố rằng Thiên Chúa không hiện hữu. Nhưng ngay cả vậy, trên thực tế, họ là người vô thần, bởi vì sự lãnh đạm và thiếu hiểu biết của họ đưa đến thái độ tẩy chay vai trò của Thiên Chúa trong thế giới. Trong sách này tôi sẽ dùng chữ vô thần theo nghĩa rộng để ám chỉ những người từ chối Thiên Chúa và họ sống như thể Người không hiện diện.

    Yếu tố khác biệt của chủ nghĩa vô thần hiện đại là đội ngũ trí thức và sự tự tin luân lý. Trong những năm gần đây, chúng ta thấy ồ ạt sách vô thần, như cuốn "The God Delusion" của Richard Dawkins, "The End of Faith" của Sam Harris, "God: The Failed Hypothesis" của Victor Stenger, và "God is Not Great" của Christopher Hitchens. Các văn gia khác, như E.O. Wilson, Carl Sagan, Daniel Dennett, và Steven Pinker, cũng có nhiều tiểu luận chống tôn giáo và chống Kitô Giáo. Ở Âu Châu, tờ Wall Street Journal cho biết, triết gia Michel Onfray tập hợp lại những người thế tục với cuốn sách bán chạy nhất của ông "Atheist Manifesto", mà nó đề ra "trận chiến sau cùng" chống với các lực lượng Kitô Giáo.

    Chúng ta chưa từng thấy những gì đang thấy hiện nay, đó là điều mà Dawkins quyết đoán là "sự kiêu hãnh vô thần." Các người vô thần nổi tiếng đang ăn mừng lớn. Hai người trong nhóm, là triết gia Hoa Kỳ Daniel Dennett và sinh vật học Anh Richard Dawkins, công bố các bài viết kêu gọi những người không tín ngưỡng hãy bỏ chữ "vô thần," vì theo họ đề nghị, chữ này bao hàm sự tiêu cực. Họ dùng chữ gì? Dennett và Dawkins muốn được gọi là "người sáng chói" (bright). Phải, "người sáng chói", như trong câu "Tôi là người sáng chói." Dawkins định nghĩa một người sáng chói là người tán thành "một quan điểm về thế giới không bị ràng buộc bởi siêu nhiên và thần bí." Theo Dennett, "Những người sáng chói chúng ta không tin vào ma qủy hay người lùn (elf) hay 'Easter Bunny'—hay Thiên Chúa." 6 Điều ngụ ý của Dennett thật hiển nhiên: người sáng chói là người thông minh không tin vào những điều mê tín ngớ ngẩn.

    Những người sáng chói và người thế tục không bị ảnh hưởng trước sự gia tăng tôn giáo trên thế giới. Khi tôi viết một bài đăng trong tờ San Francisco Chronicle để chi tiết hóa sự gia tăng này, tôi nhận được nhiều lá thư phẫn nộ. Một đề tài thấy rõ: sự ngu dốt hay phi lý của người tín hữu. "Lý do mà các bộ lạc tôn giáo gia tăng trên toàn thế giới là vì tin vào những điều không được minh chứng thì dễ hơn là suy nghĩ và đặt vấn đề." "Hầu hết trên thế giới thì nghèo, thiếu giáo dục, và bị khó khăn bởi chiến tranh và bệnh tật. Bởi đó tôi không thấy khuây khỏa nhiều khi những người này tin vào các chuyện thần tiên để làm cho đời sống họ dễ dàng hơn." "Thật bàng hoàng là bất cứ ai với một chút tri giác lại có thể tin vào thần thánh, ma qủy, và yêu tinh. Hèn chi thế giới thật lộn xộn với quá nhiều người không có lý trí." "Thế giới thì đã quá đông người. Do đó nhờ những người vô thần chúng ta mà con số ấy giảm đi. Người nghèo, người tín hữu trong các quốc gia khác dường như đang sinh đẻ như chuột."

    Phải, nghe có chút ngạo mạn, nhưng trong quan điểm của người vô thần và người sáng chói, nó được cho là đúng. Từ lâu người vô thần từng được coi là thiểu số bên lề và kín đáo, giờ đây họ đang đả kích tôn giáo với sự khoái trá lớn lao. Người đoạt giải Nobel là Steven Weinberg viết, "Bất cứ gì mà các khoa học gia chúng ta có thể làm để suy yếu vị thế tôn giáo thì phải được thực hiện và có lẽ đó là sự đóng góp lớn lao nhất của chúng ta cho nền văn minh." Sam Harris trong cuốn "The End of Faith" lên án điều mà ông cho rằng "ảnh hưởng điên rồ của niềm tin tôn giáo." Christopher Hitchen viết, "Mọi tôn giáo và mọi giáo hội đều điên cuồng trong niềm tin nơi sự can thiệp thần thánh, sự cầu bầu thần thánh, hoặc ngay cả sự hiện diện của thần thánh trước hết." Dawkins viết thêm, "Sự xấu xa vĩ đại không được nhắc đến ngay tại trung tâm văn hóa chúng ta là độc thần giáo. Từ một văn bản man rợ thời đồ đồng là Cựu Ước, ba tôn giáo đi ngược với con người đã phát sinh: Do Thái Giáo, Kitô Giáo, và Hồi Giáo."

    Điều gì đã khiến người vô thần tự tin như thế? Câu trả lời ngắn gọn là khoa học. Nhiều người vô thần tin rằng khoa học hiện đại—phương cách nổi tiếng nhất để thu thập kiến thức, kỹ thuật để đem cho chúng ta máy bay và máy điện toán cũng như thuốc kháng sinh—đã chứng minh cho vị thế của người thế tục. Và dường như đa số khoa học gia ở Hoa Kỳ là người vô thần. Chỉ có 40 phần trăm--một thiểu số khá lớn, nhưng vẫn là một thiểu số--tin vào Thiên Chúa. Và trong các thành viên của tổ chức ưu tú "National Academy of Sciences", chỉ có 7 phần trăm khoa học gia có thể được xếp vào hạng người tín hữu. Nói chung, các con số này vẫn giữ nguyên trong vài thập niên, với tỉ lệ người vô thần có gia tăng chút đỉnh.

    Nhưng điều gì của khoa học đã hỗ trợ chủ thuyết vô thần? Trước hết, khoa học dường như hữu hiệu hơn tôn giáo. Carl Sagan viết, "Chúng ta có thể cầu nguyện cho người bị dịch tả, hoặc cứ mười hai giờ đồng hồ cho họ 500 miligam thuốc trụ sinh tetracycline." Trong những trường hợp đó, Sagan nói rõ, ngay cả Kitô Hữu cũng bổ sung cho lời cầu nguyện bằng thuốc tây. Một lý do khác, theo Steven Pinker, đó là "các ngành khoa học hiện đại về vũ trụ, địa chất, sinh vật, và khảo cổ đã khiến cho một người hiểu biết khoa học không thể nào tin rằng câu chuyện tạo dựng trong kinh thánh thực sự đã xảy ra." Trong khi khoa học dựa vào nguyên tắc là "không có gì linh thiêng hơn dữ kiện," Sam Harris buộc tội rằng "thần học bây giờ chỉ hơn một nhánh ngu dốt của con người. Thật vậy, đó là sự ngu dốt với đôi cánh."

    Để đưa ra lập trường của mình, người vô thần thường viện dẫn đến ảnh hưởng cách mạng của Charles Darwin. Trong cuốn "The Blind Watchmaker" Dawkins viết rằng "Darwin làm cho một người vô thần mãn nguyện về trí thức." Ông nói rõ rằng vũ trụ và các tạo vật trong đó cho thấy chứng cớ không thể chối cãi của sự hoạch định. Trước Darwin, không có sự giải thích nào đáng tin cậy cho sự hoạch định đó hơn là đưa ra một người hoạch định. Bởi đó không cách chi người vô thần dính dáng gì đến tính cách đa dạng và phức tạp của đời sống. Nhiều người--kể David Hume theo chủ thuyết hoài nghi--buộc phải nhìn nhận rằng, với các trang bị cần thiết, mỗi một tạo vật được làm cho phù hợp để sinh tồn bởi một loại hữu thể cao đẳng (higher-being) nào đó.

    Dawkins và nhiều người khác nói rằng, thành tích lớn lao của thuyết tiến hóa và sự chọn lựa tự nhiên của Darwin là nó cho thấy làm thế nào mà các tạo vật dường như được hoạch định thì thật ra chúng tiến hóa theo sự thúc đẩy của cơ hội và sự sinh tồn. Bây giờ người vô thần có một cách giải thích khác tại sao cá lại có mang, chim lại có cánh, và tại sao con người lại có bộ óc và cánh tay và buồng phổi. Thật vậy, trong quan điểm vô thần, sự tiến hóa bác bẻ câu chuyện tạo dựng con người trong kinh thánh, cho rằng đó chỉ là một thần thoại thô thiển và cổ xưa. Carl Sagan nhận xét rằng "khi khoa học tiến bộ, dường như ngày càng ít việc của Thiên Chúa làm… Về sau, bất cứ gì chúng ta không thể giải thích được thì đều gán cho Thiên Chúa… Và sau đó ít lâu, chúng ta lại giải thích được, và vì vậy nó không còn trong lãnh vực của Thiên Chúa." Dawkins lý luận rằng trái với những điều rêu rao của tôn giáo, con người chúng ta "là các bộ máy sinh tồn—các phương tiện biểu lộ máy móc được lập trình một cách mù quáng để duy trì các phân tử ích kỷ thường được gọi là 'gene'."

    Trong cuốn "Darwin's Dangerous Idea", Dennett đồng ý rằng các lý thuyết của Darwin là một loại "axít phổ quát" mà nó "ăn xuyên qua mọi quan niệm cổ truyền, và để lại phía sau một quan điểm phổ quát cách mạng" về bản chất con người và vũ trụ. Đặc biệt, Dennett và những người khác giải thích lý thuyết Darwin theo ý nghĩa rằng mọi sự sống có thể hiểu hoàn toàn theo ý nghĩa tự nhiên và vật chất. Con người thì không gì khác hơn là vật thể đang di động. Còn linh hồn? Một sản phẩm của tưởng tượng. Còn sự sống đời sau? Chuyện hoang đường. Còn mục đích con người? Một ảo tưởng.

    Các nhà sinh vật học nổi tiếng giải thích rõ ràng một số điều gợi ý. Như Darwin từng chứng minh rằng sự sống "là kết quả của một tiến trình tự nhiên," Francisco Ayala viết, chúng ta thì "không cần cầu viện đến Đấng Tạo Hóa."19 Trong một luận đề về sự tiến hóa và những quan hệ, William Provine viết, "Khoa học hiện đại trực tiếp hàm ý là không có luân lý cố hữu hay các quy luật đạo đức, không có các quy tắc hướng dẫn tuyệt đối cho xã hội con người … Chúng ta phải kết luận rằng khi chúng ta chết là chúng ta chết, và đó là sự chấm dứt của chúng ta."

    Nhiều khoa học gia vô thần diễn tả con người như một bộ máy có gốc carbon, một vật thể hoàn toàn vật chất mà sự tin tưởng nơi những điều phi vật chất là một loại hiện tượng phụ hay ảo tưởng. Nhà sinh vật học Francis Crick, người giúp khám phá ra cơ cấu DNA, viết rằng mọi sinh vật có thể rút gọn vào các quy tắc về vật lý và hóa học. Sự sống là sản phẩm của các cơ năng cùng một loại với vật thể vô tri giác trong thiên nhiên. Ý thức thì "không gì khác hơn các tác động của một chuỗi tế bào não và các phân tử liên hệ." Nhà sinh vật học E.O. Wilson viết rằng những hoạt động tiềm ẩn của trí óc đem cho chúng ta "ảo tưởng của ý muốn tự do."

    Khoa học gia về nhận thức Steven Pinker nói rõ rằng, trong nhiều thế kỷ, tôn giáo dậy con người tin vào linh hồn bất tử mà nó ngự trong thân xác chúng ta, một loại "ma quái trong bộ máy." Nhưng theo quan điểm của Pinker, khoa học hiện đại đã tiêu hủy niềm tin đó. "Trí tuệ là hoạt động sinh lý của não bộ" và "bộ óc, như các cơ phận khác, được khuôn đúc bởi 'gene'" và những gì được "khuôn đúc bởi sự chọn lựa tự nhiên và các quy trình tiến hóa khác." Do đó, trí tuệ thì không gì khác hơn "một thực thể trong thế giới vật lý, thuộc về một chuỗi nhân quả của các biến cố vật lý." Khi bộ óc suy sụp qua thời gian hay vì bệnh tật, trí tuệ biến mất. Còn linh hồn thì sao? Pinker om xòm tuyên bố rằng "bóng ma trong bộ máy đã bị yểm trừ."

    Thuyết vô thần về khoa học này bắt nguồn từ thời Khai Sáng. Các nhà tư tưởng hàng đầu của thời Khai Sáng, như Voltaire, chống đối giáo sĩ và chống đối tôn giáo hơn là người vô thần. Tuy nhiên, Denis Diderot và Baron d'Holbach đã giới thiệu chủ thuyết vô thần một cách đầy đủ cho dân trí thức ở Âu Châu. Những nhà tư tưởng này coi khoa học như một hình thức vinh dự của kiến thức dựa trên lý trí và sự phê bình và sự thử nghiệm, và họ coi học thuyết tôn giáo như một hình thức ngu dốt bắt nguồn từ chuyện hoang đường, sự ép buộc, và sợ hãi. Như Voltaire viết, "Không có giáo phái nào trong hình học." Đó là vì có những phương pháp minh chứng giúp cho người có đầu óc khoa học đồng ý dựa trên dữ kiện.
    Các chủ thuyết duy vật và tự nhiên hiện đại, đặt nền tảng trong đôi cánh vô thần của thời Khai Sáng, cho rằng vật thể chỉ là thực thể và không có những ảnh hưởng siêu nhiên trong thiên nhiên. Các người vô thần ngày nay dùng các ý tưởng này để hình thành các lý thuyết có ảnh hưởng. Tỉ như, Marx trình bầy tôn giáo như "thuốc phiện của đám đông", một dược chất làm đần độn trí tuệ, để nó không hiểu được các động lực khoa học đang tác động trong lịch sử. Freud, trong cuốn sách của ông "The Future of an Illusion" xuất bản năm 1927, định nghĩa niềm tin nơi Thiên Chúa là một ảo giác an ủi được phát minh bởi loài người để tránh dối diện với thực tại của sự chết. Khi Richard Dawkins xác nhận trong cuốn "The God Delusion" rằng ông có những điều tin tưởng "không vì đọc sách thánh nhưng vì tôi đã nghiên cứu chứng cớ," ông dứt khoát tự đặt mình trong truyền thống của thời Khai Sáng đầy hoài nghi.

    Sự chỉ trích tôn giáo của thời Khai Sáng không chỉ là một chỉ trích về trí thức nhưng còn là một chỉ trích về luân lý. Đây cũng là trường hợp của thuyết vô thần ngày nay, nó bao gồm sự tẩy chay vai trò luân lý của Thiên Chúa trong thế giới cũng như kết án ảnh hưởng xấu của tôn giáo trong lịch sử. Christopher Higgins viết lưu loát về "sự trổi vượt luân lý của thuyết vô thần." Khuôn mặt hàng đầu của loại vô thần này là triết gia Friedrich Nietzche. Nietzche công nhận thuyết tiến hóa của Darwin là đúng, nhưng ông ghê tởm thuyết Darwin về điều mà ông cho là đề cao một loại hung ác đã sống sót trong thiên nhiên qua động lực thô bạo. Thuyết vô thần của Nietzche là một loại phả hệ khác với của Dawkin. Nietzche có lẽ sẽ lấy một giống Darwin của Dawkin như một tiêu chuẩn của loại người đặc biệt thấp và không giầu tưởng tượng thường tìm thấy ở nước Anh. Nietzche cũng quan tâm với sự sống còn của giống mạnh, nhưng đối với ông điều này có nghĩa sự tồn tại văn hóa của một hình thức con người vĩ đại và cao thượng và có óc tưởng tượng sắc sảo. Nietzche định nghĩa loại người cao cấp này là ubermensch, hoặc "thượng-nhân" (over-man).

    Nietzche ghét tôn giáo, và trong tất cả ông ghét Kitô Giáo. Với ông, Kitô Giáo đại diện cho thái độ thù nghịch với đời sống, một sôi sục căm thù của sự hiện hữu được khoác chiếc áo đức tin trong một cuộc đời khác. Nietzche cũng coi Kitô Giáo như một kẻ thù của tự nhiên, vì nó tước đoạt của con người những khao khát chính đáng và thuộc bản năng muốn khuất phục và đè bẹp người thấp kém hơn. Trong quan điểm của Nietzche, Kitô Giáo phát minh ra luân lý như một phương tiện để kiểm soát những người có thế lực trên thế giới và dụ dỗ họ chia sẻ kết quả kỳ tài của mình cho những người kém cỏi hơn. Nói tóm lại, Kitô Giáo là một "nô lệ luân lý" được đề ra cho người tồi tệ, mà đối với Nietzche nó giải thích sự phổ biến rộng lớn của tôn giáo. Thuyết vô thần quý phái của Nietzche ít được công khai hỗ trợ ngày nay, nhưng nhiều đề tài của những bài bút chiến của ông chống với Kitô Giáo vẫn còn ảnh hưởng.

    Một trong những đề tài đó là Thiên Chúa của Kitô Giáo là người chuyên chế. Nietzche chống đối không phải vì sự bạo ngược của Thiên Chúa, nhưng vì Người đại diện cho một loại bạo ngược sai lầm. Nietzche lên án Thiên Chúa của Kitô Giáo vì hạ bệ người cao trọng và nâng cao kẻ thấp kém. Người vô thần hiện đại như Christopher Hitchens cũng khiển trách Thiên Chúa của Kitô Giáo vì "luân lý nhạt nhẽo" của Người. Sự nô lệ và hệ thống gia trưởng thường được đề cập trong lời buộc tội, nhưng lý do phản đối thực sự là sự nghiêm khắc luân lý của đạo đức Kitô Giáo, mà nó đặt ra các giới răn khắt khe và dự báo hỏa ngục cho những ai không tuân theo. Hitchens buộc tội rằng "bốc đồng tôn giáo nằm gần những người độc đoán, nếu không phải là người chuyên chế," và nhất là ông đổ lỗi cho tôn giáo vì sự "dồn nén tình dục." Trong dòng tư duy này, Thiên Chúa bị kết án vì sự tự do, nhất là tự do luân lý không để cho loài người tự thẩm định những gì đúng và những gì sai.

    Chủ đề chính thứ hai của nghị luận vô thần là tội ác của tôn giáo trong lịch sử. Những Thập Tự Chinh, Tòa Thẩm Tra, các cuộc chiến tranh tôn giáo, và các phiên toà xử các phù thủy, tất cả được nổi bật trong bản cáo trạng về luân lý này. Bertrand Russell viết trong cuốn "Why I Am Not A Christian", "Trong các thời đại thường được coi là thời đại đức tin, nhân danh tôn giáo, có đủ loại hung ác thi hành trên đủ mọi người." Trong những năm gần đây, với sự gia tăng của Hồi Giáo cực đoan và khủng bố, người vô thần thường trưng ra bin Laden và các kẻ đồng lõa để cho thấy tôn giáo là một xung lực để bạo động và đàn áp nói chung. Nhà bình luận Wendy Kaminer diễn tả cuộc tấn công ngày 11 tháng Chín như một "khởi xướng dựa trên đức tin." Cuộc Chiến Chống Khủng Bố thường được miêu tả như sự đụng độ vì ganh đua giữa các chủ nghĩa cực đoan, với Kitô Hữu cực đoan ở một phía và Hồi Giáo cực đoan ở phía bên kia. Sam Harris bực dọc rằng "ngay cả hôm nay chúng ta còn giết lẫn nhau chỉ vì tài liệu cổ xưa."

    Với người vô thần, giải pháp là làm suy yếu sức mạnh tôn giáo trên thế giới và đưa tôn giáo ra khỏi phạm vi công cộng để nó không còn ảnh hưởng đến chính sách chung. Trong quan niệm này, một thế giới trần tục sẽ an toàn hơn và hòa bình hơn. Triết gia Richard Rorty công bố niềm tin tôn giáo "nguy hiểm về chính trị" và tuyên bố rằng thuyết vô thần là căn bản thực tế duy nhất cho một "xã hội dân chủ đa nguyên." Các ý tưởng này vang dội khắp nơi trong nền văn hóa Tây Phương ngày nay.

    Người ta có thể nghĩ rằng thuyết vô thần--được dựa trên như hiện nay là tẩy chay hay khước từ Thiên Chúa--sẽ không có một triết thuyết hay quan điểm về thế giới của nó. Về phương diện lịch sử, không thể nào vạch ra được điều gì giống như học thuyết vô thần. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều chủ đề chung mà gộp lại với nhau có thể đưa đến một loại ý thức hệ vô thần. Chúng ta nghe qua về ý thức hệ này khi Dawkins viết về "cảm xúc bàng hoàng mà khoa học có thể đem cho chúng ta" khi "một trong những cảm nghiệm cao nhất mà linh hồn con người có khả năng." Ở đây hầu như một loại tri giác tôn giáo, nhưng được đóng khung trong thuật ngữ trần tục. Hãy để ý đến bản tuyên ngôn tự công bố của Carl Sagan, "Cho đến bây giờ, tốt hơn thì nắm lấy sự thật khó chấp nhận hơn là yên lòng với chuyện hoang đường." Đây là một khẳng định không bởi dữ kiện nhưng bởi quy tắc đạo đức, một quyết tâm thành thật can đảm thay vì mơ tưởng kỳ quặc, một khẳng định về điều mà người ta phải tin và về điều căn bản. Tuy có vẻ kỳ lạ, cách tốt nhất để hiểu về ý thức hệ này là hãy tham khảo nhân vật độc ác nhất trong câu chuyện Kitô Giáo.

    Tên độc ác của Kitô Giáo, Satan, giờ đây trở thành người anh hùng vô thần. Hãy để ý đến cuốn "Paradise Lost" của Milton, Satan được miêu tả như một nhân vật cô đơn, gan dạ, mất hết hy vọng của vũ trụ, bị bỏ rơi với mưu kế của chính mình, lèo lái qua các tầng trời, từ chối không chấp nhận chủ quyền chuyên chế của Thiên Chúa, nổi loạn chống lại án trời, và quyết định bằng tài nguyên của chính mình xây dựng một vương quốc thù nghịch dành hết cho sự hạnh phúc ngay đây và tại lúc này. "Điều tưởng rằng đã mất thì chưa mất tất cả, ý muốn không khuất phục, và nghiên cứu sự trả thù, lòng căm thù bất diệt, và sự can đảm không bao giờ quy phục hay nhượng bộ." Đây là sự độc lập mà các người vô thần thời nay mơ tưởng. Như Rorty viết, "Đó là vấn đề quên đi vĩnh cửu." E.O. Wilson viết, "Chúng ta có thể tự hào là một giống loài bởi vì, khi khám phá rằng chúng ta cô độc, chúng ta nợ thần thánh rất ít."

    Các người vô thần thời nay tự coi mình là những người tiền phong can đảm, đối diện với sự thật về nguồn gốc thấp kém của loài người và họ can đảm chấp nhận sự thật của cái chết. Họ tự nhận là được hướng dẫn không bởi đức tin mù quáng nhưng bởi ngọn lửa sáng chói của lý lẽ (tuy không thể không sai lầm). Họ tìm thấy luân lý không từ những giới răn tự bên ngoài nhưng tự bên trong phát sinh bởi sự tính toán phí tổn và ích lợi. Gạt qua một bên niềm hy vọng vào vĩnh cửu, họ tận tụy với sự thịnh vượng của giống người. Khoa học là châm ngôn của họ, và các thành quả thực tế là các "phép lạ" duy nhất mà họ sẵn sàng tán thành. Đó là một quan điểm gây ấn tượng sâu sắc, và toàn thể cuốn sách này tôi sẽ khảo sát quan điểm ấy một cách thận trọng để xem nó có ý nghĩa gì cho thế giới chúng ta và có thể nào nó phong phú đời sống chúng ta hay không.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  4. #4

    Mặc định

    CHƯƠNG 4

    GIÁO DỤC TRẺ EM SAI LẠC:
    ĐỪNG ĐỂ CHÚNG BỊ ẢNH HƯỞNG CỦA CHA MẸ

    "Đó không phải là hình thức hành hạ trẻ em hay sao khi cho rằng chúng là những người thừa hưởng đức tin khi chúng quá non dại để suy nghĩ về điều đó?."
    Richard Dawkins, The God Delusion

    D
    ường như người vô thần không bằng lòng với sự tự sát văn hóa--họ muốn đem trẻ em theo với họ. Chiến lược của người vô thần có thể diễn tả như thế này: hãy để người có đức tin sinh con đẻ cái, và chúng ta sẽ giáo dục chúng khinh dể đức tin của cha mẹ chúng. Như thế, sự tục hóa tâm trí của người trẻ, như nhiều người nghĩ, là hậu quả không thể tránh của sự học hỏi và trưởng thành. Đúng hơn, đó là sự bố trí của các giáo chức để cổ vũ chương trình chống đối tôn giáo ở mức độ rộng lớn.

    Hãy lưu ý đến một thí dụ hợp thời để xem nó hoạt động như thế nào. Trong những năm gần đây, một số phụ huynh và ban giáo dục lên tiếng yêu cầu rằng các trường công dậy những điều khác hơn sự tiến hóa của Darwin. Các nỗ lực này khuấy động sự phản đối kịch liệt từ giới khoa học và cộng đồng những người không tín ngưỡng. Những người bảo vệ sự tiến hóa lên án phụ huynh và ban giáo dục là đã nhân danh tôn giáo mà làm trì trệ sự thu nhận kiến thức khoa học. Tờ Economist viết bài xã luận rằng, "Hầu như thuyết Darwin có nhiều kẻ thù là vì nó không phù hợp với sự giải thích sách Sáng Thế theo nghĩa đen."

    Điều này có lẽ như vậy, nhưng thuyết Darwin cũng được hỗ trợ với cùng một lý do đó, có phải không? Hãy suy nghĩ cách khác: những người theo Darwin chỉ hỗ trợ khoa học. Nhưng các cuộc nghiên cứu cho thấy giới trẻ ở Hoa Kỳ ngày nay thì không biết gì về khoa học, phần lớn dốt nát về mọi khía cạnh của khoa học. Bao nhiêu em học sinh tốt nghiệp trung học có thể giải thích được ý nghĩa của phương trình nổi tiếng của Einstein? Nhiều người trẻ không có ý niệm gì về sự quang hợp hay định luật của Boyle. Vậy tại sao không có một phong trào chính trị tranh đấu cho việc dậy sự quang hợp? Tại sao ACLU không đệ đơn kiện nhân danh Định Luật Boyle?

    Câu trả lời thật rõ ràng. Với những người bảo vệ thuyết Darwin, tôn giáo là vấn đề. Cũng như một số người chống đối thuyết tiến hóa bởi vì họ tin rằng nó trái với tôn giáo, nhiều người hỗ trợ thuyết này cũng chỉ vì cùng một lý do. Đây là lý do tại sao chúng ta có thuyết Darwin chứ không có thuyết Kepler; chúng ta gặp người theo Darwin chứ không ai tự cho mình là người theo Einstein. Thuyết Darwin đã trở nên một ý thức hệ.

    Phong trào có tổ chức chu đáo để cổ vũ thuyết Darwin và loại trừ những lối giải thích khác là một phần của chương trình giáo dục rộng lớn trong các trường công ngày nay. Tôi để cho những người quán quân của chương trình này diễn tả nó theo ngôn từ của họ. "Đức tin là một trong những điều xấu xa nhất thế giới, có thể so với vi trùng đậu mùa nhưng khó để trừ khử," Richard Dawkins viết. "Tôn giáo có thể đưa dẫn người ta đến sự điên rồ nguy hiểm mà đối với tôi, dường như đức tin là loại bệnh tâm thần." Trong khi Dawkins công nhận là nhiều người tin rằng Thiên Chúa nói với họ hoặc Người đáp lời cầu xin của họ, ông nói rõ rằng "nhiều người của nhà thương điên này có một đức tin không lay chuyển rằng họ là Napoleon… nhưng đây không là lý do mà tất cả chúng ta phải tin họ."

    Nhà bình luận Christopher Hitchens, một người Darwin hăng say, viết rằng, "Làm thế nào để chúng ta biết được có bao nhiêu trẻ em đã bị thương tật về đời sống tâm lý và thể lý bởi sự ép buộc ghi khắc đức tin?" Ông buộc tội, tôn giáo "nuôi hy vọng được thực hành trên các trí tuệ không được bảo vệ và không được khuôn đúc của giới trẻ." Ông tiếc nuối kết luận, "Nếu sự giáo dục tôn giáo không được cho phép cho đến khi đứa trẻ đến tuổi khôn, hẳn chúng ta đã sống trong một thế giới hoàn toàn khác biệt."

    Nếu tôn giáo quá xấu, phải thi hành điều gì với tôn giáo chứ? Nó phải bị tẩy trừ. Theo Sam Harris, niềm tin nơi Kitô Giáo thì giống như niềm tin nơi sự nô lệ. "Tôi sẽ là người đầu tiên thú nhận rằng triển vọng tẩy xoá tôn giáo trong thời đại chúng ta dường như không kết quả. Cũng không khác gì các nỗ lực để tẩy xóa sự nô lệ vào cuối thế kỷ mười tám."

    Nhưng làm thế nào để tiêu diệt tôn giáo? Các nhà giáo dục vô thần có câu trả lời ngắn gọn: qua sức mạnh của khoa học. "Cá nhân tôi cảm thấy rằng việc giảng dậy môn khoa học cận đại là sự sói mòn đức tin tôn giáo, và tôi hết sức ủng hộ," nhà vật lý học Steven Weinberg viết. Nếu các khoa học gia có thể tiêu diệt ảnh hưởng của tôn giáo nơi người trẻ, "thì tôi nghĩ rằng có lẽ đó là sự góp phần quan trọng nhất mà chúng ta đã thực hiện."

    Một phương cách mà khoa học có thể làm suy yếu tính cách đáng tin cậy của tôn giáo, theo nhà sinh vật học E.O. Wilson, là cho thấy rằng trí tuệ chỉ là sản phẩm của sự tiến hóa, và sự tự do chọn lựa về luân lý chỉ là ảo giác. "Nếu tôn giáo… có thể bị phân tích và giải thích có phương pháp như một sản phẩm của sự tiến hóa của não bộ, sức mạnh của tôn giáo như một nguồn đạo lý ở ngoài sẽ bị biến mất."

    Bởi xoá bỏ mọi chân lý siêu việt hay siêu nhiên, khoa học có thể tự củng cố như nguồn chân lý duy nhất, lối duy nhất của chúng ta đến với thực tại. Tính khách quan của sự giáo dục khoa học, theo nhà sinh vật học Richard Lewontin, "thì không phải là cung ứng cho công chúng kiến thức về khoảng cách tinh tú và làm bằng 'gene' nào." Đúng ra, "vấn đề là giúp họ loại bỏ những giải thích có tính cách siêu nhiên và phi lý về thế giới, những ma quái hiện diện chỉ trong trí tưởng tượng của họ, và chấp nhận một đồ dùng có tính cách xã hội và hiểu biết, là khoa học, như điều duy nhất phát sinh ra chân lý."

    Vậy, điều gì xảy ra cho tôn giáo? Triết gia Daniel Dennett đề nghị rằng "các tôn giáo truyền thống chắc chắn phải được duy trì, cũng như ngôn ngữ, nghệ thuật, y phục, nghi thức, đền đài. Các sở thú bây giờ không ít thì nhiều được coi nơi trú ẩn hạng hai cho các giống đang bị nguy cơ diệt chủng, nhưng tối thiểu chúng là nơi trú ẩn, và những gì chúng duy trì thì không thể thay thế được."

    Làm thế nào để thực hiện tất cả những điều này? Câu trả lời thật đơn giản: qua sự truyền bá trong các trường. Richard Dawkins vừa mới phát hành một bộ DVD có tên là "Growing Up in the Universe", dựa trên các bài thuyết trình của ông "Royal Institution Christmas Lectures" cho trẻ em. Các bài này cổ vũ nền triết học có tính cách trần tục và tự nhiên của ông về đời sống.

    Daniel Dennett khích lệ rằng các trường hãy dậy về tôn giáo như một hiện tượng thuần túy tự nhiên. Điều này ông muốn nói rằng tôn giáo phải được dậy như thể nó không thật. Dennett lý luận rằng tôn giáo thì giống như môn thể thao hay ung thư, "một hiện tượng con người tổng hợp bởi các biến cố, sinh vật, vật thể, cơ cấu, khuôn khổ." Khi học hỏi tôn giáo theo giả thuyết rằng không có chân lý siêu nhiên nằm đằng sau, Dennett cho rằng người trẻ sẽ đi đến việc chấp nhận tôn giáo như một sáng tạo xã hội không hướng về điều gì cao hơn là hy vọng và khao khát của con người.

    Còn với thuyết vô thần, Sam Harris lý luận rằng nó phải được dậy như chỉ là một nhánh tiếp nối của khoa học và sự hợp lý. "Thuyết vô thần không phải là triết lý. Nó cũng không phải là một quan điểm về thế giới. Nó chỉ là sự thu nạp những gì hiển nhiên… Thuyết vô thần thì không khác gì hơn là những tiếng ồn ào gây ra bởi người có lý trí khi thấy sự hiện diện vô lý của các niềm tin tôn giáo."

    Hãy để ý đến một thí dụ thực tế về hoạt động này. Trong chương trình Cosmos nổi tiếng trên đài PBS, nhà thiên văn học Carl Sagan đề ra một khẩu hiệu đặc biệt "Tất cả vũ trụ chỉ có thế, trước đây cũng vậy, mãi mãi cũng vậy." Điều Sagan muốn nói thật rõ ràng: thiên nhiên là tất cả những gì hiện hữu, và tuyệt đối không có siêu nhiên. Điều này được trình bầy không chỉ là một xác nhận trừu tượng nhưng như một khám phá khoa học có uy quyền.

    Nhưng ít ra điều đó được trình bầy cho người lớn, ai có thể thẩm định giá trị câu nói của Sagan và tự mình quyết định. Không lâu sau đó, học thuyết của Sagan được tìm thấy trong sách giáo khoa trẻ em. Cuốn "The Berenstain Bears' Nature Guide", với các chú gấu dạo chơi trong khu rừng. Đậm nét trên trang bìa với cảnh xinh đẹp là hàng chữ ý thức hệ, ""Tất cả vũ trụ chỉ có thế, trước đây cũng vậy, mãi mãi cũng vậy."

    Ảnh hưởng của mọi sự truyền bá này, những đề cao lý luận vô thần, thì tôn giáo không chỉ biến mất nhưng nó sẽ không còn là vấn đề. Văn gia Jonathan Rauch gọi đây là "apatheism" (vô thiên hướng), mà ông định nghĩa như "một sự miễn cưỡng lưu tâm đến tôn giáo của chính mình, và ngay cả càng chán ghét lưu tâm đến tôn giáo của người khác." Rauch lý luận rằng ngay cả nhiều người tự nhận là tín hữu Kitô ngày nay thực sự là người vô thiên hướng. Ông dám chắc rằng, "Nó không phải là sự suy đồi. Nó là một thành tích." Rauch hy vọng toàn thể văn hóa của chúng ta sẽ đi theo chiều hướng này.

    Nếu siêu nhiên không còn trở nên một chủ thể của lòng sùng bái, điều gì xảy ra cho động lực tôn giáo? Một số nhà giáo dục thuyết phục rằng trẻ em phải được dậy tôn sùng khoa học, mà có thể thay thế tôn giáo như đối tượng của sự sùng kính của con người. Trong một nghị hội về khoa học và tôn giáo năm 2006, Carolyn Porco, một khoa học gia về nghiên cứu tại viện Space Science Institute ở Colorado, khuyên "Chúng ta phải để sự thành công của các công thức tôn giáo hướng dẫn chúng ta. Hãy dậy các em ngay từ khi còn bé về câu chuyện của vũ trụ và sự phong phú cũng như mỹ miều của vũ trụ. Nó đã có quá nhiều điều rực rỡ và kinh hoàng—và ngay cả sự sung túc—hơn bất cứ gì được đưa ra bởi bất cứ sách thánh hay ý niệm Thiên Chúa nào mà tôi biết."

    Dĩ nhiên, phụ huynh--nhất là phụ huynh Kitô Hữu—có thể muốn nói điều gì về tất cả những điều này. Đó là lý do các nhà giáo dục vô thần hiện đang đặt vấn đề là liệu cha mẹ có quyền kiểm soát những gì con cái học hỏi hay không. Dawkins hỏi, "Chúng ta coi trẻ em là sở hữu của cha mẹ đến mức nào? Nói rằng người ta được tự do tin tưởng bất cứ gì họ muốn là một chuyện, nhưng họ có được tự do để áp đặt đức tin lên con cái không? Có cần nói gì để xã hội can thiệp vào không? Còn việc dậy dỗ con cái để chúng tin những điều lầm lạc hiển nhiên thì sao? Đó không phải là hình thức hành hạ trẻ em hay sao khi cho rằng chúng là những người thừa hưởng đức tin khi chúng quá non dại để suy nghĩ về điều đó?"

    Dennett nhận xét rằng, "một số trẻ em được lớn lên trong một nhà tù ý thức hệ như thế mà chúng sẵn sàng trở nên người cai tù chính mình… tự cấm mình không được giao tiếp với bất cứ ý tưởng giải phóng nào mà nó có thể thay đổi tâm trí của chúng." Ông nói thêm, lỗi lầm là ở cha mẹ người nuôi nấng chúng. "Cha mẹ không sở hữu con cái giống như trước đây chủ nhân sở hữu nô lệ, nhưng đúng ra, sự quản lý và giám hộ của họ cũng như người bên ngoài phải chịu trách nhiệm về sự giám hộ chúng, mà nó ám chỉ người bên ngoài có quyền can thiệp vào."

    Trong một bài nói chuyện mới đây, tâm lý gia Nicholas Humphrey lý luận rằng cũng như tổ chức Ân Xá Quốc Tế hoạt động để giải phóng tù nhân chính trị trên thế giới, các giáo chức ngoài đời cũng phải hoạt động để giải thoát trẻ em khỏi sự ảnh hưởng thiệt hại của các điều giảng dậy về tôn giáo của cha mẹ. "Theo đó, cha mẹ không được phép để thay đổi văn hóa của con cái theo bất cứ cách nào họ chọn: không có quyền giới hạn sự hiểu biết của con cái, nuôi dưỡng chúng trong một môi trường của giáo điều và dị đoan, hay nhất quyết chúng phải theo con đường thẳng và hẹp của đức tin mình."

    Triết gia Richard Rorty thuyết phục rằng các giáo sư trần tục trong các đại học phải "sắp đặt thế nào để sinh viên khi đi vào là một người tôn giáo chính thống, tin mù quáng, sợ đồng tính luyến ái sẽ ra khỏi đại học với các quan điểm giống như của chính chúng ta." Rorty nhận định rằng các sinh viên thật may mắn để thấy mình "được dưới sự Herrschaft nhân từ của những người như tôi, và thoát khỏi sự kềm kẹp của cha mẹ đáng sợ, độc ác và nguy hiểm." Thật vậy, cha mẹ gửi con cái vào trường phải biết rằng là các giáo sư "chúng ta sẽ đi ngay vào việc tìm cách giảm uy tín cha mẹ trong ánh mắt con cái, tìm cách lột bỏ phẩm giá của cộng đồng tôn giáo của cha mẹ, tìm cách làm cho các quan điểm của cha mẹ dường như lố bịch hơn là có thể tranh luận."

