!!""
2005
A. Thuyết minh về thân trung ấm:
Nếu đã chết, trạng thái tâm đi vào thân trung ấm, dù có
nói năng thế nào đi chăng nữa, nhĩ căn cũng không nghe
được, vì không đồng cảnh giới; thế nên phải nói lúc còn
thân sinh hữu (chưa chết) để những sinh hữu khác cùng
nghe, có sự hiểu biết để hành xử cho đúng về lý lẫn sự
để khi bỏ thân sinh hữu nầy, trung ấm thân tái sinh vào
các cảnh giới thù thắng hơn mà thân sinh hữu ước
nguyện như sinh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.
B. Lược đồ ba thân:
Tiền ấm khi thân tứ đại còn sinh hoạt. Thí dụ: Khởi
điểm ở A. Từ A à B là một đời sống.
Trung ấm khi thân nầy lâm vào trạng thái chết. Thí dụ:
Khởi điểm ở B à C
Hậu ấm trạng thái tâm thức chưa nhập vào thai đời sau.
C. Trạng thái khi bốn đại phân ly:
1) Trạng thái địa đại lấn áp thủy đại:
Toàn thân người đều cảm giác nặng nề, mỏi mệt lấn áp
vào toàn tạng phủ cho đến các lóng đốt lẫn đến từng tế
bào, nỗi đau đớn áp bức gây chướng ngại không sao tả
được, thể hiện qua chân tay co rút, gân mạch run rẩy, đó
là trạng thái địa đại lấn áp thủy đại.
2) Trạng thái thủy đại lấn áp hỏa đại:
Hơi lạnh truyền khắp trong thân thể rồi thấm vào cốt
tủy, nội tạng rung động, gan ruột đều giá lạnh, dù cho
lửa lò cũng không trừ được. Dù nằm trên băng tuyết nỗi
lạnh không bằng một phần trong muôn phần của trạng
thái thủy đại lấn áp hỏa đại, bệnh nhân nhan sắc nhợt
nhạt, hơi thở khò khè, thân mình run rẩy.
3) Trạng thái hỏa đại lấn áp phong đại:
Lúc đó sinh cơ lui mất hơn phân nửa, sức chống chọi
giảm rất nhanh, khổ lại tăng lên càng nhiều, trong ngũ
tạng ngoài tứ chi, khác nào nung nướng từng lóng đốt
như bị cắt chặt đau đớn quá nên cứng đơ như thẻ gỗ.
Khi đó nét mặt ửng đỏ, tinh thần tối tăm, hơi thở ra thì
nhiều, hít vào thì ít. Đó là trạng thái hỏa đại lấn áp
phong đại.
4) Trạng thái phong đại phân ly:
Lúc đó thân thể người bệnh bỗng nhiên cảm thọ một thứ
gió mãnh liệt thổi bạt thân thể tan nát như vi trần, hết sức
đau đớn rã rời. Khi ấy bốn đại phân ly, sáu căn bại hoại,
chỉ còn nghiệp thức tùy theo nghiệp lực đã tạo tác lúc
còn sống mà thọ sanh.
Nếu được sanh vào cõi Tịnh Độ ở Phương Tây, thì nhờ
oai thần của Phật A Di Đà và Thánh Chúng đến tiếp
dẫn. Điều cần tránh là gia nhân và quyến thuộc phải dè
dặt chớ khóc lóc rộn ràng, như thế làm cho thần thức
người chết bị tình thương lôi cuốn, tham đắm vào cảnh
thế gian chướng ngại cho sự vãng sanh. Vì thế nên để
yên thi thể sau khi tắt thở tối thiểu là tám tiếng đồng hồ
rồi sẽ làm những việc cần thiết như chùi rửa, thay đổi áo
quần hoặc làm các thủ tục nhập liệm. Nếu động thân
thể người mất quá sớm, thức chưa ra khỏi thân, bị xúc
động phải cảm thọ sự đau đớn mà sinh ra sân hận phải
đọa vào ác đạo.
Mặt khác, nên xét kỹ lúc sinh thời (hữu) của người chết,
tuy tin Phật, nhưng giải đãi trong việc tu tập, tín nguyện
chưa thâm thiết, nghiệp chướng nặng nề, khi lâm chung
bị mê mờ, tức là hiểu được người đó chưa được vãng
sanh. Nên mời các vị thiện tri thức tu Tịnh Độ Tôn đối
trước thi thể của người chết vì vong linh mà khai thị:
’’Nguyện ... nếu đạo hữu đến trên mặt nước hay trước
bức gương mà soi thì sẽ không thấy được diện tượng
của đạo hữu hiện vào nữa, vì thân trung ấm đã rời sắc
thân tứ đại do huyết nhục tạo nên trong nhân gian. Đạo
hữu nên biết, khi đã vào giai đoạn Trung Ấm Thân, chỉ
có một điều cần thiết là: ’ Không nên nhớ nghĩ việc gì
nữa chỉ nên chuyên tâm niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát
Quán Thế Âm đến cứu độ. Khi đó Đức Phật và Bồ Tát
sẽ cảm ứng mà đến. Mong đạo hữu phải khéo tự phát ý
niệm Phật.’’