    Đây là cách nhiều giáo chức trần tục đối xử với các sinh viên có đức tin truyền thống. Chiến lược là không tranh luận với các quan điểm tôn giáo hay chứng minh là sai. Thay vào đó, làm cho họ bị khinh bỉ đến độ bị đẩy ra khỏi các lãnh vực có thể tranh luận. Chiến lược này có hiệu quả bởi vì người trẻ vào đại học với sự hăng hái muốn biết là một người của Harvard hay Stanford có nghĩa gì. Hậu quả là các giáo sư có thể dễ dàng lèo lái họ suy nghĩ theo một phương cách nào đó chỉ bởi làm cho quan điểm đó có vẻ hợp thời và sáng suốt. Tương tự, giáo sư có thể áp lực sinh viên từ bỏ những gì mà cha mẹ họ dậy bảo do bởi chỉ cần gán cho những lập trường đó là giản dị và ngây thơ.

    Một chiến lược phổ thông thứ hai được dùng để cổ vũ thuyết vô thần ở đại học là sinh hoạt tình dục. Một tay quán quân về thuyết bất khả tri nói với tôi, "Để chống với sức mạnh của tôn giáo, chúng tôi dùng đến sức mạnh ngang bằng nếu không muốn nói là lớn hơn--sức mạnh của kích thích tố." Thuyết vô thần được đề cao như một phương tiện để người trẻ tự giải thoát mình khỏi sự ràng buộc luân lý và thoả mãn khao khát của họ. Tôn giáo, trong khung cảnh này, được trình bầy như một hình thức kềm chế tình dục.

    Giờ đây, trong văn hóa Tây Phương, câu chuyện của một người trẻ đi từ thời thơ ấu ngây thơ và đạo đức đến trạng thái nghi ngờ, giải thoát tình dục, và sau cùng một người bất cần đạo lý thì thật phổ thông. Trong khi điều này thường được miêu tả như một hình thức khai sáng và giải phóng, nó cũng tượng trưng cho một sự tấn công tôn giáo và luân lý truyền thống được thúc giục bởi ý thức hệ. Tôn giáo và luân lý hoặc bị loại trừ khỏi sự lưu tâm hoặc bị đối xử với sự khinh miệt hữu lý. Nhà sinh vật học Kenneth Miller, người đã làm chứng bênh vực thuyết bất khả tri trong các phiên toà, thú nhận rằng "trong đời sống đại học, việc thừa nhận thuyết vô thần hay thuyết bất khả tri thì rất phổ thông… Các cuộc họp trong sinh hoạt đại học, hầu như mọi nơi, xoay quanh sự thừa nhận rằng niềm tin tôn giáo là một điều mà người ta từ bỏ khi họ trở nên trí thức."

    Trẻ em dành phần lớn thời giờ ở nhà trường. Cha mẹ đầu tư phần lớn tiền tiết kiệm vào đại học để giao khoán con cái họ cho những người được nghĩ rằng sẽ giáo dục chúng. Đó không phải là tuyệt diệu hay sao khi các nhà giáo dục đã nghĩ ra cách để làm cho cha mẹ trở nên công cụ cho chính những điều họ không làm? Đó không phải là sáng chói hay sao khi họ dẫn dụ các phụ huynh Kitô Giáo cung cấp tài chánh cho sự hủy hoại đức tin và giá trị của chính mình? Ai nói rằng người vô thần thì không khôn ngoan?
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  5. #5

    Mặc định

    CHƯƠNG 5

    CỦA XÊDA TRẢ LẠI CHO XÊDA:
    NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA CHÍNH QUYỀN HẠN CHẾ

    "Kitô giáo chứ không phải điều gì khác là nền tảng cơ bản của sự tự do, lương tâm, nhân quyền và dân chủ, các tiến bộ đáng kể của văn minh Tây Phương. Chúng ta tiếp tục được nuôi dưỡng tự nguồn gốc này." Jurgen Habermas, "A Time of Transition"

    S
    ỗ lực dậy bảo con cái chúng ta phải có thái độ thù nghịch với tôn giáo, và nhất là Kitô Giáo, thì thực sự lạ lùng nếu biết rằng văn minh Tây Phương được xây dựng bởi Kitô Giáo. Vấn đề thì không phải là con em chúng ta biết quá nhiều về Kitô Giáo, nhưng là chúng biết quá ít. Ở Hoa Kỳ chúng ta không có trở ngại về madrassas của Hồi Giáo, là nơi kinh Koran được học hỏi. Đúng hơn, chúng ta sống trong một xã hội ngu dốt về tôn giáo mà trong đó Kinh Thánh ít khi được dậy bảo. Hậu quả là nhiều người ở Hoa Kỳ và Tây Phương không thể kể ra năm điều trong Mười Điều Răn, hoặc biết rằng Sáng Thế Ký là cuốn đầu tiên của Kinh Thánh. Ngay cả ý nghĩa của Ba Ngôi Thiên Chúa cũng không được điểm nào. Một trong mười người Hoa Kỳ hình như họ tin rằng "Joan of Arc" là vợ của ông Noe. Sự ngu dốt kiểu này làm cho nhiều người Tây Phương xa lạ với nền văn minh của chính mình, vì họ không biết văn chương, lịch sử, và triết lý nào đã làm cho Tây Phương trở nên văn minh như ngày nay.

    Còn có loại người thứ hai, trong một phương cách nào đó còn nguy hiểm hơn loại thứ nhất, mà tôi thường chạm trán. Đây là những người nghĩ rằng họ biết về nền móng của văn minh Tây Phương nhưng thực sự lại không biết. Những người này thường là sản phẩm của sự tự giáo dục, hay chỉ đọc lướt qua, hay những lời đồn đại mà họ góp nhặt từ nhiều năm. Họ không đọc Edward Gibbon, nhưng lại thấm nhuần thái độ bài-Kitô Giáo của ông ta. Do đó họ mạnh dạn khẳng định rằng Hy Lạp và Rôma đại diện cho cao điểm của nền văn minh cổ. Họ than thở, thế giới kinh điển sau đó bị tiêu diệt bởi quân man di mọi rợ Kitô Hữu là những người đã nhận chìm thế giới vào Thời Tăm Tối. Họ nói tiếp, may mắn thay nền văn minh được duy trì bởi thời kỳ Phục Hưng mà đó là một sự quay trở về để nghiên cứu kinh điển. Sau đó là thời Khai Sáng, nó đã mở mắt chúng ta để thấy những điều lạ lùng của khoa học hiện đại, của hệ thống thị trường để tạo nên sự thịnh vượng, và dân chủ cận đại.

    Ngay cả những danh từ—"Thời Trung Cổ", "Thời Tăm Tối"—đưa những người này đến các thành kiến. Những chữ như "Phục Hưng" và "Khai Sáng" thường được giải thích mù quáng là những miêu tả tinh thần thời đại theo nghĩa đen. Chúng ta phải nhớ rằng những người sống trong thời Phục Hưng không tự coi mình là nhân vật Phục Hưng. Chữ này là một danh từ của thế kỷ mười chín mà nó được dùng để áp dụng cho thời trước đó.

    Ngoài hai nhóm mà tôi đã nhắc đến—nhóm ngu dốt và nhóm giáo dục nửa vời—chúng ta phải thêm nhóm thứ ba là những người biết rằng Tây Phương có nguồn gốc Kitô Giáo nhưng họ muốn từ bỏ. Khi những người soạn thảo hiến chương của Liên Hiệp Âu Châu để loại trừ bất cứ điều gì dính đến Kitô Giáo ra khỏi gốc gác của Âu Châu, họ đã thi hành điều này bởi vì họ muốn nhấn mạnh đến mức độ mà Âu Châu đã tách rời khỏi quá khứ Kitô Giáo. Như George Weigel viết trong cuốn "The Cube and the Cathedral", chủ nghĩa thế tục hiện giờ là một trong những biểu ngữ mà người Âu Châu hiện đại muốn diễn hành dưới bóng của nó.

    Trong chương này và chương kế tiếp, tôi muốn đánh tan một số thành kiến hiện nay và cho thấy Kitô Giáo chính là nguồn gốc và nền tảng của văn minh Tây Phương. Tôi cũng muốn chứng tỏ rằng Kitô Giáo chịu trách nhiệm cho nhiều giá trị và tổ chức ngoài đời mà người ta quý mến nhất. Kết quả là, sự khao khát muốn từ chối nguồn gốc Kitô Giáo của văn hóa Tây Phương thì không chỉ là một hành vi từ chối lịch sử, nhưng nó còn đưa các ưu tiên luân lý của người thế tục vào tình trạng hiểm nghèo.

    Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc khảo sát xem Kitô Giáo đã hình thành loại cột trụ nền tảng nào cho văn minh Tây Phương. Thực sự, Tây Phương được xây dựng trên hai cột trụ: Athen và Giêrusalem. Nói đến Athen, tôi muốn nói văn minh cổ điển, nền văn minh của Hy Lạp và Rôma trước khi có Kitô Giáo. Nói đến Giêrusalem, tôi muốn nói đến đạo Do Thái và Kitô Giáo. Trong hai chữ này, Giêrusalem thì quan trọng hơn. Athen mà chúng biết và yêu mến thì không thực sự là Athen, nhưng đúng ra nó là Athen được nhìn dưới mắt của Giêrusalem.

    "Chính ở Rôma, vào ngày mười lăm tháng Mười 1764, khi tôi ngồi đăm chiêu ở giữa đống gạch vụn của Thủ Đô, trong khi các thầy tu khổ hạnh đang ngâm nga kinh chiều trong Đền Jupiter, đó là khi trong đầu tôi nảy ra ý tưởng viết về sự suy sụp của thành phố này". Trong cuốn "The Decline and Fall of the Roman Empire", Edward Gibbon kết án Kitô Giáo đã thay thế nền văn minh kinh điển bằng sự man rợ của tôn giáo. Nhưng nền văn minh kinh điển thì tự nó pha trộn với các thói quen man rợ tỉ như thói đồng dâm nam (pederasty) và nô lệ. Hơn thế nữa, tín hữu Kitô không tiêu diệt văn minh La Mã. Người Hun, người Goth, người Vandal, và Visigoth đã làm điều đó. Những người man rợ này, đến từ các vùng ngoại giáo ở phía bắc Âu Châu, tàn phá Rôma mà từ lâu nó đã suy yếu và điêu tàn. May mắn thay, sau cùng họ trở lại Kitô Giáo. Sau một thời gian, chính Kitô Giáo đã văn minh hóa những người thô lỗ này. Kitô Giáo tìm thấy một lục địa mà nó đã từng bị bỏ hoang. "Thời Tăm Tối" là hậu quả của sự điêu tàn và cướp phá của những người man rợ.

    Một cách từ từ và chắc chắn, Kitô Giáo đã chiếm lục địa lạc hậu này và đem cho nó kiến thức và trật tự, sự vững vàng và phẩm giá. Các đan sĩ sao chép và nghiên cứu các bản thảo mà nhờ đó đã duy trì kiến thức của thời cổ xưa này. Trong cuốn "Religion and the Rise of Western Culture", Christopher Dawson cho thấy làm thế nào mà các đan viện đã trở nên các địa điểm thành công và có kiến thức trên toàn Âu Châu. Nơi trước đây từng bị bỏ hoang nay họ làm thành các thôn xóm, sau đó thị xã, và sau cùng các khối thịnh vượng chung và thành phố. Qua nhiều năm, các chiến sĩ man rợ độc ác trở nên hiệp sĩ Kitô Giáo có tác phong, và các lý tưởng về văn minh và phong cách cũng như tình cảm được hình thành mà chúng khuôn đúc xã hội chúng ta ngày nay. Nếu Kitô Giáo không được phát sinh từ Do Thái Giáo, Rodney Stark viết, rất có thể chúng ta vẫn còn sống trong Thời Tăm Tối.

    Kitô Giáo có trách nhiệm về đường lối mà xã hội chúng ta được tổ chức và phương cách chúng ta sống hiện thời. Kitô Giáo góp phần quá nhiều vào hệ thống luật lệ, kinh tế, chính trị, nghệ thuật, lịch, ngày lễ của chúng ta, cũng như các ưu thế về luân lý và văn hóa mà sử gia J.M. Roberts viết trong cuốn The Triumph of the West rằng "Không ai trong chúng ta ngày nay có thể trở nên như bây giờ nếu một nhóm người Do Thái cách đây gần hai ngàn năm đã không tin rằng họ được biết đến một bậc thầy vĩ đại, từng thấy ngài bị đóng đinh, bị chết, bị mai táng, và sau đó sống lại."

    Hãy nghĩ đến nghệ thuật Tây Phương. Bạn đã đến Đền Sistine chưa? Đã thấy bức tượng Pietà của Michelangelo chưa? Bức Last Supper của Leonardo da Vinci? Có lẽ bạn quen thuộc với bức Christ at Emmaus hay bức Simeon in the Temple của Rembrandt. Ở Venice bạn có thể thấy các bích họa tuyệt vời của Veronese, Titian, và Tintoretto. Âm nhạc Tây Phương sẽ thế nào nếu không có bản Messiah của Handel, bản Requiem của Mozart, và hàng loạt sáng tác của Johann Sebastian Bach? Nếu bạn chưa bao giờ thì hãy đặt chân vào một trong những vương cung thánh đường vĩ đại kiểu Gothic và nhìn ngắm những gì mà các thợ xây cất vô danh đã thực hiện với đá và kính. Làm thế nào có thể mường tượng được văn chương Tây Phương mà không có Dante, Milton , và Shakespeare? Điều tôi muốn nói thì không chỉ tất cả các đại nghệ sĩ này là Kitô Hữu. Đúng hơn, đó là, các công trình vĩ đại của họ sẽ không được thực hiện nếu không có Kitô Giáo. Liệu rằng họ sẽ tạo thành các công trình vĩ đại khác không? Chúng ta không biết. Điều chúng ta biết là Kitô Giáo đã đem lại những đường nét độc đáo cho thiên tài của họ. Không đâu có sự hứng khởi con người quá cao hay rung động tâm hồn quá sâu đậm hơn là các công trình về nghệ thuật, kiến trúc, văn chương và âm nhạc có sắc thái Kitô Giáo.

    Ngay cả các nghệ nhân tẩy chay Kitô Giáo cũng hoàn thành các tác phẩm mà chắc chắn được khuôn đúc bởi các chủ đề của Kitô Giáo. Ông Goethe là một loại người phiếm thần, họ coi Thiên Chúa không khác gì với thiên nhiên, tuy nhiên tác phẩm Faust của ông là một chuyện ngụ ngôn thâm thúy xuất phát từ các đề tài đau khổ, biến đổi và cứu chuộc của Kitô Giáo. Những người vô thần và theo chủ thuyết hoài nghi nổi tiếng--tỉ như Voltaire và Nietzsche—thì không thể hiểu được nếu không có Kitô Giáo (Voltaire được giáo dục bởi các linh mục dòng Tên; cha của Nietzsche là một mục sư và tựa đề cuốn tự truyện của ông Ecce Home, có liên hệ đến điều mà Philatô đã nói về Chúa Kitô: "đây là người.")

    Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đọc những cuốn như Freethinkers của Susan Jacoby mà bà tán dương sự kiện rằng chúng ta sống trong một xã hội hầu như hoàn toàn thế tục. Chúng ta thấy Sam Harris nhấn mạnh rằng, phát triển một nền luân lý độc lập với Kitô Giáo hay tôn giáo nói chung là điều rất có thể. Chúng ta đọc Free Inquiry của Theodore Schick Jr. và ông nhấn mạnh rằng các triết gia rất đặc biệt tỉ như John Stuart Mill và John Rawls "từng chứng minh rằng rất có thể có được một nền luân lý tổng quát mà không có Thiên Chúa."

    Ở đây có sự mơ hồ lớn lao. Chúng ta hơi chút mơ hồ khi biết rằng chữ "secular" (thế tục) thì tự nó là một danh từ của Kitô Giáo. Trong đạo Công Giáo, một linh mục gia nhập một cộng đoàn chuyên về chiêm niệm và rút lui khỏi thế gian thì được coi là gia nhập một dòng "tôn giáo", trong khi một linh mục sống trong giáo xứ giữa những người thường thì được coi là linh mục "thế tục." Như chúng ta sẽ thấy, chủ nghĩa thế tục tự nó là một sáng chế của Kitô Giáo. Các giá trị thế tục cũng là sản phẩm của Kitô Giáo, ngay cả khi chúng bị tách biệt khỏi nguồn gốc nguyên thủy.

    Nếu tất cả điều này đúng thì thật sai lầm khi có thành kiến chống với sự nhận biết và giảng dậy về vai trò của Kitô Giáo. Tín hữu cũng như không tín hữu đều phải tôn trọng Kitô Giáo như một phong trào đã tạo nên văn minh của chúng ta. Chúng ta phải qúy trọng di sản Kitô Giáo không chỉ như một vật gia truyền nhưng như một sự hiện diện sống động trong xã hội, và chúng ta phải lo rằng điều gì sẽ xảy ra cho nền văn minh chúng ta nếu Kitô Giáo biến dạng khỏi Tây Phương và tự thiết lập trong các nền văn hóa không phải Tây Phương.

    Thay vì thử thiết lập bản liệt kê các thành quả của Kitô Giáo, tôi sẽ truy nguyên ảnh hưởng của Kitô Giáo ở Tây Phương bằng việc chú trọng đến ba ý tưởng chính. Ý tưởng thứ nhất sẽ được khai triển trong chương này và hai ý tưởng kế tiếp trong các chương tiếp theo. Trước hết tôi để ý đến ý tưởng tách biệt các phạm vi tôn giáo và chính quyền. Tuy ý niêm này ngày càng trở nên mập mờ và bị xuyên tạc trong thời đại chúng ta, ý niệm nguyên thủy thì rất hay. Chúng ta nghĩ rằng sự tách biệt tôn giáo và chính quyền như một ý tưởng của người Hoa Kỳ hay ý tưởng thời Khai Sáng, nhưng trước đó từ lâu nó là một ý tưởng của Kitô Giáo. Đức Kitô dường như là người đầu tiên nghĩ về điều đó. Như chúng ta đọc trong Phúc Âm Mátthêu 22:21, Đức Kitô nói, "Hãy trả lại cho Xêda những gì thuộc về Xêda, và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa."

    Để nhìn thấy tính cách cấp tiến của tư tưởng Đức Kitô, tôi quay về với văn sĩ cổ người La Mã, Celsus, là người thuộc thế kỷ thứ hai đã viết một bài tấn công Kitô Giáo rất có ảnh hưởng. Tài liệu của Celsus đã bị thất lạc, nhưng giáo phụ Origen đã công bố bài phản bác, Contra Celsum, nhờ đó chúng ta có thể thấy lý luận của ông. Trên căn bản, Celsus kết án người tín hữu Kitô là vô thần.

    Ông không đùa. Với người Hy Lạp và La Mã thời xưa, các thần mà người ta phải thờ cúng là các thần của nhà nước. Mỗi một cộng đồng có các thần riêng của mình—đó là thời đại đa thần—và tinh thần ái quốc đòi hỏi một công dân Athen phải dâng cúng cho các thần của Athen và một công dân Rôma phải thần phục các thần của Rôma. Celsus nổi giận, người tín hữu Kitô từ chối thờ các thần của người Rôma. Họ không công nhận hoàng đế La Mã như một vị thần, tuy Xêda đã được Thượng Viện Rôma nâng lên hàng thần thánh. Thay vào đó, tín hữu Kitô nhấn mạnh đến việc thờ phụng một thần bên ngoài, thề trung thành với thần ấy trên cả sự trung thành với nhà nước. Thật là sự phạm thượng! Thật là sự phản quốc!

    Tôi không ám chỉ rằng người Hy Lạp và La Mã xưa thì đặc biệt "đạo đức". Ông Gibbon cho biết các triết gia và viên chức chính phủ có thái độ rất khác biệt với công dân thường về việc đối xử với các thần: "Các kiểu thờ phượng khác nhau được thấy trong thế giới La Mã thì tất cả được nhìn bởi người dân là đúng như nhau, bởi triết gia là sai như nhau, và bởi quan tòa là hữu dụng như nhau." Ngay cả vậy, căn tính tôn giáo trong thế giới xưa thì có sự ràng buộc không thể chia lìa với bộ lạc và cộng đồng của bạn. Bạn không thể là một người Dinka tốt và không thờ các thần của Dinka, dù đó là hòn đá hay tảng đá hay mặt trời. Bạn cũng không thể là một người Rôma tốt và không tán dương các thần của Rôma, dù là Apollo, Bacchus, hay Jupiter.

    Kitô Giáo giới thiệu không chỉ một tôn giáo mới nhưng còn một ý niệm mới về tôn giáo. Cuộc cách mạng văn hóa này ở Tây Phương quá thành công đến độ ngày nay, các phiếm thần xa xưa chỉ còn được thấy trong các tên của hành tinh và trong bảng tử vi những người theo khoa chiêm tinh. Người vô thần không thèm tin vào thần Baal hay Zeus và việc cầu khẩn họ chỉ làm cho mọi tôn giáo nghe có vẻ ngờ nghệch. Mục tiêu thực sự của người vô thần là Thiên Chúa của độc thần giáo, thường là Thiên Chúa của Kitô Giáo.

    Kitô Giáo không phải là đạo độc thần đầu tiên. Có nhiều dấu vết của độc thần giáo trong tôn giáo cổ của người Ba Tư là đạo thờ lửa. Người Ba Tư là tín đồ của đơn nhất thần đạo: dường như họ tin có nhiều thần nhưng chỉ có một thần tối cao quyền thế hơn các thần khác. Người Do Thái là tín đồ độc thần giáo đầu tiên, họ đi theo ý niệm một Thiên Chúa, Đấng hiện thân mọi đức tính và đáng được loài người thờ phượng và tuân phục: "các ngươi không được có thần nào khác ngoài ta." Trong Cựu Ước chúng ta có thể chứng kiến cuộc chiến giữa độc thần giáo Do Thái và khuynh hướng đa thần vẫn còn mạnh mẽ, được thấy trong các tình tiết của người Do Thái thờ thần Baal, Moloch, và bò vàng.

    Kitô Giáo chấp nhận độc thần giáo Do Thái và dẫn giải nó vừa có tính cách hoàn vũ vừa có tính cách cá biệt. Không có chủ nghĩa cá nhân trong Do Thái Giáo của người Israel xa xưa; người Do Thái thờ phượng Giavê như một bộ lạc và như một cộng đồng. Cá nhân người Do Thái không có sự lựa chọn về vấn đề này. Khi ông Môsê từ núi đi xuống và thấy dân Israel thờ bò vàng, ông không nghĩ rằng họ chỉ muốn đi theo một đức tin khác. "Tự do tôn giáo" không được phép ở đây. Thái độ của ông Môsê có chút gay gắt; hoặc đi theo Giavê, Thiên Chúa độc nhất của người Do Thái, hoặc bị giết chết. Một số người không khôn ngoan đã chọn thờ bò vàng, và ông Môsê đã ra lệnh giết tất cả.

    Thiên Chúa trong Cựu Ước là một vị thần hoàn vũ, tuy nhiên cùng lúc dường như Người là Thiên Chúa của một bộ tộc. Người liên hệ chính yếu đến tuyển dân của Người, và kẻ thù của Israel là kẻ thù của Người. Người Do Thái không mong đợi người Ai Cập và Rôma đi theo Thiên Chúa, tuy họ coi Thiên Chúa vượt trên cả các thần của người Ai Cập và La Mã. Do đó, không ngạc nhiên gì khi độc thần giáo của Do Thái nói chung không được coi là mối đe dọa đối với ngoại giáo La Mã. Thật vậy, người La Mã chỉ coi vị thần của người Do Thái là một trong các thần của họ. Do Thái Giáo là một tôn giáo hợp pháp trong đế quốc La Mã; Kitô Giáo thì không, tối thiểu cho đến khi hoàng đế Constantine trở lại Kitô Giáo. Lý do để cấm đoán và bách hại Kitô Giáo là vì người tín hữu Kitô cho rằng Thiên Chúa không chỉ riêng cho họ mà còn cho toàn thế giới.

    Tiềm tàng trong độc thần Kitô Giáo là sự phê bình tính cách đa thần của dân ngoại. Theo người tín hữu Kitô, các thần của Hy Lạp và La Mã là những sáng chế của con người. Hãy nhìn đến các thần ở Homer. Mỗi một người dường như hiện thân một đức tính con người: Aphrodite là nữ thần của đam mê tình dục, Ares là thần của sự xung đột, vân vân. Các thần này cũng có những phù phiếm nhỏ nhen và ghen tương như con người. Các đức tính của họ là các đức tính con người được phóng đại. Như văn sĩ kinh điển Mary Lefkowitz đã viết, "Đời sống của các thần này là một hình thức đời sống con người được lý tưởng hóa cao độ nếu loài người được bất tử, trẻ mãi không già và mạnh mẽ." Thật cay đắng, sự chỉ trích việc sáng chế các thần này, mà chúng dường như có giá trị khi được phát động chống với thuyết đa thần xưa, thì ngày nay lại được nhắm đến việc chống Kitô Giáo. Như Daniel Dennett và Richard Dawkins sẽ đồng ý, người tín hữu Kitô cũng sáng chế ra Thiên Chúa của họ. Nhưng Thiên Chúa Kitô Giáo thì không giống con người chút nào. Người vượt lên trên không gian và thời gian. Người không có thân xác. Người là một bản thể thuần túy tinh thần. Loài người chỉ có thể hiểu lờ mờ về Người, con người phải nhờ đến các hình ảnh và sự loại suy có tính cách nhân hình luận (anthropomorphic).

    Độc thần giáo là một ý tưởng quan trọng lớn lao, nhưng như chúng ta có thể thấy ngày nay người Hồi Giáo giải thích như thế nào, nó là một ý tưởng có thể được dùng để biện minh cho chế độ thần quyền. Khi dùng chữ chế độ thần quyền, tôi không muốn nói sự cai trị của hàng tư tế. Tôi chỉ muốn nói rằng lề luật của Thiên Chúa được nới rộng ra đến mọi lãnh vực của xã hội và đời sống con người. Đây là trường hợp của Do Thái xưa, và đây từng là truyền thống của Hồi Giáo. Tiên tri Môhamét khi còn sống thì vừa là một ngôn sứ vừa là một Xêda, là người nhập nhằng giáo hội với quốc gia. Theo gương của ông, các người cai trị các đế quốc Hồi Giáo, từ Umayyad cho đến Ottaman, tự coi mình là đại diện cho Ala trên mặt đất, có nhiệm vụ thiết lập luật lệ Hồi Giáo trên toàn thế giới và nếu có thể đưa mọi phần đất đặt dưới quyền của thánh luật Hồi Giáo. Sử gia Bernard Lewis viết rằng "Trong Ả Rập cổ điển và trong các ngôn ngữ cổ của Hồi Giáo, không có hai chữ đi liền với nhau như 'giáo dân' và 'giáo hội', 'thiêng liêng' và 'tạm thời', 'trần tục' và 'tôn giáo', bởi vì những chữ này diễn tả một sự phân biệt của Kitô Giáo mà không có sự tương đương trong thế giới Hồi Giáo." Ngay cả ngày nay, ở những quốc gia Hồi Giáo nghiêm khắc như Saudi Arabia chúng ta thấy luật Hồi Giáo (sharia) vượt ra ngoài luật tôn giáo để bao trùm cả luật thương mại, dân luật, và luật về gia đình.

    Trong Kitô Giáo thì không như vậy. Lý do thì đã được nêu rõ trong cuốn nổi tiếng The City of God của Augustine, một giáo phụ. Augustine lý luận rằng trong khi chúng ta còn sống ở mặt đất, tín hữu Kitô cư ngụ trong hai lãnh vực, thành phố dưới đất và thành phố thiên đàng. (Chỉ khi lúc tận thế Thiên Chúa sẽ hội nhập hai lãnh vực thành một vương quốc uy nghi duy nhất do Người cai trị). Công dân Kitô Hữu có bổn phận đối với mỗi một lãnh vực này, nhưng bổn phận không giống nhau. Đúng vậy, người tín hữu Kitô phải hết lòng tận tụy với thành phố trên trời. Nhưng theo sau bổn phận chính yếu này là những kết luận đáng chú ý. Nó có nghĩa rằng thành phố dưới đất không cần phải lưu tâm với vấn đề chung cục hay định mệnh tối hậu của con người. Nó cũng hàm ý rằng những yêu sách của thành phố dưới đất thì có giới hạn, và một lương tâm thiêng liêng trong mỗi một con người bảo vệ họ khỏi sự kiểm soát chính trị, và các vua cũng như hoàng đế, tuy quan trọng, nhưng không thể lấn lướt quyền bính chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa.

    Ở đây chúng ta thấy có manh nha về ý tưởng của một chính quyền hạn chế. Ý tưởng này xuất phát từ nhận thức của Kitô Giáo rằng lãnh vực của nhà cầm quyền thì bị giới hạn và có những hạn chế mà họ không thể vượt ra ngoài. Những giới hạn đó lúc đầu do giáo hội đặt ra để cạnh tranh với nhà nước và thiết lập lãnh vực thẩm quyền cho chính mình. Chúng ta nên nhớ rằng giáo hội không chỉ là một tổ chức thuần túy tinh thần--tổ chức sinh hoạt phụng vụ và ban các bí tích—nhưng còn là một thẩm quyền thế tục, làm chủ các bất động sản và trong một số trường hợp còn có cả quân binh. Trong nhiều thế kỷ, các vua và giáo hội tranh giành nhau về cách phân chia ranh giới giữa hai lãnh vực, nhưng cả hai đồng ý rằng phải có một ranh giới. Bây giờ các vua được thay thế bởi chính phủ dân chủ, nhưng Kitô Giáo vẫn duy trì ý tưởng rằng có một số điều mà ngay cả các chính phủ dân cử cũng không thể kiểm soát.

    Ý tưởng về một chính phủ hạn chế của chúng ta ngày nay được lấy từ quan niệm của Kitô Giáo về sự cách biệt mà nhà nước không có quyền kiểm soát và nới rộng nó để bao trùm toàn thể lãnh vực riêng tư. Đây là sự tinh biệt quan trọng chúng ta thấy ở Tây Phương giữa lãnh vực nhà nước và xã hội. "Xã hội" bao trùm mọi sinh hoạt của người dân, trong khi "nhà nước" ám chỉ một lãnh vực được mô tả rõ rệt về thẩm quyền chính phủ. Nhà nước có thể xâm phạm phần đất mà trước đây thuộc về lãnh vực tư nhân, nhưng không thể chiếm trọn lãnh vực tư nhân. Ngay cả một chính phủ được 99 phần trăm dân chúng tuyển chọn cũng không có quyền nói với 1 phần trăm dân còn lại là họ phải theo đảng Cộng Hòa, chỉ được ăn rau trái, hoặc ngay cả là tín hữu Kitô. Nếu làm như vậy, chính phủ hợp pháp sẽ trở thành chính phủ độc tài, và người dân có quyền chống đối và thay thế.

    Nếu lãnh vực của chính phủ phải được hạn chế thì lãnh vực giáo hội cũng vậy. Như Đức Kitô đã nói, "Vương quốc của tôi không thuộc về thế gian này." Thiên Chúa muốn tự giới hạn lãnh vực cai trị trần thế không phải vì Người bị giới hạn, nhưng vì Người đã trao một phần vương quốc của Người cho nhân loại để quản lý ở trần gian. Ý niệm Kitô Giáo này không chỉ có người Athen và Rôma xưa không thể hiểu mà cả người Israel xưa cũng vậy. Trong khung cảnh mới của thuyết phổ quát Kitô Giáo, cùng một Thiên Chúa cai trị toàn thể vũ trụ, nhưng mỗi một quốc gia có luật lệ và văn hóa riêng cho mình.

    Lãnh vực của Thiên Chúa là lãnh vực của giáo hội. Luật lệ của Thiên Chúa ở đây là tối cao, tuy phải có những người giải thích ở trần thế để có thể hiểu và áp dụng. Ngay cả như vậy, cũng còn một lãnh vực thế tục hoạt động bên ngoài sự kiểm soát của giáo hội. Ở đây chúng ta thấy làm thế nào ý tưởng "thế tục" lại là một sáng tạo của Kitô Giáo.

    Thật quan trọng để biết rằng sự tách biệt giữa hai lãnh vực nhà nước và giáo hội đã có ngay từ khởi đầu Kitô Giáo. Nó không phải là một phát minh hiện đại, tuy trong thời đại ngày nay sự tách biệt này được khoác cho một hình thức mới và có phần nào ác ý. Ở Rôma thời Xêda, các nhà cai trị là hoàng đế, và giáo hội Kitô Giáo là một thiểu số bị bách hại hoàn toàn tách biệt với đế quốc này. Khi Kitô Giáo trở nên tôn giáo chính thức của đế quốc Rôma trong cuối thế kỷ thứ tư, hai lãnh vực này có sự pha trộn nào đó. Nhưng ngay cả vậy, giáo hội chỉ ban phát các bí tích và hoàng đế ban hành và củng cố luật lệ. Ngay cả trong thời kỳ bi thảm Tòa Thẩm Tra Tây Ban Nha, nếu bạn phạm tội lạc giáo bạn sẽ bị giáo hội xét xử, nhưng nếu bạn phạm tội giết người bạn sẽ bị nhà nước xét xử. Do đó trong toàn thể lịch sử Tây Phương, giáo hội và nhà nước hành xử khác nhau dù quyền tài phán chồng chéo lên nhau. Do đó ngày nay ở Tây Phương, chúng ta trố mắt kinh hãi khi thấy chính phủ Hồi Giáo đề nghị xử tử phụ nữ nào từ chối không đeo khăn che mặt như tôn giáo bó buộc, hoặc xử tử bất cứ ai dám bỏ đạo mà theo Kitô Giáo.

    Nhưng kiểu cách này cũng đã xảy ra ở Tây Phương, và không may người vi phạm lại là Kitô Hữu. Khởi sự từ thời Kitô Giáo trở thành tôn giáo chính thức của đế quốc Rôma, kéo dài cho đến thời Tòa Thẩm Tra Tây Ban Nha, và ngay cả cho đến thế kỷ thứ mười bảy, các nhà cầm quyền Kitô Giáo với sự hỗ trợ của các giáo hội đã dùng quyền lực của nhà nước để bắt buộc người khác phải tuân theo tôn giáo chính thống. Cả người Công Giáo cũng như Tin Lành đều phạm tội này. Những người Puritan (Thanh Giáo) rời Anh Quốc đến Hoa Kỳ không phải để trốn tránh sự bách hại của Công Giáo nhưng là sự bách hại của Anh Giáo. Mục đích của họ khi đi tìm đất riêng cho mình thì không phải để cho phép mọi người được tự do tôn giáo nhưng đúng hơn để áp đặt kiểu cách chính thống của mình lên toàn thể xã hội.

    Trong những phương cách nào đó, động lực của những người Kitô Giáo chuyên chế này thì có thể hiểu được. Đôi khi các động lực ấy rất có ý nghĩa. Họ tin rằng mình là những người nắm được chân lý duy nhất, nhưng động lực thúc đẩy họ là hãy lưu tâm đến người khác đi đến mức thái quá, họ sử dụng đến cả nhà tù và cưỡng bức để giành được một người về phía mình. Tuy nhiên, khi làm như vậy, họ đã lầm lẫn giữa Kitô Giáo và thế giới Kitô Giáo. Họ cố gắng thiết lập thành phố trên trời ngay ở dưới đất, đó chính là điều Augustine cảnh cáo, cũng như Đức Kitô đã cảnh cáo trước đó. Hơn thế nữa, họ vi phạm nguyên tắc được Thiên Chúa thiết lập ngay trong Vườn Địa Đàng. Thật dễ dàng để Thiên Chúa ép buộc ADong và Evà phải tuân theo mệnh lệnh của Người, nhưng Thiên Chúa đã không làm. Tuy Người biết họ sẽ chọn sai. Người tôn trọng sự tự do của họ để cho phép họ chọn lựa. Sự tự do thi hành điều tốt lành cũng ám chỉ tự do từ chối điều tốt lành.

    Các nhà tư tưởng hiện đại từ ban đầu như John Locke là các tín hữu Kitô thành thật và thực tế. Họ đã phát minh ý niệm khoan dung tôn giáo không bởi vì họ muốn làm tan biến hay giảm bớt ảnh hưởng của Kitô Giáo, nhưng vì họ thấy loại Kitô Giáo sai lầm đã thống trị xã hội Tây Phương. Những người như Locke rất đúng khi ghê tởm một số lạm dụng xảy ra nhân danh Kitô Giáo. Do đó, vì vấn nạn Kitô Giáo này—chia cắt và tranh giành—họ đề ra một giải pháp Kitô Giáo: tự do tôn giáo. Ý tưởng này được hình thành qua nhiều giai đoạn, giai đoạn đầu tiên là khoan dung tôn giáo. Chữ khoan dung có xuất xứ từ tiếng Latinh có nghĩa "chịu đựng," và khoan dung có nghĩa "kiên nhẫn chịu đựng." Sự khoan dung bao gồm mầm mống bất đồng và ngay cả khinh miệt: Tôi dung thứ bạn bởi vì tuy tôi tin là bạn sai lầm, tôi sẽ chịu đựng bạn và để bạn cố chấp trong sự lầm lạc của bạn. Sự khoan dung của Locke ảnh hưởng đến hầu hết các giáo phái Tin Lành nhưng không ảnh hưởng đến Công Giáo.

    Những người sáng lập quốc gia Hoa Kỳ nới rộng ý niệm khoan dung và tạo thành một ý tưởng táo bạo mới mẻ mà Âu Châu chưa biết: sự tự do lương tâm. Văn kiện "Peace of Westphalia" (1648) đề ra một quy luật thực tiễn là tôn giáo của người cầm quyền trở nên tôn giáo của nhà nước. Nhưng đây chỉ là một giải pháp thỏa hiệp nhắm đến việc chấm dứt sự cãi cọ vô tận giữa nhiều giáo phái Kitô khác nhau. Trong một số phương cách nào đó, "sự tách biệt giữa giáo hội và nhà nước" cũng được hình thành ở Hoa Kỳ với cùng một lý do. Có một vài giáo phái muốn thống trị và áp đặt tôn giáo của họ thành luật, nhưng không có giáo phái nào mạnh đủ để thi hành điều đó ở mọi nơi. Những người Thanh Giáo chiếm ưu thế ở Massachusetts, nhưng người Anh Giáo lại là đa số ở Virginia, và cũng có một số Công Giáo đáng kể ở Maryland. Sau cùng nhiều nhóm đồng ý là để chính phủ ra ngoài tôn giáo. Điều khoản thiết lập Tu Chính Án Đầu Tiên được thông qua phần lớn là nhờ sự hỗ trợ của Kitô Hữu. Như John Courtney Murray đã nói, đó không phải là một điều khoản tôn giáo, nhưng một điều khoản hòa bình.

    Đặc điểm của các nhà sáng lập Hoa Kỳ là họ vượt lên trên sự khoan dung để nhấn mạnh rằng chính phủ trung ương phải hoàn toàn đứng ngoài vấn đề thần học. Bất kể tính cách mới lạ của nó, ý tưởng này là một khái niệm hết sức Kitô Giáo. Phần lớn những người sáng lập là tín hữu Kitô đạo đức, tuy một số trong nhóm, tỉ như Thomas Jefferson, là người Deist (hữu thần giáo). Nhưng dù họ có biết hay không, họ đang theo quy tắc của Đức Kitô là giữ cho các lãnh vực của Xêda và Thiên Chúa tách biệt nhau. Không cách chi các nhà sáng lập từ chối các nền tảng Kitô Giáo của quá khứ nước Hoa Kỳ. Ngay cả Jefferson, có lẽ là người ít đạo đức nhất trong nhóm, lý luận rằng chính đức tin tôn giáo là nền tảng cho chính sự tự do: "Và có thể nào những sự tự do của một quốc gia được nghĩ là an toàn khi chúng ta lấy đi nền tảng duy nhất bền bỉ của chúng, một sự tin tưởng trong tâm trí người dân rằng những tự do này là quà tặng của Thiên Chúa? Rằng có thể nào những sự tự do ấy bị vi phạm mà Người không nổi giận?" Sau cuộc Cách Mạng, các nhà sáng lập tiếp tục duy trì những ngày cầu nguyện công cộng, chỉ định vị tuyên úy cho Quốc Hội và các lực lượng quân sự, và đề cao các giá trị tôn giáo trong các trường thuộc Northwest Territory.

    Họ cũng không tìm cách biệt lập chính phủ trung ương với phạm vi luân lý. Không có "bức tường ngăn cách" thiết lập ở đây. Trái lại, các nhà sáng lập tin rằng luân lý là điều không thể thiếu cho hình thức mới của chính phủ nếu muốn thành công. Hầu hết họ chia sẻ quan điểm của George Washington như được bày tỏ trong bài diễn văn từ giã: "Chúng ta hãy cẩn thận ấp ủ giả thuyết rằng có thể duy trì luân lý mà không cần đến tôn giáo." John Adams còn đi xa hơn nữa: "Hiến Pháp của chúng ta được thiết lập chỉ cho một dân tộc có luân lý và tôn giáo." Đồng thời, các nhà sáng lập nhận biết rằng những khác biệt có tính cách thần học thì thuộc phạm vi mặc khải và vì vậy không phải là một chủ đề thích hợp cho cuộc tranh luận dân chủ. Họ tìm cách loại bỏ những khác biệt thần học chính là để có thể bất đồng khi tranh luận về vấn đề luân lý, và vì vậy luật lệ có thể phản ảnh cảm thức luân lý phổ thông của người dân.

    Khi đến thăm Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ mười chín, Alexis de Tocqueville nhận xét rằng "các giáo phái ở Hoa Kỳ thì nhiều vô kể," tuy vậy "mọi giáo phái giảng dậy cùng một quy tắc luân lý nhân danh Thiên Chúa." Tocqueville cho là tôn giáo đứng hàng đầu các tổ chức chính trị ở Hoa Kỳ, điều đó có nghĩa nó có ảnh hưởng sâu đậm đến quần chúng trong sự điều hòa luân lý và còn hơn thế nữa trong toàn thể xã hội. Và ông thấy Kitô Giáo ngăn chặn bản năng tự nhiên con người là ích kỷ và tham vọng bằng cách nêu cao lý tưởng bác ái và tận tụy với hạnh phúc của tha nhân.

    Các tòa án ngày nay đã sai lầm giải thích sự tách biệt giữa giáo hội và nhà nước có nghĩa rằng tôn giáo không còn chỗ đứng nơi công cộng, hoặc không được phép dùng điều luân lý xuất phát từ tôn giáo để khuôn đúc luật lệ của chúng ta. Bằng cách nào đó sự tự do để bày tỏ tôn giáo trở nên sự tự do tách biệt khỏi những bày tỏ tôn giáo. Những người thế tục muốn quét sạch tôn giáo và luân lý có nền tảng tôn giáo ra khỏi công cộng để họ có thể giữ độc quyền chia sẻ quan điểm riêng của họ cho xã hội. Trong tiến trình này, họ biến các tín đồ trở thành công dân hạng hai. Đây là sự bóp méo ghê gớm một ý tưởng cao qúy mà đó cũng chính là ý tưởng của Kitô Giáo. Sự tách biệt giữa các lãnh vực không phải là một vũ khí chống với Kitô Giáo; đúng ra, nó là một dụng cụ được Kitô Giáo cung cấp để đề cao hòa bình xã hội, tự do tôn giáo, và một cộng đồng có luân lý. Nếu chúng ta tái khám phá ý niệm này với ý nghĩa đích thực của nó, xã hội chúng ta sẽ tốt hơn nhiều.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  6. #6

    Mặc định

    CHƯƠNG 6

    SỰ DỮ MÀ TÔI KHÔNG MUỐN:
    KITÔ GIÁO VÀ CON NGƯỜI LẦM LẠC

    "Với sự thiện mà tôi muốn thì tôi không làm, nhưng với sự dữ mà tôi không muốn thì tôi lại làm".
    Thư T. Phaolô gửi tín hữu Rôma 7:19.
    B
    ây giờ tôi muốn khảo sát đặc tính thứ hai của nền văn minh Tây Phương mà nó xuất phát từ Kitô Giáo. Đây là điều mà triết gia Charles Taylor gọi là "sự khẳng định của đời sống hàng ngày." Đó là ý tưởng đơn giản cho rằng một người bình thường thì có thể sai lầm, và tuy vậy con người lại quan trọng. Theo quan điểm này, xã hội phải được tổ chức như thế nào để đáp ứng với nhu cầu hàng ngày của họ, mà nó được nâng lên một loại khuôn khổ tinh thần. Đơn vị gia đình, ý tưởng của một chính phủ hạn chế, ý niệm về luật lệ của Tây Phương, và sự nhấn mạnh đến việc vơi bớt đau khổ, tất cả đều xuất phát từ sự hiểu biết căn bản của Kitô Giáo về phẩm giá của một con người có thể sai lầm.

    Chúng ta hãy khảo sát điều này bằng cách để ý đến hai chủ đề có liên hệ mà chúng phát xuất từ cùng một nguồn Kitô Giáo. Đầu tiên là câu nói của Thánh Phaolô ở trên. Ở đây, trong một câu nói, T. Phaolô đã bác bỏ toàn bộ triết lý truyền thống kinh điển dựa trên Plato. Với Plato, vấn đề sự dữ là một vấn đề của sự hiểu biết. Người ta làm sai vì họ không biết điều gì là phải. Nếu họ biết điều phải, hiển nhiên, họ sẽ thi hành. Nhưng T. Phaolô chối bỏ điều đó. Thánh nhân cho rằng ngay cả khi biết đó là điều sai, người ta vẫn thi hành. Tại sao? Bởi vì ý muốn của con người thì suy đồi. Vấn đề sự dữ không phải là một vấn đề của sự hiểu biết nhưng là một vấn đề của ý chí.

    Tôi cũng muốn chú ý đến việc Kitô Giáo tán dương con người thấp kém, người bình thường, người bị thua thiệt. Nhóm người này không được ưa thích trong thế giới cổ của Hy La. Homer bỏ quên họ trong các thiên sử thi của ông, chỉ hoàn toàn chú trọng đến đời sống của giới cai trị. Những người thấp kém nếu có xuất hiện thì chỉ như tôi tớ. Aristotle cũng có một công việc cho người thấp kém: nô lệ. Aristotle lý luận rằng khi những người thấp kém làm việc phục dịch, người cấp trên sẽ có thời giờ nhàn rỗi để suy nghĩ và tham dự trong việc quản trị cộng đồng. Aristotle qúy mến "người cao trọng" là người kiêu hãnh, đáng kính trọng, giới qúy tộc, giầu sang, và (nếu điều này chưa đủ), luôn có giọng nói trầm hùng và đắn đo.

    Nhưng Đức Giêsu không phải là một người như thế. Người sinh trong một chuồng súc vật và hầu hết cuộc đời Người sống với nghề thợ mộc. Người thường di chuyển bằng đôi chân và thỉnh thoảng đi lừa. Như nhà văn học Erich Auerbach viết, "Đức Kitô không đến như một anh hùng hay ông vua nhưng như một con người của giai cấp thấp kém nhất xã hội. Các môn đệ đầu tiên của Người là ngư phủ và thợ thuyền. Hàng ngày Người đi lại giữa đám dân thấp kém. Người nói chuyện với công chúng và phụ nữ sa đọa, người nghèo, người bệnh tật và trẻ em." Có thể nói thêm rằng Đức Kitô kết thúc thảm hại trên thập giá, bị chết treo như một tội nhân giữa hai tội phạm thực sự.

    Tuy vậy Auerbach nhận xét rằng bất kể nguồn gốc vô danh tiểu tốt, cuộc đời bình thường, và cái chết nhục nhã của Đức Kitô, mọi sự Người làm đều thấm đẫm phẩm giá cao quý nhất và sâu đậm nhất. Với người đánh cá, người Hy Lạp sẽ coi họ như các nhân vật thấp kém trong khi ở Kitô Giáo, họ dính dáng đến các biến cố vô cùng quan trọng cho sự cứu chuộc nhân loại. Sự siêu phàm của Đức Kitô và các môn đệ đã hoàn toàn đảo ngược toàn thể lý tưởng cổ điển. Bỗng dưng sự kiêu hãnh của giới quý tộc bị coi như một điều gì đó diêm dúa và nực cười. Đức Kitô tạo ra sự biến đổi giá trị, trong đó người chót hết trở nên người trên hết, và các giá trị từng bị khinh miệt giờ đây trở nên tiêu biểu cho các lý tưởng cao qúy của con người.

    Charles Taylor nhận xét rằng, như một kết quả của Kitô Giáo, các giá trị mới bắt đầu đi vào thế giới. Lần đầu tiên người ta bắt đầu nhìn xã hội không từ quan điểm của giới quý tộc cao ngạo nhưng từ một người bình thường. Điều này có nghĩa các thể chế không nên chú ý đến các phương tiện mới để giúp giới giầu sang đốt thời giờ nhàn rỗi; đúng hơn, họ phải chú trọng đến phương cách nhằm đem lại cho người bình thường một cuộc đời sung túc và đầy ý nghĩa. Hơn thế nữa, các thể chế kinh tế và chính trị phải được tổ chức theo một phương cách nào đó để các động lực--điều mà Kant gọi là khúc gỗ cong queo của nhân loại—tuy tội lỗi nhưng có thể được hoán chuyển thành các lợi ích cho con người và xã hội.

    Một lãnh vực mà chúng ta thấy có sự thay đổi này là sự quan trọng có tính cách xã hội được ban cho hôn nhân và gia đình. Ngày nay chúng ta đương nhiên cho rằng gia đình là một tổ chức được giao phó cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng con cái. Nhưng trong xã hội Hy Lạp xưa, thật không thể tin được rằng gia đình không được coi là quan trọng. Thật vậy, Plato đề nghị hủy bỏ hôn nhân và gia đình, ông hình dung ra một quốc gia mà trong đó toàn thể công việc sanh đẻ và chăm sóc giới trẻ được giao cho nhà nước.

    Aristotle thì khôn ngoan hơn Plato khi nhận ra nhu cầu của gia đình. Đồng thời ông diễn tả gia đình như một lợi ích của hạ tầng cơ sở. Dĩ nhiên, gia đình thì cần thiết cho một đời sống tốt lành, chỉ như sự cần thiết ăn uống và ngủ nghỉ hàng ngày, nhưng với Aristotle một đời sống hoàn toàn dành cho gia đình thì không phức tạp và cũng không cao qúy. Người Hy Lạp coi gia đình hầu như chỉ là phương tiện sinh sản. Hầu hết hôn nhân đều được xếp đặt, và vợ chồng không ai kỳ vọng là sẽ trở nên hai người bạn. Thật vậy, Aristotle nghĩ rằng phần lớn phụ nữ không có khả năng làm bạn, và chắc chắn ông không kỳ vọng các bà vợ tương quan với các ông chồng trên một phương diện bình đẳng. Tính cách không quan trọng của tình yêu trong xã hội Hy Lạp xưa có thể được minh chứng bằng sự kiện là trong hàng chục vở bi kịch Hy Lạp, không một vở kịch nào có chủ đề là tình yêu.

    "Eros" là một động lực mạnh mẽ trong Hy Lạp xưa, nhưng nó được bày tỏ trong sự đồng tính luyến ái. Sinh hoạt này rất phổ thông ở Athens, đặc biệt người Spartan rất lừng danh về việc này, họ cổ vũ nó trong các thao đường và dùng sự gắn bó đồng tính luyến ái để xây dựng sự liên đới giữa các chiến sĩ trong thời chiến. Sử gia Michael Grant viết rằng những liên hệ tình dục giữa đàn ông và con trai thì "được ưa thích nhiều hơn sự liên hệ đồng tính giữa hai người cùng tuổi." Người La Mã và Hy Lạp cổ xưa cũng xây dựng triết lý giáo dục dựa trên thói đồng dâm nam (pederasty). Như sử gia K.J. Dover diễn tả, người đàn ông luôn luôn đóng vai trò chủ động và con trai thụ động. Toàn thể vấn đề được chấp nhận trong ý nghĩa trao đổi; con trai đồng ý quan hệ dục tình với một người lớn hơn và đổi lại hắn được kiến thức và được giám hộ.

    Chúng ta có thể lo sợ rằng các em trai có thể bị lạm dụng trong sự tương giao như vậy, nhưng người xưa không nghĩ như chúng ta. Nhiều người xưa cảm thấy như Pausanius trong cuốn Symposium của Plato, là người bực dọc vì những quan hệ đồng dâm nam thường không công bằng cho người đàn ông lớn tuổi bởi vì các thanh niên, một khi nhận được sự giám hộ, họ thường tìm đến các phần tử khác cùng tuổi với họ. Chúng ta có thể thán phục những thành quả vĩ đại về triết lý kinh viện, nghệ thuật sân khấu, và thuật quản lý nhà nước của họ, nhưng khi chúng ta phô trương sự "vẻ vang của người Hy Lạp và sự vĩ đại của người La Mã," chúng ta phải nhớ rằng ngày nay, các sinh hoạt tình dục của các nền văn minh này chỉ còn sống động trong các nhà tù và trong ý thức hệ của vài nhóm tỉ như "North American Man/Boy Love Association".

    Trong thời đại Kitô Giáo, thói đồng dâm nam và đồng tính luyến ái được coi là tội lỗi. Kitô Giáo đề cao tình yêu khác giới tính mà nó sẽ làm căn bản cho một sự tương giao độc đáo và lâu dài giữa vợ chồng, có chiều hướng nuôi nấng con cái. Chúng ta coi gia đình là điều quá hiển nhiên—nó vẫn là một lý tưởng mạnh mẽ trong xã hội chúng ta, ngay cả khi đời sống gia đình thực sự không đạt mục đích--đến độ chúng ta quên cả các hoàn cảnh chính yếu mà nó được dựa vào. Các hoàn cảnh này được Kitô Giáo đưa vào xã hội mà nó hoàn toàn xa lạ.

    Trước hết, Kitô Giáo làm cho đời sống gia đình trở nên quan trọng theo một phương cách chưa từng có. Đời sống gia đình không còn lệ thuộc đời sống của thành phố, như Plato và Aristotle nghĩ rằng phải như thế. Thật vậy, lần đầu tiên gia đình được coi như nơi chính yếu để đạt được sự thoả mãn chính yếu của đời sống. Sự thay đổi này bắt đầu bằng việc nâng hôn nhân lên hàng bí tích Công Giáo, đem cho nó uy thế tôn giáo vượt lên trên sự cần thiết của xã hội. Một biến chuyển tương tự được hoàn thành bởi Cải Cách Tin Lành. Người Công Giáo kính trọng linh mục độc thân, theo gương độc thân của Đức Kitô, nhưng Martin Luther chống lại sự giải thích này, ông nhấn mạnh rằng một Kitô Hữu bình thường lấy vợ và có con cũng hoàn tất "ơn gọi" của mình.

    Thứ hai, quốc gia theo Kitô Giáo phát triển một nhận thức mới về tình yêu lãng mạn, mà ngày nay nó là một trong những động lực mạnh mẽ nhất của nền văn minh chúng ta. Trong khi hôn nhân tiếp tục được xếp đặt ở Tây Phương, nhất là trong tầng lớp có thế lực, một lý tưởng mới và khác biệt xuất hiện trong thời Trung Cổ. Đây là ý tưởng về tình yêu làm căn bản cho việc kết hôn và cũng để duy trì hạnh phúc gia đình. Tôi không nói rằng trước thời trung cổ người ta không yêu nhau. Nhưng trước đây, "yêu nhau" được coi là một hình thức điên dại nhẹ nhàng, là một điều không thể và không nên làm căn bản cho hôn nhân lâu dài. Kitô Hữu thời trung cổ bắt đầu hiểu hôn nhân giữa người nam và nữ tương tự như sự tương giao giữa Đức Kitô và giáo hội. Kinh Thánh trình bầy sự tương giao này là say đắm và mật thiết, chắc chắn không giống như loại giao kèo vụ lợi. Do đó Kitô Hữu bắt đầu coi hôn nhân như một tình bạn mật thiết được phấn chấn bởi những đam mê lãng mạn.

    Ngày nay, tình yêu lãng mạn được coi chỉ hơn có cảm giác một chút, nhưng đó chỉ là cái bóng mờ so với ý nghĩa nguyên thủy. Nó được coi là tột điểm của một sự theo đuổi, để đại diện cho các lý tưởng cao cả của sự hy sinh cá nhân và phục vụ người khác. Ý niệm này lúc đầu được giới hạn cho giới qúy tộc, nhưng không lâu nó lan tràn khắp xã hội. Dấu vết đầu tiên của sự lãng mạn—được coi như một giá trị xã hội quan trọng—xuất hiện trong các bài thơ tình phong nhã mà nó nối liền tình ái với tình yêu tinh thần và tập trung vào người phụ nữ xinh đẹp, thường là không có. Loại văn chương khát khao này khơi dậy giấc mơ lãng mạn trong tâm tưởng của Tây Phương.

    Thứ ba, Kitô Giáo đưa vào hôn nhân sự ưng thuận của người nam và người nữ như một điều kiện của hôn nhân. Một lần nữa, ngày nay chúng ta lại coi đó là điều đương nhiên, nhưng bạn chỉ cần đến Á Châu, Phi Châu, hay Trung Đông để thấy người ta thường bị ép buộc phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Tôi lớn lên ở Ấn Độ, là nơi hôn nhân ngay cả ngày nay thường được xếp đặt bởi cha mẹ. Tuy nhiên, ở Tây Phương, kể từ thời tiên khởi Kitô Giáo, đã có hôn nhân bởi sự lựa chọn và đồng ý hỗ tương. Điều này không phát sinh bởi sự "bình đẳng giữa các giới tính." Đúng hơn, nó được phát sinh vì ý tưởng của Kitô Giáo cho rằng mỗi một người đều có người bạn đời mà Thiên Chúa đã dựng nên cho chúng ta. Cảm giác lãng mạn được coi như một hoạt động của linh hồn nhằm dẫn dắt chúng ta đi tìm người bạn đời này. Là con người thì có thể sai lầm, chúng ta có thể sai lầm rất nhiều điều, nhưng chúng ta không thể sai khi cảm nhận về người khác. Đồng thời, Kitô Giáo nhấn mạnh rằng sự tự do lựa chọn cũng phải là sự lựa chọn có tính cách bó buộc. Khi chúng ta đồng ý kết hôn mà không bị ép buộc, chúng ta phải sống lời thề hứa đó và gìn giữ hôn nhân như một cam kết suốt đời.

    Việc nới rộng sự tôn trọng đến người bình thường của Kitô Giáo—trong khi vẫn để ý đến những sai lầm và thiếu sót của con người—có thể thấy được xuất hiện trong các thể chế chính trị mới ở Tây Phương. Các thể chế chính trị này không xuất hiện ở đâu khác trên thế giới, ngay cả trong thế giới cổ của Hy La. Điều thay đổi gì đó trong Tây Phương đã làm phát sinh chúng. Điều gì đó là Kitô Giáo. Hãy để ý đến quan niệm hiện đại về "quy luật". Trong cuốn "Law and Revolution", Harold Berman lý luận rằng hệ thống luật lệ Tây Phương là "phần còn sót lại của các quan điểm và sự thừa nhận tôn giáo mà đầu tiên trên phương diện lịch sử được tìm thấy trong phụng vụ và nghi thức và học thuyết của giáo hội, và sau đó trong các tổ chức và quan niệm và giá trị của luật pháp." Điều này thật đúng, nhưng còn hơn thế nữa.

    Plato nói rằng hình thức luật pháp cao nhất là sự phân định độc đáo. Điều này thật lạ đối với chúng ta, nhưng rất đúng. Hình thức công bằng tốt nhất là ban cho mỗi một người tùy theo giá trị thích hợp với họ. Thí dụ, trong gia đình, bạn không đối xử với con cái giống như nhau bằng cách đặt ra "luật lệ" cho chúng. Bạn thích ứng sự dậy dỗ và điều kiện theo đặc tính cá nhân và hoàn cảnh của chúng. Theo Plato, trong chính trị cũng như vậy. Hình thức cai trị tốt nhất là một chế độ quân chủ nhân từ hay chế độ qúy tộc cai trị bằng sự phân định và ban bố công lý tùy theo trường hợp cá nhân.

    Nhưng bạn không thi hành điều này ở Tây Phương. Hãy để ý đến trường hợp đơn giản của việc lái xe trên xa lộ. Chúng ta đặt ra luật lệ cố định--tỉ như tốc độ giới hạn là bảy mươi dặm một giờ--và rồi bắt phải tuân hành. Tuy nhiên, dường như đó không phải là hệ thống tốt nhất. Một số người lái xe an toàn ở tám mươi dặm một giờ. Một số khác thì lại nguy hiểm cho chính họ và người khác khi lái xe ở vận tốc năm mươi dặm một giờ. Vậy tại sao chúng ta không để nhà cầm quyền quyết định tùy theo từng trường hợp? Câu trả lời đơn giản là chúng ta không tin người cảnh sát thi hành điều này. Chúng ta coi họ là một con người có thể sai lầm, có thể bị ảnh hưởng bởi thành kiến. Thay vào đó, tốt hơn chúng ta cùng sống dưới một luật lệ đồng nhất, được áp dụng cho mọi người.

    Ý tưởng cho rằng quyền hành phải được thận trọng giao phó cho con người lầm lỗi đã trở nên căn bản cho quan niệm tự do hiện nay về luật pháp. Dân chúng chọn chính phủ, nhưng hệ thống Hoa Kỳ áp đặt "sự tách biệt quyền hành" và "cân bằng ngân sách" như một cơ chế nội bộ để giữ cho chính phủ thành thật và có trách nhiệm. Các nhà sáng lập Hoa Kỳ nghĩ ra một cơ cấu cốt để nuôi dưỡng sự ganh đua kinh tế và chính trị nhằm ngăn chặn sự tập trung quyền lực thiếu lành mạnh.

    Kitô Giáo cổ vũ ý thức trách nhiệm chính trị và xã hội bằng cách đưa ra một mô thức mới: sự lãnh đạo phục vụ. Trong thời cổ Hy La, không ai dám mơ tưởng rằng nhà lãnh đạo chính trị là tôi tớ mọi người. Công việc của người lãnh đạo là dẫn đầu. Nhưng Đức Kitô phát minh ra ý niệm rằng phương cách dẫn đầu là phục vụ nhu cầu của người khác, nhất là những người cần được giúp đỡ. Trong Máccô 10:43 trích lời Đức Kitô: "Ai muốn là người lớn trong anh em thì phải là tôi tớ anh em… vì ngay cả Con Người cũng không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ." Và trong Luca 22:27 chúng ta nghe Đức Giêsu nói, "Ai là người lớn hơn, người ngồi bàn hay là người phục vụ? Chẳng phải là người ngồi bàn hay sao? Nhưng Thầy ở giữa anh em như người phục vụ." Trong khung cảnh mới của Kitô Giáo, các nhà lãnh đạo được phê phán qua phương cách họ đáp ứng thế nào với nhu cầu và sự thịnh vượng của người dân. Sau một thời gian, những người trước đây được gọi là "người hầu" hay "người dân" trở thành "khách hàng" và "cử tri". Như một kết quả của lý tưởng mới này, công việc của nhà lãnh đạo chính trị, nhà buôn, và hàng tư tế trở thành sự phục vụ dân chúng qua sự đáp ứng với nhu cầu chính trị, vật chất, và tinh thần của họ.

    Hệ thống tư bản hiện đại phát sinh ở Tây Phương. Với một số người, họ ngạc nhiên khi thấy chủ nghĩa tư bản phát triển quá dễ dàng cùng với đạo đức Kitô Giáo. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã đáp ứng đòi hỏi của Kitô Giáo về một thể chế mà nó chuyển đổi sự ích kỷ của con người sang sự cải tiến xã hội. Một số phê bình gia chỉ trích chủ nghĩa tư bản vì là một hệ thống ích kỷ, nhưng sự ích kỷ thì không nằm trong chủ nghĩa tư bản--nó là bản tính con người. Như Adam Smith đã viết trong cuốn "The Wealth of Nations", ước muốn cải tiến tình trạng của chúng ta "đến từ trong lòng mẹ, và không bao giờ từ bỏ chúng ta cho đến khi chúng ta đi vào nấm mộ." Sự ích kỷ, cũng như dục tính, là một phần của tình trạng con người. Thật tuyệt vọng khi muốn nhổ tận gốc, tuy một số nhà không tưởng đầy nhiệt huyết đã từng cố gắng. Qua nhiều thế kỷ, Kitô Giáo đưa ra một giải pháp tốt đẹp hơn nhiều. Người ta thường trích dẫn Kinh Thánh để cho rằng tiền bạc là nguồn gốc mọi sự dữ, nhưng đoạn Kinh Thánh có liên quan thực sự nói rằng "sự yêu qúy tiền bạc là nguồn gốc mọi sự dữ." Đây là sự lên án thái độ con người đối với của cải, chứ không lên án của cải hay thương mại.

    Ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản là lèo lái sự ích kỷ của con người đến độ, qua bàn tay vô hình của sự cạnh tranh, những năng lực của các nhà tư bản đã tạo thành sự giầu sang mà từ đó toàn thể xã hội được hưởng nhờ. Hơn thế nữa, chủ nghĩa tư bản khích lệ các nhà buôn hãy để ý đến người khác ngay cả khi động lực căn bản của họ là có lợi cho chính mình. Bởi thế, trong khi lợi tức vẫn là mục tiêu tối hậu, các nhà buôn dành thời giờ để suy tính xem cách nào tốt hơn để phục vụ nhu cầu của khách hàng. Họ đang hoạt động một cách vị tha, nếu không cố tình. Người ta có thể nói rằng chủ nghĩa tư bản giáo hóa sự tham lam theo cùng một phương cách như hôn nhân giáo hóa dục tính. Cả hai cơ chế này tìm cách thuần hóa các động lực bướng bỉnh hoặc lụn bại của con người theo những phương cách có lợi cho xã hội.

    Và đối với chủ nghĩa tư bản, văn minh Kitô Giáo đã tạo ra các quy tắc căn bản của nền kinh tế hiện đại. Trong thời Trung Cổ, Rodney Stark cho thấy, lần đầu tiên người ta nhìn nhận giá cả phải được quyết định qua hệ thống cung cầu. Trong quá khứ, giá cả được đặt định bởi luật lệ hay tục lệ. Nhưng Albertus Magnus, một tu sĩ dòng Đa Minh thuộc thế kỷ mười ba, giải thích rằng giá cả phản ảnh "giá trị thực của nó theo sự ước lượng của thị trường vào lúc bán." Và điều này dĩ nhiên là điều chúng ta tin tưởng ngày nay.

    Trong tác phẩm cổ điển "The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism", Max Weber tìm thấy chủ nghĩa tư bản phát sinh từ một tinh thần mời gọi hay tuyển chọn được thuyết Calvin mở đầu. Nhưng như trong trường hợp giá thị trường, các yếu tố căn bản của chủ nghĩa tư bản tất cả đều xuất hiện từ trước thời Cải Cách. Một số học giả tìm thấy các yếu tố này trong các đan viện của thời Kitô Giáo tiên khởi, trong đó các nhóm đan sĩ cho thấy quy cách làm việc, thói quen chuyên biệt hóa và phân chia sức lao động, vay mượn tiền, và tham dự trong việc trao đổi hàng hóa với nhiều loại thực phẩm và các tiện nghi khác được mang đến từ xa. Stark lý luận rằng "tất cả những yếu tố căn bản của chủ nghĩa tư bản… được tìm thấy từ thế kỷ mười hai trở đi, trong các thành phố chế độ cộng hòa của Ý, tỉ như Venice, Genoa, hay Florence."

    Mục đích của tôi ở đây không phải là ổn thỏa vấn đề cho rằng Kitô Hữu là người đầu tiên. Chủ nghĩa tư bản phát triển theo nhiều giai đoạn, mỗi một giai đoạn chịu ảnh hưởng một khía cạnh khác biệt của Kitô Giáo. Khi Francis Bacon và Descartes kêu gọi một hệ thống kỹ thuật mà trong đó con người trở nên chủ nhân và sở hữu chủ thiên nhiên, hai ông đã trình bầy trường hợp của mình theo ý nghĩa khôi phục lại sự phồn thịnh của Vườn Địa Đàng. Khi Locke bảo vệ các quyền tư hữu và mở mang thiên nhiên qua khả năng hiểu biết thực tiễn, ông nhìn thấy con người như một tạo vật thân thiết của Thiên Chúa và vì vậy hành động "theo hình ảnh của Người." Ngay cả ngày nay, chúng ta nghĩ về công việc dưới dạng một "ơn gọi" hay "thiên hướng". Theo sự hiểu biết của Kitô Giáo, chúng ta nhận được khả năng từ Thiên Chúa và dùng khả năng ấy để có ích cho chúng ta, gia đình, và xã hội phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

    Từ chủ nghĩa tư bản và sự thịnh vượng phát sinh một số điều mới: ý tưởng về sự tiến bộ. Đây là nhận thức cho rằng sự vật đang trở nên tốt thì sẽ tiếp tục tốt hơn trong tương lai. Lịch sử được coi như đang di chuyển trên một đường thẳng, tiến lên về phía trước. Trong thế kỷ vừa qua, ý tưởng tiến bộ được thấy thể hiện dưới một số hình thức kỳ lạ và xấu xa, tỉ như "sự tồn tại của điều thích hợp nhất" và "cuộc cách mạng của giới vô sản". Dù có khuyết điểm như hiện nay, lý tưởng tiến bộ vẫn tồn tại, và trong một vài hình thức, giờ đây, nó là một phần của tâm trí hiện đại. Thí dụ, hầu hết chúng ta đều mong mỏi con cái có đời sống tốt đẹp hơn chúng ta. Chúng ta cũng có khuynh hướng tin tưởng vào sự tiến bộ về luân lý. Tỉ như, việc hủy bỏ chế độ nô lệ dường như là một thành công luân lý không thể đảo ngược. Chúng ta hy vọng rằng các thế hệ tương lai sẽ sáng suốt về luân lý hơn chúng ta, chăm sóc địa cầu tốt hơn, và không còn giết các thai nhi.

    Tuy nhiên, đây không phải là kiểu cách mà người Hy La—hay người Trung Hoa và Ấn Độ--nhìn thấy. Hầu hết các nền văn hóa tin rằng lịch sử đi theo đường tròn. Có lúc đi lên thì sẽ có lúc đi xuống. Một cái nhìn khác cho rằng nếu sự việc từng tốt hơn trong quá khứ thì càng đi về quá khứ bao nhiêu, sự việc sẽ càng tốt hơn bấy nhiêu. Nhưng J.B. Bury cho thấy trong cuốn The Idea of Progress, người Tây Phương nghĩ về sự tiến bộ không dưới dạng vòng tròn nhưng mũi tên. Các ý tưởng hiện đại của chúng ta về "phát triển" và "tiến bộ" là một hình thức thế tục của ý tưởng quan phòng của Kitô Giáo.11 Bài tường thuật của Kitô Giáo về lịch sử được Thiên Chúa dẫn dắt từ khi bắt đầu cho đến chấm dứt—câu chuyện sáng thế, nhập thể, và phán xét sau cùng--được hoán chuyển thành câu chuyện tiến bộ của con người. Do đó, qua nỗ lực của con người chúng ta có thể chu toàn một loại đòi hỏi tinh thần là tiếp tục làm cho sự việc tốt đẹp hơn.

    Khía cạnh sau cùng của di sản Kitô Giáo về con người lầm lỗi và sự toại nguyện bình thường cũng phải được nhấn mạnh. Đây là sự chú trọng đặc biệt của văn hóa chúng ta đến lòng trắc ẩn, đến sự giúp đỡ người có nhu cầu, và vơi bớt đau khổ dù ở những nơi xa xôi. Nếu có nạn đói khủng khiếp hay tin tức về sự diệt chủng ở Phi Châu, hầu hết những người ở các văn hóa khác đều dửng dưng. Như ngạn ngữ Trung Hoa có câu, "Nước mắt người lạ chỉ là nước lã." Nhưng ở Tây Phương đây, chúng ta vội vã giúp đỡ. Các chương trình cứu tế lớn lao được thành hình. Ca sĩ Bono phát động chiến dịch gây quỹ. Nhiều khi có cả sự can thiệp quân sự để chấm dứt việc sát hại. Một phần của lý do tại sao chúng ta làm như vậy là vì những thừa nhận của Kitô Giáo. Những người đó cũng là con người như chúng ta. Họ cũng đáng được hạnh phúc. Nếu chúng ta may mắn hơn họ, chúng ta phải thi hành bất cứ gì có thể để cải tiến số phận của họ.

    Người Hy La xưa không tin vào điều này. Họ chủ trương một quan điểm mà nó rất phổ thông trong các nền văn hóa khác ngày nay: đúng vậy, đó là một vấn đề, nhưng không phải vấn đề của chúng ta. Aristotle có quan điểm rất gần với Kitô Giáo, ông viết rằng người cao trọng thực sự giúp đỡ người có nhu cầu. Nhưng trong quan điểm của Aristotle, họ làm như vậy là vì tính hào phóng, để chứng tỏ sự hào hiệp của mình và ngay cả sự ưu việt đối với những người dưới. Giới quý tộc xưa bỏ tiền xây nhà tắm, tượng, và công viên để có tên của mình và chứng tỏ sự qúy phái của dòng họ và sự vĩ đại cá nhân. Đây không phải là quan điểm của Kitô Giáo, vì nó đòi hỏi chúng ta hành động vì lòng trắc ẩn, mà nó có nghĩa "cùng đau khổ với người khác." Chúng ta giúp trẻ em chết đói ở Haiti và Rwanda không vì chúng ta tốt hơn họ nhưng vì tất cả chúng ta đều cùng chung một con tầu. Sự khiêm tốn Kitô Giáo thì rất trái ngược với sự hào hiệp cổ điển.

    Chính tinh thần yêu thương hỗ tương và bác ái chung của Kitô Giáo khiến người ngoại đạo và Rôma phải sửng sốt. Trong thế kỷ thứ tư, hoàng đế Julian, người tìm cách làm sống lại chế độ ngoại giáo, cũng phải công khai thán phục phương cách mà Kitô Hữu chăm sóc người nghèo, người góa bụa và các cô nhi, cũng như người đau yếu và hấp hối. Tuy có vẻ rất mâu thuẫn, những người rất tin vào thế giới đời sau thì lại thi hành nhiều điều để cải tiến tình trạng của những người đang sống trong thế giới bây giờ.

    Ở Tây Phương, Kitô Hữu xây các bệnh viện đầu tiên. Lúc đầu chỉ dành cho Kitô Hữu, nhưng dần dà họ mở cửa cho bất cứ ai, kể cả người Hồi Giáo mà đi vào đất Kitô Giáo chỉ với mục đích xâm chiếm. Ngày nay nhiều bệnh viện mang tên Kitô Giáo—Bệnh Viện Thánh Gioan, Bệnh Xá Thánh Luca, Nhà Thương Methodist, Bệnh Viện Lutheran, và vân vân—và các tổ chức cứu tế tỉ như Salvation Army và Red Cross chịu ảnh hưởng Kitô Giáo, đôi khi rất ít, mà đã giúp thành hình. Tương tư như thế là các tổ chức như Rotary Club, Kiwanis Club, và YMCA, tất cả đều can dự đến các sinh hoạt dân sự và bác ái.

    Kitô Giáo cũng tạo thành nhiều nhân vật vĩ đại, từ "Vincent de Paul" đến Mẹ Têrêsa, người đã dành cả cuộc đời để phục vụ người nghèo và bệnh tật. Không ở bất cứ đâu—trong các tôn giáo khác hay trong xã hội trần thế--chúng ta tìm thấy những điều như vậy. Người ta không phải là một Kitô Hữu hay ngay cả một tín đồ để nhận thực rằng chính niềm tin ở Tây Phương này đã hoàn thành những điều không thể ngờ nhằm thăng tiến đời sống con người và giảm bớt đau khổ cho nhân loại.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  7. #7

    Mặc định

    CHƯƠNG 7

    ĐƯỢC DỰNG NÊN BÌNH ĐẲNG:
    NGUỒN GỐC PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

    "Một ý niệm khác của Kitô Giáo, không kém điên rồ: ý niệm về sự bình đẳng của các linh hồn trước Thiên Chúa. Ý niệm này cung cấp một khuôn mẫu cho tất cả các lý thuyết về quyền bình đẳng."
    Friedrich Nietzsche, The Will to Power

    T
    rong những chương trước đây tôi đã thảo luận về việc tại sao Kitô Giáo lại là nguyên nhân gây ra các ý tưởng và thể chế quan trọng mà ngày nay vẫn còn chủ yếu trong đời sống chúng ta. Dĩ nhiên, không phải tất cả những đổi mới này đều được mọi người qúy trọng. Một số người chống đối Kitô Giáo chỉ vì nó đã đem cho chúng ta chủ nghĩa tư bản hay truyền thống gia đình có cha và mẹ. Nhưng ở đây, tôi thảo luận về một di sản Kitô Giáo mà hiển nhiên mọi người đời đều trân qúy: sự bình đẳng của con người. Ý tưởng Kitô Giáo này là động lực bên trong của chiến dịch chấm dứt nô lệ, phong trào dân chủ và chế độ tự trị phổ thông, và còn cả một học thuyết quốc tế về nhân quyền. Sự kiện tôi ca tụng vai trò Kitô Giáo trong việc khuôn đúc những thay đổi lớn lao trong xã hội thì xuất phát từ hệ luận tất yếu chín chắn: nếu Tây Phương từ bỏ Kitô Giáo, nó sẽ còn nguy hại đến các giá trị của chủ nghĩa bình đẳng mà Kitô Giáo đã đem vào thế giới. Sự chấm dứt Kitô Giáo cũng có nghĩa sự xói mòn hệ thống giá trị tỉ như phẩm giá bình đẳng và quyền bình đẳng mà người tín hữu cũng như thế tục đều trân qúy.

    Khi Thomas Jefferson viết trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập rằng "mọi người được dựng nên bình đẳng", ông cho rằng đây là một sự thật hiển nhiên. Nhưng nó không hiển nhiên chút nào. Thật vậy, hầu hết các văn hóa trên thế giới, và ngay cả ngày nay, bác bỏ lời tuyên bố này. Xét theo bề ngoài, đó là điều vô lý khi cho rằng con người bình đẳng trong khi tất cả những gì chung quanh chúng ta đều rõ ràng là bất bình đẳng. Con người thì bất quân bình về chiều cao, trọng lượng, sức khỏe, khả năng chịu đựng, sự thông minh, sự kiên trì, sự chân thật, và trong hầu hết đặc tính khác. Sự bất bình đẳng dường như là thực tế hiển nhiên của bản chất con người.