Thân Trung Ấm sẽ cảm thọ các hào quang như sau:
Ánh sáng của đạo Trời thì hơi Trắng
Ánh sáng của đạo Người thì hơi Vàng
Dù chưa chết
sự hiểu biết về
thân trung ấm
có giá trị như thế nào?
!"
2005
Ánh sáng của đạo A Tu La thì hơi Lục
Ánh sáng của đạo Ngạ Quỷ thì hơi Đỏ
Ánh sáng của đạo Súc Sanh thì hơi Xanh
Ánh sáng của đạo Địa Ngục thì như khói Đen
Ánh sáng của lục đạo dịu dàng dễ chịu, nhưng không
nên tham đắm, cần phải tránh xa. Nên chăm lòng thành
kính niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát Quán Thế Âm. Phải
bỏ cái dễ đi đến cái khó, không nên khiếp nhược, phải đi
đến chỗ hào quang mãnh liệt của chư Phật, hào quang
(ân huệ, giải thoát, vượt phàm thành thánh), nếu đem
toàn thân vào trong đó, tức bước lên cõi Phật thường an
vui, xa lìa nỗi khổ não đắm chìm trong lục đạo.
1. Những người chuyên tu Thiền Định, hoặc niệm
Phật đến trình độ Nhất Tâm Bất Loạn, thần thức có
thể xuất ly tam giới hay sinh về cõi Trời, hễ những
vị đó chết là thần thức lập tức siêu sinh.
2. Những người tu mười thiện nghiệp giữ năm giới,
trung hiếu nhân nghĩa, cứu người giúp đời, thì khi
chết trực tiếp sanh về cõi trời cõi người ngay, mà
không ở trong trạng thái chần chờ.
3. Những người rất gian ác nham hiểm vừa tắt hơi thở
là liền bị sanh vào ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ
và súc sanh tức thì.
4. Ngoài ba hạng người vừa kể còn tất cả đều trải qua
trạng thái chần chờ do dự, giai đoạn chần chờ thần
thức rời khỏi thân cũ đến khi thọ thân mới khoảng
thời gian nầy gọi là Thân Trung Ấm.
5. Thân Trung Ấm cảm thọ các cảnh giới sau:
• Cảm thấy một cái hồ có nhiều loại chim say
đắm an vui mà xao lãng chỗ tấn tu, không nên
thọ sanh vào. Đó là: Đông thắng thần châu
• Cảm thấy hiện ra cung điện huy hoàng, nên
sanh về châu nầy vì có Phật pháp lưu hành. Đó
là: Nam thiện bội châu
• Cảm thấy một cái hồ, hai bên bờ hồ có trâu gặm
cỏ, vì sự giàu có ở châu nầy làm tăng trưởng
tham tâm, không nên thọ sanh vào. Đó là: Tây
ngưu hóa châu
• Cảm thấy một cái hồ trên bờ hồ có súc vật và
cây cối, không nên thọ sanh vào, vì không có
Phật pháp lưu hành. Đó là: Bắc cu lô châu
Nếu hành giả tu nhân giải thoát tức vô lậu thiện nghiệp,
sau khi chết thần thức sẽ sinh về các cõi Tịnh Độ, không
còn sự chi phối ràng buộc của tam giới.
Cận tử nghiệp có tính cách quyết định ưu tiên cho việc
thọ báo, đây là một điều tối ư quan trọng, chúng ta
không nên xem thường điều cứu độ Thân Trung Ấm.
D. Hành giả muốn siêu tiến lúc lâm chung, chủ yếu
lúc còn sống việc tu niệm cần đạt được nhất tâm:
Nhờ vào công phu tu tập của mình khi còn sống để cầu
giải thoát thì dễ, ngược lại dựa vào sự siêu tiến cầu
nguyện của thân thuộc sau khi chết để mong siêu phàm
nhập thánh thời khó. Công phu tu niệm của đương sự
thuộc đẳng lưu nhân quả, việc cầu nguyện của thân nhân
chỉ là tăng thượng nhân quả mà thôi.
Phần đông thần thức của Thân Sinh Ấm, rời trải qua
Trung Ấm Thân để chờ việc thọ sanh, nhanh hay chậm
là tùy theo nghiệp lực và nghiệp thức mỗi Thân Trung
Ấm không đồng nhau.
Tóm lại, nếu mọi người đều hiểu biết rõ ràng các trạng
thái cảm thọ của Thân Trung Ấm thời lợi lạc không thể
lường, vì hành xử đúng cách Trung Ấm Thân không
gây sân hận, nên không bị đọa lạc, mà còn được sự hộ
niệm trợ duyên cho Trung Ấm thân được tăng thượng
duyên trong việc thọ sanh vào cõi Tịnh Độ thì quý hóa
vô lường.