    Ông Jefferson biết điều này. Ông khẳng định một loại bình đẳng đặc biệt của con người. Ông cho rằng con người thì bình đẳng về luân lý. Con người không đối xử tốt đẹp như nhau, nhưng mỗi một đời sống có giá trị luân lý không hơn không kém. Theo học thuyết kỳ lạ này, giá trị của người phu quét đường ở Philadelphia cũng vĩ đại như của chính ông Jefferson . Mỗi một đời sống đều có giá trị, và không người nào có giá trị hơn người nào.

    Tính chất qúy báu và giá trị bình đẳng của đời sống con người là một ý tưởng của Kitô Giáo. Người tín hữu Kitô luôn tin rằng Thiên Chúa đã đặt một giá trị vô cùng trong cuộc sống từng cá nhân mà Người đã dựng nên và Người yêu qúy mỗi người như nhau. Trong Kitô Giáo, bạn không được cứu độ qua gia đình hay bộ lạc hay thành phố. Sự cứu độ là một vấn đề cá biệt. Hơn thế nữa, Thiên Chúa có một "thiên hướng" hay ơn gọi cho mỗi một người chúng ta, một hoạch định của Chúa cho mỗi một cuộc đời. Trong thời Cải Cách, Martin Luther nhất mạnh đến tính cách cá biệt của hành trình Kitô Giáo. Chúng ta không chỉ bị phán xét vào cuối cuộc đời, nhưng trong toàn thể cuộc đời, chúng ta còn liên hệ với Thiên Chúa một cách cá biệt. Ngay cả chân lý tôn giáo cũng không chỉ trao truyền cho chúng ta nhưng được lĩnh hội qua sự cầu nguyện và học hỏi. Những ý tưởng này có các hậu quả nghiêm trọng.

    Chúng ta thường được bảo rằng các ý niệm hiện đại về dân chủ và quyền bình đẳng được tìm thấy trong thời Hy La cổ xưa, nhưng các người sáng lập Hoa Kỳ không chắc về điều này. Alexander Hamilton viết rằng sẽ là điều "nực cười khi tìm kiếm các mô thức này trong các thời đại giản dị của Hy La cũng như truy lùng các mô thức ấy trong những người Hottento và Laplander." Trong cuốn The Federalist chúng ta thấy ý tưởng cổ điển về tự do ban bố "cho các công dân cái cây vào ngày này và các tượng vào ngày khác… Nếu mọi công dân Athen là Socrates, mọi cuộc họp của người Athen vẫn chỉ là một đám đông ô hợp." Trong khi người Hy La cổ xưa có nền dân chủ chỉ huy, được hỗ trợ bởi hệ thống nô lệ lan tràn, chúng ta có điều gì đó thật khác biệt: nền dân chủ đại nghị, với quyền công dân đầy đủ và quyền bầu cử được nới rộng cho mọi người, trên nguyên tắc. Hãy tìm hiểu xem sự thay đổi lớn lao này xảy ra như thế nào.

    Trong thời Hy La cổ xưa, sự sống con người ít có giá trị. Người Spartan để con chết đói trên đồi. Tục giết trẻ sơ sinh thì phổ thông, mà vẫn còn thấy ở nhiều nơi trên thế giới ngày nay. Các người cha muốn có con trai thì họ không áy náy trấn nước con gái sơ sinh. Người ta thường bị đánh đập cho đến chết hay bị xâu xé bởi súc vật trong các đấu trường của La Mã. Các nhà tư tưởng lớn thời xưa, từ Seneca cho đến Cicero, đều không thấy gì sai lầm trong thông lệ này. Kitô Giáo cấm đoán các việc ấy, và Kitô Giáo khiến chúng ta cảm thấy rùng rợn khi nghe nói về các điều đó.

    Phụ nữ có địa vị rất thấp kém trong xã hội Hy La cổ xưa, cũng như ngày nay trong nhiều nền văn hóa, nhất là trong thế giới Hồi Giáo. Aristotle nói lên quan điểm của nhiều người khi ông viết rằng lý trí trong người đàn ông được bày tỏ trọn vẹn. Trong trẻ em, theo Aristotle, lý trí hiện diện nhưng chưa phát triển. Trong phụ nữ, ông viết, lý trí hiện diện nhưng vô dụng. Những quan điểm như thế thì rất phổ thông trong các văn hóa phụ hệ. Và, dĩ nhiên, chúng phổ biến trong xã hội Do Thái khi Đức Giêsu còn sống. Nhưng Người đã phá vỡ điều cấm kỵ này. Từ quan điểm xã hội và ngay cả từ quan điểm của các môn đệ, Đức Giêsu đã gây xôn xao dư luận khi cho phép phụ nữ (ngay cả người thấp kém trong xã hội) được du hành với Người và thuộc về vòng bạn hữu của Người.

    Kitô Giáo không chống đối phụ hệ, nhưng nâng thân phận của người phụ nữ lên. Kitô Giáo cấm ngoại tình--một tội được coi là trầm trọng như nhau cho nam cũng như nữ--và đặt sự ràng buộc luân lý đối với sự kỳ thị phổ thông mà nó cho rằng phụ nữ phải nết na trong khi nam giới có thể tùy ý. Không như Do Thái Giáo và Hồi Giáo, mà họ đối xử khác nhau về vấn đề ly dị giữa nam và nữ, các quy tắc của Kitô Giáo thì giống nhau về vấn đề này. Vì thế phẩm cách cao qúy là vị thế của phụ nữ trong hôn nhân Kitô Giáo mà người nữ chiếm ưu thế trong giáo hội Kitô Giáo thời tiên khởi, cũng như trong một số sự tôn trọng ngày nay. Một trong những hậu quả là người La Mã khinh miệt Kitô Giáo, cho đó là tôn giáo của phụ nữ.

    Trong thời Trung Cổ chúng ta gặp một sự phát triển mới—ý niệm về tình yêu phong nhã. Vì lần đầu tiên trong lịch sử, người phụ nữ, là đối tượng tình yêu của một hiệp sĩ, được nâng lên một địa vị cao. Thật vậy, địa vị của họ còn cao hơn cả người theo đuổi họ. Càng ngày, phụ nữ càng được coi là bạn mà sự trò chuyện được qúy trọng và được tìm cách làm quen. Cuốn "Vợ ông Bath" của Chaucer là một điều không thể tưởng tượng được trong bất cứ nền văn hóa nào thuộc thế kỷ thứ mười bốn. Tác phong lịch sự, lối xử thế đầy tôn trọng đối với phụ nữ, được Kitô Giáo phát minh. Sinh hoạt xã hội giữa nam và nữ được khởi sự vào cuối thời Trung Cổ. Hơn thế nữa, khi đời sống gia đình ngày càng được coi là tâm điểm của hạnh phúc con người, vai trò của người mẹ trong việc gìn giữ gia đình và đảm bảo sự giáo dục con cái ngày càng có giá trị.

    Chống với những tiến bộ này, người vô thần đưa ra một vấn đề khác: sự nô lệ. Sam Harris viết trong cuốn Letter to a Christian Nation, "Hãy đọc Kinh Thánh và bạn sẽ khám phá thấy rằng đấng tạo nên vũ trụ rõ ràng mong đợi chúng ta duy trì chế độ nô lệ."4 Steven Weinberg nhận xét rằng "Kitô Giáo… sống thoải mái với chế độ nô lệ trong nhiều thế kỷ." Các văn sĩ vô thần này chắc chắn không phải là những người đầu tiên đổ lỗi cho Kitô Giáo về điều họ cáo buộc là tán thành chế độ nô lệ. Nhưng từ trước thời Kitô Giáo đã có chế độ nô lệ trong nhiều thế kỷ ngay cả thiên niên kỷ. Nó được phổ thông thi hành trong thế giới xưa, từ Trung Hoa và Ấn Độ cho đến Hy Lạp và La Mã, và hầu hết các văn hóa coi đó như một thể chế không thể thiếu, giống như gia đình. Trong nhiều thế kỷ, chế độ nô lệ không cần được bảo vệ vì không ai chỉ trích. Ngay cả Kinh Thánh cũng không lên án rõ ràng. Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô (6:5) và các đoạn khác cũng thúc giục người nô lệ phải tuân phục chủ nhân, và khuyên chủ nhân hãy tử tế với người nô lệ.

    Dầu vậy, ngay từ đầu Kitô Giáo đã ngăn cản hoạt động nô lệ của tín hữu Kitô. Trong các thư của T. Phaolô chúng ta thấy chính thánh nhân can thiệp với một ông chủ tên là Philemon cho một người nô lệ đã bỏ trốn. T. Phaolô nói, "Có lẽ đây là lý do hắn bị tách rời khỏi ông trong một thời gian ngắn, để ông có thể có được hắn mãi mãi, không phải như một nô lệ, nhưng như một người em." Làm thế nào một nô lệ có thể trở nên người anh em? Kitô Hữu bắt đầu thấy hoàn cảnh này không thể đứng vững được. Chế độ nô lệ, nền tảng của văn minh Hy La, đã héo úa trong các nước Kitô Giáo thời trung cổ và được thay thế bằng giai cấp nông nô, không giống nô lệ. Trong khi nô lệ là "dụng cụ con người", nông nô là con người có quyền kết hôn, ký khế ước, và sở hữu bất động sản. Chế độ phong kiến thời trung cổ được dựa trên hệ thống thứ bậc của quyền lợi và nghĩa vụ hỗ tương giữa các ông chủ và nông nô.

    Ngoài ra, Kitô Hữu còn là nhóm đầu tiên trong lịch sử khởi sự phong trào chống chế độ nô lệ. Phong trào này được khởi sự vào cuối thế kỷ mười tám ở Anh, lan tràn sang các phần khác của Âu Châu, và rồi mạnh nhất là ở Hoa Kỳ, nơi nền kinh tế của miền Nam lệ thuộc phần lớn vào sức lao động của nô lệ. Ở Anh, William Wilberforce phát động một chiến dịch mà lúc khởi đầu hầu như không ai hỗ trợ và được thúc đẩy hoàn toàn bởi niềm tin Kitô Giáo của ông—câu chuyện này được kể lại thật sống động trong cuốn phim Amazing Grace. Sau cùng Wilberforce chiến thắng, và vào năm 1833 chế độ nô lệ bị cấm ở Anh. Bị áp lực của các nhóm tôn giáo ở quê hương, nước Anh dẫn đầu trong việc ngăn chặn nạn buôn bán nô lệ ở nước ngoài.

    Cuộc tranh luận về vấn đề nô lệ ở Hoa Kỳ thực sự là cuộc tranh luận tôn giáo. Mọi phía đều cho mình có thẩm quyền của Kinh Thánh và truyền thống Kitô Giáo. Các chủ nô lệ viện dẫn lời của Thánh Phaolô và nói rằng chế độ nô lệ từng hiện hữu trong các quốc gia Kitô Giáo kể từ thời Đức Kitô. Những người da đen tự do thúc giục giải phóng các anh chị em nô lệ da đen thì lại trưng ra câu chuyện giải phóng trong Sách Xuất Hành, trong đó ông Môsê đưa người Do Thái bị nô lệ đến tự do: "Môsê, hãy xuống núi, xuống tận đất Ai Cập và nói với Pharaô là hãy để dân của ta ra đi."

    Người ta không ngạc nhiên khi một nhóm chống đối chế độ nô lệ là vì có lợi cho phần tử của mình. Trong lịch sử, người ta từng chống đối chế độ nô lệ cho chính mình nhưng lại vô cùng thỏa thích khi bắt người khác làm nô lệ. Thật vậy có hàng ngàn chủ nô lệ da đen ở Nam Mỹ. Điều đáng kể là cả một nhóm chống đối chế độ nô lệ. Nhóm Quaker là người đầu tiên ở Hoa Kỳ chống đối chế độ nô lệ, và các Kitô Hữu khác theo sau. Các nhóm này đưa tính cách chính trị vào một nhận xét trong kinh thánh nói rằng tất cả mọi người đều bình đẳng trong mắt Thiên Chúa. Từ chân lý tinh thần này họ đi đến một đề nghị chính trị: vì con người bình đẳng trong mắt Thiên Chúa, không ai có quyền cai trị người khác mà không có sự đồng ý của họ. Đề nghị này là căn bản luân lý cho chủ nghĩa bãi nô và dân chủ.

    Các biến động trong lịch sử Hoa Kỳ có thể hiểu như một cố gắng để thể hiện nguyên tắc Kitô Giáo này. Với những ai nghĩ về lịch sử Hoa Kỳ phần lớn theo ý nghĩa thế tục, có lẽ họ ngạc nhiên khi biết các biến cố lớn của lịch sử chúng ta được dẫn trước bằng sự hồi sinh tôn giáo ồ ạt. Sự hồi sinh Kitô Giáo đầu tiên, "The First Great Awakening", quét qua quốc gia này vào giữa thế kỷ mười tám, đã tạo thành nền tảng luân lý cho cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ. Sự hồi sinh nhấn mạnh rằng người ta không chỉ biết đến Đức Kitô, nhưng còn phải phát triển một sự tương giao cá biệt với Người. Các khuôn mặt dẫn đạo ở đây là George Whitefield, giáo sĩ với kiến thức của Oxford, đã hướng dẫn phong trào Methodist mới thành hình, và Jonathan Edwards, mục sư phái Congregationalist có bằng cấp của Yale làm chủ tịch của Đại Học Princeton. Sử gia Paul Johnson viết rằng cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ thì "không thể hiểu được… nếu không có nền tảng tôn giáo này."

    Sự hồi sinh "The First Great Awakening" đưa ra những điều mặc nhiên thừa nhận mà Jefferson và các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã dựa vào trong cuộc Cách Mạng. Hãy nhớ rằng Jefferson khẳng định rằng lời tuyên bố của ông về sự bình đẳng con người thì vừa "hiển nhiên" và vừa là một quà tặng của Thiên Chúa: chúng ta được Đấng Tạo Hóa phú ban cho các quyền không thể nhượng bộ. Quả thật không còn nguồn nào khác cho các quyền này. Nhưng làm thế nào Jefferson có thể quá tự tin cho rằng chủ thuyết của ông thì "hiển nhiên"? Là vì ông biết rằng hầu hết người Hoa Kỳ đều tin điều đó. Theo ông nói, ông chỉ diễn tả một điều sẵn có trong bản chất người Hoa Kỳ. Sau này John Adams viết, "Chúng ta muốn nói gì về Cách Mạng Hoa Kỳ? Cuộc chiến? Đó không thuộc về thành phần của Cách Mạng; nó chỉ là một ảnh hưởng và kết quả của cách mạng. Cách Mạng sẵn có trong tâm trí của người dân… một thay đổi trong tình cảm tôn giáo của họ". Các tình cảm tôn giáo này được rèn luyện trong các bài giảng nẩy lửa của "The First Great Awakening".

    Sự hồi sinh thứ hai "The Second Great Awakening", được khởi sự vào đầu thế kỷ mười chín và kéo qua New England và New York, rồi sau đó vào nội địa quốc gia, để lại dấu vết trong phong trào tự kiềm chế, phong trào phụ nữ được đi bầu, và quan trọng nhất, phong trào bãi nô. Chính sự hăng say tôn giáo của những người như Charles Finney, một luật sư phái Presbyter là khoa trưởng trường Oberlin đã đưa đến phong trào bãi nô và khởi sự một chuỗi biến động đưa đến cuộc Nội Chiến, sự chấm dứt nô lệ, và "tái sinh sự tự do"của Hoa Kỳ.

    Trở về thế kỷ hai mươi, và hãy để ý đến lời tuyên bố lừng danh của Mục Sư Martin Luther King khi nói rằng ông vừa đệ trình giấy nợ lên Hoa Kỳ và đòi hỏi phải được trả tiền mặt. Một người kỳ thị chủng tộc miền Nam có thể hỏi, "Giấy nợ gì? Ông ấy muốn nói gì?" Ông King cầu viện đến bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Thật đặc biệt, người vô địch về sự tự do này đưa vụ kiện của ông dựa vào một tuyên ngôn được công bố hai trăm năm trước đây bởi một chủ nô lệ miền Nam! Tuy vậy, khi thi hành điều này, ông King cầu viện đến một nguyên tắc mà chính ông và Jefferson cùng chia sẻ, nguyên tắc giá trị bình đẳng của mọi con người. Cả hai, một mục sư thế kỷ hai mươi và quản lý đồn điền thế kỷ mười tám, đều phản ảnh phạm vi dài hạn của Kitô Giáo.

    Hoặc hãy nhớ lại giấc mơ nổi tiếng của ông King về một ngày khi con người sẽ được xét xử "không bởi mầu da nhưng bởi các nét cá tính." Nhiều văn sĩ—trong đó có tôi—trong quá khứ thường giải thích điều này như một lời kêu gọi cho chủ thuyết công trạng: chúng ta phải được xét xử trên sự hiểu biết và khả năng. Nhưng đây không phải là điều ông King muốn nói. Ông hy vọng một ngày nào đó khi chúng ta sẽ được xét xử bởi nội dung của cá tính chúng ta. Không phải là những thành quả hiểu biết, nhưng thành quả đạo đức, dường như đó là vấn đề đối với ông King. Ở đây, chúng ta cũng thấy sự vang vọng mạnh mẽ của Kitô Giáo, mà nó thẩm định giá trị con người không qua quyền lực và của cải nhưng qua đức tính mà chúng ta sống trong đời.

    Như ông Nietzsche nói trong lời ở đầu chương này, học thuyết về con người bình đẳng của Kitô Giáo cũng là căn bản cho mọi học thuyết hiện đại về nhân quyền. Đúng vậy, ngày nay chúng ta có rất nhiều học thuyết về quyền lợi từ các nguồn thế tục, nhưng bạn chỉ cần khơi nhẹ thì cũng thấy được các nền tảng Kitô Giáo. Triết gia John Rawls lý luận rằng chúng ta phải sáng chế ra một hệ thống xã hội bằng cách tưởng tượng mình đằng sau "bức màn ngu dốt" mà trong đó chúng ta không biết mình sẽ thông minh hay ngu dốt, giầu hay nghèo. Một ý niệm thích thú, nhưng tại sao chúng ta phải tự đặt mình sau bức màn giả thuyết này? Tại sao chúng ta không phủ nhận những đặc ân hiện thời?

    Các ý tưởng của Rawls sẽ không có ý nghĩa nếu trước đó không tin rằng mỗi một đời sống được coi giống như bất cứ ai khác. Ông mặc nhiên chấp nhận ý niệm rằng chúng ta không tự động được hưởng các đặc ân, tự bản chất chúng ta không tốt hơn người khác, và chúng ta có thể dễ dàng chiếm ngự vị trí của người khác trong cuộc đời, và họ cũng vậy đối với chúng ta.

    Ngày nay có hai loại học thuyết về nhân quyền: học thuyết về luân lý và học thuyết về pháp luật. Cả hai đều là sản phẩm của Kitô Giáo. Hãy nghĩ đến một lý thuyết về luân lý tỉ như học thuyết về "cuộc chiến chính đáng". Nó định rõ các điều kiện đạo đức mà cuộc chiến có thể xảy ra. Tính cách cơ bản của quan niệm này có thể thấy trong phần đối thoại "Melian Dialogue" trong cuốn Peloponnesian War của Thucydide. Trong đó người Athen bác bỏ lý luận có tính cách luân lý của người Melian với sự kiên quyết rằng trong chiến tranh "nước mạnh thi hành những gì họ có sức mạnh để thi hành và nước yếu phải chấp nhận những gì họ phải chấp nhận." Khi sau cùng người Melian đầu hàng, người Athen giết tất cả những người đàn ông và bán phụ nữ và trẻ con làm nô lệ. Như đại sứ Athen nói với người Melian, đây là kiểu cách của thế giới. Nếu điều đó làm chúng ta kinh hoàng, đó là vì lương tâm xã hội chúng ta đã được khuôn đúc bởi Kitô Giáo.

    Các nguyên tắc "cuộc chiến chính đáng" của Kitô Giáo nói rằng ngay cả trong thời chiến bạn không thể tự do giết hại dân lành. Nó cũng nói rằng cuộc chiến phải được khởi sự với tính cách tự vệ: bạn không được tấn công. Một cuộc chiến chính đáng phải là biện pháp sau cùng, chỉ xảy ra khi các biện pháp khác đã được sử dụng mà không thành công và khi có cơ hội thành công hợp lý. Hơn thế nữa, sự trả thù phải xứng hợp với sự tấn công lúc đầu. Nếu ai đó đột kích bộ lạc của bạn và giết chết mười người, bạn không được đột kích và giết mười ngàn người. Học thuyết "cuộc chiến chính đáng" là một sản phẩm của Kitô Giáo. Nó khởi đầu từ Augustine, được phát triển thêm bởi Aquinas, và rồi được trình bầy ngày nay bởi các nhà tư tưởng như Francisco de Vitoria, Hugo Grotius, và John Locke.

    Bây giờ hãy để ý đến một học thuyết hợp pháp tỉ như Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền trong hiến chương của Liên Hiệp Quốc. Bản tuyên ngôn này, được thông qua vào ngày 10 tháng Mười Hai, 1948, bởi Đại Hội Đồng LHQ mà không có một phiếu chống, nó khẳng định các quyền lợi chung cho mọi người trên mặt đất. Mọi người đều có quyền tự do của lương tâm. Ý muốn của người dân là căn bản cho thẩm quyền của chính phủ. Mỗi một người trưởng thành có quyền kết hôn với một người khác phái qua sự tự do ưng thuận và tạo dựng gia đình. Không ai bị tra tấn hoặc trừng phạt trái nhân đạo. Mọi người đều bình đẳng trước luật pháp. Mọi người đều có quyền để sống, tự do, và sở hữu chủ. Các tuyên ngôn này là bản cáo trạng đối với nhà độc tài và áp bức ở bất cứ đâu.

    Tuy nhiên, tính cách hoàn vũ của bản tuyên ngôn này được dựa trên các giảng dạy đặc biệt của Kitô Giáo. Các quyền lợi trong bản tuyên ngôn được dựa trên tiền đề rằng mọi sự sống con người đều có giá trị và mọi người được coi bình đẳng; đây không phải là sự giảng dậy của tất cả nền văn hóa và tôn giáo trên thế giới. Ngay cả như vậy, một học thuyết Kitô Giáo ngay từ nguyên thủy phải có tính cách hoàn vũ trong sự áp dụng bởi vì Kitô Giáo nói rõ điều này trong ngôn ngữ thông thường. Như Thánh Phaolô viết cho tín hữu Galát (3:28): "Không còn Do Thái hay Hy Lạp, không còn nô lệ hay tự do, không còn người nam hay người nữ, vì tất cả anh chị em là một trong Đức Giêsu Kitô." Ở đây, chủ nghĩa cá nhân Kitô Giáo được phối hợp với thuyết phổ quát, và cả hai cùng chịu trách nhiệm cho một trong những phép lạ chính trị vĩ đại ngày nay, một sự đồng ý toàn cầu về các quyền lợi được coi là bất khả xâm phạm.

    Sau cùng, Kitô Giáo còn chịu trách nhiệm cho ý niệm hiện đại của chúng ta về tự do cá nhân. Có nhiều dấu vết của ý niệm này trong thế giới kinh điển và thế giới cổ Do Thái. Trong các nhân vật như Socrates và các ngôn sứ Do Thái, người ta tìm thấy các cá nhân danh tiếng là người có can đảm đối đầu và đặt vấn đề với ngay cả các thẩm quyền cao nhất. Nhưng trong khi các văn hóa này tạo ra được các nhân vật vĩ đại, như các văn hóa khác ngay cả ngày nay, không một ai trong bọn họ nuôi dưỡng được sự qúy mến đặc tính cá nhân. Hiển nhiên là Socrates và các ngôn sứ Do Thái tất cả đều kết thúc thảm bại. Họ là những nhân vật dị thường trong xã hội, và xã hội mau chóng tẩy chay họ.

    Trong tiểu luận "The Liberty of the Ancients Compared with That of the Moderns" (Sự tự do của người xưa so với người thời nay), Benjamin Constant đưa ra sự phân biệt quan trọng giữa cách nhìn của người Hy La và cách nhìn của chúng ta ngày nay về sự tự do. Constant nhận xét rằng với người xưa, tự do là quyền được tham dự trong việc làm luật. Dân chủ Hy Lạp là dân chủ trực tiếp mà trong đó mọi công dân có thể hiện diện trong agora, tranh luận về các vấn đề thuế và chiến tranh, và sau đó họ bỏ phiếu để chọn hành động nào mà polis phải theo. Đây là quyền lực thực sự, quyền lực của người dân để định hướng các quyết định của xã hội. Vì vậy, người Hy Lạp hành xử sự tự do của mình qua sự tích cực tham dự vào chính trị và đời sống dân sự của thành phố. Không có loại tự do nào khác.

    Thật vậy, Constant báo cáo rằng trong hầu hết các thành phố xưa "mọi hành động riêng tư đều chịu sự giám sát gắt gao. Sự độc lập cá nhân không được coi là quan trọng, dù có liên hệ đến quan điểm, hay sự lao động, hay trên tất cả, liên hệ tôn giáo. Quyền chọn lựa tôn giáo cho riêng mình, một quyền mà chúng ta coi là quý giá nhất, dường như được người xưa coi là trọng tội và phạm thượng. Hầu như không có gì mà luật lệ không quy định. Do đó, giữa những người xưa, cá nhân, hầu như luôn luôn cao nhất trong việc chung, lại là một nô lệ trong mọi tương giao riêng tư."

    Trong các thành phố xưa, chỉ có Athens cho phép công dân được rộng rãi trong quyết định cá nhân. Constant lý luận rằng, Athens có thể thi hành điều này vì dân nô lệ quá đông. Nhưng người Athens không hoàn toàn tách biệt khỏi các phong tục của các thành phố xưa, điều này có thể thấy trong tục lệ khai trừ, mà Constant nhận xét "dựa trên sự mặc định rằng xã hội có thẩm quyền hoàn toàn trên thành viên của nó." Hàng năm, công dân được yêu cầu viết vào lá phiếu tên của những người, mà theo quan điểm của họ, đáng bị loại trừ khỏi thành phố. Bất cứ ai có tên trên số phiếu nhiều hơn quy định sẽ bị trục xuất, đôi khi trong một thời gian mười năm, đôi khi vĩnh viễn. Khi người Athens bỏ phiếu khai trừ một trong những người giỏi nhất của họ, ông Aristide người Công Chính, người công dân chỉ giải thích rằng vì họ hết hứng thú khi nghe ông này được gọi là "người Công Chính."

    Constant viết, tất cả những điều này thì hoàn toàn khác với ý niệm tự do ngày nay. Chúng ta không có dân chủ trực tiếp; chúng ta có dân chủ đại nghị. Phải, chúng ta bỏ phiếu vào ngày bầu cử, nhưng ngay cả vậy, lá phiếu của chúng ta là một trong trăm triệu, do đó sự ảnh hưởng của mỗi công dân thì rất nhỏ so với toàn thể. Đây không phải là loại tự do quan trọng nhất đối với chúng ta ngày nay. Đúng ra, ý niệm tự do ngày nay có nghĩa quyền để bày tỏ quan niệm, quyền chọn ngành nghề, quyền mua và bán bất động sản, quyền du lịch bất cứ đâu bạn muốn, quyền đối với khoảng không gian riêng tư, và quyền sống theo ý mình. Đây là sự tự do mà chúng ta đã chiến đấu, và chúng ta trở nên căm phẫn khi nó bị thử thách hay lấy đi.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  8. #8

    Mặc định

    CHƯƠNG 8

    KITÔ GIÁO VÀ LÝ TRÍ:
    NGUỒN GỐC THẦN HỌC CỦA KHOA HỌC

    "Trước hết chúng ta sẽ thử bày tỏ chân lý mà đức tin tuyên xưng và lý trí nghiên cứu, đưa ra luận chứng và lý lẽ có tiềm năng, như thế chân lý có thể được xác nhận và kẻ chống đối bị thuyết phục."
    Tôma Aquinas, Summa Contra Gentiles

    T
    rong các chương trước đây, chúng ta đã thấy làm thế nào Kitô Giáo khuôn đúc cốt lõi văn minh Tây Phương, gọt dũa các tư tưởng và thể chế mà chúng tồn tại trên hai ngàn năm. Trong vài chương tới, tôi sẽ khảo sát sự tương quan giữa Kitô Giáo và khoa học. Đặt biệt, tôi sẽ để ý đến sự tương phản nội tại giữa hai điều này; các văn gia vô thần thường đưa ra hình ảnh một cuộc chiến liên tục giữa hai bên. Sam Harris viết, sự mâu thuẫn có "tổng số là zêrô." E.O. Wilson tuyên bố nó là một kẻ thù "không hòa giải được", và truyền thông đại chúng hết hơi quảng cáo chủ đề cuộc chiến này, như tờ Time đăng ngay ngoài bìa số 13 tháng Mười Một, 2006, "Thiên Chúa đấu với Khoa Học".

    Tuy nhiên khoa học là một công việc có tổ chức và được duy trì chỉ phát sinh một lần trong lịch sử loài người. Và nó phát sinh từ đâu? Ở Âu Châu, trong nền văn minh được gọi là Thế Giới Kitô Giáo. Tại sao khoa học hiện đại lại được phát sinh ở đây chứ không ở nơi khác? Trong bài diễn văn ngày 12 tháng Chín, 2006 tại Regensburg, nước Đức, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI lý luận rằng đó chính là nhờ Kitô Giáo nhấn mạnh đến sự quan trọng của lý trí. Đức giáo hoàng lý luận rằng lý trí là nét chính yếu để phân biệt Kitô Giáo. Trong khi bài nói chuyện ở Regensburg đưa đến sự tranh luận bởi vì sự nhận xét của đức giáo hoàng về Hồi Giáo, quan điểm của người về Kitô Giáo và lý trí thì rất đúng. Một cái nhìn không thiên vị về lịch sử của khoa học cho thấy khoa học hiện đại là một phát minh của Kitô Giáo thời trung cổ, và những khám phá vĩ đại trong khoa học phần lớn là công trình của Kitô Hữu.

    Trước khi có tôn giáo như chúng ta hiểu, đã có thuyết duy linh, được dựa trên ý tưởng của một vũ trụ huyền hoặc. Từng con sông, từng cái cây, và từng hòn đá đều được cho rằng có thần linh chiếm đóng. Thế giới thật huyền bí, thất thường, không thể tiên đoán, và không thể kiểm soát được. Sau đó là các tôn giáo đa thần, tỉ như tôn giáo của người Babylon, người Ai Cập, và Hy Lạp. Mỗi tôn giáo này thừa nhận các hữu thể linh thiêng—đôi khi bất tử, đôi khi không—là những người can dự vào sự vận chuyển của thiên nhiên hằng ngày, tạo nên bão tố và động đất, biến con người thành con nai, và vân vân. Sau đó xuất hiện các tôn giáo lớn ở Đông Phương, Ấn Giáo và Phật Giáo, theo sau là các tôn giáo độc thần, Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo.

    Trong những tôn giáo này, chỉ có một tôn giáo—Kitô Giáo—là dựa trên lý trí ngay từ ban đầu. Do Thái Giáo và Hồi Giáo chính yếu là những tôn giáo của lề luật; có một đấng ban ra lề luật và có thế lực trên thiên nhiên và con người. Trong trường hợp Do Thái Giáo, các sắc lệnh này được áp dụng chính yếu cho tuyển dân của Chúa, là người Do Thái. Trong trường hợp Hồi Giáo, lề luật được áp dụng cho mọi người. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, luật lệ được Thiên Chúa mặc khải và con người phải tuân theo. Cả người Hồi lẫn Do Thái có thể tranh luận rộng rãi, nhưng chỉ hạn chế trong cách giải thích và áp dụng lề luật. Ngược lại, Kitô Giáo thì không phải là một tôn giáo của lề luật nhưng một tôn giáo của tín điều. Kitô Giáo thường bận tâm với học thuyết, được coi là những điều tin tưởng thực sự về sự tương giao của con người với Thiên Chúa.

    Triết gia Ernest Fortin viết rằng, trong khi kỷ luật cao nhất trong Do Thái Giáo và Hồi Giáo là tuân thủ lề luật, kỷ luật cao nhất trong Kitô Giáo là thần học. Các thần học gia Kitô Giáo có trách nhiệm dùng lý trí để tìm hiểu đường lối của Thiên Chúa. Trong Ấn Giáo và Phật Giáo không có thần học gia bởi vì con người không được mời gọi để tìm hiểu mục đích của Thượng Đế theo phương cách này.

    Nhưng một thần học gia thì có ích gì? Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này bằng cách nhìn đến Augustine, một giáo phụ. Augustine đối diện với một vấn đề thần học nghiêm trọng và sâu xa: Trước hôm nay đã có hôm qua, và trước hôm qua đã có hôm kia, và vân vân. Nhưng làm sao có thể được? Có phải một chuỗi hôm qua kéo dài vô tận vào quá khứ không? Nếu vậy, làm thế nào mà Thiên Chúa tạo dựng một vũ trụ luôn luôn hiện hữu? Nếu không, phải có một khởi đầu, nhưng trước đó là gì? Nếu vũ trụ được Thiên Chúa dựng nên thì Thiên Chúa làm gì trước khi tạo dựng vũ trụ?

    Với những vấn nạn này, Augustine đã đưa ra một câu trả lời thật kinh ngạc mà dường như trước đó chưa bao giờ có: Thiên Chúa tạo nên thời gian cùng lúc với vũ trụ. Nói cách khác, "trước" khi có vũ trụ thì chưa có thời gian. Vũ trụ thì giống như một chu trình, nó có thể hoặc không thể giãn rộng mãi mãi về phía trước hay phía sau theo thời gian. Nhưng Thiên Chúa đứng bên ngoài chu trình này, và đó là điều chúng ta muốn nói Thiên Chúa thì "vĩnh cửu." Vĩnh cửu không có nghĩa "tiếp tục mãi mãi"; nó có nghĩa "đứng ngoài thời gian". Hãy để ý rằng Augustine không đưa ra một suy đoán thần học lờ mờ. Người đưa ra một luận điệu hoàn toàn phản trực giác về bản chất của vật thể. Ngày nay, nhờ khoa vật lý hiện đại và thiên văn học, chúng ta biết Augustine nói đúng; thời gian là một thuộc tính của vũ trụ, và thời gian xuất hiện cùng lúc với vũ trụ. Sự suy nghĩ của Augustine về bản chất của thời gian, hoàn toàn được phát sinh qua lý luận thần học, là một trong những hiểu biết sâu sắc nhất của lịch sử tư tưởng.

    Để hiểu Kitô Hữu lý luận thế nào về Thiên Chúa, tôi muốn đưa ra hai lý lẽ nổi tiếng về sự hiện hữu của Thiên Chúa và dùng sự sắc bén của các nhà tư tưởng Kitô Hữu thời xưa để chống với những người vô thần hiện nay. Đầu tiên là lý lẽ của Aquinas dựa trên quan hệ nhân qủa. Aquinas lý luận rằng mọi hậu quả đòi hỏi một nguyên nhân, và vì vậy trên thế giới này không có gì là nguyên nhân của chính sự hiện hữu của nó. Bất cứ khi nào bạn gặp điều A, nó phải được gây ra bởi B. Nhưng rồi B phải được giải thích, vì vậy chúng ta có thể nói là nó được gây nên bởi C. Aquinas nói rằng, việc truy lùng nguyên nhân không thể tiếp tục vô tận, bởi vì nếu như vậy thì không có gì được hiện hữu. Do đó ngay từ ban đầu phải có một nguyên nhân gốc chịu trách nhiệm cho một chuỗi hậu qủa. Với nguyên nhân đầu tiên này chúng ta gọi là Thiên Chúa.

    Các nhà vô thần nổi tiếng không lấy làm cảm kích. Sam Harris viết, "Nếu Thiên Chúa tạo nên vũ trụ thì cái gì tạo nên Thiên Chúa?" Quan điểm của ông được lập lại bởi một vài văn gia vô thần khác: Richard Dawkins, Christopher Hitchens, Carl Sagan, Steven Weinberg. Họ nêu ra vấn đề nghịch hành vô tận. Đúng, phải có một chuỗi nhân qủa, nhưng tại sao nó phải chấm dứt với Thiên Chúa? Tại sao nó không thể tiếp tục mãi mãi? Dawkins nói thêm rằng chỉ một Thiên Chúa phức tạp mới có thể tạo nên một phức tạp như vũ trụ, và chúng ta không thể giải thích được một hình thức phức tạp không thể giải thích (là vũ trụ) bằng cách hướng về một hình thức phức tạp không thể giải thích lớn lao hơn nữa (là Thiên Chúa). Hậu quả là Dawkins kết luận rằng "câu trả lời của người hữu thần thực sự thất bại" và ông thấy "không có cách nào khác để bác bỏ."

    Tuy nhiên, ưu điểm của lý lẽ Aquinas thì không phải rằng mọi chu trình phải có một khởi đầu, nhưng là mọi chu trình, để hiện hữu, phải tùy thuộc vào điều gì đó ở bên ngoài chu trình ấy. Vì mọi sự phải có một nguyên nhân, vậy ai là nguyên nhân của Thiên Chúa, nói như vậy không phải là đã bác bỏ được. Lý lẽ của Aquinas không giả sử rằng mọi sự cần một nguyên nhân, mà chỉ nói rằng mọi sự hiện hữu trong vũ trụ thì cần một nguyên nhân. Sự chuyển động và tính cách ngẫu nhiên của thế giới không thể không có sự giải thích tối hậu. Vì Thiên Chúa ở ngoài vũ trụ. Người không thuộc về chuỗi biến động này. Do đó các quy luật của chu trình, kể cả quy luật nhân quả, sẽ không áp dụng cho Người.

    Hãy nghĩ về Thiên Chúa như tác giả của cuốn tiểu thuyết. Các biến cố trong truyện có một vài liên hệ và hợp lý. Điều gì đó xảy ra ở đầu câu chuyện sẽ tạo nên sự khủng hoảng cho một nhân vật ở giữa câu chuyện. Các hành động của Raskolnikov trong cuốn "Crime and Punishment" (Tội Ác và Hình Phạt) của tác giả Dosteovsky đã gây nên cái chết cho một bà lão. Nhưng tác giả là nguyên nhân gây nên câu chuyện và ở mức độ hoàn toàn khác biệt. Quy tắc nhân quả áp dụng trong cuốn tiểu thuyết thì không áp dụng cho tác giả. Thật có lý để thắc mắc tại sao một nhân vật bỗng dưng xuất hiện, "Hắn từ đâu đến? Bạn giải thích thế nào về tên đó?" Tuy nhiên, trong hoàn cảnh này, thật không hợp lý để hỏi, "Ông Dosteovsky từ đâu đến? Bạn giải thích thế nào về ông ấy?" Tác giả đứng ngoài câu chuyện, và hành động sáng tạo của ông không thể được hiểu như một tình tiết trong câu chuyện. Qua sự tranh luận này, hiển nhiên là Harris và Dawkins không thể trả lời được lý lẽ của Aquinas.

    Kế đến tôi xoay sang lý lẽ của Anselm về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Anselm bắt đầu một cách bất thường từ Thánh Vịnh 12:1, "Người ngu xuẩn tự nhủ rằng không có Thiên Chúa." Anselm muốn chứng tỏ rằng những ai từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa thì quả thật ngu xuẩn. Họ ngu xuẩn vì một khi hiểu được ý nghĩa của chữ Thiên Chúa, họ buộc phải tán thành với sự hiện hữu của Thiên Chúa. Anselm không nói đùa về điều này.

    Không như lý lẽ có tính cách quy nạp của Aquinas, lý lẽ của Anselm thì thuần túy suy diễn và không dựa trên bất cứ dữ kiện nào nhờ kinh nghiệm. Anselm định nghĩa Thiên Chúa như "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến." Có thể đây là một định nghĩa hợp lý và được rộng rãi chấp nhận. Ngay cả người vô thần cũng không có khó khăn gì với định nghĩa này. Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng khái niệm về Thiên Chúa phải tương xứng với một hữu thể tối cao vượt quá giới hạn của sự tưởng tượng của chúng ta. Anselm nói tiếp khi chúng ta hiểu và chấp nhận định nghĩa này, chúng ta phải có một ý tưởng nào đó về Thiên Chúa trong đầu óc chúng ta. Thánh nhân không muốn nói đến một miêu tả có tính cách hình ảnh. Người chỉ muốn nói rằng tâm trí chúng ta hiểu khái niệm về Thiên Chúa như một tiềm năng hợp lý mà "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến."

    Anselm nói, nếu điều này đúng thì Thiên Chúa phải hiện hữu. Chúng ta chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tại sao? Bởi vì nếu "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩa đến" có trong tâm trí thì điều đó cũng phải có trong thực tế. Lý do là vì, theo Anselm, để hiện hữu trong thực tế thì "vĩ đại hơn" chỉ hiện hữu trong tâm trí. Điều khả dĩ và có thật thì hiển nhiên cao hơn điều chỉ có trong sự khả dĩ. Anselm đưa thí dụ của một họa sĩ chân dung mà chân dung của ông, thực sự được vẽ ra, là hiện thực hóa một khả năng trực giác hay khái niệm có trong đầu ông; vì vậy bức tranh thật thì "vĩ đại hơn" khả năng trực giác hay khái niệm có trong đầu. Cũng vậy, để "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến" chu toàn định nghĩa của mình, nó phải hiện hữu. Nếu không nó sẽ là "sẽ có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến." Anselm cho rằng không những Thiên Chúa hiện hữu mà sự hiện hữu của Người còn tất yếu nữa. Nếu Người hiện hữu chỉ trong sự kiện và không bởi sự tất yếu, Người thực sự là một hữu thể vĩ đại, nhưng Người sẽ không là "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến."

    Tôi đưa ra bằng cớ của Anselm không vì nó có sức thuyết phục ngay lập tức—chắc chắn chúng ta cảm thấy rằng Anselm đã tài tình đưa ra một lý luận thần học trong sự hùng biện—nhưng vì nó nổi tiếng là khó để bác bỏ. Descartes và Leibniz coi lý lẽ này có giá trị, và từ đó đưa ra những lý lẽ của mình. Tuy vậy, trong cuốn God Is Not Great, Christopher Hitchens tìm cách phơi bầy khuyết điểm của Anselm. Ông đưa thí dụ của một đứa trẻ trong truyện tiểu thuyết, nó được hỏi tại sao nó tin có con rồng. Đứa bé trả lời, "Nếu có chữ rồng, thì trước đây đã từng có con rồng." Hiển nhiên đây là lý luận trẻ con để phỏng đoán vật thể từ ý nghĩ về điều đó. Hitchens hân hoan rêu rao rằng lý lẽ của Anselm "đã bị đánh đổ."

    Lý lẽ của Hitchens đầu tiên được đưa ra bởi người cùng thời với Anselm, một tu sĩ tên Gaunilo, và lý lẽ của Gaunilo thì có ảnh hưởng hơn Hitchens nhiều. Gaunilo tố cáo Anselm là đã hoán chuyển bất hợp pháp từ một ý niệm sang sự tồn tại. Quan điểm của Gaunilo cho rằng chỉ vì chúng ta có thể tưởng tượng những điều không thật, tỉ như con kỳ lân, người cá, và chó bay thì điều đó không có nghĩa là các tạo vật này hiện hữu. Anselm trả lời Gaunilo bằng cách vạch ra rằng lý lẽ về bản thể học của ông không nói rằng bất cứ gì chúng ta có thể tưởng tượng trong đầu thì tất yếu hiện hữu. Lý lẽ này chỉ nhấn mạnh rằng "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến" hiện hữu và hiện hữu cách tất yếu. Nói cách khác, Anselm chỉ đưa ra luận điệu trong một trường hợp đặc biệt. Chính nhân vật mà "không có gì vĩ đại hơn có thể nghĩ đến" phải hiện hữu cách tất yếu: không có gì trong định nghĩa về con kỳ lân và con chó bay mà làm cho nó hiện hữu, đừng nói chi đến sự hiện hữu tất yếu.

    Còn có những sự phản đối khác với Anselm, và tôi không có ý định thảo luận ở đây. Điều tôi muốn nói là thần học cho thấy kết quả của sự hoạt động của lý lẽ ở mức độ cao, và người ta không thể bỏ qua các lý lẽ này như nhiều người vô thần, dù bạn không đồng ý với các lý lẽ ấy. Hãy nghĩ đến nhiều lý lẽ nổi tiếng trong triết học, tỉ như, lý lẽ của Locke về quyền tư hữu hay lý lẽ của Wittgenstein về sự khả dĩ của một ngôn ngữ riêng. Dù chúng ta có coi các lý lẽ này thành công hay không, thật khó để cho rằng chúng phi lý. Đúng hơn, chúng đại diện cho những luận điệu thật hợp lý về bản chất của thực tại.

    Với Aquinas và Anselm cũng vậy. Khi chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, họ không cầu viện đến mặc khải siêu nhiên. Lý lẽ của họ chỉ dựa trên lý trí. Dĩ nhiên, họ sống trong một khung cảnh khác biệt về lịch sử và triết học hơn chúng ta bây giờ, bởi thế các lý lẽ của họ cần được cập nhật hóa để có sức thuyết phục. Và khi chúng được tái phát biểu theo thuật ngữ hiện đại, chúng có sức thuyết phục. Như bạn thấy, tôi có ý định đưa ra lý lẽ tương tự như của Aquinas trong một chương sau đây về nguồn gốc của vũ trụ. Điểm tôi muốn nói là kiểu lý luận về Thiên Chúa mà chúng ta thấy nơi Augustine, Aquinas, và Anselm thì đặc thù Kitô Giáo. Trong bất cứ tôn giáo nào khác, rất ít loại này. Và thật rõ rệt, từ lý lẽ khoa học hiện đại được phát sinh.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  9. #9

    Mặc định

    CHƯƠNG 9

    TỪ LỜI ĐẾN VŨ TRỤ: KITÔ GIÁO VÀ NHỮNG SÁNG TẠO của PHÁT MINH

    ""Không hồ nghi gì, công trình của Đấng Tạo Hóa Toàn Năng thì quá bao la!"
    Nicolaus Copernicus

    D
    anh sách của những ý tưởng vĩ đại về khoa học ngày nay thường có một thiếu sót chính. Trên danh sách ấy chắc chắn chúng ta sẽ tìm thấy thuyết về tâm mặt trời của Copernicus, định luật Kepler, định luật Newton, và thuyết tương đối của Einstein, tuy nhiên ý tưởng vĩ đại nhất của khoa học hiện đại thì hầu như không bao giờ được bao gồm. Nó là một ý tưởng vĩ đại đến độ giúp nẩy sinh mọi ý tưởng khác. Và nó vô hình đối với chúng ta bởi vì nó thường được coi là đương nhiên thay vì một lý thuyết cần được phát biểu có hệ thống. Thật kỳ quặc, ý tưởng vĩ đại nhất của khoa học hiện đại thì không dựa trên lý lẽ nhưng trên đức tin.

    Đức tin không phải là một chữ thường được hoan nghênh trong giới khoa học. "Tôi không tin rằng khoa học gia có cùng một đức tin chắc chắn mà những người đạo đức chân thành thường có," nhà vật lý Richard Feynman viết như thế trong cuốn The Meaning of It All . Nhà thiên văn học Neil deGrasse Tyson than phiền rằng "những luận điệu của tôn giáo dựa trên đức tin" và khoe khoang rằng "những luận điệu của khoa học dựa trên cảm nghiệm được minh chứng." Feynman và Tyson dường như không ý thức rằng tâm điểm của ngành khoa học được họ yêu chuộng là một định đề dựa trên đức tin mà nó không kém huyền bí hơn bất cứ tín điều tôn giáo nào khác. Đây là một giả thuyết, thực sự không thể minh chứng, đó là vũ trụ thì hữu lý.

    Các khoa học gia ngày nay cho rằng vũ trụ vận hành theo các quy luật, và trí tuệ con người có thể hiểu được các quy luật này. Khoa học thì dựa trên điều mà tác giả James Trefil gọi là quy tắc phổ quát: "Nó nói rằng các quy luật tự nhiên mà chúng ta khám phá ra đây đó trong các phòng thí nghiệm thì đúng ở bất cứ đâu trong vũ trụ và từng là động lực trong mọi thời gian." Nhà vật lý Steven Weinberg viết, "Tất cả những kinh nghiệm của tôi, là một vật lý gia, khiến tôi tin rằng có một trật tự trong vũ trụ… Khi chúng ta đến với các năng lượng ngày càng cao hơn và chúng ta nghiên cứu các cấu trúc ngày càng nhỏ hơn, chúng ta tìm ra các quy luật ấy, các quy tắc vật lý, nó diễn tả điều chúng ta hiểu biết trở nên ngày càng đơn giản hơn… Các quy luật chúng ta khám phá ra ngày càng có liên hệ chặt chẽ và phổ quát… Ở đó có một điều đơn thuần, một sự mỹ miều, mà chúng ta tìm thấy trong các quy luật mà nó điều hành vật thể mà nó phản chiếu điều gì đó được thấy trong cấu trúc hợp lý của vũ trụ ở mức độ rất sâu."

    Các quy luật chi phối vũ trụ dường như được viết bằng ngôn ngữ toán học. Các khoa học gia vĩ đại nhất lấy làm kinh ngạc trước sự kỳ lạ này. Trong tiểu luận "The Unreasonable Effectiveness of Mathematics in the Natural Sciences" (Ấn tượng sâu sắc không thể giải thích của toán học trong khoa học thiên nhiên), vật lý gia Eugene Wigner thú nhận rằng căn bản toán học của thiên nhiên "là những gì tiếp giáp với điều huyền bí và không thể giải thích cách hợp lý." Feynman thú nhận, "Tại sao thiên nhiên phù hợp với toán học, đó là một bí ẩn… Sự kiện là tất cả đều có quy luật, đó là một loại phép lạ."

    Sự kinh ngạc này phát xuất từ sự nhận biết rằng vũ trụ không cần phải theo phương cách như như thế này. Không có lý do gì đặc biệt để giải thích tại sao các quy luật tự nhiên mà chúng ta tìm thấy ở trái đất cũng chi phối một ngôi sao cách xa hàng tỉ năm ánh sáng. Thật dễ dàng để tưởng tượng ra một vũ trụ mà trong đó các điều kiện sống thay đổi bất ngờ từ lúc này sang lúc khác, hoặc ngay cả một vũ trụ mà trong đó các sự vật đột nhiên xuất hiện hoặc biến mất. Một vũ trụ thì không cần phải tuân theo các quy luật, đừng nói gì đến việc tuân theo các quy luật của toán học.

    Thật vậy, vũ trụ dường như có thứ tự. Tôi nói "dường như" vì không cách chi chứng mình được. Có những điều lạ thường xảy ra trong khoa vật lý lượng tử (quantum physic) khiến người ta phải thắc mắc về giả thuyết rằng vũ trụ đi theo các quy luật nhất định. Ngay cả vậy, các khoa học gia bám lấy điều tin tưởng đã có từ lâu về tính cách hữu lý căn bản của vũ trụ. Trước hết phải tin rằng các quy luật này có thật, và lý lẽ con người có nhiệm vụ khám phá các quy luật ấy, các khoa học gia tiếp tục cố gắng tìm kiếm. Những điều khoản đức tin này thật cần thiết để khoa học hoạt động. Nếu không có sự tin tưởng "vô lý" rằng chúng ta sống trong một vũ trụ có thứ tự thì không thể nào có khoa học hiện đại. Khoa học cũng dựa vào điều tin tưởng không được hỗ trợ là tính cách hợp lý của vũ trụ được phản chiếu trong sự hợp lý của tâm trí loài người.

    Như vậy, trong một vũ trụ thống nhất, có thứ tự, và có thể gần gũi được, người Tây Phương có được đức tin này ở đâu? Làm thế nào chúng ta đi từ thời kỳ hỗn mang sang đến sự hài hòa? Câu trả lời của tôi, chỉ có một chữ, là Kitô Giáo.

    Kitô Giáo không phát minh ra ý tưởng về một vũ trụ hợp lý. Ý tưởng đó được phát minh bởi những người trước thời Socrat, tỉ như Thales, Parmenides, Heraclitus, và Pythagoras. Những người này có một số ý tưởng rất kỳ lạ, nhưng sự đóng góp lớn nhất của họ là thừa nhận một vũ trụ mà nó vận hành qua các quy luật được khám phá ra về nguyên nhân và hậu quả. Trước thời của những người này, có những thế giới thần thoại tỉ như câu chuyện của người Ai Cập về thần mặt trời, Ra, là người thỉnh thoảng du hành bằng xe ngựa ngang qua các bầu trời. Ngay cả người Hy Lạp cũng cho rằng sự thịnh nộ của Poisedon, thần biển hồ, gây nên các trận bão và động đất.

    Những người trước thời Socrat thay thế ý tưởng của một "vũ trụ mê hoặc" với một ý tưởng về vũ trụ "tỉnh ngộ" mà lý lẽ tự nhiên của con người có thể hiểu. Có lẽ họ không biết điều gì gây nên nguyệt thực và động đất, nhưng họ đã không tìm đến thần Ra và Poisedon để giải thích lý do. Đây là một biến chuyển quan trọng về ý thức. Không may, ảnh hưởng của họ quá ngắn ngủi. Điều này một phần là vì Socrates, ông lý luận rằng triết học không quan tâm đến những điều bất thường của thiên nhiên nhưng thay vào đó phải chú trọng đến bản chất con người. Những người trước thời Socrates còn bị đánh bại bởi các phiếm thần của người Hy Lạp, được tin rằng họ hành động bất thường để hoàn thành các mục đích bí hiểm của họ.

    Kitô Giáo làm sống lại ý tưởng về một vũ trụ có thứ tự qua cái nhìn về vũ trụ như tuân theo các quy luật mà nó biểu hiện sự hợp lý của Thiên Chúa sáng tạo. "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa." Chữ lời được dùng ở đây, là logos, tiếng Hy Lạp có nghĩa "ý nghĩ" hay "sự hợp lý". Thiên Chúa thì linh thiêng và dựng nên vũ trụ, và vũ trụ vận hành đúng theo lý lẽ của Thiên Chúa. Đồng thời, Kitô Giáo chủ trương rằng vũ trụ, tự nó thì không linh thiêng. Kinh Thánh viết, "Thiên Chúa dựng nên hai vầng sáng lớn, vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm." Với Kitô Hữu, mặt trời không phải là một đối tượng tôn thờ; nó chỉ là một cái đèn thật lớn. Vũ trụ của Kitô Giáo thì có thứ tự nhưng không mê hoặc. Hơn thế nữa, Kitô Giáo (ở đây du nhập di sản của Do Thái Giáo) dậy rằng con người được dựng nên theo "hình ảnh" và "giống" như Thiên Chúa. Điều này có nghĩa trong con người có chút tia lý lẽ của Thiên Chúa, khiến con người tách biệt khỏi những điều khác và ban cho nó sức mạnh hiểu biết về tạo vật. Theo Kitô Giáo, lý lẽ con người xuất phát từ sự hiểu biết của Thiên Chúa khi tạo nên vũ trụ.

    Đúng vậy, Kitô Giáo tin có phép lạ, mà nó có thể được coi như lệch hướng khỏi thứ tự thiên nhiên. Nhưng phép lạ thì đáng chú ý vì chúng ngoại lệ. Các phép lạ gây nên sự ngạc nhiên bởi vì chúng được tin là sản phẩm của một trật tự thiên nhiên mà nó bị tạm ngưng, trong những trường hợp họa hiếm. Hồi Giáo không chú trọng đến phép lạ bởi vì mọi thứ trong vũ trụ đều được coi là phép lạ. Thần học gia Hồi Giáo thời trung cổ là Abu Hamed al-Ghazali cho rằng Thiên Chúa can thiệp trong mọi giây phút để các biến cố trong vũ trụ xảy ra như vậy. Họ không đặt vấn đề quy luật: mọi thứ đều là sản phẩm của sự xâm phạm không ngừng của Thiên Chúa. Sử gia Joseph Needham giải thích rằng bất kể sự thịnh vượng và tinh tế của Trung Hoa thời xưa và thời trung cổ, khoa học không bao giờ được phát triển ở đây bởi vì "không có sự tin tưởng rằng quy luật tự nhiên có thể khám phá được và hiểu được, bởi vì không có sự đảm bảo rằng một Thiên Chúa lại đưa ra một quy luật để có thể hiểu được." Trong cuốn Science and the Modern World, Alfred North Whitehead kết luận rằng "đức tin trong tiềm năng của khoa học… là một tiềm thức phát sinh từ thần học thời trung cổ."

    Thời trung cổ ở Âu Châu đã nhìn thấy sự phát sinh của trường đại học, mà nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển khoa học hiện đại. Đầu tiên, các đan sĩ làm việc không biết mệt trong các phòng thí nghiệm để phục hồi lại kiến thức kinh điển đã bị tiêu hủy khi người man rợ càn quét Đế Quốc La Mã và gieo rắc sự hỗn loạn trên khắp lục địa. Trong một vài thế kỷ, các đan viện là những tổ chức duy nhất ở Âu Châu để thu nhận, duy trì, và trao truyền lại kiến thức.

    Sau đó các nhà thờ bắt đầu xây trường học, đầu tiên là tiểu học và sau đó là trung học. Dần dà những trường này ngày càng tiến bộ cho đến khi, vào thế kỷ mười hai, các đại học đầu tiên được thành lập ở Bologna và Balê. Trường Oxford và Cambridge được thành lập vào đầu thế kỷ mười ba, theo sau là các đại học ở Rôma, Naples, Salamanca, Seville, Prague, Vienna, Cologne, và Heidelberg. Các trường này có thể là chi nhánh của các nhà thờ, nhưng tự lập và tự trị. Học trình vừa có tính cách trần tục và thần học, nhờ vậy kiến thức khoa học mới của lúc ban đầu thời hiện đại mới có thể phát triển. Như Alvin Schmidt nói rõ, nhiều trường đại học tiên khởi của Hoa Kỳ--Harvard, Đại Học "William and Mary", Yale, Northwestern, Princeton, Dartmouth , Brown--khởi đầu là các trường Kitô Giáo.

    Robert Grosseteste, một giám mục dòng Phanxicô là người đầu tiên làm viện trưởng Đại Học Oxford, đề nghị rằng kiến thức có thể gom góp được qua một phương pháp có tính cách cảm nghiệm, quy nạp. Một vài thế kỷ sau, Francis Bacon—một người đạo đức viết luận án về Thánh Vịnh và sự cầu nguyện—dùng phương pháp quy nạp để ghi nhận các kết quả cảm nghiệm. Bacon lý luận rằng qua khả năng khám phá mà Chúa ban cho con người, họ có thể chu toàn sự ủy thác của Thiên Chúa cho loài người là thống trị tạo vật và ngay cả khôi phục lại một loại vườn Địa Đàng. Ngày nay Bacon được coi là cha đẻ của phương pháp khoa học, "người sáng tạo của sự phát minh". Chính nhờ sự bảo trợ của giáo hội mà các tổ chức nghiên cứu y khoa đầu tiên và đài thiên văn đầu tiên được thiết lập và hỗ trợ. Từ thời Trung Cổ cho đến thời Khai Sáng, một giai đoạn vài thế kỷ, giáo hội đã thi hành nhiều điều cho khoa học Tây Phương hơn bất cứ tổ chức nào khác.

    Chúng ta thường nghe rằng khoa học được tìm thấy trong thế kỷ mười bẩy để chống với các tín điều tôn giáo. Trên thực tế, khoa học được tìm thấy giữa thế kỷ mười ba và mười bốn qua một cuộc tranh luận về hai loại tín điều tôn giáo. Loại thứ nhất chủ trương rằng cuộc tranh luận của giới kinh viện, tiến hành theo các quy tắc nghiêm nhặt của lý luận suy diễn, là cách tốt nhất để khám phá ra bàn tay của Thiên Chúa trong vũ trụ. Loại kia chủ trường rằng cảm nghiệm suy diễn, kể cả việc sử dụng cảm nghiệm để "dò hỏi thiên nhiên," là phương cách thích hợp. Khoa học được lợi từ cả hai phương pháp này, dùng cảm nghiệm để kiểm tra các giả thuyết và sau đó dùng sự phê bình nghiêm khắc và tranh luận để thiết lập ý nghĩa của nó.

    Sử gia Lynn White cho thấy làm thế nào mà phương pháp khoa học mới đã khởi đầu một chuỗi sáng chế và canh tân trong thế kỷ mười ba. Theo Jean Gimpel, thế kỷ mười bốn là "một trong những thời kỳ phát minh vĩ đại nhất của loài người." Cuộc cách mạng kỹ nghệ mà White và Gimpel diễn tả thì không giống như bất cứ gì được biết trong thời cổ điển. Giữa các phương pháp nông nghiệp còn mò mẫm của các đan viện và cuộc nghiên cứu mới có tính cách lý thuyết và cảm nghiệm của đại học, Âu Châu đã hình thành một phương pháp mới để hiểu biết về thiên nhiên và đưa nó vào thực tế giúp ích cho các mục tiêu nhân bản. Một lục địa trước kia hoang tàn không bao lâu đã đầy các trường học, nông trại, và xí nghiệp, tất cả đã đưa sản phẩm của sự hiểu biết và nông nghiệp cũng như mậu dịch lên một mức độ mới. Các phát minh của thời kỳ này bao gồm quạt nước, quạt gió, lò sưởi, mắt kính, và đồng hồ cơ khí. Các phát minh này dường như khiêm tốn, nhưng chúng đã trách nhiệm cho sự khởi đầu một nền văn minh mà không lâu, trong sự học hỏi, ảnh hưởng, và sức mạnh, đã làm cho các văn hóa khác trên thế giới trở nên còi cọt.

    Có thể tìm thấy dấu vết của các khoa học gia chuyên nghiệp đầu tiên vào cuối thời Trung Cổ, và vì giai đoạn này, phần lớn không chỉ là Kitô Hữu mà họ còn coi công việc là chu toàn mục đích của Kitô Hữu. Morris Kline viết rằng "Khoa học gia thời Phục Hưng là một thần học gia có đối tượng là thiên nhiên thay vì Thiên Chúa." Điều này không có nghĩa thần học gia thời Phục Hưng trên con đường trần tục. Trái lại, họ tự coi như hoàn thành mục đích của Thiên Chúa trong một phương cách mới và tốt đẹp hơn, bởi đi ra ngoài khuôn khổ thánh thư của Chúa và khảo sát tạo vật của Người.

    Trong thế kỷ mười sáu, phong trào Cải Cách đưa ra một ý tưởng mới. Đây là quan điểm cho rằng sự hiểu biết không chỉ trong lĩnh vực của tổ chức giáo hội nhưng là mỗi người phải tự quyết định, nhất là khi đề cập đến vấn đề lương tâm. "Chức tư tế của cá nhân tín hữu" là một quan điểm vô cùng mạnh mẽ bởi vì nó tẩy chay phẩm trật của giáo hoàng, và cũng ngầm hiểu là mọi tổ chức trong phẩm trật. Nói cho cùng đó là một trang sử của tư tưởng độc lập, được tiến hành không bởi các tổ chức nhưng bởi các cá nhân. Những người Tin Lành tiên khởi đã không biết điều đó, nhưng họ đang đưa vào các ý niệm thần học mới nhằm đem lại sinh lực mới cho nền văn hóa khoa học vừa mới xuất hiện ở Âu Châu.

    Đây là một phần danh sách các khoa học gia hàng đầu là Kitô Hữu: Copernicus, Kepler, Galileo, Brahe, Descartes, Boyle, Newton, Leibnitz, Gassendi, Pascal, Mersenne, Cuvier, Harvey, Dalton, Faraday, Herschel, Joule, Lyell, Lavoisier, Priestley, Kelvin, Ohm, Ampere, Steno, Pasteur, Maxwell, Planck, Mendel. Một số đông các khoa học gia này là giáo sĩ. Gassendi và Mersenne là linh mục. George Lemaitre cũng thế, ông là nhà thiên văn Bỉ đầu tiên đưa ra thuyết "đại thanh" (big bang) về nguồn gốc vũ trụ. Mendel, người khám phá ra các quy tắc di truyền đem lại sự hỗ trợ mạnh mẽ cho thuyết tiến hóa, đã sống cả cuộc đời như một đan sĩ dòng Augustin. Khoa học hiện đại sẽ ở đâu nếu không có những người này? Một số là Tin Lành và một số là Công Giáo, nhưng tất cả đều nhìn đến thiên hướng khoa học theo các quan hệ hiển nhiên của Kitô Giáo.

    Copernicus, là một kinh sĩ của vương cung thánh đường ở Krakow, coi thiên văn như "một khoa học gần với Chúa hơn con người" và coi thuyết nhật tâm của ông như tiết lộ sự phối hợp vĩ đại của Thiên Chúa đối với vũ trụ. Boyle là một người Anh Giáo đạo đức, ông tuyên bố rằng các khoc học gia là những người được Chúa trao cho sứ mệnh phục vụ như "các tư tế của sách thiên nhiên." Công trình của Boyle bao gồm các nghiên cứu khoa học và tiểu luận thần học. Trong chúc thư, ông để lại tài sản nhằm hỗ trợ cho một chuỗi bài diễn thuyết chống với chủ thuyết vô thần. Newton hiển nhiên là một Kitô Hữu thần bí, ông viết nhiều bài nhận định về lời ngôn sứ trong kinh thánh từ sách Daniel và Khải Huyền. Có lẽ là khoa học gia vĩ đại nhất trong mọi thời đại, Newton coi những khám phá của ông như chứng tỏ sự sáng tạo tài tình của công trình Thiên Chúa trong thiên nhiên. Ông viết, "Hệ thống mỹ miều nhất của mặt trời, các hành tinh, và vũ trụ chỉ có thể phát sinh từ ý định và quyền năng của một hữu thể thông minh và quyền lực." Thiên Chúa của Newton không giống như người làm đồng hồ, chỉ làm cho vũ trụ chuyển động rồi sau đó rút lui. Thay vào đó, Thiên Chúa là một tác nhân tích cực duy trì các vật thể trên trời trong vị trí của nó và rất quan tâm đến tạo vật đặc biệt của Người, là loài người.

    Thí dụ của Kepler cho thấy, niềm tin Kitô Giáo của các khoa học gia vĩ đại này không phải là tình cờ đối với công việc. Đúng ra, các niềm tin này là những linh hứng dẫn dắt các khoa học gia. Kepler viết, "Tôi đã muốn trở thành một thần học gia. Tuy nhiên, giờ đây tôi mới thấy, bởi nỗ lực của tôi Thiên Chúa được tán dương qua thiên văn học." Là một người nhiệt liệt hỗ trợ thuyết nhật tâm của Copernicus, Kepler chủ trương rằng vũ trụ có tâm điểm mặt trời là một hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, với mặt trời tượng trưng cho Thiên Chúa, các tinh tú và hành tinh tương trưng cho Chúa Kitô, và chuyển dịch của các thiên thể tượng trưng cho Chúa Thánh Thần. Khi Kepler khám phá ra rằng các hành tinh không di chuyển theo vòng tròn nhưng theo hình trái soan cân xứng, ông bị một số thần học gia chỉ trích là khước từ sự mỹ miều của hoạch định tạo dựng của Thiên Chúa. Các thần học gia này lý luận rằng chắc chắn Thiên Chúa sẽ phải dùng các vòng tròn tuyệt hảo để bố trí sự vận chuyển của hệ thống hành tinh!

    Tuy nhiên, dựa trên đức tin Kitô Giáo sâu đậm, Kepler biết chắc rằng Thiên Chúa đã dùng đến một khuôn mẫu mỹ miều hơn nữa, và ông đã phải vất vả để tìm hiểu. Khi khám phá ra đó là gì—ba định luật của ông về sự chuyển động của các hành tinh—ông đã cảm nghiệm một điều gì đó về hiển linh tinh thần. Kepler tuyên bố rằng định luật của ông cho thấy Thiên Chúa đã dùng một hệ thống đơn giản hơn nhiều và thanh lịch hơn hệ thống trước đây được mô tả trong hệ thống Ptolemaic của vòng tròn và ngoại luân. Trong lời cầu nguyện kết thúc cuốn "The Harmony of the World", Kepler xin Chúa "ban ơn để các minh chứng này có thể đưa đến sự vinh hiển cho Chúa và sự cứu rỗi các linh hồn."

    Các định luật của Kepler thừa nhận những tương giao kỳ lạ. Tỉ như, định luật thứ ba của Kepler nói rằng số bình phương thời gian của một vòng quay của hành tinh thì tỉ lệ với lũy thừa ba khoảng cách trung bình của nó đến mặt trời. Làm thế nào người ta có thể tính toán ra được? Phần lớn Kepler biết được điều này vì ông tin rằng có mối quan hệ toán học mỹ miều được ẩn giấu ở đó và chờ đợi ông. Một phần của thiên hướng Kitô Giáo của ông là đi tìm điều đó và phổ biến để Thiên Chúa được vinh danh hơn. Sự thành công của Kepler dẫn đến sự nhận biết đáng kinh ngạc rằng động lực tôn giáo đôi khi có thể đưa đến những khám phá kinh hoàng làm thay đổi lịch sử khoa học.

    Điều này dường như lỗi thời đối với ngày nay, nhưng không phải như vậy. Các khoa học gia thường tìm kiếm các mô hình và trật tự mới trong thiên nhiên, và họ dùng một điều dường như có vẻ khác thường để xác định xem họ có đi đúng đường hay không. Họ thường tự hỏi mối quan hệ ấy có "đơn giản" hay có "mỹ miều" không. Những mô hình nào quá nặng nề hay "xấu xa" thường bị tẩy chay dựa trên các nền tảng ấy.

    Tại sao? Bởi vì ngay cả một khoa học gia trần tục nhất cũng cho rằng các thực thể trong thiên nhiên thì không chỉ có thứ tự mà còn mỹ miều. Tôi cho rằng, điều này là phần sót lại của Kitô Giáo về khoa học hiện đại. Nó là tiếng thì thào, nếu chúng ta nghe được, rằng ngay cả ngày nay khoa học của chúng ta dựa trên các nền tảng tôn giáo. Ngay cả các khoa học gia trần tục không thể tránh khỏi các điều thừa nhận của Kitô Giáo, và một số người am tường nhất của họ đã công nhận điều này. Einstein thú nhận rằng "trong bất cứ ai thực sự tìm kiếm thiên nhiên, đều có một loại sùng kính tôn giáo." Nhà sinh vật học Joshua Lederberg mới đây nói trong tạp chí Science rằng, "Điều không thể bàn cãi là sự thôi thúc tôn giáo dẫn dắt chúng ta trong động lực duy trì việc tìm tòi có tính cách khoa học." Sự thôi thúc đó bắt nguồn từ Kitô Giáo.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  10. #10

    Mặc định

    CHƯƠNG 10

    MỘT NGỤ NGÔN VÔ THẦN: TÁI MỞ HỒ SƠ GALILÊ

    "Tôi tin rằng vụ án Galilê là một loại bi kịch Hy Lạp, một cuộc tỉ thí giữa đức tin mù quáng và lý trí được khai sáng, một sai lầm ngây thơ."
    Arthur Koestler, The Sleepwalkers

    S
    ất kể vai trò của Kitô Giáo trong nguồn gốc và sự phát triển của khoa học, đề tài về cuộc chiến giữa khoa học và tôn giáo vẫn dai dẳng. Điều gì đã đem lại sức mạnh để kéo dài câu chuyện này? Đó là những trường hợp được phúc trình về việc giáo hội ngược đãi các khoa học gia như Copernicus và Galileo. Các văn sĩ vô thần đề cập đến chủ đề này với sự báo thù. Daniel Dennett chọn riêng Giáo Hội Công Giáo và chê bai "cái di sản đáng tiếc khi ngược đãi chính các khoa học gia của mình." Bruce Jakosky viết, "Quan điểm của Copernicus không được giáo hội đón nhận; quá trình sự ngược đãi ông ta thì thật nổi tiếng." Carl Sagan miêu tả Galileo "trong một ngục tù của Công Giáo bị đe dọa bằng sự tra tấn" vì "quan điểm lạc giáo của ông cho rằng trái đất xoay chung quanh mặt trời." Nhận xét rằng Galileo "không được tha cho tội lạc giáo mãi cho đến năm 1992," Sam Harris nhắc lại truyền thống Kitô Giáo về "sự tra tấn các học giả cho đến độ điên dại chỉ vì nghiên cứu về bản chất các tinh tú."

    Về câu chuyện khoa học chống với tôn giáo, nó có đặc tính của phim Star Wars. Nó thường được miêu tả như một cuộc chiến giữa thiện và ác: người tốt lành đề ra một phương cách mới về sự hiểu biết dựa trên thử nghiệm và chứng cớ. Các lực lượng tối tăm bị giam hãm trong học thuyết cổ xưa xuất phát từ các sách thiêng liêng, tỉ như niềm tin cũ rích cho rằng trái đất là mặt phẳng. Bất kể sự ngu dốt của mình, các lực lượng tối tăm chiếm đóng các vị thế chính trị. Sợ rằng kiểu cách mê tín cổ lỗ của mình bị đe dọa, các lực lượng tối tăm đàn áp và ngược đãi những người bất đồng quan điểm với sự chính thống. Một cuộc chiến khủng khiếp xảy ra sau đó. Nhiều người tốt lành bị kết án là lạc giáo chỉ vì đề cao các lý thuyết khoa học có giá trị. Giordano Bruno bị thiêu sống vì nói rằng vũ trụ thì vô tận. Copernicus và Galileo bị ngược đãi vì chứng minh rằng trái đất quay chung quanh mặt trời. Thật may mắn, lịch sử buồn thảm này hiện thời đã đi vào quá khứ; các lực lượng ánh sáng đã chế ngự các lực lượng tối tăm. Ngày nay khoa học đang trên đà phát triển và tôn giáo đang thoái hóa. Các khoa học gia bây giờ có thể hoạt động mà không bị cản trở và ngay cả Giáo Hội Công Giáo cũng đã xin lỗi về cách đối xử với Galileo. Luân lý của câu chuyện là chúng ta luôn luôn phải biết ơn về sự phát sinh của khoa học và tỉnh thức coi chừng tính cách cuồng tín của tôn giáo.

    Bi kịch rùng rợn này bị mất chất lượng chỉ vì một khuyết điểm duy nhất: nó không đúng sự thật. Sử gia David Lindberg viết, "Không có cuộc chiến giữa khoa học và giáo hội." Thật vậy, hầu hết các sử gia đều cho rằng câu chuyện khoa học chống với tôn giáo là một thêu dệt trong thế kỷ mười chín. Tên tuổi của những người thêu dệt đều được biết. Người đầu tiên là John William Draper, người giới thiệu mô hình "cuộc chiến" trong cuốn sách nổi tiếng của ông, "History of the Conflict between Religion and Science" (Lịch sử cuộc xung đột giữa tôn giáo và khoa học) xuất bản năm 1874. Cuốn sách này thì đầy những điều dối trá và trơ trẽn, và ngày nay được coi là tiêu biểu cho thành kiến chống tôn giáo vào cuối thế kỷ 19. Người thứ hai là Andrew Dickson White, là khoa trưởng đầu tiên của Đại Học Cornell, mà tập khảo cứu của ông năm 1896, "History of the Warfare of Science with Theology in Christendom", (Lịch sử cuộc chiến khoa học với thần học Kitô giáo) chỉ là một giải thích có tính cách ngụy biện về cuộc chiến ấy, không kém phần lừa dối như của Draper.

    Các nguồn tài liệu này hiện giờ không còn đáng tin cậy, nhưng âm hưởng của chúng vẫn còn được sử dụng bởi các văn gia vô thần nổi tiếng. Âm hưởng này hiện thời vẫn còn được ngâm nga trong nền văn hóa hiện đại của chúng ta, ngay cả bởi những người biết rất ít chi tiết của vấn đề. Cho đến ngày nay, nhiều người tin rằng giáo hội trung cổ chủ trương rằng trái đất thì bằng phẳng cho đến khi khoa học hiện đại chứng minh là nó hình tròn. Trên thực tế, người Hy Lạp xưa và Kitô Hữu thời trung cổ đều biết rằng trái đất thì tròn. Họ quan sát thấy thân tầu buồm thì biến dạng trước đỉnh cột buồm. Họ cũng thấy rằng khi nguyệt thực, trái đất tạo nên bóng tròn trên mặt trăng. Vũ trụ học của Dante thời trung cổ được dựa trên ý tưởng khối cầu của trái đất. Bởi thế ý nghĩ cho rằng giáo hội tin là trái đất bằng phẳng, đó là một pha chế của những người tuyên truyền chống tôn giáo vào thế kỷ mười chín.

    Các tình tiết nổi tiếng khác trong cuộc chiến vĩ đại này cũng đòi hỏi phải thận trọng duyệt xét lại. Bạn có nhớ cuộc tranh luận nổi tiếng giữa Samuel Wilberforce, giám mục của Oxford , và đồng minh của Darwin là Thomas Henry Huxley không, trong đó vị giám mục chế nhạo Huxley và Huxley phản pháo với một bác bỏ có tính cách hạ nhục? "Cuộc trao đổi này mau chóng trở nên huyền thoại," Edward Larson nhận xét như thế trong cuốn sách của ông, Evolution. Như Larson và nhiều người khác kể lại câu chuyện này, Wilberforce đã hỏi Huxley rằng ông xuất xừ từ con khỉ là về phía ông tổ hay bà tổ. Huxley đã nghiêm nghị trả lời rằng thà ông ta có bà con với một con khỉ đáng thương hơn là bà con với một giám mục là người đã dùng thẩm quyền của chức vụ để chế nhạo cuộc tranh luận khoa học về một vấn đề nghiêm trọng. Câu chuyện này được lan tràn rộng rãi đến độ các sử gia đã phải kiểm chứng lại trong biên bản của tổ chức British Association và họ ngạc nhiên khám phá thấy rằng điều đó không bao giờ xảy ra. Bạn của Darwin là Joseph Hooker cũng có mặt trong cuộc tranh luận, và ông báo cáo cho Darwin biết là Huxley không trả lời cho lý luận của Wilberforce. Việc Larson sử dụng chữ "huyền thoại" thì thật đúng với nghĩa đen trong khung cảnh này.

    Với hầu hết dân chúng, không tình tiết nào miêu tả sự xung đột giữa khoa học và tôn giáo một cách bi thảm cho bằng vụ án Galileo. Vào cuối thập niên 1930, Bertolt Brecht viết một kịch bản xuất sắc, Life of Galileo, và được dựng thành phim vào năm 1975 bởi đạo diễn Hoa Kỳ Joseph Losey. Bản kịch của Bretcht là câu chuyện về ác tâm của giáo sĩ và ưu điểm của khoa học. Nó là bản phong thánh cho Galileo thành một vị thánh thế tục. Và đây là vị thế mà Galileo chiếm ngự trong văn hóa chúng ta ngày nay, một vị tử đạo vì chính nghĩa khoa học.

    Khi các văn gia vô thần nói về "lịch sử" bách hại các khoa học gia của giáo hội, họ thường trưng ra vụ án Galileo. Copernicus không bao giờ bị giáo hội ngược đãi. Giordano Bruno, người độc lập tư tưởng, bị thiêu sống, nhưng như sử gia Thomas Kuhn vạch rõ, "Bruno không bị hành quyết vì học thuyết Copernicus nhưng vì một chuỗi lầm lạc thần học về Thiên Chúa ba ngôi." Sự hành quyết Bruno quả thật là sự bất công khủng khiếp, nhưng nó không liên can gì đến sự xung đột giữa khoa học và tôn giáo. Trước thế kỷ thứ mười hai và sự thanh trừng của Stalin và Hitler, chỉ có một khoa học gia nổi tiếng bị hành quyết bởi sắc lệnh của chính phủ. Đó là hóa học gia vĩ đại Antoine Lavoisier, một người Công Giáo chân thành bị Jacobins chém đầu trong thời Cách Mạng Pháp.

    Chúng ta nên trở lại với Galileo. Trong chương này tôi muốn nhờ vào sự nghiên cứu lịch sử để mở lại vụ án Galileo. Nếu luận điệu của người vô thần về vụ án này không thể đứng vững trước sự khảo xét của tôi, thì toàn thể tính chất quá đáng của xung đột giữa khoa học với tôn giáo sẽ bị tiêu tan như một trò hề. Trước thế kỷ thứ mười sáu, hầu hết người có học thức chấp nhận các lý thuyết của nhà thiên văn Ptolemy người Hy Lạp, ông chủ trương rằng trái đất thì cố định và mặt trời quay chung quanh trái đất. Ý tưởng trái đất là tâm của vũ trụ là một ý niệm cổ xưa, không chỉ của Kitô Giáo. Người tín hữu Kitô chấp nhận ý niệm này, dù không có trong Kinh Thánh. Kinh Thánh không bao giờ nói rằng mặt trời xoay chung quanh trái đất. Kinh Thánh im lặng về vấn đề khoa học. Có một vài đoạn đề cập đến việc mặt trời mọc và lặn, nhưng có thể hiểu là một đoạn văn thiêng liêng dùng đến ngôn ngữ dễ hiểu của con người. (Ngay cả các chuyên gia khí tượng, họ biết rõ là trái đất xoay chung quanh mặt trời, nhưng vẫn dùng thuật ngữ thông thường: "Ngày mai mặt trời sẽ mọc vào lúc 5g sáng"). Lý do người tín hữu Kitô chấp nhận Ptolemy là vì lý thuyết phức tạp của ông được hỗ trợ bởi trực giác và đem lại những tiên đoán chính xác hợp lý về sự vận chuyển của các thiên thể.

    Thật thú vị là có một nhà tư tưởng Hy Lạp, Aristarchus ở Samos , đã đề ra thuyết tâm mặt trời mãi từ thế kỷ thứ ba trước công nguyên. Sử gia David Lindberg viết, "Aristarchus được tán dương vì ông đoán trước Copernicus." Nhưng có phải Aristarchus và các môn đệ của ông là khoa học gia không? Để tránh sự sai lầm có tính cách phản hồi khi dùng kiến thức hiện đại để đánh giá các xác nhận về khoa học trong quá khứ, chúng ta phải xem xét các dữ kiện vào thời bấy giờ. Như Lindberg có viết, "Vấn đề không phải là chúng ta có những lý do đáng tin cậy về thuyết tâm mặt trời, nhưng là họ có các lý do nào như thế không, và câu trả lời là họ không có."

    Dữ kiện có cho đến ngày Galileo bênh vực Ptolemy. Kuhn nhận xét rằng trong suốt thời Trung Cổ có những người đưa ra thuyết tâm mặt trời. "Họ bị nhạo cười và lãng quên", Kuhn viết thêm, "các lý do tẩy chay thật xuất sắc." Hãy xem một vài thí dụ ông viết. Trái đất dường như không di chuyển, và tất cả chúng ta có thể thấy mặt trời mọc vào buổi sáng và lặn vào buổi chiều. Nếu trái đất quay chung quanh mặt trời với tốc độ cao, chim chóc và mây và những vật nào không bám vào đất sẽ rơi lại đằng sau. Một hòn đá ném lên trời sẽ rơi xuống đất cách đó nhiều dặm, vì khi trái đất di chuyển được một khoảng cách đáng kể thì vật ấy vẫn còn ở trên không. Người ta đứng trên mặt đất sẽ bị té ngã. Vì không thấy có điều nào kể trên xảy ra, trái đất được coi là cố định.

    Galileo là một nhà thiên văn người Florentine được Giáo Hội Công Giáo rất tôn trọng. Ông từng là một người hỗ trợ thuyết tâm địa cầu của Ptolemy. Galileo ngày càng tin rằng Copernicus thì đúng, trái đất thực sự quay chung quanh mặt trời. Copernicus đưa ra lý thuyết của ông vào năm 1543 trong một cuốn sách được tặng cho đức giáo hoàng. Copernicus thú nhận rằng ông không có chứng cớ vật lý, nhưng ưu điểm của thuyết tâm mặt trời là nó đưa đến nhiều tiên đoán tốt hơn về các qũy đạo của hành tinh. Ý tưởng mới của Copernicus đã gây nên nhiều cuộc tranh luận trong cộng đồng tôn giáo và khoa học, mà lúc bấy giờ không rõ biên giới. Nửa thế kỷ sau, khi Galileo đi vào vấn đề, quan điểm chiếm ưu thế là Copernicus đã đưa ra một giả thuyết rất thú vị nhưng chưa được chứng minh, rất hữu ích để tính toán sự vận chuyển của các thiên thể nhưng không đủ sức thuyết phục để loại bỏ toàn thể thuyết tâm địa cầu.

    Sự đóng góp của Galileo cho giả thuyết Copernicus thì quan trọng nhưng không dứt khoát. Đây là điểm quan trọng cần nhớ, bởi vì huyền thoại được thêu dệt chung quanh Galileo hầu như dựa trên các biến cố không bao giờ xảy ra. Kuhn kể câu chuyện mà tất cả chúng ta đều biết khi còn đi học về việc Galileo leo lên đỉnh tháp nghiêng Pisa rồi thả các vật nặng và nhẹ xuống đất. Ông cho rằng, trái với sự hiểu biết bằng trực giác, các vật này chạm mặt đất cùng một lúc. Câu chuyện kể tiếp, một thí nghiệm đơn giản đã đánh đổ một giả thuyết có từ hàng ngàn năm thời trung cổ.

    Trên thực tế, Galileo không làm thí nghiệm này ở Pisa hay bất cứ đâu; thí nghiệm này được thi hành bởi một trong các môn sinh của ông. Hơn thế nữa, thực sự vật nặng hơn rơi xuống đất trước. Ngày nay chúng ta hiểu tại sao có trường hợp như vậy. Chỉ khi nào được thí nghiệm trong một môi trường thiếu sức cản không khí thì mọi vật thể đều rơi xuống với cùng một tốc độ. Kuhn viết, "Trong thế giới hàng ngày, vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ… Quy luật của Galileo thì hữu ích hơn cho khoa học… không vì nó xuất sắc tiêu biểu cho sự thí nghiệm, nhưng vì nó vượt trên sự thiển cận thông thường mà giác quan không thấy để đi đến một khía cạnh chủ yếu hơn, nhưng được ẩn giấu, của sự chuyển động. Để minh chứng quy luật mà Galileo nhận xét cần phải có dụng cụ đặc biệt. Chính Galileo có được quy luật này không bởi sự quan sát… nhưng bởi một chuỗi lý luận hợp lý."

    Nhờ sáng chế một viễn vọng kính mạnh hơn những người khác vào thời ấy, Galileo có những quan sát quan trọng về các mặt trăng của Jupiter, chu kỳ của Venus, và các đốm đen trên mặt trời mà chúng làm suy yếu thuyết Ptolemy và phù hợp với giả thuyết của Copernicus. Galileo đem những quan sát này trình bầy với các linh mục dòng Tên, họ là những nhà thiên văn nổi tiếng thời bấy giờ, và họ đồng ý với ông là các quan sát của ông đã giúp củng cố thuyết tâm mặt trời. Các cha dòng Tên nói với Galileo rằng giáo hội đang chia rẽ, nhiều giáo sĩ ủng hộ Ptolemy trong khi nhiều người khác cho rằng Copernicus thì đúng. Ngay cả vậy, các cha dòng Tên kết luận rằng vấn đề còn bỏ ngỏ và họ không nghĩ rằng Galileo giải quyết được vấn đề. Tyco Brahe, nhà thiên văn vĩ đại nhất của thời ấy, đồng ý rằng các chứng cớ của Galileo chưa đủ và ông tiếp tục hỗ trợ thuyết tâm địa cầu. Danh tiếng của Brahe thật vĩ đại đến độ nhiều nhà thiên văn không dám quay sang thuyết Copernicus cho đến khi ông từ trần.

    Có thể nhiều độc giả ngạc nhiên khi biết rằng đức giáo hoàng là một trong những người ngưỡng mộ Galileo và hỗ trợ các cuộc nghiên cứu khoa học đến độ bảo trợ tổ chức trong các đại học và đài thiên văn. Trưởng Toà Thẩm Tra cũng vậy, vị thần học gia uyên bác là Đức Hồng Y Robert Bellarmine. Khi bài nói chuyện của Galileo để hỗ trợ cho thuyết tâm mặt trời được phúc trình lên Tòa Thẩm Tra, dường như bởi các học giả thù nghịch với Galileo ở Florence, ĐHY Bellarmine đã đến gặp Galileo. Đây không phải là một thủ tục thông thường của Tòa Thẩm Tra, nhưng Galileo là một người nổi tiếng. Năm 1616 ông đến Rôma với sự đón tiếp nồng nhiệt, ở đây ông cư ngụ trong đại biệt thự Medici, được gặp đức giáo hoàng hơn một lần, và tham dự các buổi tiếp tân do một vài giám mục và hồng y tổ chức.

    Điều nhận xét của Bellarmine có liên hệ đến Galileo thì thật đáng nhớ và đáng kể lại. Bellarmine viết, "Trong khi cảm nghiệm nói với chúng ta rõ ràng rằng trái đất thì bất động, nếu có một chứng minh đích thật cho rằng mặt trời là tâm điểm của vũ trụ… và mặt trời không quay xung quanh trái đất nhưng trái đất xoay chung quanh mặt trời, thì chúng ta phải xúc tiến với sự thận trọng để giải thích các đoạn kinh thánh mà dường như dậy bảo ngược lại, và tốt hơn nên thú nhận là chúng ta không hiểu các đoạn ấy hơn là công bố một ý niệm sai lầm đã được minh chứng là đúng. Nhưng đây không phải là điều nên thi hành vội vã, và đối với tôi, tôi sẽ không tin có những chứng minh như vậy cho đến khi được trình bầy cho tôi."

    Đây là kiểu mẫu của một thủ tục khôn ngoan. Bellarmine cho rằng không thể có mâu thuẫn thực sự giữa thiên nhiên và kinh thánh, đó là điều Kitô giáo luôn dậy bảo. Do vậy, ngài lý luận, nếu chúng ta thường đọc kinh thánh theo một chiều và chứng cớ thiên nhiên cho thấy chúng ta sai, thì chúng ta cần xem lại cách dẫn giải kinh thánh và thú nhận sự sai lầm của chúng ta. Nhưng trước hết phải biết chắc có chứng cớ khoa học thực sự trước khi khởi sự thay đổi cách giải thích kinh thánh là điều chúng ta được dậy bảo từ bao lâu nay. Bellarmine đưa ra một giải pháp. Dựa vào chứng cớ không có sức thuyết phục về lý thuyết này và sự tế nhị của vấn đề tôn giáo, Galileo đừng nên giảng dậy hay cổ vũ thuyết tâm mặt trời. Galileo, một người Công Giáo tốt lành muốn trung thành với giáo hội, đã đồng ý. Bellarmine đưa một huấn thị và lập biên bản của thủ tục và đã được lưu trong hồ sơ của giáo hội.

    Trong một vài năm, Galileo giữ lời và tiếp tục quan sát và thảo luận mà không công khai cổ vũ thuyết tâm mặt trời. Sau đó ông nhận được tin vui là ĐHY Maffeo Barberini được chọn làm Đức Giáo Hoàng Urban VIII. Barberini là một khoa học gia "cấp tiến," từng tranh đấu để công trình của Copernicus không bị đưa vào thư mục những cuốn sách bị cấm. Cũng đáng kể không kém, Barberini là một người hâm mộ Galileo, và ngay cả làm thơ để tán dương ông. Galileo tin tưởng rằng bây giờ ông có thể công khai giảng dậy về thuyết tâm mặt trời. Nhưng vị thế mới của đức giáo hoàng về vấn đề này thì thật phức tạp. Đức Urban VIII chủ trương rằng trong khi khoa học có thể hữu ích trong việc đo lường và tiên đoán về vũ trụ, nó không thể cho rằng có hiểu biết thực sự về thực thể mà chỉ có Thiên Chúa mới biết. Giả thuyết này, nghe có vẻ lạ lùng, thì thực sự rất gần với điều mà bây giờ một số nhà vật lý tin tưởng, và như chúng ta sẽ thấy, nó hoàn toàn phù hợp với minh chứng triết học của Kant về những giới hạn của lý lẽ.

    Do đó khi Galileo cho xuất bản cuốn Dialogue Concerning the Two Chief World Systems (Đối Thoại về Hai Hệ Thống Chính của Vũ Trụ) năm 1632, giáo hội rơi vào tình thế khó xử. Trước hết, Galileo cho rằng đã minh chứng được sự thật về thuyết tâm mặt trời, nhưng thật ra minh chứng của ông thì sai lầm. Một trong những lý lẽ chính của Galileo là cho rằng sự chuyển dịch mau lẹ của trái đất chung quanh mặt trời tạo nên thủy triều. Đây là vấn đề của thời bấy giờ, và giờ đây chúng ta biết rằng mặt trăng là yếu tố chính gây nên thủy triều. Galileo cũng cho rằng, giống như Copernicus, các hành tinh chuyển dịch theo đường tròn, dù rằng vào thời Galileo, Kepler đã từng chứng minh là qũy đạo hình bầu dục. Galileo dám chắc rằng Kepler sai.

    Thứ hai, Galileo đã làm đức giáo hoàng bối rối khi dựng cuộc "đối thoại" của ông với hai khuôn mặt, một đại diện cho chính ông và một đại diện cho đức giáo hoàng. Để sự tương phản càng nổi bật, Galileo đặt tên cho đức giáo hoàng là Simplicio, tiếng Ý có nghĩa "Người Khờ". Căn bản, cuộc đối thoại bao gồm những luận điệu ngu xuẩn của Simplicio bị bác bỏ một cách tao nhã bởi nhân vật tượng trưng cho Galileo. Đức giáo hoàng không lấy làm vui.

    Sai lầm thứ ba của Galileo là văn bản của ông không chỉ nằm trong các vấn đề khoa học; ông còn đưa ra giả thuyết của chính ông về cách dẫn giải Kinh Thánh. Galileo lý luận rằng Kinh Thánh phần lớn có tính cách ẩn dụ và đòi hỏi phải giải thích lại để đào xới ý nghĩa thực sự của nó. Các cha dòng Tên đã cảnh cáo ông đừng đi vào lãnh vực này. Họ nói với Galileo, Kinh Thánh là lãnh vực của giáo hội. Với những ngạo mạn và thiếu khôn ngoan thường thấy nơi các đại khoa học gia, Galileo đã bỏ qua lời khuyên này. Do đó khi ông bị phúc trình một lần nữa lên Tòa Thẩm Tra, các đối thủ của ông đã có thể chê trách ông không vì lý do khoa học nhưng còn vì lý do là ông ngấm ngầm phá hoại sự giảng dậy tôn giáo của giáo hội.

    Sau cùng, đây là thời kỳ Cải Cách. Các nhà tư tưởng Tin Lành đang tấn công giáo hội Công Giáo với lý do không coi trọng Kinh Thánh. Đức Urban VIII hăng hái minh chứng Vatican trung thành với Kinh Thánh, và thuyết tâm địa cầu là một dẫn giải được đồng ý trong lập trường chính thức của người Công Giáo và Tin Lành. Nếu sự Cải Cách xảy ra một thế kỷ trước hay sau, Richard Blackwell viết, "sự kiện Galileo có lẽ đã không xảy ra." Tuy nhiên, dưới những tình huống hiện hành, đức giáo hoàng đồng ý cho tiến hành vụ Galileo.

    Năm 1633, Galileo trở lại Rôma, là nơi ông được đối xử một cách tôn trọng. Ông đã có thể thắng được vụ án này, nhưng trong cuộc điều tra, vài người tìm thấy những lá thư ngắn của ĐHY Bellarmine trong hồ sơ. Galileo đã không cho Tòa Thẩm Tra biết--thực sự ông không cho ai biết--về sự đồng ý trước đây là không giảng dậy hay cổ vũ cho thuyết Copernicus. Giờ đây, Galileo được coi như lừa dối giáo hội cũng như không sống đúng với điều ông đồng ý. Ngay cả những người trong giáo hội có thiện cảm với ông cũng thấy khó để bênh vực cho ông vào thời điểm này.

    Nhưng họ khuyên ông hãy thú nhận là ông đã cổ vũ cho thuyết Copernicus trái với thỏa ước giữa ông với Bellarmine, và ông hãy chứng tỏ sự ăn năn hối lỗi. Thật ngạc nhiên, Galileo xuất hiện trước Tòa Thẩm Tra và quả quyết rằng cuốn Dialogue của ông không bào chữa cho thuyết tâm mặt trời. "Trong sách ấy tôi không duy trì và cũng không bào chữa quan điểm rằng trái đất di chuyển và mặt trời phải đứng yên nhưng đúng hơn chứng tỏ điều trái ngược với quan điểm của Copernicus và cho thấy rằng các lý luận của Copernicus thì không chắc chắn và không có sức thuyết phục."

    Điều thường được lập đi lập lại nhiều lần là Galileo thì thào nói trong hơi thở rằng, "Tuy vậy nó di chuyển." Nhưng nhận xét này thuần túy thêu dệt. Thật vậy, không có phúc trình nào cho thấy Galileo đã nói như thế. Ở đây người ta phải thấy thương hại cho các nguyên cớ của Galileo. Có lẽ ông đưa ra nhận định từ chối thuyết tâm mặt trời vì mệt mỏi và chán nản. Ngay cả vậy, các viên chức Tòa Thẩm Tra cũng có thể được bào chữa khi họ coi quan điểm của Galileo ở lúc này là một người nói dối trắng trợn. Sự bào chữa của Galileo, Arthur Koestler viết, thì quá "thiếu thành thật hiển nhiên đến độ vụ kiện của ông sẽ bị thua trong bất cứ tòa nào." Tòa Thẩm Tra kết luận rằng Galileo chủ trương quan điểm tâm mặt trời, và đòi hỏi ông phải công khai rút ý kiến ấy. Galileo đã thi hành như vậy, vào thời điểm ông bị giam tại gia.

    Trái với sự tuyên truyền của một số nhà vô thần, Galileo không bao giờ bị kết tội lạc giáo, và không bao giờ bị giam trong ngục tối hay bị tra tấn bằng bất cứ cách nào. Sau khi công khai rút ý kiến, ông được đặt dưới sự giám hộ của đức tổng giám mục của Siena , là người cho ông cư ngụ trong biệt thự lộng lẫy trong năm tháng. Sau đó ông được phép trở về biệt thự của ông ở Florence . Trên lý thuyết ông bị giam tại gia, nhưng thực tế ông có thể đi thăm con gái ở tu viện San Matteo. Giáo hội cũng cho phép ông tiếp tục nghiên cứu khoa học về các vấn đề không liên can đến thuyết tâm mặt trời, và ông đã cho công bố kết quả nghiên cứu quan trọng trong thời gian này. Galileo chết một cách tự nhiên vào năm 1642. Kuhn cho biết, chính trong các thập niên sau đó, xuất hiện các bằng chứng mới hơn và mạnh mẽ hơn về giả thuyết tâm mặt trời, và quan điểm khoa học này, bị chia đôi trong thời Galileo, trở nên quan điểm của đa số mà chúng ta chia sẻ ngày nay.

    Chúng ta có thể kết luận gì về vụ Galileo? "Hình ảnh quen thuộc về Galileo như một vị tử đạo vì sự tự do tư tưởng và một nạn nhân của sự đàn áp khoa học của giáo hội," sử gia Gary Ferngren viết, "được chứng tỏ không hơn gì một sự biếm họa." Vụ kiện này là một "bất thường", sử gia Thomas Lessl viết, "một gián đoạn tạm thời trong sự tương giao hài hòa" hiện có giữa Kitô Giáo và khoa học. Thật vậy, trong lịch sử giáo hội Công Giáo không có một thí dụ nào khác về việc lên án một giả thuyết khoa học.

    Galileo là một khoa học gia vĩ đại nhưng thiếu khôn ngoan. Ông rất đúng về thuyết tâm mặt trời, nhưng vài lý lẽ và minh chứng của ông thì sai. Cuộc tranh luận về ý tưởng của ông thì không chỉ giới hạn giữa tôn giáo và khoa học, nhưng còn giữa khoa học mới và khoa học của thế hệ trước. Các khuôn mặt lãnh đạo của giáo hội thì thận trọng hơn khi tiếp cận với các vấn đề khoa học, mà chúng thực sự chưa ổn định vào thời ấy, hơn là đối với Galileo. Giáo hội không nên đưa ông ra tòa, nhưng phiên xử của ông được tiến hành với sự dè dặt đáng kể và cách cư xử thật kiểu mẫu. Chính Galileo hành động tệ hại, mà nó đã góp phần cho số phận của ông. Ngay cả vậy, số phận của ông cũng không quá thậm tệ. Alfred North Whitehead, một sử gia nổi tiếng về khoa học, kết luận rằng "điều tệ hại nhất xảy ra cho khoa học gia là Galileo chịu giam cầm cách vinh dự và sự quở trách nhẹ nhàng, trước khi chết một cách êm ái trên giường."
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  11. #11

    Mặc định

    CHƯƠNG 11

    MỘT VŨ TRỤ VỚI SỰ KHỞI ĐẦU:
    THIÊN CHÚA VÀ CÁC NHÀ THIÊN VĂN

    "Thật vô cùng khó khăn để giải thích tại sao vũ trụ lại được bắt đầu đúng như phương cách này, trừ phi là hành động của Thiên Chúa là Đấng có ý định tạo dựng nên con người giống như chúng ta."
    Stephen Hawking, A Brief History of Time

    T
    rong một vài chương kế tiếp, tôi sẽ tìm hiểu xem các khám phá mới nhất của khoa học hiện đại sẽ hỗ trợ hay làm suy yếu cho sự hiện hữu của Thiên Chúa. Lý luận này sẽ nhìn đến vật lý, thiên văn, và sinh vật học, tuy không cần phải có kiến thức đặc biệt về bất cứ lãnh vực nào. Ở đây tôi sẽ dựa trên các phát minh của vật lý cổ điển để tìm hiểu nguồn gốc của vũ trụ và những ứng dụng của các khám phá ấy. Câu hỏi của vấn đề là sự thiết kế của thiên nhiên có cho thấy đấng sáng tạo hay có thể giải thích sự sắp xếp đó theo thuần túy tự nhiên.

    Trước đây, chúng ta đã nghe khẩu hiệu của Carl Sagan rằng "Tất cả vũ trụ chỉ có thế, trước đây cũng vậy, mãi mãi cũng vậy." Nhà vật lý Steven Weinberg lý luận rằng "với tất cả những gì mà chúng ta có thể khám phá ra được về các định luật của thiên nhiên, chúng không có ngôi vị, không ám chỉ gì đến hoạch định của Thiên Chúa hay bất cứ địa vị nào đặc biệt cho loài người." Tôi muốn chứng minh rằng các nhận định này thì sai lầm dựa trên sự thật. Thật vậy, tôi nhận lời thách đố mà nhà sinh vật học E. O. Wilson đã đưa ra, ông nói, "nếu có thể tìm thấy bất cứ chứng cớ nào về một động lực chỉ đạo siêu nhiên… nó sẽ là một khám phá vĩ đại nhất của mọi thời đại." Trong các thập niên gần đây, qua những phát triển ngoạn mục nhất của vật lý và thiên văn, chứng cớ ấy thực sự đã được tìm thấy.

    Trong sự thừa nhận sách Sáng Thế một cách ngạc nhiên, các khoa học gia hiện đại khám phá ra rằng vũ trụ được tạo thành qua sự bùng nổ nguyên thủy về năng lực và ánh sáng. Vũ trụ không chỉ bắt đầu trong thời gian và không gian, nhưng nguồn gốc của vũ trụ còn khởi đầu với thời gian và không gian. Trước khi có vũ trụ thì chưa có thời gian và không gian. Nếu bạn chấp nhận rằng mọi sự có một khởi đầu thì đều có một động lực, vậy vũ trụ vật chất phải có một động lực tinh thần hay phi vật chất. Động lực tinh thần này đưa vũ trụ vào sự hiện hữu mà không dùng đến bất cứ nguyên tắc vật lý nào. Sự tạo dựng vũ trụ là một phép lạ, hiểu đúng với nghĩa đen. Đấng tạo nên vũ trụ được biết là một đấng thiêng liêng, một bản thể vô cùng về khả năng và sự sáng tạo vượt quá mọi giới hạn có thể tưởng tượng được. Ngay từ khởi thủy có tinh thần, chứ không phải chất liệu. Với sự giúp đỡ của khoa học và lý luận, tất cả những điều này có thể chứng minh một cách hữu lý.

    Câu chuyện bắt đầu khoảng một thế kỷ trước đây, khi các khoa học gia bắt đầu đi tìm bằng chứng rằng vũ trụ có một khởi đầu—không chỉ trái đất hay ngân hà của chúng ta nhưng tất cả mọi vật thể hiện có. Lý do của sự tìm kiếm này là vì một trong những quy tắc vật lý rất phổ thông, quy tắc thứ hai về nhiệt động lực (thermodynamic), báo trước một khởi đầu như vậy. Quy tắc này đơn giản khẳng định rằng, nếu để tự nó, mọi vật thể sẽ tan rã. Chúng ta thấy điều này ngay chung quanh: đường xá và dinh thự mục nát và sụp đổ, con người già và chết, kim loại rỉ sét, tấm vải trở thành sợi chỉ, núi đá và bờ biển bị soi mòn. Nếu bạn chưa học về vật lý, bạn có thể nghĩ rằng quy tắc thứ hai này có thể bị bác bẻ bởi bằng cớ là những người xây đường xá và dinh thự, nhưng đó không phải là trường hợp. Các vật liệu và sức mạnh bị sử dụng cho đến kiệt quệ trong tiến trình xây dựng. Phải có thêm tài nguyên và năng lực để duy trì đường xá và dinh thự. Ngay cả vậy, mọi vật sẽ hao mòn và đổ nát. Các khoa học gia dùng chữ "entropy" như một cách đo lường mức độ hỗn loạn, và quy tắc thứ hai cho thấy rằng toàn thể mức độ entropy trong vũ trụ thì tiếp tục gia tăng.

    Quy tắc thứ hai có một ngụ ý thật giật mình. Hãy lấy mặt trời làm thí dụ. Khi thời gian trôi qua, nhiên liệu dự trữ của nó giảm dần, và rồi sau cùng mặt trời sẽ không còn sức nóng và trở nên lạnh lẽo. Nhưng điều này có nghĩa, lửa của mặt trời phải được đốt lên tại một thời điểm nào đó. Mặt trời không cháy mãi. Và điều này cũng đúng với các tinh tú. Chúng cũng sẽ từ từ cạn kiệt, có nghĩa rằng chúng cũng được đốt cháy vào lúc nào đó trước đây. Như nhà thiên văn vĩ đại người Anh là Arthur Eddington có nói, nếu có thể so sánh vũ trụ với chiếc đồng hồ, thì đồng hồ thật sự đang từ từ chậm lại và điều đó dẫn đến kết luận rằng sẽ có lúc đồng hồ hoàn toàn chấm dứt hoạt động. Vũ trụ được khởi đầu với đầy đủ năng lượng và từ lúc đó trở đi nó ngày càng tiêu hao. Các dữ kiện này được biết ngay từ thế kỷ mười tám, nhưng các khoa học gia không biết tại sao lại như vậy.

    Vào đầu thế kỷ hai mươi, Albert Einstein công bố các công thức của thuyết tương đối và nhà thiên văn người Hòa Lan, Willem de Sitter, tìm thấy một ứng dụng cho các công thức ấy khi tiên đoán vũ trụ đang nở rộng. Đây cũng là một dự đoán quan trọng bởi vì nếu vũ trụ đang nở rộng và nếu các ngân hà đang di chuyển xa nhau, điều này có nghĩa trong quá khứ chúng từng gần với nhau. Nếu vũ trụ từng "nổ tung" trong quãng thời gian được thành lập, điều này có nghĩa nó thực sự phải có khởi đầu.

    Einstein không biết rằng các công thức của ông lại đưa đến giả thuyết là vũ trụ nở rộng nên ông đau khổ khi nghe biết về ứng dụng này. Khi nhà toán học Nga Alexander Friedmann tìm cách thuyết phục ông, Einstein lại tìm cách chứng minh là Friedmann sai. Thực sự Einstein sai. Theo lời của chính ông, nhà vật lý vĩ đại này thật "ngứa ngáy" về ý tưởng vũ trụ nở rộng. Ông đã đi quá xa khi sáng chế ra một lực mới, "phản trọng lực" (antigravity), cũng như đưa ra một con số được gọi là "hằng số vũ trụ" (cosmological constant), cố để bác bỏ ý niệm về một khởi đầu. Sau này, Einstein thú nhận những sai lầm của mình và coi hằng số vũ trụ của ông là một sai lầm lớn nhất trong đời.

    Vào cuối thập niên 1920, nhà thiên văn Wilson Hubble, qua viễn vọng kính tối tân của Đài Thiên Văn Mount Wilson ở California, ông thấy các ngân hà đang tách rời nhau vì các tinh vân "bớt đỏ dần". Số lượng tinh tú trong giải ngân hà tản mác này cho thấy vũ trụ bao la một cách kinh hoàng, lớn hơn bất cứ ai đã từng nghĩ đến. Một số ngân hà cách xa nhau hàng triệu năm ánh sáng. Cảm tưởng mà nhiều người từ lâu cho rằng không gian bất động và bất biến chỉ là ảo tưởng. Hubble nhận xét rằng các hành tinh và toàn thể các ngân hà đang tách xa nhau với một vận tốc lạ thường. Hơn thế nữa, không gian dường như ngày càng lớn hơn. Vũ trụ không nở rộng vào đằng sau không gian, bởi vì không gian nằm trong vũ trụ. Thật không thể tin được, chính không gian nở rộng theo vũ trụ. Các khám phá của Hubble, sau này được xác nhận bởi rất nhiều người khác, gây nên sự sôi nổi lớn trong giới khoa học.

    Ngay lúc đó các khoa học gia nhận thấy rằng các giải ngân hà không bay tách xa nhau vì một lực huyền bí nào đó đẩy chúng ra xa. Đúng hơn, chúng tách xa nhau bởi vì trước đây chúng bị bắn tung đi bởi một sự bùng nổ ban đầu. Suy ngược theo thời gian, mọi ngân hà dường như có chung một điểm nguyên thủy được ước lượng khoảng mười lăm tỉ năm trước. Các khoa học gia suy đoán một thời điểm mà trong đó mọi khối lượng trong vũ trụ bị ép lại thành một điểm vô cùng dầy đặc. Toàn thể vũ trụ thì nhỏ hơn một phân tử.

    Sau đó trong một sự bùng nổ vĩ đại độc nhất--Đại Thanh (Big Bang)—vũ trụ mà chúng ta đang cư ngụ được hình thành. Steven Weinberg viết, "Vũ trụ tràn đầy ánh sáng." Thật vậy, "chính ánh sáng tạo nên phần tử trổi vượt của vũ trụ." Nhiệt độ lúc bấy giờ khoảng một trăm tỉ tỉ (trillion) độ bách phân. Sau đó, trong một tiến trình thật sống động được Weinberg miêu tả trong cuốn The First Three Minutes (Ba Phút Đầu Tiên), các dương tử (proton) và trung hòa tử (neutron) đầu tiên bắt đầu tạo thành nguyên tử. Một khi vật thể được hình thành, các hấp lực bắt đầu tạo thành ngân hà và tinh tú. Sau cùng các nguyên tố nặng hơn, tỉ như ốc-xi và sắt được hình thành và, trên hàng tỉ năm, sinh ra thái dương hệ và các hành tinh. Dù có vẻ điên rồ, sự hiện diện của trái đất chúng ta, chính vật thể mà chúng ta được thực sự tạo thành, là nhờ ở "biến cố tạo dựng" xảy ra cách đây khoảng mười lăm tỉ năm.

    Thuyết vũ trụ nở rộng không chỉ phù hợp với quy tắc thứ hai của nhiệt động lực nhưng còn phù hợp với thuyết tương đối của Einstein. Hubble tìm thấy rằng một ngân hà càng xa chúng ta bao nhiêu thì càng lùi ra xa nhanh hơn bấy nhiêu. Bây giờ điều này được gọi là Quy Luật Hubble, và nó giải đáp cho điều phỏng đoán được dựa trên cơ sở thuyết Einstein. Thuyết vũ trụ nở rộng còn giải quyết một vấn đề hắc búa từng làm vỡ mộng các khoa học gia: tại sao các ngân hà lại tiếp tục cách xa nhau. Tại sao trọng lực không kéo chúng lại gần với nhau? Lý do là vì chúng bị bắn tung ra trong một vụ nổ nguyên thủy mà sức ấy vẫn tiếp tục đẩy chúng ngày càng cách xa nhau. Nhà thiên văn John Barrow gọi phát minh của Hubble là "sự khám phá vĩ đại nhất của khoa học trong thế kỷ hai mươi mốt."

    Ngay cả vậy, nhiều khoa học gia bực mình với ý niệm Đại Thanh. Robert Jastrow kể ra nhiều thí dụ trong cuốn "God and the Astronomer." Nhà thiên văn Arthur Eddington gọi ý niệm này là "phi lý… không thể tin cậy… mâu thuẫn." Nhà vật lý Philip Morrison của MIT thú nhận, "Tôi thấy khó để chấp nhận thuyết đại thanh. Tôi muốn tẩy chay nó." Allan Sandage của Phòng Thí Nghiệm Carnegie nói ý tưởng này là "một kết luận lạ lùng" mà "nó không thể nào đúng sự thật." Cũng như Einstein, các khoa học gia nổi tiếng bắt đầu đưa ra các giả thuyết nhằm loại trừ nhu cầu của một sự khởi đầu. Họ làm việc chăm chỉ để tìm ra một phương cách đáng tin cậy về khoa học để chứng minh là vũ trụ hiện hữu mãi mãi.

    Jastrow lý luận rằng lý do mà một số nhà khoa học nổi tiếng bối rối về ý niệm đại thanh là vì, nếu đúng như vậy, thuyết ấy ngụ ý rằng có "giây phút tạo dựng" mà trong đó mọi sự--vũ trụ và các quy luật của nó--bắt đầu hiện hữu. Thật quan trọng để biết rằng trước khi có biến cố Đại Thanh, không hề có các quy tắc vật lý. Thật vậy, các quy tắc vật lý không thể dùng để giải thích Đại Thanh bởi vì chính Đại Thanh tạo ra các quy tắc vật lý. Các quy tắc khoa học giống như một loại văn phạm để giải thích thứ tự và sự tương giao của các vật thể trong vũ trụ. Cũng như quy tắc văn phạm không thể hiện diện ở bên ngoài các từ và câu mà nó xác định, thì các quy tắc khoa học cũng không thể hiện hiện bên ngoài vũ trụ của các vật thể mà nó mô tả sự tương giao.

    Các khoa học gia gọi gây phút khởi sự của vũ trụ là "độc nhất", một điểm nguyên thủy mà không bị ảnh hưởng bởi không gian, thời gian và các quy tắc khoa học. Trước thời điểm đó, khoa học không biết gì cả. Thật vậy, chữ trước không có ý nghĩa vì chính thời gian cũng không hiện diện "trước" điểm độc nhất. Ngày xưa ngày xưa không có thời gian. Jastrow muốn nói rằng các ý niệm như vậy, tiếp giáp với siêu hình, làm cho các khoa học gia cảm thấy nôn nao. Nếu vũ trụ được tạo dựng bên ngoài các quy tắc vật lý, thì nguồn gốc của vũ trụ minh chứng cho định nghĩa căn bản của phép lạ. Chữ này làm cho các khoa học gia bất an.

    Hãy thử tưởng tượng các khoa học gia này khuây khỏa chừng nào khi các nhà thiên văn Hermann Bondi, Thomas Gold, và Fred Hoyle đưa ra điều mà sau này nó được gọi là "tình trạng kiên định" của vũ trụ. Thuyết này cho rằng vũ trụ thì vô tận về tuổi. Một cách căn bản, Bondi, Gold, và Hoyle đưa ra giả thuyết rằng khi năng lượng bị dùng hết theo thời gian, năng lượng mới và vật thể mới được tạo thành một cách nào đó trong không gian. Như vậy, bất kể mức độ "entropy" và quy luật thứ hai của nhiệt động lực, mọi thứ vẫn giữ được quân bình và không lay chuyển, và như vậy vũ trụ có thể hiện hữu mãi. Không gian và thời gian cũng vĩnh viễn. Thuyết tình trạng kiên định mau chóng trở nên phổ thông và là sự giải thích được ưa thích nhất về vũ trụ trong giới khoa học gia ở Âu Châu và Mỹ Châu. Cho đến cuối năm 1959, nó được sự hỗ trợ của hai phần ba các nhà thiên văn và vật lý.

    Trong một phương cách nào đó, thuyết tình trạng kiên định được xây dựng trên một nền tảng rất xưa cũ. Ý niệm về một vũ trụ vĩnh viễn từng xuất hiện từ thời cổ Hy Lạp. Các triết gia và nhà khoa học tự nhiên của Hy Lạp có nhiều quan điểm về nguồn gốc của thế giới, nhưng tổng quát tất cả đều đồng ý một nguyên tắc rằng không có gì được tạo thành từ hư vô: ex nihilo, nihil. Cần có vật thể để đem lại hình dạng cho vật thể. Do đó, vì vũ trụ vật chất không thể xuất hiện từ "không khí", nó phải luôn luôn có ở đó. Vật thể thì vĩnh viễn. Một cách tổng quát, các khám phá của Newton trong thế kỷ mười tám hỗ trợ cho ý tưởng của một vũ trụ vĩnh hằng. Với Newton, không gian là một khối ba chiều dãn nở không giới hạn về mọi phía, và thời gian là một chiều kích kéo dài vô tận vào quá khứ và tương lai. Chính ý niệm về vũ trụ vĩnh hằng mà thuyết tình trạng kiên định tìm cách chứng thực như một thay thế cho thuyết Đại Thanh.

    Những người hỗ trợ thuyết tình trạng kiên định công khai nhìn nhận rằng thuyết này hàm ý tính cách vô thần. Nếu vũ trụ luôn luôn hiện hữu thì không có ai dựng nên nó. Chính Newton tìm cách né tránh hàm ý này. Trong khi vũ trụ có thể vận hành theo các quy tắc cơ học, có lẽ ngay cả các quy tắc luôn luôn hiện hữu, Newton lý luận rằng có một đấng sáng tạo các quy tắc đó và "chắc chắn không phải là cơ học" nhưng đúng ra ngài "vô hình, sống động, hiểu biết, ở khắp nơi." Nhưng vào đầu thế kỷ hai mươi, hầu hết các khoa học gia coi lý lẽ của Newton như sự bào chữa đặc biệt của một người đạo đức mà chính ông không thể tuân theo quy tắc của mình. Phần lớn khoa học dường như nghiêng về quan điểm của Pierre-Simon Laplace, là người được Napoleon hỏi về vị trí của Thiên Chúa trong các lý thuyết về tinh vân của ông, và ông trả lời, "Tôi không cần đến giả thuyết ấy." Thuyết tình trạng kiên định có tác dụng là nhiều khoa học gia bỏ qua giả thuyết về Thiên Chúa.

    Tuy nhiên, trong thập niên 1960, thuyết tình trạng kiên định bị một cú tàn phá khi hai kỹ sư vô tuyến làm việc tại Bell Labs, Arno Penzias và Robert Wilson, khám phá ra một số phóng xạ bí ẩn đến từ không gian. Phóng xạ này không đến từ một hướng nhất định mà từ đủ mọi phía như nhau. Thật vậy, dường như nó xuất phát từ chính vũ trụ. Không lâu sau đó, Penzias và Wilson mới biết là các khoa học gia từng phỏng đoán rằng, nếu vũ trụ khởi đầu từ một vụ nổ nguyên thủy khoảng mười lăm tỉ năm trước, thì một số phóng xạ từ vụ nổ kinh hoàng đó vẫn sẽ còn lởn vởn. Người ta cho rằng phóng xạ này có nhiệt độ từ một vài độ trên không độ. Penzias và Wilson đo được phóng xạ này chỉ ít hơn con số đó chút đỉnh, và họ bàng hoàng khi biết rằng họ đã gặp được tiếng thì thào ma quái từ giây phút tạo dựng nguyên thủy.

    Rất nhiều khám phá khác--kể cả các dữ kiện từ vệ tinh "Cosmic Background Explorer" (COBE) của NASA--giờ đây xác nhận sự hiện hữu của phóng xạ nguyên thủy này. Dựa trên thuyết Đại Thanh, các khoa học gia có thể tiên đoán số lượng khí hydrogen, lithium, deuterium, và helium phải có trong vũ trụ. Các tiên đoán này thật kinh ngạc vì phù hợp với số lượng thực sự mà chúng ta tìm thấy ngày nay. Năm 1970 nhà vật lý Stephen Hawking và nhà toán học Roger Penrose viết một bài nổi tiếng chứng minh rằng vũ trụ phải có một khởi đầu, căn cứ vào thuyết tương đối và số lượng vật thể có trong vũ trụ. Như Hawking khẳng định trong cuốn A Brief History of Time, "Phải có một biến cố Đại Thanh độc nhất." Nhà thiên văn Martin Rees nhận xét rằng hàng loạt dữ kiện cùng lúc hiện nay đã làm mất uy tín của thuyết tình trạng kiên định và xác nhận thuyết Đại Thanh.

    Trong sách Sáng Thế, Kinh Thánh viết, "Từ nguyên thủy, Thiên Chúa dựng nên các tầng trời và trái đất." Trong các tài liệu lịch sử xa xưa, Kinh Thánh thì độc đáo khi thừa nhận một khởi đầu tuyệt đối. Trong Phật Giáo, nhờ Dalai Lama chúng ta biết "có nhiều hệ thống vũ trụ... trong tình trạng liên tục xuất hiện và qua đi." Kinh Thánh cũng hiển nhiên khẳng định là thời gian thì giới hạn. Ngược lại, Ấn Giáo và Phật Giáo thừa nhận các chu kỳ vô tận của thời gian kéo dài vào quá khứ vô cùng. Người Hy Lạp và La Mã, cũng như các văn hóa xa xưa, tin ở sự vĩnh cửu của lịch sử. Như Leon Kass nhận xét trong việc khảo cứu Sáng Thế Ký, các tác giả kinh thánh không cần mạo hiểm vào lãnh vực này. Họ có thể khởi sự từ Vườn Địa Đàng và không đụng gì đến câu chuyện tạo dựng. Nhưng sự tường thuật kinh thánh trâng tráo nhấn mạnh rằng vũ trụ hiện hữu tại một thời điểm nhất định của thời gian như một hành vi sáng tạo tự ý bởi một hữu thể siêu nhiên đã có từ trước.

    Ở đây cũng quan trọng để làm sáng tỏ một hiểu lầm phổ thông. Nhiều văn sĩ thế tục dường như nghĩ rằng, theo lập trường chính thống Kitô Giáo, vũ trụ và trái đất được dựng nên trong sáu ngày theo nghĩa đen. Nhưng Kinh Thánh dùng tiếng cổ Do Thái (Hebrew) nên đó có thể là một ngày hay một mùa hay một thế hệ. Trong thư II của Phêrô (3:8) chúng ta cũng đọc: "với Chúa một ngày giống như một ngàn năm, và một ngàn năm giống như một ngày." Từ thời Kitô Giáo tiên khởi, các chức quyền trong giáo hội từ Irenaeus đến Origen, Augustine đã đưa ra sự giải thích có tính cách biểu tượng với "những ngày" trong Sáng Thế Ký. Hầu hết các Kitô Giáo truyền thống không có khó khăn gì với câu chuyện tạo dựng mà nó có thể kéo dài hàng triệu, ngay cả hàng tỉ năm.

    Thật đặc biệt, người Do Thái và Kitô Giáo luôn tin rằng Thiên Chúa không chỉ tạo nên vũ trụ, nhưng Người còn tạo ra từ hư không: "từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời." Với câu này Kinh Thánh ngụ ý rằng vũ trụ được thành hình qua mệnh lệnh. Trong gần hai ngàn năm điều này dường như không có ý nghĩa. Chúng ta cảm nghiệm thời gian và không gian theo một phương cách mà chúng ta không thể tưởng tượng được là có khởi đầu hay có kết thúc. Trong huyền thoại tạo dựng vũ trụ của các tôn giáo khác, thần linh thường tạo thành thế giới từ một số sự vật đã có từ trước. Sự hợp lý dường như nghiêng về phía người Hy Lạp xưa: ex nihilo, nihil. Nhưng giờ đây, khoa học hiện đại cho thấy Kinh Thánh thì đúng. Vũ trụ thật sự được hình thành từ hư không. Và nó được hình thành như thế nào? Chúng ta không biết và có lẽ không bao giờ biết, vì tạo hóa dùng các phương pháp mà trong vũ trụ tự nhiên bây giờ không thấy có.

    Lạ lùng hơn nữa là người Do Thái và Kitô Giáo từ lâu tin rằng Thiên Chúa dựng nên không gian và thời gian cùng lúc với vũ trụ. Chúng ta từng thấy giáo phụ Augustine, khi được hỏi tại sao Thiên Chúa ngồi chơi trong một thời gian dài trước khi tạo nên vũ trụ, ngài trả lời rằng câu hỏi ấy vô nghĩa. Augustine viết, trước khi có sự tạo dựng thì chưa có thời gian vì sự tạo dựng vũ trụ bao gồm sự tạo dựng thời gian. Các vật lý gia hiện đại nhìn nhận Augustine và sự hiểu biết xưa của người Do Thái và Kitô Giáo là đúng.

    Thuyết Đại Thanh giải quyết một trong những mâu thuẫn hiển nhiên trong sách Sáng Thế. Trên hai thế kỷ, những người chỉ trích Kinh Thánh thường vạch ra rằng từ nguyên thủy—ngày đầu tiên--Thiên Chúa dựng nên sự sáng. Sau đó vào ngày thứ tư Thiên Chúa tách biệt đêm với ngày. Vấn đề này được vạch ra bởi triết gia Leo Strauss: "Ánh sáng được trình bầy như có trước mặt trời." Từ lâu, Kitô Hữu phải vất vả giải thích sự lạ thường này mà không thành công nhiều. Tác giả Sáng Thế Ký dường như rõ ràng có nhầm lẫn.

    Nhưng thực sự thì không lầm. Vũ trụ được tạo dựng trong một bùng nổ ánh sáng cách đây mười lăm tỉ năm. Mặt trời và các hành tinh hiện hữu nhiều tỉ năm sau đó. Do đó ánh sáng quả thật đi trước mặt trời. Trong sách Sáng Thế 1:3, ánh sáng đầu tiên được nhắc đến có thể coi như ám chỉ chính biến cố Đại Thanh. Sự tách biệt ngày và đêm được nói trong Sáng Thế Ký 1:4 ám chỉ việc hình thành mặt trời và trái đất. Ngày và đêm—chúng ta cảm nghiệm như kết quả của việc trái đất xoay tròn--thực sự được thành hình chậm hơn vũ trụ nhiều. Bí ẩn Sáng Thế Ký được giải quyết, và câu chuyện tạo dựng được minh chứng nó không chỉ là một ngụ ngôn lờ mờ nhưng là một câu chuyện chính xác lạ lùng về cách tạo dựng vũ trụ.

    Nên nhớ rằng Cựu Ước được viết cách đây trên 2,500 năm bởi một người cho rằng họ được Thiên Chúa kể cho biết những gì Người thực hiện. Gerald Schroeder nhận xét, "Những tường thuật này không được sáng tác để trả lời cho những khám phá về vũ trụ như một toan tính nhằm gượng gạo phù hợp thần học với vũ trụ học… Thần học trình bầy một quan điểm cố định về vũ trụ. Khoa học, qua sự hiểu biết được cải tiến đáng kể về thế giới, đã đi đến sự phù hợp với thần học."

    Các nhà khoa học nổi tiếng nhiều khi do dự tán thành câu kết luận này. Arthur Eddington, là người sau cùng nhìn nhận tính cách xác thực của thuyết Đại Thanh, thú nhận rằng "sự khởi đầu dường như đưa ra những khó khăn không thể vượt qua trừ khi chúng ta đồng ý nhìn đến nó như thực sự thuộc về siêu nhiên." Arno Penzias, người đoạt giải Nobel nhờ khám phá ra phóng xạ vũ trụ mà nó minh chứng cho thuyết Đại Thanh, nói rằng, "Các dữ kiện tốt nhất chúng ta có thì đúng như những gì tôi tiên đoán, là giả như tôi không có gì khác hơn để khởi sự thì tôi sẽ dùng năm cuốn sách của Môsê, Thánh Vịnh, và toàn bộ Kinh Thánh."

    Nhà thiên văn Robert Jastrow trình bầy một cách sống động hơn nữa. "Với khoa học gia từng sống niềm tin của mình trong sức mạnh của lý lẽ, câu chuyện chấm dứt như một ác mộng. Hắn vượt qua được nhiều ngọn núi ngu dốt; hắn sắp sửa chinh phục được đỉnh núi cao nhất. Khi vừa trèo lên được tảng đá sau cùng, hắn được chào đón bởi các thần học gia là những người từng ngồi ở đây hàng thế kỷ."

    Tôi không đưa ra Kinh Thánh để minh chứng là Thiên Chúa tạo nên vũ trụ. Tôi đưa ra để cho thấy câu chuyện kinh thánh về cách tạo dựng vũ trụ thì thật sự chính xác. Kinh Thánh không phải là sách dậy về khoa học. Sách này không có ý định, như các khoa học gia, cung cấp các chi tiết về cách tạo thành vũ trụ và trái đất theo như hình dạng ngày nay. Nhưng những gì sách ấy nói về sự tạo dựng--về dữ kiện tạo dựng và thứ tự của sự tạo dựng—thì hóa ra chính xác. Có thể nói trước đây tưởng như là bất khả, bây giờ Kinh Thánh được minh chứng bởi các khám phá của khoa học hiện đại.

    Bây giờ là lúc cung cấp "đoạn thiếu sót" và cho thấy vũ trụ phải có người tạo nên. Chứng cớ này thật đơn giản. Mọi sự bắt đầu hiện hữu đều có một động lực. Vũ trụ bắt đầu hiện hữu, bởi thế vũ trụ phải có một động lực. Động lực đó chúng ta gọi là Thiên Chúa. Trong một thời gian khá lâu, sự từ chối đấng tạo hóa được dựa trên việc từ chối định đề thứ hai. Người vô thần đưa ra các khám phá của Newton như một chứng cớ và họ nhất quyết vũ trụ không có một khởi đầu. Nó là một loại bộ máy luôn luôn chuyển động. Nó luôn luôn có ở đó. Giờ đây khoa học đã bỏ đi lý luận ấy.

    Bởi thế các người vô thần--kể cả các khoa học gia vô thần--phải đi đến việc từ chối định đề thứ nhất. Mọi sự có một khởi đầu không nhất thiết phải có một động lực. Vũ trụ chỉ có vậy và chúng ta không thể nói gì hơn. Triết gia Bertrand Russell chấp nhận lập trường này trong cuộc tranh luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Ông nói, "Vũ trụ ở đó, và chỉ có vậy." Vật lý gia Victor Stenger nói vũ trụ có thể "không có động lực" và có thể "xuất phát từ hư không." Ngay cả David Hume, một trong những triết gia đa nghi nhất, coi lập trường này là nực cười. Vì trong tất cả những điều hoài nghi của ông, Hume không bao giờ từ chối quan hệ nhân quả. Trong năm 1754 Hume viết, "Tôi không bao giờ khẳng định một định đề quá lố bịch là có điều gì đó phát sinh mà không có động lực."

    Nếu mọi kết quả trong thiên nhiên đều có một động lực, điều gì là động lực của thiên nhiên? Ai hoặc điều gì đã đưa vật thể và năng lực vào vũ trụ? Có hợp lý không, dù rất mơ hồ, khi cho rằng thiên nhiên tự tạo ra chính nó? Nếu chỉ với một khoảng khắc không có gì hiện hữu—không vật thể, không vũ trụ, không Thiên Chúa—thì làm thế nào có thể có được điều gì? Khi các biến cố xảy ra--tỉ như một cái hố khổng lồ trên nền đất, một nữ minh tinh điện ảnh được tìm thấy bị cắt cổ-- ngay lập tức chúng ta hỏi điều gì đã gây ra các biến cố ấy. Thật khó để coi đó là một giải thích hợp lý hay có tính cách khoa học khi nói, "Nó tự động xảy ra. Chẳng có nguyên nhân nào cả." Chúng ta biết điều gì đó đã tạo nên cái hố khổng lồ. Chúng ta biết ai đó đã cứa cổ nữ minh tinh điện ảnh. Có thể chúng ta không biết rõ danh tính của người đã thi hành, nhưng chúng ta biết có ai đó đã làm điều ấy.

    Tương tự, có thể chúng ta không biết đấng sáng tạo nào đã làm nên vũ trụ, nhưng chúng ta biết là nó đã được dựng nên, và có ai đó đã thi hành điều ấy. Thế giới của chúng ta thật quá tự nhiên, nhưng với sự chắc chắn về khoa học chúng ta biết nó là kết quả của một sức lực ở bên ngoài tự nhiên. Đây là nghĩa đen của chữ siêu hình—đó là điều đằng sau hay bên ngoài vật lý tự nhiên. Khoa học đã khám phá ra một thực thể mà trước đây được cho rằng thuộc lãnh vực đức tin. Nhưng ngày nay, không cần đức tin để thấy rằng nguồn gốc của vũ trụ thì thuộc về siêu hình. Vũ trụ mà nó hiện hữu trong một vụ bùng nổ nguyên thủy cách đây mười lăm tỉ năm trước thì không tự mình hiện hữu. Nó được tạo nên, điều đó có nghĩa phải có tạo hóa. Với tạo hóa đó chúng ta đặt tên là Thiên Chúa.

    Vào lúc này, dường như chúng ta đã chứng minh sự hiện hữu của một tạo hóa, nhưng không biết gì về bản tính của tạo hóa ấy. Tôi cho rằng không phải như vậy. Nhiều đặc tính của tạo hóa vẫn chưa được biết hay được giấu kín, nhưng có một số kết luận mà chúng ta có thể hợp lý rút ra từ những gì được biết. Khi vũ trụ được tạo thành bởi một hành vi sáng tạo, thật hợp lý để suy diễn rằng nó được tạo thành bởi một loại tâm linh nào đó. Tâm linh là nguồn gốc của vật thể, và chính tâm linh tạo ra vật thể, hơn là ngược lại. Khi vũ trụ bao gồm toàn thể thiên nhiên, chứa đựng bất cứ gì là thiên nhiên, đấng sáng tạo ra nó cần phải ở bên ngoài thiên nhiên. Khi đấng tạo hóa không dùng đến các quy luật hay sức lực tự nhiên để tạo nên vũ trụ, hiển nhiên đấng tạo hóa là siêu nhiên. Khi thời gian và không gian nằm trong vũ trụ, đấng tạo hóa cũng phải nằm ngoài không gian và thời gian, được gọi là vĩnh cửu. Khi vũ trụ là vật chất, đấng tạo hóa phải là phi vật chất. Khi vũ trụ được tạo dựng từ hư không thì đấng tạo hóa phải có quyền thế không thể hiểu, hoặc chúng ta có thể nói, khả năng vô hạn.

    Có phải vũ trụ chỉ có thế, trước đây cũng vậy, mãi mãi cũng vậy? Dĩ nhiên là không. Ý tưởng ấy hoàn toàn vô nghĩa, và của một người mà lẽ ra phải biết rõ hơn. Các quy luật tự nhiên không ám chỉ gì đến một hoạch định thánh thiêng hay đấng sáng tạo sao? Làm thế nào Steven Weinberg lại đưa ra một khẳng định điên rồ như thế? Với người vô thần độc đoán, nó dường như giống với khoa học giả tưởng, hay một ác mộng định kỳ. Nhưng không thể bỏ qua sự thật khoa học. Sự khám phá của khoa vật lý hiện đại rằng vũ trụ có một khởi đầu theo không gian và thời gian đã trả lời bài toán hóc búa của E. O. Wilson về một trong những khám phá khoa học quan trọng nhất chưa từng có. Với tất cả những ai dám đương đầu với khó khăn để hiểu biết và chiêm niệm về điều đó, nó đem lại một chứng cớ mạnh mẽ và có sức thuyết phục về sự hiện diện của một bản thể siêu nhiên, vĩnh cửu đã tạo nên thế giới chúng ta và mọi sự ở trong đó.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  12. #12

    Mặc định

    CHƯƠNG 12

    MỘT HÀNH TINH ĐƯỢC HOẠCH ĐỊNH:
    VI TRÍ ĐẶC BIỆT CỦA CON NGƯỜI TRONG SỰ TẠO DỰNG

    "Chúng ta không bao giờ thực sự hiểu được chúng ta là ai cho đến khi chúng ta biết được tại sao vũ trụ lại được dựng nên trong một phương cách để bao gồm những gì sống động."
    Lee Smolin, The Life of the Cosmos

    C
    opernicus đã chết. Phải, tôi biết nhà thiên văn nổi tiếng này đã chết vào năm 1543. Đó không phải là điều tôi muốn nói. Tôi cũng không muốn nói giả thuyết của Copernicus—trái đất xoay chung quanh mặt trời, chứ không phải ngược lại—là đã chết. Nhưng thuyết tâm mặt trời của Copernicus không chỉ là một biến đổi khoa học. Nó còn trở nên một biến đổi tri thức từ chối vị trí đặc biệt của loài người trong vũ trụ. Tuy nhiên, nhiều khám phá mới đã đảo ngược bài học của Copernicus. Dường như chúng ta sống trong một vũ trụ mà trong đó chúng ta có một vị trí quan trọng đặc biệt. Cuộc nghiên cứu khoa học mới nhất cho thấy chúng ta đang sống trong một thế giới được đặc chế cho chúng ta.

    Nơi các người vô thần nổi tiếng chúng ta thấy các diễn đạt tương tự về sự khôn ngoan thông thường về vòng xoay của Copernicus. Trong cuốn sách mới nhất của vật lý gia Victor Stenger, God: The Failed Hypothesis, ông viết, "Thật khó để kết luận rằng vũ trụ này được dựng nên với một mục đích rộng lớn và đặc biệt cho loài người." Vật lý gia Steven Weinberg viết, "Giống người đã lớn mạnh đáng kể trong năm trăm năm qua để đối diện với sự kiện là chúng ta không đáng kể trong kế hoạch vĩ đại của sự vật." Nhà thiên văn Carl Sagan viện dẫn vòng xoay của Copernicus để không thừa nhận "các tư thế, hình ảnh cho mình là quan trọng, một ảo tưởng rằng chúng ta có ít nhiều vị thế ưu tiên trong vũ trụ."

    Tuy các phát biểu này không có tính cách khoa học, chúng được viện dẫn với thẩm quyền đầy đủ của khoa học. Điều chúng ta có ở đây là một câu chuyện siêu hình về khoa học mà nó có ảnh hưởng đến cách tiếp cận với thế giới của nhiều khoa học gia và phương cách mà trong đó nền văn hóa của chúng ta hiểu những gì khoa học đã biểu lộ. Vòng xoay Copernicus có thể hiểu là đã lập ra quy tắc tầm thường. Quy tắc này nói rằng loài người chúng ta không có gì đặc biệt. Chúng ta sống trong một hành tinh nhỏ xíu tầm thường trong một ngân hà không rõ rệt trong một khu vực thật xa của một vũ trụ rộng lớn không thể tưởng được.

    Quy tắc tầm thường, xuất xứ từ vòng xoay Copernicus, có quan hệ mật thiết với thần học. Vòng xoay tâm mặt trời không có tính cách mạng bởi vì nó đối nghịch với điều Kinh Thánh cho rằng trái đất là tâm của vũ trụ. Kinh Thánh không nói như vậy. Kitô Hữu thời trung cổ cũng không tin rằng trái đất chiếm vị trị quan trọng nhất trong sự tạo dựng. Với Kitô Hữu, không nơi nào quan trọng hơn thiên đàng. Trái đất được coi như chiếm vị trí trung dung, với thiên đàng ở trên và hỏa ngục ở dưới. Đây là chân dung của vũ trụ được tìm thấy trong Divine Comedy của Dante. Tôi nhắc đến quan điểm vũ trụ này không để bảo vệ nó, nhưng đúng ra để chối bỏ giả thuyết sai lầm rằng Copernicus đã làm suy yếu một số học thuyết căn bản của Kitô Giáo về vị trí đặc biệt của trái đất trong vũ trụ.

    Tuy nhiên, trong một ý nghĩa sâu xa hơn, quan điểm vũ trụ của tôn giáo bị đe dọa bởi vòng xoay Copernicus. Nói cho cùng, đó là một điều tin tưởng căn bản của các tôn giáo chính trên thế giới--nhất là Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo--là con người chiếm một vị thế đặc biệt trong sự tạo dựng của Thiên Chúa. Theo quan điểm này, vũ trụ được tạo dựng với sự lưu tâm đến chúng ta, ngay cả có lẽ vì chúng ta. Làm thế nào điều tin tưởng truyền thống này có thể hài hòa với sự khám phá rằng chúng ta sống trong một vũ trụ bao la với hàng hà sa số các hành tinh khác, biết bao giải ngân hà, và hàng trăm tỉ tinh tú, mà một số tinh tú quá xa đến độ chúng đã cháy tiêu tan trước khi ánh sáng của chúng đến được trái đất? Khi nhìn qua viễn vọng kính, chúng ta cảm thấy sợ hãi cái trống rỗng của không gian và cảm giác vô cùng xa cách. Thật khó để tránh né thắc mắc: nếu loài người là chủ yếu cho mục đích của Thiên Chúa trong thiên nhiên, sao chúng ta lại sống trên một phần đất nhỏ bé trong một vũ trụ quá mêng mông?

    Trong những năm gần đây, các nhà vật lý đã có câu trả lời nổi tiếng cho thắc mắc này mà nó đã lật đổ quy tắc tầm thường và xác nhận vị thế đặc biệt của con người trong vũ trụ. Thì ra là kích thước đồ sộ và tuổi lâu đời của vũ trụ chúng ta không phải là tình cờ. Chúng là những điều kiện không thể thiếu cho sự sống được hiện diện trên mặt đất. Nói cách khác, vũ trụ phải lớn như hiện thời và phải lâu như hiện thời để duy trì cư dân sống động như bạn và tôi. Toàn thể vũ trụ với tất cả các quy tắc của nó dường như là một âm mưu để tạo nên chúng ta. Các nhà vật lý gọi sự khám phá kinh khủng này là quy tắc hướng nhân (anthropic), nó khẳng định rằng vũ trụ phải đúng bản tính như thế để có thể có sinh vật. Câu chuyện Copernicus bị đảo ngược và con người được phục hồi vị trí cao cả xưa như người con được sủng ái, và có lẽ ngay cả là lý do tồn tại, của tạo vật.

    Các vật lý gia tình cờ tìm ra quy tắc hướng nhân bởi thắc mắc đơn giản: tại sao vũ trụ lại hoạt động theo các quy tắc như hiện nay? Hãy suy nghĩ về điều đó: vũ trụ dường như tuân theo một bộ quy tắc rất đặc biệt, và tuy vậy nó không phải có những quy tắc này. Vậy tại sao lại là những quy tắc này chứ không phải các quy tắc khác? Hãy lấy một thí dụ đơn giản, nhiều lực khác nhau trong vũ trụ, tỉ như trọng lực, hoạt động trong nhiều phương cách có thể đo lường được. Tại sao trọng lực lại chỉ mạnh như thế này mà không mạnh hơn hay yếu hơn? Hoặc hãy nghĩ đến vũ trụ đã có khoảng mười lăm tỉ năm với kích thước tối thiểu mười lăm tỉ năm ánh sáng. Điều gì sẽ xảy ra nếu vụ trụ già hơn và lớn hơn, hay trẻ hơn và nhỏ hơn?

    Các vật lý gia đặt các câu hỏi này, họ đi đến một kết luận đặc biệt. Để sự sống được tồn tại--để vũ trụ có các quan sát viên nhận biết nó--trọng lực phải chính xác như hiện thời. Đại Thanh (Big Bang) phải xảy ra đúng như nó đã xảy ra. Nếu các giá trị căn bản và những tương quan của thiên nhiên khác đi một chút thôi, vũ trụ này đã không hiện hữu và chúng ta cũng vậy. Dường như không thể tưởng được, vũ trụ được điều chỉnh một cách thật tỉ mỉ để loài người sinh sống. Chúng ta sống trong một vũ trụ thần tiên mà trong đó các điều kiện "vừa đúng" cho sự sống được phát sinh và nẩy nở. Như vật lý gia Paul Davies viết, "Tôi tin rằng, chúng ta được viết vào các quy luật của thiên nhiên trong một phương cách sâu xa và có ý nghĩa."

    Quy tắc hướng nhân hiện giờ được chấp nhận rộng rãi trong các vật lý gia, và có một vài cuốn sách thật hay giải thích quy tắc ấy một cách chi tiết. Cuốn "The Anthropic Cosmological Principle" của John Barrow và Frank Tipler là cuốn mô tả chi tiết và thấu đáo. Trong lời giới thiệu cuốn sách ấy, vật lý gia John Wheeler viết rằng "nhân tố đem-lại-sự-sống nằm ở trung tâm của toàn thể bộ máy và hoạch định thế giới." Nếu bạn muốn sách ngắn hơn và dễ đọc hơn với cùng loại lý lẽ, hãy thử cuốn "Just Six Number" của Martin Rees. Rees lý luận rằng sáu số này làm nền tảng cho đặc tính vật lý chủ yếu của vũ trụ, và mỗi số là một giá trị chính xác cần có để sự sống tồn tại. Nếu bất cứ số nào trong sáu số này (tỉ như hằng số hấp lực, hay lực hạt nhân) khác đi "chỉ ở mức độ nhỏ xíu", Rees nói, "sẽ không có tinh tú, không có các nguyên tố phức tạp, không có sự sống." Tuy ông chối bỏ sự dính líu đến tôn giáo, Rees không ngần ngại gọi các giá trị dính liền với các con số này là "do ý trời."

    Nhà thiên văn Lee Smolin tưởng tượng ra Thiên Chúa như một tổ sư kỹ thuật ngồi trước bảng kiểm soát với hàng loạt nút bấm và các vòng quay số trước mặt. Một vòng số xác định khối lượng của proton, một vòng khác là điện tích của âm điện tử, vòng thứ ba là hằng số hấp lực, và cứ như thế. Thỉnh thoảng Chúa lại xoay các vòng ấy. Smolin tự hỏi, xác suất của sự xoay vòng ấy là gì để có thể tạo nên vũ trụ với các tinh tú và hành tinh và sự sống? Ông trả lời, "Xác suất này thì nhỏ không thể tưởng được." Nhỏ như thế nào? Smolin ước lượng là một phần mười lũy thừa 229. Điểm Smolin muốn nói được củng cố bằng một thí dụ của vật lý gia Stephen Hawking: "Nếu ngay sau biến cố Đại Thanh, tỉ lệ bành trướng nhỏ hơn theo tỉ lệ một phần trong một trăm ngàn tỉ tỉ, vũ trụ này sẽ co sụp lại trước khi nó đạt được kích thước như hiện thời." Do đó, cơ may để chúng ta hiện hữu thì vô cùng nhỏ. Và tuy vậy, chúng ta có mặt ở đây. Ai chịu trách nhiệm cho sự kiện này?

    Trong Thánh Vịnh 19:1 chúng ta đọc, "các tầng trời công bố vinh quang của Chúa và không trung cho thấy những kỳ công tay Người." Trong thư gửi tín hữu Rôma câu hai mươi, Phaolô viết "từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, bản chất vô hình của Người, có thể nói là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, đã được nhận thấy rõ ràng nơi các tạo vật được dựng nên." Quy tắc hướng nhân dường như khẳng định các đoạn Kinh Thánh nói trên. Quy tắc này không chỉ gợi ý về đấng tạo hóa dư đầy tài nguyên và hiểu biết không ai sánh được, nhưng còn ám chỉ một tạo hóa thường lưu tâm đến chúng ta. Đây là một tạo hóa có ngôi vị, không phải là nhân vật trừu tượng nào đó "gây ra chuyển động đầu tiên" và không lưu tâm gì đến các sinh vật đang cư ngụ trên hành tinh của chúng ta. Nhờ khoa học chúng ta có một bằng chứng hùng hồn rằng định mệnh của loài người dường như là một phần thực chất của hoạch định Thiên Chúa. Chúng ta không còn phải sợ hãi trước không gian mênh mông của vũ trụ. Trong một ý nghĩa, chúng hiện hữu là vì chúng ta. Trái với quy tắc tầm thường, chúng ta sống trong một vũ trụ đầy ý nghĩa và có mục đích. Quy tắc hướng nhân ám chỉ rằng loài người là một phần của kỳ công Thiên Chúa.

    Các khoa học gia hàng đầu đã nhận thấy các gợi ý có thể áp dụng rộng rãi của quy tắc hướng nhân. Nhà thiên văn Fred Hoyle viết, "Một sự giải thích các dữ kiện này theo lương tri cho thấy một Người tài-trí-siêu-đẳng đã chạm đến các quy tắc vật lý." Vật lý gia Freeman Dyson nói, "Càng khảo sát vũ trụ và nghiên cứu các chi tiết cấu tạo của nó bao nhiêu, tôi càng tìm thấy chứng cớ rằng, trong một ý nghĩa nào đó, vũ trụ biết là có chúng ta xuất hiện." Nhà thiên văn Owen Gingerich viết rằng quy tắc hướng nhân "có nghĩa chấp nhận các quy luật của thiên nhiên được dựng nên không chỉ hậu thuẫn cho tính cách phức tạp hay chỉ thuận lợi cho sự sống, nhưng còn thuận lợi cho sự hiểu biết. Nói một cách mạnh mẽ, nó ám chỉ rằng sự hiểu biết được viết thành luật thiên nhiên trong một phương cách căn bản." Nhà thiên văn Robert Jastrow nhận xét rằng quy tắc hướng nhân "là một kết quả rất hữu thần xuất phát từ khoa học."

    Như bạn ước đoán, quy tắc hướng nhân đã gây nên một cuộc tranh luận lớn và một phản ứng dữ dội. Trong cuộc tranh luận này có ba lập trường, mà để đơn giản hóa tôi gọi là "Chúng Ta May Mắn", "Nhiều Vũ Trụ", và "Vũ Trụ Được Hoạch Định". Hãy khảo sát chúng theo thứ tự. Phản ứng thứ nhất, "Chúng Ta May Mắn", cho rằng vũ trụ tân kỳ này là do sự tình cờ lạ thường. Vật lý gia Victor Stenger viết trong cuốn "Not By Design" , "Vũ trụ là một sự tình cờ."

    Một sự tình cờ? Steven Weinberg và Richard Dawkins không thấy cảm kích với điều không chắc chắn này. Theo Steven Weinberg, "Bạn không phải nêu ra một thiết kế gia nhân từ để giải thích tại sao chúng ta lại ở trong một phần của vũ trụ là nơi có sự sống: trong tất cả mọi phần khác của vũ trụ không có người để nêu lên câu hỏi này." Richard Dawkins đồng ý. "Không phải tình cờ khi sự sống của chúng ta được tìm thấy trên một hành tinh mà nhiệt độ, lượng mưa, và đủ mọi thứ khác rất đúng như vậy. Nếu hành tinh này thích hợp cho một loại sự sống khác, chắc chắn nó đã phát sinh ở đây." Trong khoa học điều này được gọi là "hiệu quả lựa chọn". Vì một khi chúng ta ở đây, chúng ta biết rằng—bất kể tỉ lệ sống còn như thế nào—sự vận hành của vũ trụ phải thuận lợi cho chúng ta.

    Với lý luận này có một vấn đề mà tôi muốn bi thảm hóa qua việc đưa ra một thí dụ của triết gia John Leslie. Hãy thử tưởng tượng một người bị kết án tử hình và đứng trước tiểu đội hành quyết gồm mười xạ thủ. Họ nổ súng. Bởi cách nào đó tất cả đều bắn trật. Sau đó họ bắn thêm và một lần nữa lại hụt. Họ lại bắn và lại hụt. Sau cùng, viên cai tù đến trước mặt tù nhân và nói, "Tôi không thể tin rằng tất cả đều bắn hụt. Hiển nhiên là có âm mưu gì đây." Nhưng tù nhân cười lớn và nhận xét, "Điều gì trên trần gian này khiến ông nghĩ là có âm mưu? Chẳng có gì quan trọng. Hiển nhiên các xạ thủ bắn hụt vì nếu họ bắn trúng thì tôi đâu còn đứng đây để thảo luận với ông." Một tù nhân như vậy thì ngay lập tức, và rất đúng, để thuyên chuyển sang nhà thương điên.

    Thí dụ này cho thấy bạn không thể giải thích một sự không chắc chắn với tầm mức lớn lao này bằng cách đơn giản hướng về sự hiện diện của chúng ta trong hiện trường để suy nghĩ về điều ấy. Vẫn còn một sự không chắc chắn lớn lao cần được giải thích. Nên nhớ rằng quy tắc hướng nhân không nói rằng, với hàng triệu tinh tú trong vũ trụ, thật khác thường khi sự sống xuất hiện trên hành tinh của chúng ta. Thật ra, nó nói rằng toàn thể vũ trụ với mọi tinh vân và ngôi sao trong đó được hình thành theo một phương cách nào đó để vũ trụ có thể có sự sống. Thật khó để bất đồng với kết luận của triết gia Antony Flew. Ông là một người vô thần nổi tiếng từ lâu—là một trong những nhân vật thường được trích dẫn trong văn hóa vô thần—Flew sau cùng kết luận rằng sự hòa hợp tinh vi của vũ trụ tại mọi cấp bậc thì quá tuyệt hảo để cho là kết quả của sự tình cờ. Flew nói, để phù hợp với điều ông quyết tâm là "đi đến bất cứ đâu mà chứng cớ đưa đẩy," giờ đây ông tin vào Thiên Chúa.

    Flew xác nhận rằng quy tắc hướng nhân đòi hỏi một sự giải thích tốt hơn là "Chúng Ta May Mắn". Nhà thiên văn Lee Smolin cũng vậy, ông viết "chắc chắn sự may mắn không có ở đây. Chúng ta cần một loại giải thích hữu lý nào đó về việc làm thế nào một điều không chắc chắn lại trở nên chắc chắn." Sự chênh lệch giữa tỉ lệ không hiện hữu và hiện hữu quá kinh khủng đến độ phải có một sự giải thích nào đó. Người ta cho rằng, thật sâu xa, Weinberg và Dawkins biết điều này.

    Hậu quả là nhiều người vô thần chạy sang sự giải thích thứ hai của quy tắc hướng nhân: Nhiều Vũ Trụ. Thực sự, một vô tận vũ trụ. Mỗi một vũ trụ vận hành theo các quy tắc của nó. Hậu quả là một vũ trụ có thể có căn bình phương về trọng lực và vũ trụ khác có thể có căn bậc ba về trọng lực. Thật vậy, dưới các điều kiện thực sự vô tận, chúng ta có thể cho rằng bất cứ điều kiện vật lý nào, bất cứ sự sắp xếp nào của vật chất và năng lực thì cũng đều có thể thực hiện. Bất cứ gì có thể xảy ra thì sẽ xảy ra. Trong hoàn cảnh đáng chú ý này—nếu lý luận tiếp—sau cùng chúng ta phải chịu trách nhiệm cho vũ trụ ưu tiên của chúng ta. Vì có một con số bất tận vũ trụ, rất có thể rằng một vũ trụ được hình thành theo một phương cách nào đó để cho phép có những quan sát viên như chúng ta.

    Lý thuyết Nhiều Vũ Trụ có một vài kiểu giải thích. Một kiểu cho rằng chúng ta sống trong một vũ trụ dao động qua một chu kỳ bất tận, trong đó biến cố đại thanh được tiếp theo sau bằng đại vỡ nát. Nếu trạng thái bất biến của thiên nhiên thay đổi sau mỗi chu kỳ, ở một thời điểm nào đó một sự kết hợp đặc biệt sẽ xảy ra cách tình cờ, tỉ như các con số trúng trong máy chơi bài (slot machine). Kiểu giải thích thứ hai cho rằng biến cố Đại Thanh sinh ra nhiều vũ trụ, mỗi vũ trụ có quy luật riêng. Các vũ trụ này giống như trái bong bóng đang bành trướng một cách riêng biệt, không liên hệ với nhau. Mỗi vũ trụ có quy luật riêng. Kiểu giải thích thứ ba, đôi khi được gọi là thuyết thế giới song song, cho rằng tại mỗi một hành động bành trướng lượng tử, thế giới sẽ chia ra thành một chuỗi vũ trụ song song. Thật vậy, các vũ trụ đang sinh sôi nẩy nở khi bạn đọc câu này. Đừng hỏi ở đâu; các vũ trụ này tách biệt nhau và chúng ta chỉ có thể biết đến vũ trụ của mình. Một ý tưởng khác, do Smolin đề nghị, là vũ trụ của chúng ta phát sinh từ một lỗ đen (black hole) trong một vũ trụ có từ trước, và thật vậy ngay cả các lỗ đen trong vũ trụ chúng ta cũng đang phát sinh ra vũ trụ khác. Smolin áp dụng cả thuyết chọn lựa tự nhiên của Darwin cho vũ trụ, trong đó một số vũ trụ nào thích ứng thì tồn tại trong khi những vũ trụ khác thì không. (Không ngạc nhiên khi những người tôn thờ Darwin như Dawkins và Dennett vội vã ca ngợi lý thuyết này). Trong tất cả những kiểu giải thích này cả một chuỗi vô tận của những tình trạng khả dĩ đã được nêu ra để cho rằng vũ trụ chúng ta có thể phát sinh thuần túy bởi sự tình cờ.

    Điều gì khiến người ta nói như vậy? Như với mọi tất cả lý thuyết khoa học, chúng ta khởi sự bằng việc đòi dẫn chứng. Vậy đâu là bằng cớ thực nghiệm cho các vũ trụ dao động và song song và sinh sôi nẩy nở? Thực sự, không có bằng cớ nào cả. Như Weinberg thú nhận, "Đây là những ý tưởng hoàn toàn suy đoán… mà không có thực nghiệm nào hỗ trợ." Smolin thì thật thà hơn. Ông gọi ý tưởng của ông "một ý nghĩ kỳ quặc… Rất có thể là tất cả những gì tôi làm ở đây là vá víu một chuỗi tư tưởng lầm lạc mà dường như chúng có liên hệ với nhau chút đỉnh… Các ý tưởng này rất có thể không thành công." Tôi cảm ơn sự thật thà này, và tôi nhớ đến cách cứu chữa của nhà toán học Ptolemy xưa khi gặp dữ kiện mơ hồ: "chỉ cần cho thêm các ngoại luân (epicycle)". Bây giờ chúng ta đang trong lãnh vực "chỉ cần cho thêm các vũ trụ."

    Ở đây cũng có giá trị để vạch ra điều mà nhà thiên văn của Harvard là Owen Gingerich nhận xét dường như đầu tiên: ai tin có nhiều vũ trụ thì phải tin có thiên đàng và hỏa ngục. Chỉ nghĩ đến chúng như các vũ trụ khác, hoạt động bên ngoài thời gian và không gian theo các quy luật mà các quy luật ấy không có hiệu quả trong vũ trụ của chúng ta. Ngay cả người vô thần giờ đây phải có thể tưởng tượng ra một lĩnh vực mà trong đó không có sự dữ và đau khổ và cư dân không bao giờ già đi. Các quan niệm truyền thống này, từ lâu bị bác bỏ là phi lý, dựa trên các quy luật của thế giới chúng ta, bây giờ phải thực sự có thể tin được và có lẽ ngay cả bó buộc những ai cho rằng có một số bất tận vũ trụ trong đó mọi khả dĩ đều có thể xảy ra.

    Có một quy tắc hợp lý, được khoa học chấp nhận rộng rãi, được gọi là quy tắc dao cạo Occam. Nó có nghĩa rằng khi có nhiều loại giải thích khác nhau, hãy đi theo sự giải thích không cần nhiều giả định. Nói cách khác, nếu bạn muốn đi từ điểm A đến điểm B, hãy tránh con đường ngoằn ngoèo. Áp dụng quy tắc dao cạo Occam, Carl Sagan khuyên rằng "khi đối diện với hai giả thuyết cùng giải thích một dữ kiện, hãy chọn cái đơn giản." Nhà sinh vật học E. O. Wilson viết rằng điều khó khăn của quy tắc này đối với nhiều người là "nó không thỏa đáp giấc mơ của giới New Age… nhưng nó làm thế giới rõ rệt hơn."

    Hãy tưởng tượng nếu tôi tìm thấy một đồng kẽm và chơi trò sấp ngửa khi búng lên cao, và lần nào nó cũng đều ngửa mặt hình lên. Tôi thử búng mười ngàn lần và không bao giờ nó ngửa mặt chữ. Có hai điều có thể xảy ra. Thứ nhất và hiển nhiên là đồng kẽm này bị gian lận cách nào đó; ai đó đã "cố định" mặt hình trong mọi lần. Còn có điều khả dĩ thứ hai. Có thể có một số bất tận đồng kẽm lưu hành, và với số búng bất tận với thời gian bất tận, một chuỗi búng lên cao buộc phải đi đến kết quả này. Vậy, một người hợp lý phải chọn sự giải thích nào? Quy tắc dao cạo Occam nói rằng hãy chọn sự giải thích đầu tiên.

    Đó là một sự trái ngược trầm trọng với mọi lý thuyết về thuyết vô số vũ trụ mà chúng vi phạm quy tắc dao cạo của Occam. Họ sáng chế ra một loạt hoàn cảnh phức tạp quái dị để giải thích cho một trường hợp độc nhất trong khi đã có một giải thích đơn giản hơn, hiển nhiên hơn. Phải, tôi muốn ám chỉ đến sự giải thích thứ ba đối với quy tắc hướng nhân. Nó nói, thật đơn giản, là vũ trụ chúng ta được thiết kế cho sự sống bởi vì ai đó đã hoạch định như vậy. Phương cách Vũ Trụ Được Hoạch Định có lợi điểm này: bạn không phải bịa ra ý tưởng hàng trăm tỉ vũ trụ mà bạn không biết một chút gì để giải thích cho vũ trụ duy nhất mà bạn có thể cảm nghiệm. Tuy nhiên, cách giải thích thứ ba này dường như là sự ghê tởm đối với một số người, và ở đây chúng ta thấy các người vô thần hiện đại rất tin tưởng vào "ước mơ New Age."

    Vật lý gia Stephen Hawking rơi ngay vào cái bẫy của New Age. Như chúng ta thấy trong chương trước đây, Hawking nhận biết rằng chứng cớ của biến cố Đại Thanh và quy tắc hướng nhân chỉ về một tạo hóa. Tuy nhiên, dường như ông thích có một cách giải thích khác. Mới đây ông đưa ra một đề nghị không kém kỳ dị như thuyết vô tận của vũ trụ. Giải pháp của Hawking bắt bầu với ý niệm toán học "thời gian tưởng tượng." Yếu tố đặc biệt của thời gian tưởng tượng là nó không đòi hỏi quá khứ, hiện tại, và tương lai. Thời gian được coi như một chiều kích của không gian. Trong cuốn sách của ông, A Brief History of Time, Hawking dùng thời gian tưởng tượng, cùng với dao động lượng tử mà trong đó có thể nói bất cứ gì cũng có thể xảy ra, để thừa nhận vô số vũ trụ, tất cả không có giới hạn không gian hay thời gian. Ông mường tượng ra các vũ trụ hiện hữu như các vũ trụ thơ ấu sinh ra từ các lỗ sâu trong các vũ trụ khác. Lý do mà không điều nào có thể quan sát được, như bây giờ bạn phỏng đoán, là vì tất cả xảy ra trong thời gian tưởng tượng. Hawking đắc thắng nhận xét rằng vì ông đã bỏ qua được chiều kích thời gian của vũ trụ thì ông cũng bỏ qua được ý niệm một khởi đầu, và vì không có khởi đầu, nên không cần đến tạo hóa.

    Một lần nữa, chứng cớ cho lý thuyết này đâu? Hawking thú nhận là không có, và ông không hy vọng sẽ tìm thấy bất cứ chứng cớ nào. Thời gian tưởng tượng được nêu ra để quy định các vũ trụ tưởng tượng. Một cách tự nhiên, với quá nhiều tưởng tượng xảy ra, không cần phải đi xa và tưởng tượng ra đấng tạo hóa. Do đó, thay vì coi các lý thuyết này có tính cách khoa học, dường như thích hợp để gán cho chúng loại học thuyết tôn giáo. Hawking, Weinberg, Dawkins, và những người khác là thành viên của tổ chức " Church of Infinite Worlds " (Giáo Phái của các Thế Giới Vô Tận), trong đó các thế giới mới với các quy luật mới phải được sáng chế ra để tránh một sự thú nhận phiền phức. Với thành viên của giáo phái này, các giáo điều của các vũ trụ vô tận, vũ trụ thơ ấu, và tất cả những gì còn lại dường như phần lớn được thúc đẩy bởi ước muốn trốn tránh đấng tạo hóa siêu nhiên. Như vật lý gia Stephen Barr có nói, "Dường như để bãi bỏ một Thiên Chúa không thể nhận xét được, cần phải có vô số những thay thế không thể quan sát được."

    Là một trong những cư dân lâu đời, tôi muốn đưa chúng ta trở về trái đất và kết luận với điểm sau cùng. Dù chúng ta tin ở thời gian tưởng tượng và vô số vũ trụ hay không, những điều đó chỉ là ý niệm. Ngay cả khi chúng định rõ vũ trụ của chúng ta, chúng không thể giải thích tại sao ngay từ đầu đã có một vũ trụ. Như chính Hawking đã từng hỏi, ai đốt lửa vào những công thức? Ai làm ra chúng, như hiện giờ, "đi vào sự sống"? Hơn thế nữa, quan điểm của người vô thần không thể giải thích tình trạng vô cùng đúng luật của thiên nhiên. Paul Davies viết, "Nếu lấy đi các quy luật của Thiên Chúa, sự hiện hữu của chúng trở nên một vô cùng bí ẩn. Chúng từ đâu đến? Ai gửi đi các ý nghĩa ấy? Ai đặt ra các quy tắc?"

    Thật vậy câu hỏi này có thể được đưa ra trong một kiểu cách sâu xa hơn. Làm thế nào các vật thể vô sinh như điện tử lại tuân theo các quy luật? Loài người chúng ta cảm nghiệm rằng chỉ các tác nhân hợp lý và có ý thức mới tuân theo các hướng dẫn. Nó vẫn là một bí ẩn sâu xa làm sao các sự vật lại có thể thi hành bất cứ gì, đừng nói đến việc tuân theo các quy tắc toán học. Và biết bao quy tắc! Trong lịch sử khoa học, các khoa học gia tìm thấy những dị thường trong các quy luật đã được biết rõ, và chúng thường được dùng để giải thích cho các quy luật sâu xa hơn và mỹ miều hơn mà dường như làm nền tảng cho sự hoạt động của thiên nhiên.

    "Vậy các quy tắc vật lý từ đâu đến?" Victor Stenger hỏi. "Chúng không đến từ đâu cả." Tôi cho rằng đây là một câu trả lời, nhưng là loại trả lời gì? Tuy nhiên, ngay cả các khoa học gia không phải là tín hữu cũng bàng hoàng với điều mà nhà sinh vật học Ursula Goodenough gọi là "vực thẳm thiêng liêng của tự nhiên," và thái độ của họ đối với điều đó gần như huyền bí. Tôi tin là ở đây, nhiều tín hữu cũng như người không tín ngưỡng tìm thấy một điểm chung, trong sự tôn kính chung về sự vĩ đại của công trình tạo dựng. Tuy nhiên khi suy nghĩ về thứ tự phức tạp của thiên nhiên người ta phải tự hỏi làm sao có thứ tự này. Tại sao thực thể lại được cấu tạo theo phương cách này? Trật tự thật đúng luật của thiên nhiên đòi phải có một sự giải thích chứ? Nếu vậy, sự giải thích tốt nhất về lý do tại sao vũ trụ lại quá thứ tự và có thể nhận thức được và thuận lợi cho sự sống, đó là một bản thể thông suốt đã dựng nên nó theo phương cách ấy.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  13. #13

    Mặc định

    anh em muốn đọc tiếp thì vào

    http://www.nguoitinhuu.com/sachtruye...reat/ch12.html
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  14. #14

    Mặc định

    Ông này giỏi quá, thời nay ít thấy có nhà văn hộ giáo nào ,toàn là tụi chống phá, híc
    ”Vì Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.”

  15. #15
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    thế là những gì của tiên tri kinh thánh đã ứng nghiệm gần hết. Gần tận thế rồi chăng?
    haiz...........................

  16. #16

    Mặc định

    tôi đang đọc đến ch 19 hay quá.

    CHƯƠNG 19

    QUYỀN GIẾT NGƯỜI: THUYẾT VÔ THẦN
    VÀ SỰ TÀN SÁT TRONG LỊCH SỬ

    "Không có Thiên Chúa và đời sống tương lai? Sau đó thì loài người sẽ như thế nào? Nó có nghĩa là bất cứ gì bây giờ cũng được phép."
    Fyodor Dostoevsky, The Brothers Karamazov

    T
    rong khi họ thường đổi lỗi cho tôn giáo đóng vai trò cổ vũ xung đột và bạo lực, các văn gia thế tục ít khi duyệt xét vai trò của thuyết vô thần trong việc tạo ra chiến tranh và sự sát nhân. Điều thú vị là chúng ta thường nghe về sự đau khổ trong lịch sử do tôn giáo gây nên, nhưng ít khi nghe nói về sự đau khổ do thuyết vô thần gây ra. Năm trăm năm sau vụ Tòa Thẩm Tra, chúng ta vẫn còn nói về điều đó, nhưng sau khi "Cộng Sản vô thần" sụp đổ chưa đến hai thập niên, đã có sự im lặng kỳ lạ về các nấm mộ tập thể của quần đảo Gulag của Xô Viết. Tại sao thiếu vắng sự giải thích và trình bầy trách nhiệm? Có phải thuyết vô thần có nghĩa không bao giờ bạn phải hối tiếc?

    Các văn gia vô thần thú nhận rằng người vô thần, cũng như người có tôn giáo, đôi khi làm những điều khủng khiếp. Theo Richard Dawkins, "Vấn đề là… liệu thuyết vô thần có ảnh hưởng đến dân chúng để làm điều xấu một cách có phương pháp hay không. Không có một chút chứng cớ nào như vậy." Nói cách khác, "Cá nhân người vô thần có thể làm điều xấu nhưng họ không làm sự dữ nhân danh thuyết vô thần." Vật lý gia Steven Weinberg thừa nhận rằng thuyết vô thần khoa học "có góp phần cho sự đau khổ của thế giới" nhưng "nơi nào thẩm quyền khoa học được viện dẫn để bào chữa cho sự kinh khiếp, thực sự nó là những xuyên tạc của khoa học."

    Trong chương này, tôi muốn chú ý đến các tội ác lớn lao thực sự được gây ra bởi các nhóm và chính phủ vô thần. Trong một trăm năm qua hay hơn, các chế độ vô thần thế lực nhất—Cộng Sản Xô Viết, Cộng Sản Trung Hoa, và Đức Quốc Xã—đã quét sạch dân chúng với con số vô cùng to lớn. Stalin chịu trách nhiệm cho khoảng hai mươi triệu người chết, qua sự tàn sát tập thể, trại lao động cưỡng bách, tòa án công khai và đội hành quyết, tái định cư dân chúng để chết đói, và vân vân. Sự nghiên cứu đáng tin cậy mới đây của Jon Halliday và Jung Chang về Mao: The Unknown Story cho rằng chế độ Mao Trạch Đông đã đưa đến cái chết của bẩy mươi triệu người. Một số học giả Trung Hoa cho rằng con số của Chang và Halliday thì hơi cao, nhưng các tác giả này trưng dẫn bằng chứng rằng chế độ vô thần của Mao tàn sát nhiều người nhất trong lịch sử thế giới. Sự tàn sát của Mao và Stalin—không giống như của Thập Tự Chinh hay Cuộc Chiến Ba Mươi Năm—được thi hành trong thời bình và đối với người dân trong nước. Hitler đứng hạng thứ ba với khoảng mười triệu người chết, sáu triệu là người Do Thái.

    Cho đến bây giờ, tôi chưa kể đến các vụ ám sát và lệnh giết người của các nhà độc tài Sô Viết như Lenin, Krushchev, Brezhnev, và vân vân. Tôi cũng không bao gồm một số bạo chúa vô thần "kém hơn" tỉ như: Pol Pot, Enver Hoxha, Nicolae Ceausescu, Fidel Castro, Kim Jong-il. Ngay cả những bạo chúa "cỡ nhỏ" này cũng giết rất nhiều người. Hãy để ý đến Pol Pot, lãnh tụ của nhóm Khờ-me Đỏ, là bè phái Cộng Sản cai trị Cambốt từ 1975 đến 1979. Trong vòng thời gian bốn năm, Pol Pot và ý thức hệ cách mạng của ông đã thi hành việc tái định cư và giết người tập thể được ước lượng là một phần năm dân số Cambốt, khoảng 1.5 đến 2 triệu người. Thật vậy, số phần trăm dân chúng mà Pol Pot giết thì nhiều hơn Stalin và Mao giết chính dân của họ. Ngay cả vậy, chỉ cần chú ý đến bộ ba vĩ đại—Stalin, Hitler và Mao—chúng ta phải biết rằng các chế độ vô thần này đã giết trên một trăm triệu người chỉ trong một thế kỷ.

    Việc giết người gây nên bởi tôn giáo không thể nào sánh với việc thảm sát của các chế độ vô thần. Tôi thấy rằng mật độ dân số ngày xưa thấp hơn, và ngày nay thật dễ giết người với các vũ khí tối tân hơn là các thế kỷ trước với gươm giáo và cung tên. Ngay cả chỉ chú ý đến mức độ dân số, bạo lực vô thần vượt quá bạo lực tôn giáo đến độ ngạc nhiên. Đây là một bài toán sơ sài. Dân số thế giới từ khoảng 500 triệu vào năm 1450 tăng đến 2.5 tỉ vào năm 1950, gia tăng gấp năm. Tổng hợp tất cả, Thập Tự Chinh, Tòa Thẩm Tra, và thiêu đốt phù thủy, khoảng 200,000 người. Điều chỉnh theo sự gia tăng dân số, điều đó tương đương với một triệu người chết hôm nay. Ngay cả vậy, số tử vong đó gây nên bởi các chế độ Kitô Giáo trong một giai đoạn hơn năm trăm năm cũng chỉ bằng 1 phần trăm người chết gây nên bởi Stalin, Hitler và Mao trong khoảng thời gian vài thập niên.

    Dawkins dường như lừa dối chính mình khi nghĩ rằng những sự ghê tởm này không được tạo nên bởi thuyết vô thần. Nhưng ai có thể cho rằng thuyết cộng sản không phải là một ý thức hệ vô thần? Chủ thuyết cộng sản kêu gọi diệt trừ tầng lớp bóc lột, nó đề cao vũ lực như một kiểu cách tiến bộ xã hội, và nó kêu gọi phải dùng bất cứ phương tiện nào cần thiết để đạt đến xã hội vô thần không tưởng. Không chỉ có Marx là người vô thần, nhưng thuyết vô thần còn là phần chính của học thuyết Mácxít. Thuyết vô thần trở nên yếu tố chính của hệ tư tưởng chủ yếu của Liên Bang Xô Viết, nó vẫn còn là chủ nghĩa chính của Trung Cộng, và Stalin và Mao áp đặt chính sách vô thần bằng cách đóng cửa các nhà thờ và giết hại các linh mục và tín đồ. Tất cả các chế độ cộng sản đều mạnh mẽ bài trừ tôn giáo, điều đó cho thấy thuyết vô thần là thực chất chứ không chỉ là phụ thuộc đối với ý thức hệ của họ.

    Tương tự, Đức Quốc Xã là một triết thuyết thế tục, chống tôn giáo mà, thật lạ lùng, có nhiều điểm giống với thuyết cộng sản. Trong khi người cộng sản muốn ban thêm quyền lợi cho giới tư sản, Đức Quốc Xã muốn ban thêm quyền cho một giống dân đứng đầu. Với người cộng sản, kẻ thù là giai cấp tư bản; với Đức Quốc Xã, kẻ thù là người Do Thái và các giống dân khác được cho rằng yếu kém hơn. Người cộng sản và Đức Quốc Xã đối xử với các giáo hội Kitô Giáo như những chướng ngại vật và kẻ thù. Cả hai nhóm đều tuyên bố rằng họ tiến hành cuộc cách mạng để tạo thành một nhân loại mới và một xã hội mới không bị xiềng xích bởi tôn giáo truyền thống và luân lý truyền thống.

    Khi so sánh tội ác của tôn giáo và tội ác của thuyết vô thần, thật quan trọng để chúng ta áp dụng một tiêu chuẩn kiên định. Triết gia Daniel Dennett cung cấp một tiêu chuẩn như vậy trong cuốn Breaking the Spell. Ông đề nghị tôn giáo được xét xử bởi các hậu quả của nó, hoặc, như Kinh Thánh diễn tả, "xem quả thì biết cây." Dennett không cần biết là các hậu quả này có phải là ý định của người sáng lập tôn giáo hoặc có tiêu biểu cho các giá trị cao quý của tôn giáo hay không. Ông không muốn tách biệt những giảng dậy đích thật của tôn giáo với những lệch lạc của nó. "Đúng là những người cuồng tín ít được linh hứng, hay được dẫn dắt bởi các giáo lý sâu xa và tốt nhất trong các truyền thống tôn giáo đó. Có gì khác? Sự khủng bố của Al Qaeda và Hamas vẫn là trách nhiệm của Hồi Giáo, và việc gài bom bệnh xá phá thai vẫn là trách nhiệm của Kitô Giáo." Đây là một điểm rất hay. Hãy chấp nhận tiêu chuẩn của Dennett. Nhưng vậy thì bởi chính tiêu chuẩn này, hàng triệu người bị thảm sát bởi Stalin, Hitler, và Mao—chưa kể những nạn nhân của các bạo chúa cấp nhỏ--tất cả đều thuộc trách nhiệm của thuyết vô thần.

    Than ôi, Steven Weinberg muốn có cả hai cách. Weinberg hiển nhiên tin rằng các tội ác của tôn giáo phản ánh bộ mặt thật của tôn giáo, trong khi tội ác của các chế độ vô thần tượng trưng cho sự sái trệch của tinh thần vô thần trong việc tìm kiếm có tính cách khoa học và hữu lý. Qua các tiêu chuẩn của Dennett, đây là một sự thoái thác. Nếu Kitô Giáo phải trả lời cho Torquemada, thuyết vô thần phải trả lời cho Stalin. Vì thế cho nên, nếu một Kitô Hữu bình thường, là người chưa bao giờ thiêu đốt ai, nhưng phải chịu trách nhiệm cho những người tự xưng là Kitô Hữu khi hành động nhân danh Kitô Giáo, thì người vô thần nào nghĩ mình tử tế hơn, nhân từ hơn cũng không được miễn tội vì những đau khổ khủng khiếp mà niềm tin của họ đã gây nên trong lịch sử cận đại. Weinberg mập mờ đánh lận con đen cho rằng Kitô Giáo phải chịu trách nhiệm về những sự dữ được thi hành, trong khi tìm cách bào chữa thuyết thế tục và vô thần về những tội ác lớn lao hơn được chúng gây ra.

    Cùng một chiều hướng, Sam Harris tìm cách miễn tội cho thuyết vô thần bằng cách cho rằng chủ nghĩa của Stalin và Mao "khác chút đỉnh với một tôn giáo có tính cách chính trị." Christopher Hitchens đưa ra một loại lý luận tương tự, cho rằng khi những người theo Stalin và Mao tìm cách thay thế tôn giáo, các ý thức hệ đó phải được coi là các tôn giáo thay thế. Chẳng lẽ bây giờ tôn giáo lại phải chịu trách nhiệm cả tội ác của những người vô thần đã vi phạm hay sao?

    Đối với Đức Quốc Xã, Harris viết rằng "sự hận thù người Do Thái ở Đức… thì xuất phát trực tiếp từ Kitô Giáo thời trung cổ." Thật vậy, "biến cố Holocaust đánh dấu tột đỉnh của… hai trăm năm người Kitô tức giận người Do Thái." Bởi đó, "có cố ý hay không, Đức Quốc Xã là tay chân của tôn giáo." Các trang web vô thần đều đều cho rằng Hitler là một tín hữu Kitô vì ông là người Công Giáo đạo gốc, chưa bao giờ công khai từ bỏ Công Giáo, và đã viết trong cuốn Mein Kampf, "Khi tôi tự vệ đối với người Do Thái, tôi chiến đấu cho công việc của Chúa."

    Những lời cáo buộc này có sức thuyết phục như thế nào? Hitler sinh trong gia đình Công Giáo cũng như Stalin sinh trong Giáo Hội Chính Thống Nga và Mao được lớn lên trong gia đình Phật Giáo. Các sự kiện này chẳng nói lên điều gì cả, vì nhiều người khi lớn lên cũng từ chối tôn giáo gốc của họ cũng như ba ông kia. Từ khi còn nhỏ, sử gia Allen Bullock viết, Hitler "không dành chút thời giờ cho giáo lý Công Giáo, coi đó là một thứ đạo chỉ thích hợp cho người nô lệ, và ghê tởm các nguyên tắc xử thế của đạo." Vậy chúng ta giải thích thế nào về điều Hitler rêu rao rằng khi thực hiện chương trình bài Do Thái, ông là một khí cụ của Thiên Chúa? Trong thời kỳ lên nắm quyền, Hitler cần sự hỗ trợ của dân Đức—cả người Công Giáo Bavari và người Phổ theo Tin Lành Luther—và để đạt được điều này, thỉnh thoảng ông dùng lời hoa mỹ, tỉ như "Tôi đang làm công việc của Chúa." Cho rằng lời hoa mỹ này làm cho Hitler trở nên một Kitô Hữu là lầm lẫn giữa chủ nghĩa cơ hội chính trị với sự tin tưởng cá nhân. Chính Hitler nói trong Mein Kampf rằng những tuyên bố công khai của ông phải được hiểu là sự tuyên truyền không có liên hệ gì đến sự thật nhưng để lung lay đám đông.

    Ý tưởng của Đức Quốc Xã cho rằng Đức Kitô là một người thuộc dòng giống Aryan, người đã dùng gươm để quét sạch người Do Thái khỏi mặt đất—điều mà có lần Hitler gọi là "Kitô Giáo Tích Cực"—hiển nhiên là một tách biệt triệt để với sự hiểu biết của truyền thống Kitô Giáo, và bị lên án bởi Đức Giáo Hoàng Piô XI vào lúc bấy giờ. Hơn thế nữa, thái độ bài Do Thái của Hitler không phải là tôn giáo, nó có tính cách chủng tộc—thật vậy nhiều người Đức gốc Do Thái hoàn toàn thế tục trong lối sống của họ--nhưng chỉ vì chủng tộc của họ. Đây là một chọn lựa dân tộc không phải là một tôn giáo.

    Chúng ta có thể thấy sự khác biệt bằng cách nhìn vào thái độ đối với người Do Thái trong thời trung cổ Âu Châu. Trong thế kỷ mười lăm ở Tây Ban Nha, một người Do Thái có thể thoát khỏi sự bách hại của Kitô Hữu bằng cách trở lại Kitô Giáo. Ferdinand và Isabella không chống đối dân Do Thái ở Tây Ban Nha; họ chống đối việc thực hành Do Thái Giáo trong một nơi mà họ muốn là hoàn toàn Công Giáo. Ngược lại, sự chống đối người Do Thái của Hitler không có tính cách tôn giáo. Một người Do Thái không thể thoát khỏi trại tử thần Auschwitz bằng cách tuyên bố rằng, "Tôi không còn sống đạo Do Thái," "Tôi là người vô thần," hoặc "Tôi đã trở lại Kitô Giáo." Điều này không đáng kể đối với Hitler vì ông tin rằng người Do Thái là dòng giống tồi tệ. Thái độ bài Do Thái của ông có tính cách thế tục.

    Hitler's Table Talk, một tuyển tập được tiết lộ về quan điểm riêng tư của Hitler do một cận vệ gom góp trong thời chiến, cho thấy Hitler chống đối tôn giáo cách cuồng dại. Ông gọi Kitô Giáo là một "tai họa" lớn nhất lịch sử, và nói về người Đức, "Hãy là dân tộc duy nhất không bị lây bệnh dịch này." Ông hứa rằng "qua tầng lớp nông dân chúng ta sẽ có thể tiêu diệt Kitô Giáo." Thật vậy, ông đổ lỗi cho người Do Thái đã phát sinh ra Kitô Giáo. Ông còn kết án Kitô Giáo vì sự chống đối thuyết tiến hóa. Hitler đặc biệt khinh miệt các giá trị Kitô Giáo về sự bình đẳng và lòng thương người, mà ông coi là yếu hèn. Các cố vấn hàng đầu của Hitler—Goebbels, Himmler, Heydrich và Bormann—là những người vô thần rất ghét tôn giáo và tìm cách tẩy sạch ảnh hưởng của nó ở Đức.

    Một số văn gia vô thần như Christopher Hitchens tìm cách đẩy Hitler vào khuôn khổ tôn giáo bằng cách nói rằng Đức Quốc Xã là một "hiện tượng hầu như là ngoại giáo." Các văn gia này viết, có thể Hitler là người đa thần, thờ các thần ngoại giáo, nhưng đa thần thì vẫn là hữu thần. Lý luận này quên đi sự khác biệt giữa ngoại giáo cổ xưa và ngoại giáo hiện đại. Thật đúng là Hitler và Đức Quốc Xã lấy nhiều từ nguyên mẫu cổ điển—phần lớn là huyền thoại người Nordic và Teutonic—để đem cho họ cái nhìn phảng phất huyền bí. Nhưng đây là thuyết thần bí thế tục, không phải thần bí tôn giáo. Người Đức cổ thực sự tin vào các thần ngoại giáo của họ. Tuy nhiên, Hitler và Đức Quốc Xã dựa trên thần thoại cổ dưới hình thức hiện đại được gán cho họ bởi Nietzsche và Wagner. Với Nietzsche và Wagner, thần thoại cổ có đúng hay không thì không thành vấn đề. Wagner không còn tin vào thần Norse cũng như Nietzsche không còn tin vào Apollo. Với Hitler và Đức Quốc Xã, các thần thoại cổ thì có giá trị vì chúng đem lại chiều sâu và sự quan trọng cho một quan niệm thế tục cơ bản về thế giới.

    Sử gia Richard Evans viết rằng "Đức Quốc Xã coi các giáo hội là cơ quan dự trữ kiên cố nhất về ý thức hệ, trái với các quy tắc mà họ tin tưởng." Một khi Hitler và Đức Quốc Xã lên nắm quyền, họ phát động một chiến dịch tàn nhẫn nhằm đàn áp và làm suy yếu các Giáo Hội Kitô Giáo ở Đức. Evans vạch rõ rằng sau 1937 các chính sách của chính phủ Hitler ngày càng chống đối tôn giáo. Người Đức Quốc Xã không còn mừng lễ Giáng Sinh, và tổ chức Thanh Niên Hitler đọc kinh cảm tạ Hitler thay vì Thiên Chúa. Hàng giáo sĩ được coi là "người phá rối" và bị cấm không được rao giảng, hàng trăm người bị cầm tù, và nhiều người bị giết. Các nhà thờ thường xuyên dưới sự theo dõi của mật vụ Gestapo. Đức Quốc Xã đóng cửa các cơ sở giáo dục của tôn giáo, ép buộc các tổ chức Kitô Giáo phải giải tán, tịch thu tài sản giáo hội, và kiểm duyệt sách báo tôn giáo. Harris không thể giải thích làm thế nào một ý thức hệ mà Hitler và đồng bọn nhận biết như một sự bài trừ Kitô Giáo lại được trình bầy như một "cực điểm" của Kitô Giáo.

    Nếu Đức Quốc Xã có tiêu biểu cho cực điểm của bất cứ gì, chính là ý thức hệ vào đầu thế kỷ hai mươi về thuyết Darwin xã hội. Như sử gia Richard Weikart ghi nhận, cả Hitler và Himmler là những người ái mộ Darwin và thường nói về vai trò của họ là ban hành một "luật tự nhiên" mà nó đảm bảo "loại trừ cái không thích hợp." Weikart lý luận rằng chính Hitler "gom góp dồi dào tư duy Darwin để đưa ra triết lý kỳ thị chủng tộc của chính ông" và kết luận rằng trong khi thuyết Darwin thì không phải là một giải thích "đầy đủ" về Đức Quốc Xã, nó là một sự "cần thiết". Nếu không có thuyết Darwin , có lẽ không có chủ nghĩa Đức Quốc Xã.

    Đức Quốc Xã cũng lấy từ triết gia Friedrich Nietzsche, đưa triết thuyết vô thần vào các mục đích thô bạo của mình. Cái nhìn của Nietzsche về ubermensch và ông đề cao một đạo đức mới "vượt trên sự thiện và sự dữ" được say sưa ưa chuộng bởi những người tuyên truyền cho Đức Quốc Xã. "Từ ý muốn đến quyền lực" của Nietzsche hầu như trở nên khẩu hiệu để tuyển mộ của Đức Quốc Xã. Tôi không có ý định gì cho rằng Darwin hay Nietzsche sẽ tán thành với ý tưởng của Hitler. Nhưng Hitler và tay sai đã tán thành ý tưởng của Darwin và Nietzsche. Sam Harris đã quên đi chứng cớ về sự đồng tình của Đức Quốc Xã với Darwin , Nietzsche và thuyết vô thần. Vậy dựa trên ý nghĩa nào chúng ta có thể chấp nhận điều Harris thường rêu rao là các lãnh tụ Đức Quốc Xã là các tay sai của tôn giáo dù "biết hay không biết"? Hiển nhiên, điều đó vô nghĩa.

    Một số người bày tỏ sự hoang mang rằng các chế độ vô thần đã gây nên các cuộc tắm máu mà không có một lực lượng nào khác trong lịch sử có thể sánh được. Chính Dawkins nên lên câu hỏi làm thế nào một sự thiếu vắng niềm tin có thể tạo nên sự thiệt hại cho xã hội. Dawkins không biết rằng những niềm tin sâu sa nhất của ông đem lại manh mối cho "giải pháp sau cùng." Những tên sát nhân vô thần coi mục tiêu của họ quá lớn lao và quá ưu tú đến độ không gì có thể được phép chắn lối. Họ tự cho mình là đang hành động nhân danh các động lực không thể lay chuyển và không thể tranh luận như khoa học, lý lẽ và sự tiến bộ.

    Khoa học? Phải, Đức Quốc Xã coi họ đang cổ vũ sự sống còn của những gì thích hợp nhất, đúng với đường lối tiến hóa đã xảy ra. Lý lẽ? Cộng sản thấy chương trình của họ như một thể chế hóa thời đại lý lẽ. Marx nằm trong truyền thống Khai Sáng của Jacobin Pháp, là người đã tấn phong nữ thần lý lẽ trong Vương Cung Thánh Đường Đức Bà và sau đó cho công bố Triều Đại Kinh Hoàng, trong đó những người "vô lý"—giới quý tộc, linh mục, và các đại diện khác của thời xưa—đều bị đưa đến máy chém. Và sự tiến bộ? Như người cộng sản và Đức Quốc Xã thường nhấn mạnh, lịch sử đứng về phía họ, và vì thế các đối thủ của họ là tôn giáo hoặc tư sản phản động là những người phải bị loại trừ vì họ làm trì trệ bước tiến của xã hội. Sự thần thánh hóa khoa học, lý lẽ, và tiến bộ của trần thế--một học thuyết đầy dẫy ngày nay—thì đúng là điều đã cho phép con người thi hành những gì đối với người khác trong một phương cách và một mức độ mà trước đây không ai dám nghĩ đến.

    Một lý do thứ hai của những kinh hoàng của các chế độ vô thần là vì chúng hành động mà không có bất cứ hạn chế gì về luân lý, là sản phẩm của tôn giáo và, tuy không nhiều, nó đã giữ tay các bạo chúa khát máu trong quá khứ. Nietzsche đã nhìn thấy điều này xảy ra. Trong thế kỷ mười chín, ông đã tiên đoán rằng hai thế kỷ sắp tới sẽ có tai biến vì chiến tranh và bạo lực ngoài sức tưởng tượng. Nietzsch viết, cái chết của Thiên Chúa sẽ gây nên sự hoàn toàn lu mờ của mọi giá trị. Vì giá trị không còn xuất phát từ Thiên Chúa, giờ đây chúng sẽ được tạo thành bởi con người. Và vì con người là hậu duệ từ loài vật—một ý tưởng Nietzsche lấy từ Darwin —con người dường như sẽ ưa thích giá trị của libido dominandi (sức sống làm chủ) mà chúng ta thấy mọi nơi trong thiên nhiên. Những người mạnh sẽ tiêu diệt người yếu với cùng một lý do như con sư tử ăn con nai. "Luân lý ông chủ" đánh bại "luân lý nô lệ." Nó trở nên vô dụng để cầu việc đến sự trắc ẩn và lòng thương người và sự tao nhã không còn nữa. Điều đó giống như nói với các con sư tử rằng chúng phải chấm dứt là sư tử.

    Nói cách khác, cuộc tắm máu của vô thần là sản phẩm của một ý thức hệ hiện đại xấc xược mà nó coi con người, chứ không phải Thiên Chúa, là người sáng tạo các giá trị. Khi chối bỏ Thiên Chúa, con người ngày càng khinh bỉ học thuyết về tội lỗi con người và tin vào sự tuyệt hảo của bản tính con người. Giờ đây loài người tìm cách thay thế Thiên Chúa và tạo thành một chủ nghĩa không tưởng trần tục trên mặt đất. Để đạt được điều này, các nhà cai trị vô thần đặt ra sự kiểm soát toàn thể xã hội. Chúng sáng chế ra một hình thức chuyên chế triệt để hơn bất cứ gì mà các nhà cầm quyền trước đây đã toan tính: mọi khía cạnh của đời sống đều bị kiểm soát của chính trị. Dĩ nhiên, nếu một số người—Do Thái, địa chủ, người không thích hợp, người tàn tật, người bất đồng, và vân vân—phải bị tái phân phối, giam cầm, hay thanh toán để đạt được điều không tưởng này, đây là giá mà các bạo chúa vô thần cho thấy họ rất sẵn sàng muốn trả. Các quy luật luân lý cũ không còn áp dụng, và các chức năng vô thần bình thường sẽ làm một pháp quan toà thẩm tra rúng động. Các chế độ vô thần, bởi hành động của chúng, xác nhận châm ngôn của Dostoevsky là sự thật: nếu không có Thiên Chúa, mọi sự đều được phép.

    Bất cứ lý do gì để giải thích cho hành động của các chế độ vô thần, sự kiện không thể chối cãi là dù có gom lại tất cả mọi tôn giáo trên thế giới trong ba ngàn năm qua cũng không giết người nhiều đến độ như các chế độ vô thần thi hành trong một vài thập niên qua. Đã đến lúc phải từ bỏ câu thần chú vô nghĩa rằng niềm tin tôn giáo là động lực chính của sự tranh chấp và bạo động của con người. Thuyết vô thần, chứ không phải tôn giáo, phải chịu trách nhiệm cho những sự sát hại tập thể của lịch sử.
    Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Thiền học
    By The_Sun in forum Thiền Tông
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 03-09-2011, 08:52 AM
  2. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 19-08-2011, 01:12 PM
  3. Tìm hiểu về TĐGCL
    By tinhkhithan in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 33
    Bài mới gởi: 28-06-2011, 05:51 PM
  4. Nhật ký của Đường Tam Tạng
    By dc_bac in forum Đạo Phật
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 09-02-2011, 01:47 AM
  5. BÀ LA MÔN GIÁO VÀ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
    By aptruong in forum Đạo Phật
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 19-01-2011, 12:58 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •