kết quả từ 1 tới 19 trên 19

Ðề tài: Công đức vô lượng:"kinh chánh pháp đại tập hội"

  1. #1

    Mặc định Công đức vô lượng:"kinh chánh pháp đại tập hội"

    Mong mọi người đều biết và đọc đến : "Kinh Tập Hội Chánh Pháp "

    T h e S a n g h a t a S u t r a
    H ồ ng Nh ư chuy ể n Vi ệ t ng ữ
    2549 - 2005

    Hộ i B ảo T ồ n Truy ền Th ố ng Phậ t Giáo Ðạ i Th ừ a
    Ban Giáo D ụ c

    Foundation for the Preservation of the Mahayana Tradition
    Education Department


    P. O. Box 888
    Taos, New Mexico 8757 1 USA
    Tel: (505)737-0550
    Email: materials@fpmt.org
    www.fpmt.org/shop



    T ủ Sách Phậ t Giáo Tây T ạ ng
    liên l ạc hongnhu@gmail.com

    Kinh Chánh Pháp Tập Hội

    G ần đây l ạ t-ma Zopa Rinpoche đề ngh ị các trung tâm thu ộ c H ội
    Bảo T ồn Truy ển Th ống Ph ật Giáo Ð ại Th ừ a (FPMT) đọc t ụng b ộ kinh
    Ðại th ừ a tên Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i. Ch ỉ cần đọ c t ụng, th ậ m chí
    chỉ cầ n nghe thoáng qua tai, là g ặt hái đượ c c ả một kho tàng công
    đứ c đồ sộ , vì v ậ y l ạt-ma Zopa Rinpoche khuyên Ph ật t ử nên siêng
    năng đọc t ụ ng để hồi h ướ ng công đứ c cho D ự Án T ượ ng Ph ậ t Di
    Lạc, và r ồi chính D ự Án này s ẽ mang l ạ i công đứ c cho vô l ượ ng
    chúng sinh.
    Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i do Ph ậ t Thích Ca Mâu Ni thuy ế t trên
    đỉnh Linh Th ứ u t ại thành V ươ ng Xá. C ũng nh ư mọ i b ộ kinh Ð ại th ừ a
    khác, Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i đượ c các v ị đệ t ử c ủa Ph ật ghi nh ớ
    rồi chép l ại b ằng ti ếng Ph ạ n. Ð ặc điểm c ủa kinh này là do đứ c Thích
    Ca Mâu Ni th ọ nh ận t ừ đứ c Ph ậ t quá kh ứ , đồ ng th ờ i tác d ụng c ủa
    kinh đố i v ớ i ngườ i nghe, đọ c, tụng, cũ ng đặ c biệt l ớ n lao.
    Kinh Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i thu ộ c h ệ kinh Ð ại T ập B ộ, có kh ả
    năng chuy ển hóa m ạnh m ẽ tâm th ứ c của ng ườ i đọ c ngườ i nghe. M ột
    trong nh ữ ng l ợ i ích l ớ n lao c ủa kinh này là b ấ t cứ ai đ ã t ừ ng đọc qua,
    đến khi ch ết s ẽ đượ c chư Ph ật đến an ủ i ti ếp d ẫn trong quá trình vào
    cõi chết. Ngoài ra còn m ột l ợ i ích l ớ n lao khác, kinh v ăn có nêu rõ, đó
    là n ơ i nào có Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i thì Ph ật có m ặt ngay n ơ i ấy.
    V ậy kinh này còn có kh ả nă ng thanh t ịnh hóa c ảnh gi ớ i bên ngoài,
    ngay n ơ i chốn đang đượ c đọc tụng.
    Nói chung, đọc t ụ ng kinh điển Ð ại th ừ a là m ột trong sáu ph ươ ng
    pháp sám h ố i. Riêng kinh Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i đặ c bi ệt có kh ả
    năng thanh t ịnh nghi ệ p ch ướ ng nhi ều đờ i. Ph ậ t gi ả i thích phong phú
    trong kinh v ă n r ằng đọc t ụng kinh này thì m ọi ch ủng nghi ệp phi ền
    não đều đoạ n di ệ t, gieo h ạt gi ố ng an l ạc cho t ươ ng lai mãi đế n khi

    4

    Kinh Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i


    thành t ự u qu ả v ị Ph ật đà. Kinh này c ũ ng gi ả ng gi ả i phong phú v ề quá
    trình ho ại di ệ t củ a các thành ph ần tâm lý v ậ t lý vào lúc m ạng chung.
    Khi x ư a kinh Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p Hộ i đã t ừ ng là m ột trong nh ữ ng
    bộ kinh ph ổ bi ến nh ất trong nhi ề u th ế k ỷ. Vài nh ữ ng n ăm 1930, các
    nhà kh ảo c ổ đào phía B ắc n ướ c Pakistan (thu ộc địa Anh qu ố c), tìm
    đượ c cả m ột kho kinh đ iển Ph ật giáo thu ộ c th ế k ỷ th ứ n ăm sau công
    nguyên, x ư a h ơ n nh ữ ng gì tìm th ấy qua nh ữ ng cu ộc kh ảo c ổ về
    trướ c r ất nhi ều. Trong s ố nh ữ ng b ộ kinh tìm th ấy, kinh Chánh Pháp
    Ðạ i T ậ p H ộ i đượ c ghi chép nhi ều nh ất, nhi ề u h ơ n cả kinh Pháp Hoa ,
    kinh Kim C ươ ng , hay nh ữ ng b ộ kinh thu ộ c h ệ Bát Nhã hi ện nay r ất
    phổ bi ến. Kinh Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i vào th ờ i phôi thai c ủa Ph ật
    Giáo Ð ại th ừ a đ ã đượ c d ịch ra nhi ề u ngôn ng ữ , Hoa ng ữ ,
    Khotanese, T ạng ng ữ , còn nguyên b ản ti ếng Ph ạn thì b ị th ất l ạc.
    Phải đợ i đế n đợ t khám phá th ậ p niên 1 930, nguyên v ăn ti ếng Ph ạn
    mớ i đượ c tìm th ấy.
    G ần đây, l ạt-ma Zopa Rinpoche ghé qua ngôi chùa do Geshe
    Sopa tr ụ trì ở Madison, đọ c kinh Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i xong li ề n
    quyết định l ấ y m ự c vàng ròng chép l ại b ộ kinh, đồ ng th ờ i khuy ế n
    khích đệ t ử th ườ ng xuyên đọ c t ụng. Vào d ịp t ưở ng ni ệm tr ậ n kh ủng
    bố New York ngày 11 tháng 9, Rinpoche yêu c ầu đệ t ử trên toàn th ế
    giớ i đọ c t ụng càng nhi ều càng t ốt, để hồ i h ướ ng công đứ c c ầ u
    nguyệ n cho n ạn kh ủ ng b ố chấm dứ t.
    Bộ kinh Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i có kh ả n ăng tác động m ạ nh m ẽ
    lên tâm th ứ c củ a ng ườ i nghe và ng ườ i đọ c, giúp chúng ta c ảm nh ậ n
    rõ ràng lòng t ừ bi vô hạ n c ủa Ph ật đố i v ớ i chúng sinh. Ph ật thuy ết
    Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i là để giúp chúng sinh mau chóng thành t ự u
    viên mãn vô th ượ ng b ồ đề. Ngoài ra, kinh v ăn có nhi ều đ oạn là l ờ i
    nói tr ự c ti ếp của Ph ậ t, nên đọc kinh c ũng là mang gi ọng nói c ủa mình
    làm s ống l ại ti ế ng l ờ i c ủa Ph ậ t trong th ế gi ớ i hôm nay. Ð ọc kinh
    Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i không nh ữ ng g ặt hái đượ c cho mình kho
    tàng công đứ c đồ sộ, mà còn tr ự c ti ế p tinh t ấ n góp ph ần b ảo v ệ
    hoằng d ươ ng chánh pháp. Ðây c ũ ng là đ iều c ần thi ết, giúp chúng
    sinh nh ẹ bớ t gánh n ặng kh ổ đ au.


    Kinh Chánh Pháp ñåi TÆp H¶i

    Tự a đề ti ếng Ph ạn:
    Arya Sanghatasutra dharmma-paryaya
    Tự a đề ti ếng T ạ ng:
    Phag pa zung gi do’i cho kyi nam trang
    Tự a đề ti ếng Anh:
    The Noble Mahayana Sanghatasutra Dharma-Paryaya

    Phậ t Thích Ca Mâu Ni
    Lạ t-ma Zopa Rinpoche phát h ọ a

    Kinh Chánh Pháp Ð ạ i T ậ p H ộ i

    Kính l ạy ch ư Ph ật, ch ư bồ tát kh ắ p
    cả m ườ i ph ươ ng cùng t ậ n không gian.

    KINH CHÁNH PHÁP ĐẠI TẬP HỘI ( SANGHATA )


    Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn trên đỉnh Linh Thứu, thành Vương Xá, cùng với 32 ngàn vị đại tỳ kheo, toàn là bậc đại A la hán, trong đó có :

    -Tôn giả A Nhã Kiều Trần Như (Ajñáta-kaundínya)
    - tôn giả Đại Mục Kiền Liên (Maha-maudgalyáyana)
    - Tôn giả Xá Lợi Phất [Shariputra],

    Tôn giả Ðại Ca Diếp [Mahakashyapa],
    Tôn giả La Hầu La [Rahula],
    Tôn giả Bạt Câu La [Bakkula],

    Tôn giả Hiền Hộ [Bhadrapàla],
    Tôn giả Hiền Kiết Tường [Bhadrashri],
    Tôn giả Chiên Ðàn Kiết Tường [Chandranashri],

    Tôn giả Jang-gu-la [Jangula ],
    Tôn giả Tu Bồ Ðề [Subhuti],
    Tôn giả Li Bà Da [Revata],
    Tôn giả Nan Ðà Quân [Nandasena],
    Tôn giả A Nan [Ananda];

    cùng với 62 ngàn vị đại bồ tát, trong đó có:

    Đại bồ tát Từ Thị [Maitreya],
    Đại bồ tát Phổ Dũng [Sarvashura],
    Đại bồ tát Ðồng Tử Kiế t Tường [Kumarashri],

    Đại bồ tát Ðồng Tử Trụ [Kumaravasin],
    Đại bồ tát Ðồng Tử Hiền [Kumarabhadra],
    Đại bồ tát A-nu-na [Anuna, Vô S Gi m?],

    Đại bồ tát Văn Thù [Manjushri],
    Đại bồ tát Phổ Hiền [Samantabhadra],
    Đại bồ tát Thiện Kiến [Sudarshana],
    Đại bồ tát Dược Vưong [Bhaishajyasena],
    Đại bồ tát Kim Cang Quân [Vajrasena];

    Cùng với 12 ngàn thiên tử trong đó có:

    Thiên tử Át-du-na [Arjuna],
    Thiên tử Hiền [Bhadra],
    Thiên tử Thiện hiền [Subhadra],
    Thiên tử Pháp ấn [Dharmaruci],

    Thiên tử Chiên đàn tạng [Chandanagarbha],
    Thiên tử Hương trụ [Chandanavasin],
    Thiên tử Chiên đàn hương [Chandana];

    cùng với 8 ngàn thiên nữ , trong đó có :


    thiên Miệt-đàm-gi-ni [Mrdamgini],
    thiên nữ Prasadavati,
    thiên nữ Mahatmasamprayukta,
    thiên nữ Kiết tường mục [Glorious Eye],

    thiên nữ Prajapati vasini,
    thiên nữ Balini,
    thiên nữ Ðại Thế Chủ [Glorious Wealth],
    thiên nữ Subahuyukta;

    cùng với 8 ngàn long vương, trong đó có:


    long vương A-pa-la-la [Apalala],
    long vương Ưu bát la [Elapatra],
    long vương Timingila,
    long vương Kumbhasara,
    long vương Kumbhashirsha,

    long vương Dũng đức [Causing Virtue]
    long vương Diệu Hỷ [Sunanda],
    long vương Sushakha,
    long vương Gavashirsha.

    Tất cả đều đến đỉnh Linh Thứu, thành Vương Xá, hội tụ quanh đức Thế Tôn.


    Đến nơi, họ đem đỉnh đầu lạy ngang chân đức Thế Tôn, đi quanh theo phía bên phải của đức Thế Tôn 3 vòng, rồi lui về chỗ ngồi.


    Đức thế Tôn bấy giờ vẫn im lặng.


    Lúc ấy, đại bồ tát Phổ dũng từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt 1 vạt áo lên vai gối bên phải quỳ xuống chấm đất, 2 tay chấp lại, hướng về đức Phật cung kính thưa:


    ” Thưa Thế Tôn, vô số chư Thiên, thiên tử và thiên nữ, vô số bồ tát, thanh văn cùng các long vương đều đã về hội tụ, mong được nghe pháp.

    Vậy kính xin Như lai ứng cúng, chánh biến tri hãy thuyết pháp cho chúng con nghe, để lời giảng thoáng qua tai, chúng sinh nhiều tuổi liền thoát nghiệp chướng, chúng sinh ít tuổi liền tinh tấn tu thiện pháp, phát tâm vô thượng, thiện nghiệp không thoái chuyển và sẽ không bao giờ còn thoái chuyển.”

    Nghe xong, đức Thế Tôn đáp: “ Lành thay, Phổ Dũng, lời ông hỏi tốt lắm. Ông hãy nghe kĩ, nhớ kĩ, Như Lai sẽ nói cho”.


    Đại bồ tát Phổ Dũng đáp: “ Con xin theo lời Như Lai dạy” rồi lui về chỗ ngồi trước mặt Đức Thế Tôn.


    Bấy giờ Đức Thế Tôn dạy:


    ” Phổ Dũng, có chánh pháp tên Đại tập Hội, lưu hành trên cõi địa cầu.
    Ai được nghe chánh pháp này, đến nghiệp ngũ nghịch cũng đều tiêu diệt, không còn thoái chuyển trước vô thượng bồ đề.



    Này Phổ Dũng, nếu ông tự hỏi vì sao như vậy, rồi nghĩ rằng công đức của người nghe kinh Đại tập Hội cũng nhiều như công đức của 1 đấng Như Lai, thì ông nên biết, nghĩ như vậy là không đúng với sự thật”.


    Bồ tát Phổ Dũng hỏi: ” Thưa Thế Tôn, phải nghĩ thế nào mới đúng với sự thật?”


    Đức Thế Tôn dạy:” Phổ Dũng, sông Hằng có bao nhiêu cát, ngần ấy đại bồ tát và Như Lai,ứng cúng, chánh biến tri có được bao nhiêu công đức,so với công đức của người nghe Chánh pháp Đại Tập Hội thật không sai khác.


    Phổ Dũng, những ai đã nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội thì sẽ không thoái chuyển, sẽ thấy Như Lai, sẽ được chư Như Lai hẳng hộ niệm cho đến khi đạt vô thượng bồ đề, thiện nghiệp không bị ma vương phá hoại.

    Phổ dũng, tất cả những ai nghe được Chánh Pháp Đại Tập Hội này đối với lý sinh diệt sẽ điều biết rõ.


    Bấy giờ, tất cả bồ tát có mặt trong pháp hội cùng đứng dậy, vắt 1 vạt áo lên vai, gối bên phải quỳ xuống sát đất, thưa rằng :


    ” Thưa Thế Tôn, công đức của một đấng Như Lai nhiều bao nhiêu ?”.
    Còn tiếp.....
    Last edited by COLONY; 12-03-2010 at 03:15 PM.
    VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY

  2. #2

    Mặc định

    Đức Thế Tôn trả lời:


    ”Này các thiện nam tử, các ông hãy lắng nghe cho kỹ. Lấy ví dụ đại dương có bao nhiêu giọt nước, cứ mỗi giọt nước đổi thành số lượng của bụi trong thế gian, rồi mỗi hạt bụi đổi thành số lượng cát sông Hằng.


    Mỗi hạt cat ví như 1 vụ bồ tát Thập địa, công đức của ngần ấy bồ tát Thập địa vẫn không thể sánh với công đức của 1 đấng Như Lai.


    Và công đức của người nghe Chánh Pháp đại tập Hội lại còn nhiều hơn gấp bội, không thể dùng toán số đếm biết được.


    Phổ Dũng, vào thời mạt pháp, người nào nghe pháp này mà sinh lòng tin tưởng khát khao Phật pháp, thì công đức vô hạn vô biên”.


    Khi ấy đại bồ tát Phổ Dũng hỏi:” Thưa Thế Tôn, thế nào là người khát khao Phật pháp ?”


    Đức Thế Tôn dạy:
    ”Đại bồ tát Phổ Dũng, người khát khao Phật pháp có 2 loại.


    Một là người khởi tâm bình đẳng đối với hết thảy chúng sinh; hai là người nghe Pháp rồi bình đẳng nói lại cho tất cả chúng sinh cùng nghe”.


    Đại bồ tát Phổ Dũng thưa:” thưa Thế tôn,thế nào là người nghe pháp rồi bình đẳng nói lại cho tất cả chúng sinh cùng nghe?”

    Đức Phật dạy:


    ” Phổ Dũng, cũng có 2 loại, 1 là người nghe pháp rồi mang tâm mình hồi hướng giác ngộ bồ đề, vì tâm hồi hướng giác ngộ bồ đề nên sẽ vì lợi ích của chúng sinh mà khát khao Phật pháp.
    Phổ Dũng, 2 là người bước vào Đại thừa, bao giờ cũng khát khao Phật pháp”.

    Lúc ấy, hàng vạn trời, rồng, người và thiên nữ cùng đứng dậy, chắp tay hướng về đức Thế Tôn cung kính thưa :
    ” Thưa Thế Tôn, chúng con cũng hết lòng khát khao Phật pháp. Xin Thế Tôn cho chúng con và chúng sinh cùng được như nguyện”.

    Bấy giờ, đức Thế Tôn mỉm cười.

    Bồ tát Phổ Dũng đứng dậy, chắp tay cúi đầu hướng về đức Thế Tôn :

    ” Thưa Thế Tôn, vì nhân gì, duyên gì, mà đức Thế Tôn mỉm cười?”.

    Đức Thế Tôn nói với đại Bồ tát Phổ Dũng:

    ” Phổ Dũng, ông nên biết chúng sinh đến dự đại hội này, tất cả rồi sẽ thành tựu vô thượng bồ đề, tâm sẽ viên mãn diệu dụng Như Lai”.

    Đại bồ tát Phổ Dũng hỏi:” Thưa đức Thế Tôn, vì nhân gì, duyên gì, mà tất cả chúng sinh đến đây rồi sẽ thành tựu vô thượng bồ đề?”

    Đức Phật bảo: ” Lành thay, Phổ Dũng, ông hỏi Như Lai như vậy là tốt lắm. ông hãy lắng nghe, Như lai sẽ nói về ý nghĩa hồi hướng bồ đề.


    Phổ Dũng, vào 1 thời quá khứ cách bây giờ vô số kiếp, có một đức Phật xuất thế với đầy đủ các hiệu :Bảo kiết Tường [Ratnashri], Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật: Thế tôn.”


    Phổ Dũng, lúc bấy giờ Như Lai đang là người trẻ tuổi thuộc giai cấp bà la môn, còn chúng sinh ngày nay được Như Lai dẫn dắt vào Phật trí khi ấy hãy còn là những con thú hoang.

    Lúc bấy giờ Như Lai phát nguyện như sau:” Nguyện mọi thú hoang đang bị dày vò khổ não được siêu thoát về cõi Phật, nguyện tôi sẽ là người dẫn dắt họ đến với trí Phật”.

    những con thú hoang kia nghe xong, nảy 1 niệm hoan hỷ, mong mình được như vậy.

    “Phổ Dũng, nhờ gốc rễ điều lành ấy mà ngày nay chúng sinh tụ họp ở đây rồi sẽ thành tựu vô thượng bồ đề”.

    Nghe đức Thế tôn nói về điều lành ấy xong, đại bồ tát Phổ Dũng cung kính hỏi:” Thưa Thế Tôn, chúng sinh ấy thọ được bao lâu?”


    Đức Phật dạy :” Chúng sinh ấy có thể thọ đến 80 ngàn kiếp”.

    Bồ tát Phổ Dũng lại hỏi:” Thưa Đức Thế Tôn, 1 kiếp dài bao lâu?”

    Đức Phật dạy :” Thiện nam tử, ông hãy nghe Như Lai nói đây.Ví dụ có người xây 1 thành lớn, bề rộng 12 do tuần, cao 3 do tuần, bên trong chứa toàn hạt mè.

    Cứ mỗi 1 trăm năm lấy 1 hạt mè vất đi. Cứ như vậy, đến khi nào hạt mè cạn hết, nền móng trong thành cũng hư hoại cả, bấy giờ vẫn chưa xong 1 kiếp.


    Lại nữa, Phổ Dũng, ví dụ có 1 ngọn núi sâu 50 do tuần và cao 12 do tuần. có người cầm vải lụa, cứ 1 trăm năm đưa tay lau núi đá 1 lần, đến khi núi đá mòn hết, 1 kiếp vẫn chưa xong.

    “ Phổ dũng , 1 kiếp dài đến như vậy đó”.

    Lúc ấy, đại bồ tát Phổ dũng đứng lên nói:


    ” Thưa Thế Tôn, chỉ 1 niệm hồi hướng bồ đề mà thọ đến 80 kiếp an vui, huống chi hết lòng tin tưởng thọ trì diệu pháp của Như Lai”.


    Đức Phật dạy:” Thiện nam tử, ông hãy nghe cho rõ, chỉ thoáng nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội, có thể thọ 84 ngàn kiếp, huống chi nghe rồi ghi chép, đọc tụng [ cho hết thảy tất cả chúng sinh cùng được nghe ].

    Phổ dũng, làm được như vậy, công đức gặt hái đồ sộ vô cùng.


    “ Phổ dũng, nếu có ai đối với Chánh Pháp này, lấy tâm tin tưởng trong sáng mà hết lòng đảnh lễ, sẽ nhớ được 99 kiếp về trước của mình.


    Người ấy làm vua Chuyển pháp luân trong 60 kiếp.Ngay trong đời sống hiện tại được mọi người thương mến kính trọng.


    Phổ dũng, người ấy sẽ không bị hại vì đao gươm, thuốc độc hay tà phép.

    đến lúc mạng chung sẽ được 99 triệu Phật đà đích thân tiếp dẫn, và Phổ dũng, các đấng Phật Thế Tôn sẽ nói với người ấy rằng:


    ” nhờ ông nghe được Chánh Pháp Đại Tập Hội mà có được công đức này”.


    Và 99 triệu đức Phật Thế Tôn sẽ thọ ký nơi chốn người ấy thành Phật.


    “Phổ Dũng, huống chi là nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội từ đầu chí cuối, kỹ lưỡng trọn vẹn. Chư Phật sẽ an ủi cho người ấy không còn sự sợ hãi”.


    Bấy giờ, bồ tát Phổ Dũng hỏi :” Thưa Thế Tôn, con cũng sẽ nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội. Vậy sẽ thành bao nhiêu công đức?”


    Đức Phật trả lời:” Bằng công đức của số lượng Phật đã nhiều như số cát sông Hằng”.


    Bồ tát Phổ Dũng thưa :” Thưa Thế tôn, con thích thú nghe Chánh pháp này, tâm không thấy đủ.”


    Đức Phật dạy:


    ” Phổ Dũng, tốt lắm, đối với Chánh Pháp, tâm không thấy đủ là rất tốt.Chính Như Lai đây đối với Chánh Pháp cũng không thấy đủ, huống chi người thường.


    Phổ Dũng, thiện nam thiện nữ nào đối với pháp Đại thừa mà có lòng tin tưởng trong sáng, 1 ngàn kiếp sẽ không lầm đường, 5 ngàn kiếp không sinh về cõi súc sinh, 12 ngàn kiếp không nảy niệm ác,

    18 ngàn kiếp không sinh về miền biên giã, 20 ngàn kiếp làm vị đại thí chủ, 25 ngàn kiếp sinh về cõi trời,35 ngàn kiếp siêng tu phạm hạnh, giữ giới nghiêm trang, 40 ngàn kiếp thoát ly ràng buộc thế gian, 50 ngàn kiếp thọ trì chánh pháp, 65 ngàn kiếp an trụ chánh định.


    “Phổ Dũng, những người như vậy ác nghiệp nhỏ không dấy lên, ma chướng không còn cơ hội tác hại, sẽ không từ thai sinh ra.


    Phổ dũng, nếu có người nào nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội này, bất kể là sinh ra ở đâu, trong 95 vô số kiếp không sinh vào ác đạo,

    80 ngàn kiếp tu hành đầy đủ những gì đã nghe, 1 ngàn kiếp từ bỏ nghiệp sát, 99 ngàn kiếp từ bỏ nghiệp nói lời không thật, 13 ngàn kiếp từ bỏ nghiệp nói lời thô ác.


    “Phổ dũng, chúng sinh nghe được Chánh Pháp này, thật khó mà gặp được”


    Lúc ấy, Bồ tát Phổ Dũng đứng dậy, vắt vạt áo lên vai, gối bên phải quỳ xuống sát đất, chắp tay hướng về đức Phật cung kính hỏi:” Kinh đức Thế Tôn, nếu có ai khinhrẻ từ bỏ Chánh pháp này, sẽ tạo bao nhiêu nghiệp dữ?”


    Đức Phật dạy:” Phổ dũng, rất nhiều”.


    Bồ tát Phổ Dũng lại hỏi:” Thưa đức Thế Tôn, rất nhiều, là bao nhiêu?”

    Đức Phật dạy: ” Phổ Dũng, thôi ông đừng hỏi.đừng hỏi như Lai người khinh rẻ từ bỏ Chánh Pháp này tạo bao nhiêu nghiệp dữ.

    Phổ Dũng, so với nghiệp dữ tạo ra bởi hành động phỉ báng các bậc Như Lai, ứng cúng, chánh biến tri nhiều như số cát của 12 sông Hằng, phỉ báng Chánh pháp Đại tập hội này nghiệp chướng sâu nặng hơn rất nhiều.

    Phổ Dũng, nếu có ai đối với Chánh Pháp này mà sanh tâm phỉ báng, đó chính là phỉ báng Đại thừa, nên tội chướng nhiều hơn gấp bội. Phổ Dũng, những người như vậy tự tay thiêu cháy chính mình. Họ tự mình thiêu cháy chính mình”.

    Bồ tát Phổ Dũng hỏi:” Thưa Thế Tôn, có phải họ bị nghiệp ràng buộc, không thể giải thoát?”

    Đức Thế Tôn đáp:” Phổ Dũng, đúng như ông nói.họ không thể giải thoát.

    Ví dụ có người đầu bị chặt đứt, nếu lấy các loại mật, đường, bơ, mạch nha hay dược phẩm làm thuốc xoa dán, thì ông nghĩ thế nào? Người ấy có khả năng đứng dậy được nữa hay không ?”

    Bồ tát Phổ Dũng thưa :” Không, thưa Thế Tôn, không thể nào đứng dậy được nữa”.

    Đức Phật dạy :” Phổ Dũng, lại ví có người cầm vũ khí cố sức chém giết người khác.Tuy không giết được nhau nhưng thương tích đầy mình.

    Lúc ấy nếu được thuốc chữa, vết thương còn có thể lành.chừng đó nhớ lại nỗi đau đớn của vết thương lúc trước có thể nghĩ rằng :” Nay tôi đã hiểu, tôi sẽ không bao giờ còn tạo ác nghiệp”.

    Nhờ suy nghĩ như vậy, Phổ Dũng, người ấy có thể vì nhớ khổ đau mà từ bỏ nghiệp chướng. Bấy giờ có thể thấy Chánh Pháp.

    Rồi nhờ thấy Chánh Pháp mà thành tựu được tất cả thiện pháp.

    “Phổ Dũng, sự thể là như vậy.Ví như bậc cha mẹ thấy con mình chết trong đớn đau khổ não, vẫn không cách gì cứu được.

    Phổ Dũng, người phàm phu không có khả năng cứu mình, cứu người.đến khi chết, chẳng còn nơi nương tựa.

    “ Phổ Dũng, có 2 loại người đến khi chết không còn nơi nương tựa, đó là người tự mình làm việc ác hay khiến người khác làm, hoặc là người từ bỏ, khinh rẻ Chánh Pháp. 2 loại người này đến lúc mạng chung, không có nơi nương tựa”.


    Đại bồ tát Phổ Dũng hỏi :” Thưa Thế Tôn, nếu từ bỏ, khinh rẻ Chánh pháp thì phải đọa cõi nào? Phải sinh về đâu?”


    Đức Phật dạy:” Phổ Dũng, từ bỏ, khinh rẻ Chánh pháp, thì phải tái sinh triền miên giới hạn, vô lượng kiếp về sau trầm luân trong luân hồi. Phổ Dũng, từ bỏ khinh rẻ Chánh Pháp thì chịu đớn đau 1 kiếp trong địa ngục Hào Khiếu, 1 kiếp trong địa ngục Đại Hào Khiếu, 1 kiếp trong địa ngục Chúng hợp, 1 kiếp trong địa ngục Viêm Nhiệt, 1 kiếp trong địa ngục Đại Nhiệt, 1 kiếp trong địa ngục Hắc Thằng, 1 kiếp trong địa ngục A tỳ, 1 kiếp trong địa ngục Đắng hoạt và Phổ Dũng, họ phải chịu khổ đau trong 8 đại địa ngục như vậy cho đến 8 kiếp”.


    Lúc ấy, đại bồ tát Phổ Dũng nói rằng :” Thưa Thế Tôn, thật quá đau khổ.Thưa Như Lai, thật quá đau khổ.Con không đành lòng nghe”.


    Bấy giờ Đức Thế Tôn nói bài kệ :


    “ Như Lai kể cảnh tượng
    Chúng sinh trong địa ngục
    Khổ đau như thế nào
    Ông không đành lòng nghe

    ‘Nếu làm những điều lành
    Sẽ được quả an lạc
    Còn làm những điều dữ
    Sẽ gặp quả khổ đau

    “ không biết tạo nhân vui
    Thì sinh trong cõi đời
    Bị khổ đau ràng buộc
    Lúc chết càng chơi vơi

    “ ai nhớ Phật tối thắng
    Cấy trồng được nhân vui
    Thì sinh trong cõi đời
    Bị khổ đau ràng buộc
    Lúc chết càng chơi vơi

    “ ai nhớ Phật tối thắng

    cấy trồng được nhân vui
    Tin tưởng nơi đại thừa
    Sẽ không sa ác đạo.

    Còn tiếp....
    Last edited by COLONY; 12-03-2010 at 03:16 PM.
    VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY

  3. #3

    Mặc định

    Phổ Dũng, ông nên biết
    Nghiệp cũ không mất đi
    Việc lành dù bé nhỏ
    Kết quả vẫn vô lường

    “ Nơi cõi Phật thanh tịnh
    Dù chỉ gieo 1 hạt
    Thu hoạch cũng lớn lao
    Nếu gieo trồng vài hạt
    Kết quả thật không cùng

    “Ai hoan hỷ chánh pháp
    Sẽ luôn được yên vui
    Sẽ lìa mọi việc ác
    Làm hết những điều lành


    Dù chỉ 1 mảy lông
    Mang cúng dường Phật pháp
    Đến 80 ngàn kiếp.
    Tài sản luôn dồi dào


    Dù sinh ra ở đâu
    Cũng siêng năng bố thí
    Do cúng dường tam bảo
    Thiện nghiệp nhiều vô tận”

    Đại bồ tát Phổ Dũng nghe xong bài kệ, cung kính hỏi đức Phật Thế Tôn:”


    Thưa Thế Tôn, làm sao để nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội này?
    Đâu là gốc rễ điều lành cần phải nắm giữ?”


    Đức Phật bảo:


    ” Phổ Dũng, công đức của người nghe được Chánh Pháp Đại tập hội này phải biết là nhiều bằng công đức của người đã cúng dường, chu toàn đầy đủ cho các bậc Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri nhiều bằng số cát của 12 sông Hằng.”


    Bồ tát Phổ dũng thưa :” Thưa Thế tôn, làm cách nào đề tích lũy đầy đủ thiện căn ?”.


    Đức Phật dạy:” Phổ Dũng, ông nên biết thiện căn vốn bình đẳng với Như Lai”.


    Bồ tát Phổ dũng hỏi :” Thưa Thế Tôn, thế nào là thiện căn vốn bình đẳng với Như Lai”.


    Đức Phật dạy:” Đạo sư nói Chánh Pháp, bình đẳng với Như Lai”.


    Bồ tát Phổ Dũng lại thưa :” Thưa đức Thế Tôn, như thế nào là Đạo sư nói Chánh Pháp ?”.


    Đức Phật dạy:” bất cứ 1 ai đọc, tụng Chánh Pháp Đại Tập Hội này, gọi là đạo sư nói Chánh Pháp”.


    Bồ tát Phổ Dũng nói: ” Chỉ nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội đã được công đức nhiều vô kể, huống chi ghi chép, đọc tụng [ cho mọi người cùng nghe] Công đức như vậy, nhiều bao nhiêu?”


    Đức Thế tôn nói:” Phổ Dũng, ví như mỗi phương đều có các bậc Như Lai, ứng cúng, Chánh biến tri nhiều bằng số cát có trong 12 sông Hằng, ở lại đến 12 kiếp, không ngừng nói về công đức của người ghi chép kinh Chánh Pháp Đại Tập Hội này, cũng vẫn không thể nói cho cùng tận.

    Dù có các bậc Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri nhiều bằng số cát có trong 48 sông Hằng, cũng không thể diễn tả hết được công đức của người ghi chép Chánh Pháp này, huống chi là công đức của người ghi chép, rồi suy nghĩ nghĩa lý, đọc, tụng thuộc lòng.

    Người ấy sẽ là kho tàng Chánh Pháp”.


    Đại Bồ tát Phổ Dũng hỏi:” Thưa Thế Tôn, vậy số lượng công đức của người đọc, tụng, thuộc lòng kinh này ra sao?”


    Bấy giờ Thế tôn nói bài kệ :

    “Nếu có người đọc, tụng
    Chánh Pháp Đại Tập Hội
    Dù chỉ được 4 câu
    Thì dù Chư Như Lai


    Nhiều như số cát của
    84 ngàn sông Hằng
    Diễn tả không ngừng nghỉ
    Cũng không thể nói hết


    Công đức của người ấy
    Chánh Pháp do Phật dạy
    Rộng vô lượng vô biên
    Thật khó mà gặp được”

    Bấy giờ có 84 ngàn chục tỷ triệu loài trời chắp tay hướng về nơi bộ kinh Chánh Pháp Đại Tập Hội đang được tuyên thuyết, đồng thanh tán dương :


    “Thưa Thế tôn, cho dù vì lý do gì, đức Thế tôn truyền cho cõi thế gian này kho tàng chánh Pháp siêu việt như vậy thật là 1 điều lành”.


    Khi ấy có 18 ngàn chục tỷ triệu người tu theo đạo lõa thể [ jain ] kéo đến chỗ đức Thế Tôn đang đứng, nói rằng :


    “ Này Cù Đàm khổ hạnh, chúng tôi hơn ông !”.


    Đức Thế Tôn đáp:


    ” Như Lai mới là bậc chiến thắng chân thật. Các người cực đoan lõa thể, làm sao có thể hơn ai ?”


    Họ đều nói : ”Chúng tôi hơn ông, Cù Đàm khổ hạnh, chúng tôi hơn ông”.

    Đức Thế Tôn đáp:” Như Lai không thấy trong số các người có ai là kẻ chiến thắng chân thật

    Với cái thấy điên đảo
    Lấy gì mà chiến thắng ?
    Này những người lỏa thể
    Hãy lắng nghe cho kĩ

    Như Lai sẽ nói lời
    Lợi ích cho các ông
    Trí của 1 đứa trẻ
    Không có gì an lạc

    Lấy gì mà chiến thắng?
    Phải biết rằng Như Lai
    Bình đẳng với tất cả
    Ai cần được nghe pháp
    Như Lai sẽ nói cho

    Còn tiếp....
    VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY

  4. #4

    Mặc định

    Đoàn người tu đạo lỏa thể nổi giận,sinh lòng bất tín.

    Vừa lúc ấy, Thiên Vương Đế Thích [Indra] giáng sấm sét xuống,18 ngàn triệu người tu đạo lỏa thể đồng loạt kinh hãi, đớn đau tuyệt vọng, lời than tiếng khóc nổi lên.

    Đức Thế Tôn tàng ẩn thân hình.đoàn người tu đạo lỏa thể nước mắt đầm đìa, tìm quanh không thấy đức Thế Tôn, thốt lên lời kệ :

    “Bấy giờ không còn ai
    Che chở cho chúng con
    Không còn cha còn mẹ
    Như 1 cánh đồng hoang

    Không cả căn nhà trống
    Biết về đâu trú thân
    Dòng nước này đã cạn
    Cá biết lội nơi đâu

    Cây xanh giờ không có
    Chim biết đậu chốn nào
    Không còn nơi nương dựa
    Đau khổ thật vô biên

    Không còn thấy Như Lai
    Khổ đau dài vô tận”

    Lúc ấy, đoàn người tu đạo lỏa thể đứng lên, cả 2 chân quỳ chấm mặt đất, nói rằng:

    “ Như Lai bậc từ bi
    Là đấng cao quý nhất
    Trong toàn cõi con người
    Xin Như Lai độ giúp
    Làm nơi chốn chở che
    Cho chúng con nương dựa”

    Khi ấy đức Thế tôn hiện thân chỗ cũ, mỉm cười nói với đại Bồ tát Phổ Dũng :
    ” Phổ Dũng, ông hãy thay Như Lai mà nói chánh pháp cho các vị tu đạo lõa thể này “.

    Bồ tát Phổ Dũng đáp:” Thưa Thế tôn, như ngọn núi Đen nghiền đá của mình để xoay đỉnh về đảnh lễ núi Tu Di, vua của các núi.
    Con cũng vậy thôi.

    Làm sao có thể nói pháp khi Như Lai đang đứng ở đây, ngay trong pháp hội này?”

    Đức Thế Tôn dạy:” thôi, ông đừng nói.Thiện nam tử, ông hãy dùng phương tiện thiện xảo của chư Phật để du hành 10 phương thế giới, thử tìm xem nơi nào đang có các đấng Như Lai, nơi nào đang dựng Pháp đàn. Còn Như Lai ở đây nói Chánh pháp cho các vị tu đạo lỏa thể này”.

    Bồ tát Phổ Dũng hỏi:” Thưa Thế tôn, con phải dùng thần thông của mình hay của như Lai? Con nên du hành thế giới bằng thần lực nào?”

    Đức Phật bảo :” khi đi, ông hãy dùng thần lực của chính mình. Khi về, hãy nương thần lực của như Lai”.

    Bồ tát Phổ Dũng nghe xong đứng dậy, theo chiều bên phải của Đức Thế tôn đi quanh 3 vòng, rồi thân hình biến mất ngay nơi ấy.

    Đức Thế Tôn lúc bấy giờ nói với đoàn người tu đạo lỏa thể như sau:
    “các ông nên biết chính sự sinh ra là khổ não. Vì có sự sinh nên có sợ.

    Vì sinh mà sợ bệnh.Vì bệnh mà sợ già.Vì già mà sợ chết”

    “Thưa Thế Tôn, Thế Tôn nói:” vì sinh mà phát sinh lòng sợ sinh, là nghĩa gì ?”.

    “ Vì sinh làm người nên có lắm nỗi sợ. Vua sợ nỗi vua.Cướp lo nỗi cướp.sợ lửa, sợ thuốc độc, sợ nước, sợ gió, sợ lốc xoáy, sợ nghiệp đã làm [những lo sợ như vậy do sinh mà có] “

    Đức Thế Tôn cứ như vậy giảng pháp phong phú, nói về sự sinh ra.

    Đoàn người tu đạo lỏa thể kia trong tâm cực kì xao xuyến, nói rằng :” Từ nay về sau, chúng con sẽ thôi không khát khao được sinh ra nữa”.

    Đức Thế Tôn giải thích về Chánh Pháp Đại Tập Hội, cả đoàn 18 triệu người cực đoan lỏa thể đều phát tâm vô thượng bồ đề.

    Trong thành phần tăng chúng của Phật, có 18 ngàn bồ tát thập địa dùng thần thông hóa hiện thân ngựa , voi, báo, ưng, núi Tu Di, chữ Vạn, cũng có vị hóa hiện thân cây.
    các vị cũng hóa hiện tòa sen, tự mình ngồi kiết già nơi ấy.

    9 ngàn triệu bồ tát ngồi lại phía bên phải của đức Thế Tôn, 9 ngàn triệu vị ngồi lại phía bên trái

    Trong suốt khoảng thời gian đó, Phật nhập chánh định, thuyết pháp bằng phương tiện thiện xảo.

    Đến ngày thứ 7, đức Thế tôn duỗi cánh tay, biết đại Bồ tát Phổ Dũng đang trở về từ cõi Phật Liên Hoa Thượng.

    Khi đi, đại Bồ tát Phổ Dũng dùng thần lực của chính mình, hết 7 ngày mới đến được cõi Phật Liên hoa Thượng

    Khi đức Thế Tôn duỗi cánh tay, Bồ tát Phổ Dũng đã về bên cạnh Đức Thế tôn.

    Sau khi đi quanh 3 vòng theo chiều bên phải của đức Thế Tôn, Bồ tát Phổ Dũng nghe tâm tràn đầy tin tưởng, chăp tay hướng về đức Thế Tôn mà thưa:” Thưa Thế Tôn, con đã viếng tất cả thế giới hệ của 10 phương.

    Bằng 1 trong những thần lực của mình, con đã gặp 99 ngàn triệu cõi Phật.

    Bằng 2 trong những thần lực của mình, con đã thắng được 1 ngàn triệu đấng Thế tôn.

    Cứ như vậy cho đến ngày thứ 7, tới được cõi Phật Liên hoa Thượng, trên đường đi con cũng thấy hàng trăm ngàn triệu cõi Như Lai bất động.

    “Thưa Thế Tôn, vào lúc ấy, chư Phật Thế Tôn dùng thần lực hóa hiện, vì chúng sinh mà nói chánh pháp trong 92 ngàn triệu cõi Phật.

    Con thấy được 80 ngàn triệu cõi Phật, 80 ngàn triệu Như Lai, Ứng cúng, chánh biến tri xuất hiện trong cõi thế.

    Sau khi đảnh lễ từng vị xong, con lại đi tiếp
    VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY

  5. #5

    Mặc định

    CTBN xin được mạo muội pót tiếp kinh điển để tăng nhân duyên cho mọi người
    Nguyện thường thấy chư Phật, thường thấy Bồ tát, thường thấy chơn thiện tri thức, thường nghe chư Phật nguyện, thường nghe Bồ tát hạnh, thường nghe Bồ tát Ba la mật môn .

  6. #6

    Mặc định

    "Thưa Thế Tôn, ngay ngày hôm ấy, con đi qua 39 ngàn triệu cõi Phật, và trong 39 ngàn triệu cõi Phật này, có 39 ngàn triệu bồ tát sinh ra, và trong cùng một ngày, thành tựu vô thượng bồ đề.
    Con đi nhiễu ba vòng quanh các đấng Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri ấy, rồi dùng thần thông làm thân mình biến mất.
    "Thưa Thế Tôn, con cũng thấy chư Phật Thế tôn, trong 60 triệu cõi Phật. Con quì đảnh lễ từng cõi Phật, từng vị Phật Thế tôn, rồi đi tiếp.
    "Thưa Thế tôn, con lại thấy 8 triệu cõi Phật, Như Lai tận diệt để giáo hóa chúng sinh. Con đảnh lễ từng vị rồi đi tiếp.
    "Lại nữa, thưa Thế tôn, có 95 triệu cõi Phật, chánh pháp đều mất cả.
    Con cực kỳ xao xuyến, chảy nước mắt xót thương.
    Ở đó, con lại thấy các Loài Trời, Rồng [Nagas], Dạ Xoa [Yakshas], la sát [rakshasas], cùng nhiều loại chúng sinh khác trong cõi Dục giới khóc than khắc khoải.
    Thưa Thế Tôn, con lại thấy trong các cõi Phật ấy, sông ngòi đại dương, núi Tu Di cùng cỏ cây , đất đai đều cháy rụi không sót lại chút gì. Con quì đảnh lễ, nghe lòng tuyệt vọng, rồi đi tiếp.
    "Thưa Thế tôn, con lên đến tận cõi Phật Liên Hoa Tôn [Padmottara], thấy có 500 ngàn triệu tòa sen.
    Ở phía Nam, có 100 ngàn triệu tòa sen.
    Ở phía Bắc, có 100 ngàn triệu tòa sen.
    Ở phía Ðông có 100 ngàn triệu tòa sen.
    Ở phía Tây có 100 ngàn triệu tòa sen.
    Ở không gian phía trên có 100 ngàn triệu tòa sen.
    Thưa Thế tôn, tất cả toà sen được dựng bằng bảy loại châu báu.
    Và trên mỗi toà sen là một vị Như lai đang thuyết pháp.
    Con kinh ngạc, hướng về tất cả các đấng Như lai ấy, hỏi: 'Không biết đây là cõi Phật nào?'
    "Các đấng Như lai dạy rằng : 'Thiện nam tử, đây là cõi Phật Liên Hoa Tôn.'
    "Thưa Thế tôn, con lúc ấy đảnh lễ tất cả các vị Như lai ấy và hỏi tên của đấng Như lai giáo chủ cõi Phật này.
    "Chư Như lai đáp: 'Giáo chủ cõi Phật này là Liên Hoa Tạng [Padmagarbha] Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri."
    "Lúc ấy, con lại hỏi: 'Con thấy có hàng trăm ngàn triệu bậc Như lai, nhưng lại không gặp đấng giáo chủ Liên Hoa Tạng Như lai Ứng cúng Chánh biến tri. Xin chỉ giúp cho con, đấng giáo chủ nơi đây là vị nào?'
    "Chư Như lai đáp: 'Thiện nam tử, Như lai sẽ chỉ cho ông thấy đâu là Liên Hoa Tạng Như lai Ứng cúng Chánh biến tri.'
    "Nói vừa xong, tất cả Như lai đều biến mất, hiện tướng bồ tát, chỉ còn lại một vị.
    Con đến đảnh lễ, đặt đỉnh đầu ngang chân Như lai.
    Khi con đến, một tòa sen hiện lên, con bước lên toà sen ấy.
    Thưa Thế Tôn, lúc ấy bỗng dưng có rất nhiều tòa sen hiện lên, nhưng không ai ngồi trên đó cả.
    Con mới hỏi Liên Hoa Tạng Như lai: 'Kính thưa Như lai, vì sao tòa sen này lại trống không, không ai ngồi?'
    "Liên Hoa Tạng Như lai đáp: 'Chưa đủ gốc rễ điều lành, không thể lên ngồi toà sen ấy.'
    "Con lại hỏi: 'Kính thưa Thế tôn, muốn ngồi tòa sen ấy phải trồng những gốc rễ điều lành nào?'
    "Liên Hoa Tạng Như lai đáp: 'Ông hãy nghe đây, Thiện nam tử.
    Chúng sinh nào thoáng nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội sẽ nhờ gốc rễ điều lành này mà ngồi được tòa sen kia, huống chi người ghi chép, đọc, tụng.
    Phổ Dũng, vì ông đã từng nghe qua Chánh Pháp Ðại Tập Hội nên bây giờ có thể lên ngồi tòa sen ấy. Bằng không, chẳng làm sao đến được cõi Phật này.'
    "Ðức Thế tôn nói xong, con lại hỏi: 'Thưa Thế tôn, công đức của người nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội này được bao nhiêu?'
    "Liên Hoa Tạng Như lai mỉm cười. Con lại hỏi: 'Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì, vì mục đích gì mà Như lai mỉm cười?'
    "Ðức Thế tôn nói: 'Này Thiện nam tử, này đại bồ tát Phổ Dũng, thần thông trí tuệ vượt bực, ông hãy nghe cho kỹ.
    Ví dụ có người là vua Chuyển pháp luân, thống lãnh bốn lục địa.
    Phổ Dũng, nếu vua Chuyển pháp luân ấy lấy hạt mè trồng đầy bốn lục địa, ông nghĩ thế nào, sẽ thu hoạch được bao nhiêu?'
    "Con thưa rằng :'Nhiều, nhiều lắm, thưa Thế tôn.'
    "Ðức Thế tôn bảo: 'Phổ Dũng, ví dụ được bao nhiêu hạt mè, gom hết lại một chỗ, lại có người ngồi lượm từng hạt mà đếm.
    Ông nghĩ thế nào, có đếm hết được không?'
    "Con thưa, 'Thưa Thế tôn, không thể được. Không cách gì có thể đếm hết được.'
    'Phổ Dũng, trừ phi là Như lai, không ai có thể đếm biết công đức của Chánh Pháp Ðại Tập Hội này.
    'Phổ Dũng, cho dù các bậc Như lai nhiều bằng số lượng mè thu hoạch được, tất cả cùng nói về công đức của người nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội.
    Công đức ấy vẫn không thể nói cùng, huống chi là công đức của người biên chép, đọc tụng.'
    "Con lại hỏi, 'biên chép Chánh Pháp Ðại Tập Hội này, được phước gì?'
    "Ðức Thế tôn nói: 'Thiện nam tử, nếu có ai mang hết cây cỏ có trong một triệu thế giới, cắt thành từng khúc dài bằng ngón tay.
    và, Phổ Dũng, hãy nghe thêm hai ví dụ này.
    Nếu có ai mang đất đá có trong một triệu thế giới hệ, nghiền nát thành bụi mỏng, rồi cứ mỗi hạt bụi biến thành một vị vua Chuyển pháp luân, thu nắm bốn lục địa.
    Công đức của ngần ấy vua Chuyển pháp luân, có thể dùng toán số đếm biết được không?'
    "Con thưa: 'Ngoài Như lai, không ai có thể đếm biết được.'
    'Phổ Dũng, công đức của người ghi chép Kinh Chánh Pháp Ðại Tập Hội cũng vậy.
    Ngần ấy vua Chuyển pháp luân được bao nhiêu công đức, vẫn không thể sánh nổi với công đức của người ghi chép Chánh Pháp này, dù chỉ một chữ.
    Tuy công đức của vua Chuyển pháp luân rất đồ sộ, vẫn không thể sánh bằng.
    Phổ Dũng, bậc đại bồ tát cũng vậy, nắm giữ và hành trì chánh pháp Ðại Thừa không ngưng nghỉ. Công đức không thể nghĩ bàn, dù là vua Chuyển pháp luân cũng không thể sánh bằng.
    Tương tự như vậy, không gì có thể ví bằng công đức của người ghi chép kinh Chánh Pháp Ðại Tập Hội.
    Phổ Dũng, kinh Ðại Tập Hội này vén mở cả kho tàng công đức, tiêu diệt phiền não, tỏa rạng ngọn đèn chánh pháp, chiến thắng tà ma, sáng ngời cõi thanh tịnh bồ tát, mang lại thành tựu viên mãn.'
    "Nghe xong, con hỏi: 'Thưa Thế tôn, ở cõi thế gian này, phạm hạnh là điều khó giữ.
    Nếu có ai tự hỏi vì sao lại như vậy, thưa Thế tôn, là vì đường tu của Như lai khó gặp, nên phạm hạnh cũng khó gặp.
    Siêng tu phạm hạnh, thì thấy Như lai. Ngày cũng như đêm, Như lai luôn ở trước mặt.
    Ngày đêm thường thấy Như lai là thấy cõi Phật. Thấy cõi Phật thì nắm được kho tàng chánh pháp.
    Ðến lúc chết, sợ hãi cũng không sinh.
    Vì vậy không lo, không buồn, không bị tham dục ràng buộc.'
    "Con nói xong, đức Thế tôn dạy con rằng: 'Phổ Dũng, thật khó mà gặp được Như lai.'
    "Con nói: 'Thưa Thế tôn, rất khó. Thưa Như lai, rất khó.'
    "Ðức Phật Liên Hoa Tạng nói: 'Phổ Dũng, Chánh Pháp Ðại Tập Hội cũng vậy, cũng rất khó gặp.
    Bất cứ một ai nghe được Chánh Pháp Ðại Tập Hội này, sẽ biết chuyện 80 kiếp về trước.
    60 ngàn kiếp làm vua Chuyển pháp luân, 8 ngàn kiếp thành bậc Ðế thích, 20 ngàn kiếp sinh vào cõi trời, 38 ngàn kiếp sinh vào đại giai cấp bà la môn,
    99 ngàn kiếp không tái sinh cõi dữ, 100 kiếp không vào cõi quỉ đói, 28 ngàn kiếp không vào cõi súc sinh, 13 ngàn kiếp không vào cõi a tu la, không chết vì vũ khí, 25 ngàn kiếp trí tuệ không bị khuất lấp,
    7 ngàn kiếp sáng dạ thông minh, 9 ngàn kiếp dung mạo uy nghi, đủ mọi tướng tốt của sắc thân Như lai,
    25 ngàn kiếp không làm phụ nữ, 16 ngàn kiếp không bệnh, 35 ngàn kiếp được nhãn thông,
    19 ngàn kiếp không sinh vào loài rồng, 60 ngàn kiếp không nổi cơn giận dữ, 7 ngàn kiếp không nghèo khó, 80 ngàn kiếp sinh trên hai lục địa.
    Dù kém sung túc đi nữa, cũng được những điều sau đây:
    12 ngàn kiếp không sinh làm người mù, 13 ngàn kiếp không sinh vào ba ác đạo, 11 ngàn kiếp làm vị thầy dẫn đạo kiên nhẫn từ hòa.
    'Ðến lúc lâm chung, tâm thần không tán loạn, không điên đảo.
    Phương Ðông sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 12 sông Hằng;
    Phương Nam sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 20 triệu sông Hằng;
    Phương Tây sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 25 sông Hằng;
    Phương Bắc sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 80 sông Hằng;
    Không gian phía trên sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 90 triệu sông Hằng;
    Không gian phía dưới sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 8 triệu sông Hằng.
    Tất cả đều trực tiếp hiện ra trước mắt người ấy, an ủi như sau:
    'Thiện nam tử, vì ông đã từng nghe qua Chánh Pháp Ðại Tập Hội, nên đời sau được lợi lạc hạnh phúc, không cần sợ hãi.
    Thiện nam tử, ông có thấy các bậc Như lai nhiều như cát của hàng trăm tỷ triệu con sông Hằng không?'
    'Người ấy đáp: 'Thưa Thế tôn con có thấy. Thưa Như lai, con có thấy.'
    'Như lai nói: 'Thiện nam tử, các bậc Như lai này đến để gặp ông.'
    'Người ấy nói: 'Con nhờ công đức gì mà được Như lai đến gặp?'
    'Như lai đáp: 'Thiện nam tử, ông hãy nghe đây. Nhờ ông có được thân người, lại tình cờ tai nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội. Vì vậy cấy trồng được công đức lớn.'
    'Người ấy nói: 'Thưa Thế tôn, chỉ thoáng nghe qua mà được công đức nhiều như vậy, nói gì người nghe hết được từ đầu chí cuối.'
    'Như lai nói: 'Ông đừng nói, ông đừng nói. Thiện nam tử, Như lai sẽ nói cho ông nghe về công đức của một bài kệ bốn câu.
    Thiện nam tử, so với công đức của các bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri nhiều như số cát của 13 sông Hằng, công đức của một bài kệ bốn câu nhiều hơn rất nhiều.
    So với công đức của người cúng dường các bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri nhiều bằng số cát có trong 13 sông Hằng, thì công đức của người nghe chỉ một bài kệ bốn câu của Chánh Pháp Ðại Tập Hội này, nhiều hơn rất nhiều, huống chi là nghe được trọn vẹn từ đầu chí cuối.
    Thiện nam tử, ông hãy nghe về công đức của người nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội từ đầu chí cuối.
    Nguyện thường thấy chư Phật, thường thấy Bồ tát, thường thấy chơn thiện tri thức, thường nghe chư Phật nguyện, thường nghe Bồ tát hạnh, thường nghe Bồ tát Ba la mật môn .

  7. #7

    Mặc định

    Ví dụ có một triệu thế giới hệ phủ toàn hạt mè và số lượng của vua Chuyển pháp luân nhiều bằng số mè ấy.
    Rồi có người nhiều tiền lắm của, cúng dường rộng rãi tất cả những vị vua Chuyển pháp luân kia. Công đức vẫn không sánh bằng cúng dường một vị Tu đà hoàn.
    Nếu số lượng Tu đà hoàn nhiều như số lượng mè phủ trên một triệu thế giới hệ, thì công đức cúng dường ngần ấy Tu đà hoàn vẫn không sánh bằng cúng dường một vị Tư đà hàm.
    Nếu số lượng Tư đà hàm nhiều như số lượng mè phủ trên một triệu thế giới hệ, thì công đức cúng dường ngần ấy Tư đà hàm vẫn không sánh bằng cúng dường một vị A na hàm.
    Nếu số lượng A na hàm nhiều như số lượng mè phủ trên một triệu thế giới hệ, thì công đức cúng dường ngần ấy A na hàm vẫn không sánh bằng cúng dường một vị A la hán.
    Nếu số lượng A la hán nhiều như số lượng mè phủ trên một triệu thế giới hệ, thì công đức cúng dường ngần ấy A la hán vẫn không sánh bằng cúng dường một vị Bích Chi Phật.
    Nếu số lượng Bích Chi Phật nhiều như số lượng mè phủ trên một triệu thế giới hệ, thì công đức cúng dường ngần ấy Bích Chi Phật vẫn không sánh bằng cúng dường một vị bồ tát.
    Nếu số lượng bồ tát nhiều như số lượng mè phủ trên một triệu thế giới hệ, thì công đức cúng dường ngần ấy bồ tát vẫn không sánh bằng sự tin tưởng trong sáng nơi một Như lai, không thể sánh bằng sự tin tưởng trong sáng nơi một triệu thế giới hệ đầy cả Như lai, và không thể sánh bằng người nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội này.
    Chừng đó, Phổ Dũng, có cần phải giải thích về công đức của người biên chép, đọc tụng thuộc lòng, suy xét nghĩa lý của Chánh Pháp này hay không?
    Có cần phải giải thích về công đức của người đối trước kinh này mà lễ bái với lòng tin tưởng trong sáng hay không?"
    'Phổ Dũng, ông nghĩ thế nào, nếu có người tự hỏi: 'Phàm phu có nghe Chánh Pháp này được không?', dù có được nghe, chưa chắc đã có lòng tin.
    'Phổ Dũng, ông hãy nghe đây, kẻ phàm phu muốn đưa tay mà chạm đáy đại dương, liệu có khả năng làm được việc này hay không?'
    "Con đáp: 'Thưa Thế tôn, không thể.'
    "Ðức Phật Liên Hoa Tạng lại hỏi: 'Có kẻ muốn đưa tay múc cạn đại dương, liệu có khả năng làm được việc này hay không? '
    "Con đáp: 'Thưa Thế tôn, không thể. '
    "Như lai nói: 'Phổ Dũng, chúng sinh không có khả năng vớt cạn đại dương, người mang tâm nguyện nhỏ bé cũng vậy, không có khả năng tiếp nhận Chánh Pháp này.
    Phổ Dũng, chưa gặp đủ hàng triệu Như lai nhiều như số cát có trong 80 sông Hằng thì chưa thể ghi chép Chánh Pháp Ðại Tập Hội.
    Chưa gặp đủ 100 triệu Như lai thì dù gặp được Chánh Pháp này cũng không thể tín nhận.
    Phổ Dũng, người nào gặp đủ 100 triệu Như lai, khi nghe Chánh Pháp này sẽ có được lòng tin trong sáng.
    Người ấy sẽ vô cùng hoan hỉ, sẽ có được cái nhìn đúng như sự thật, sẽ tin tưởng trong sáng Chánh Pháp Ðại Tập Hội này mà không sinh lòng khinh rẻ.
    'Phổ Dũng, ông hãy nghe đây, người nào ghi chép một bài kệ bốn câu của kinh Ðại Tập Hội, sẽ đi qua 95 ngàn triệu thế giới đều giống như Tịnh Ðộ A Di Ðà, sống lâu 84 ngàn kiếp.
    'Phổ Dũng, nếu có ai vướng nghiệp ngũ nghịch, hoặc tự mình làm, hoặc bảo người làm, hoặc thấy người làm mà lòng mừng theo, nghe được bài kệ bốn câu của Chánh Pháp Ðại Tập Hội này, tội chướng tiêu tan cả.
    'Phổ Dũng, ông hãy nghe, Như lai sẽ nói thêm về diệu dụng của Chánh Pháp này.
    Ví dụ có người phá hủy tháp Phật, phá Tăng hòa hợp, quấy nhiễu chánh định của bồ tát, hoại chánh trí Như lai, giết cha giết mẹ.
    Nghiệp gây ra rồi lại hối hận, buồn bã nghĩ rằng: "Thân này đã hỏng, đời sau cũng hỏng theo. Thật vô tích sự."
    Nghĩ rồi tâm sinh sầu thảm, đau đớn vô bờ.
    Phổ Dũng, người ấy bị loài người hất hủi chê cười.
    Ðối với chuyện thế gian cũng như chuyện xuất thế, nhân lành đều cháy rụi.
    Như thân cây lớn đã cháy thành tro, người ấy kiếp kiếp cũng đều như vậy.
    Như rường cột của căn nhà huy hoàng tráng lệ, lửa cháy rồi trông thật thê lương.
    Người ấy cũng vậy, trông thật đáng thương. Ở đâu, chỗ nào cũng bị đánh đập chê trách ; khổ sở đói khát bức bách, một miếng cũng không có mà ăn.
    Càng chịu khổ lớn, càng bị hành hạ đói khát, lại càng nhớ nghiệp phá hủy tháp Phật và năm nghiệp ngũ nghịch đã làm.
    Khi nhớ lại việc làm xưa, người ấy nghĩ rằng: 'rồi ta sẽ về đâu? đâu sẽ là nơi cho ta nương náu?'
    Càng nghĩ càng tuyệt vọng:'Ðã không còn nơi nương náu, thôi lên núi cao nhảy xuống vực cho xong.' Người ấy nói,
    'Nghiệp dữ đã tạo
    Nay như tro tàn
    Muôn đời lửa cháy
    Kiếp này không vẹn
    Kiếp sau không tròn
    Trong thân không an
    Ngoài thân không ổn
    Lỗi đã phạm rồi
    Sẽ đọa ác đạo
    Sinh đâu cũng vậy
    Cũng khổ như nhau'
    Người ấy nghĩ rồi khóc than vật vã. Tiếng khóc kinh động đến cả chư thiên.
    'Bóng tối trước mặt
    Hy vọng không còn
    Thôi ta đành phải
    Ðọa vào ác đạo'
    Lúc ấy chư thiên lên tiếng bảo:
    'Này kẻ rồ dại
    Tâm trạng khổ đau
    Níu giữ làm gì?
    Hãy vất hết xuống
    Thong thả mà đi'

    Người ấy đáp :
    'Tôi giết cha giết mẹ
    Nghiệp ngũ nghịch vướng rồi
    Không còn nơi nương dựa
    Khổ đau làm sao tránh?
    Thôi tìm đỉnh núi cao
    Ném thân mình xuống vực.'
    Chư Thiên khuyên:
    'Ngươi thật quá điên rồ,
    Chớ làm điều dại dột
    Ðã tạo nhiều ác nghiệp
    Ðừng tự buộc thêm vào
    Ai tự hại chính mình
    Sẽ lạc sâu địa ngục
    Ở đó phải khóc gào
    Phải rơi nhào xuống đất
    Cố gắng kiểu như vậy
    Chẳng thể thành Phật đà
    Chẳng thể thành bồ tát

    Chẳng thể thành thanh văn
    Phải tìm hướng đi khác
    Mà gắng sức vượt lên
    Ở trên ngọn núi kia
    Có một vị thánh nhân
    Ngươi ráng lên tìm gặp'
    Người kia lên đỉnh núi, gặp được đại thánh nhân.Bỗng sinh lòng kính ngưỡng, liền quì xuống đảnh lễ:
    'Con nay khổ đã nhiều
    Lắm sợ hãi đau thương
    Xin thánh nhân che chở
    Cho con về nương dựa
    Cho con được nghe Pháp
    Dù chỉ một lời thôi
    Cho con được sám hối
    Những tội lỗi đã làm
    Xin thánh nhân hãy nói
    Với con một lời thôi.'
    Vị thánh nhân an ủi:
    'Ông nay khóc đã nhiều
    Chịu bao nhiêu khổ não
    Ðói khát và tuyệt vọng
    Vậy ông hãy vào đây
    Ăn uống rồi ngơi nghỉ.
    Bao giờ thân bình an
    Bấy giờ hẳn nghe Pháp.'
    Bao nhiêu món ăn ngon
    Người ấy ăn hết cả
    Ăn xong rửa sạch tay
    Ði theo chiều bên phải
    Vòng quanh vị thánh hiền.
    Rồi xếp chân tĩnh tọa.
    'Con giết mẹ giết cha
    Hủy chùa tháp của Phật
    Phá hoại hòa hợp Tăng
    Ngăn bồ tát thành đạo.'
    Nghe xong những lời ấy, Vị thánh nhân nói rằng:
    'Ông tạo nên nghiệp dữ
    Làm nhiều việc tày trời
    Bây giờ phải sám hối
    Những việc ác đã làm
    Hay đã bảo người làm'
    Nghe thánh nhân nói vậy
    Tim người ấy rụng rời
    Tâm kinh hoàng tuyệt vọng
    'Ai che chở cho con?
    Việc ác kia đã làm
    Khổ đau ắt phải chịu'
    Người ấy cả hai chân
    Quì xuống chấm mặt đất
    'Những tội ác sâu nặng
    Ðã làm hay bảo làm
    Con xin sám hối cả
    Nguyện đừng thành quả dữ
    Nguyện đừng chịu khổ đau
    Bây giờ con ở đây
    Xin thánh nhân che chở
    Xin cho con nương dựa
    Xin giúp con sám hối
    Cho tội chướng tiêu tan.'
    Nguyện thường thấy chư Phật, thường thấy Bồ tát, thường thấy chơn thiện tri thức, thường nghe chư Phật nguyện, thường nghe Bồ tát hạnh, thường nghe Bồ tát Ba la mật môn .

  8. #8

    Mặc định

    Lúc bấy giờ vị thánh nhân cất lời trấn an:
    'Ta sẽ làm nơi nương dựa.
    Ta sẽ nâng đỡ, sẽ giúp ông.
    Ông chớ nên lo sợ, hãy lắng nghe cho kỹ. Phật có một chánh pháp tên gọi Ðại Tập Hội, ông đã từng nghe qua bao giờ chưa?'
    'Người ấy thưa: 'Con chưa từng được nghe qua.'
    'Thánh nhân nói:
    'Thật là tội nghiệp. Nếu không trú ở lòng từ bi, có ai mang chánh pháp ra nói cho người bị lửa đốt bao giờ.
    Thiện nam tử, ông hãy nghe câu chuyện này.
    Ở một thời xa xưa, vô lượng kiếp về trước, có một vị Pháp Vương tên gọi Vô Cấu Nguyệt [Vimalacandra].
    Lúc bấy giờ, vua Vô Cấu Nguyệt sinh được người con trai, liền mời các vị bà la môn rành xem tướng đến hỏi rằng: 'Các ông xem tướng đứa bé này ra sao.'
    Tất cả đều nói: 'Thật chẳng lành. Ðứa bé mới ra đời này, thật chẳng lành.'
    Vua hỏi: 'Ðứa bé lớn lên sẽ ra sao?'
    Tất cả đều nói: 'Ðứa bé này khi bảy tuổi sẽ làm hại tánh mạng của cha mẹ mình.'
    Bấy giờ vua nói: 'Dù đứa bé có sẽ hại mạng ta, nhưng nó vẫn là con ta, ta sẽ không hại nó. Huống chi thân người là quí, nay có kẻ vừa được sinh ra làm người, ta nhất định sẽ không giết hại.'
    Ðứa bé lớn thật nhanh, qua một tháng đã lớn bằng trẻ 2 tuổi.
    Thấy đứa bé lớn nhanh, vua biết đều do nghiệp báo của mình, nên sớm trao ngôi báu lại cho đứa trẻ, dặn dò kỹ lưỡng:
    'Giang sơn này ta giao lại cho con. Con hãy là một vị vua tốt, hãy dùng chánh pháp mà trị dân, chuyện gì trái với chánh pháp, đừng bao giờ làm.'
    Truyền ngôi xong, vua rũ bỏ mọi quyền hành của người trị nước.
    'Hàng vạn quan quân kéo về cạnh vua Vô Cấu Nguyệt, thưa rằng: 'Ðại vương, vì lý do gì mà ngài dứt bỏ giang sơn, thôi không trị nước?'
    'Vua đáp: 'Cho dù từ nhiều lần vô lượng kiếp ta luôn được làm vua với đầy đủ giang sơn, tài sản, quyền hành, nhưng vẫn không thấy mãn nguyện.'
    'Chẳng bao lâu sau, đứa con trai ra tay giết hại cha mẹ, vướng nghiệp ngũ nghịch.
    'Ông có biết, ta còn nhớ khi vị vua trẻ giết cha mẹ mình rồi, cũng cảm thấy hối hận, cũng khóc than vật vã.
    Ta thấy vậy không đành lòng, đến nói Phật Pháp cho người ấy nghe.
    Người ấy nghe xong, nghiệp ngũ nghịch tiêu diệt nhanh chóng, không còn dấu vết.
    'Vị thánh nhân nói tiếp: 'Chánh Pháp Ðại Tập Hội là chúa tể của mọi kinh, ai nghe sẽ nắm được cội nguồn chánh pháp vô thượng, xóa mọi nghiệp chướng, tiêu diệt mọi phiền não thác loạn.
    'Ðường dẫn đến giải thoát
    Ta sẽ nói ở đây
    Ông hãy nghe cho kỹ
    Một bài kệ bốn câu
    Nếu được giảng liên tục
    Sẽ diệt mọi nghiệp chướng
    Ðạt quả Tu đà hoàn
    Giải thoát mọi ác nghiệp
    Khi lời này nói ra
    Chúng sinh bị ràng buộc
    Trong địa ngục kinh hoàng
    Ðều được giải thoát cả'
    Người ấy nghe xong rồi
    Từ chỗ ngồi đứng dậy
    Hai bàn tay chắp lại
    Ðảnh lễ dưới chân thầy
    'Lành thay, ôi lành thay
    Lành thay, thiện tri thức
    Lành thay, đấng đạo sư
    Vạch lối đi vi diệu
    Chánh Pháp Ðại Tập Hội
    Chiến thắng mọi nghiệp dữ
    Lành thay, cho những ai
    Ðược nghe Chánh Pháp này'
    'Vào lúc bấy giờ, ở khoảng không phía trên, 12 ngàn thiên tử cùng chắp tay, tiến đến trước mặt thánh nhân, quì xuống đảnh lễ, nói rằng:
    'Thượng nhân, thượng nhân biết được bao nhiêu kiếp về trước?'
    Ðồng thời, có bốn triệu long vương và 18 ngàn la sát vương cũng đến.
    Tất cả chắp tay hướng về thánh nhân, cung kính cúi đầu đảnh lễ, nói như sau: 'Thượng nhân, thượng nhân biết được bao nhiêu kiếp về trước?'
    Vị thánh nhân đáp: 'Hàng trăm ngàn triệu thời kỳ vô số.'
    'Tất cả cùng hỏi :'Nhờ thiện nghiệp nào mà ác nghiệp có thể tức thì tẩy sạch?'
    'Thánh nhân đáp: 'Nhờ nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội.
    Trong số chúng sinh đến đây ngày hôm nay, tất cả những ai có lòng tin tưởng trong sáng khi nghe Chánh Pháp này, sẽ được thọ ký vô thượng bồ đề.
    Người nào vướng nghiệp ngũ nghịch, chỉ cần nghe nói đến chánh pháp tên Ðại Tập Hội, nghiệp chướng tức thì tiêu diệt.
    Hàng trăm triệu thời kỳ vô số vô lượng kiếp, cửa vào ác nghiệp sẽ khép kín, 32 cánh cửa dẫn vào các tầng trời sẽ mở ra.
    Gốc rễ điều lành của người chỉ nghe một bài kệ bốn câu đã đồ sộ như vậy, huống chi mang lòng tin tưởng tôn kính, cúng dường Chánh Pháp ấy bằng hoa, vòng hoa, hương đốt, hương xoa, hương bột, y phục, màn trướng, tràng phan, hay người dùng nhạc cụ tấu nhạc cúng dường, phát sinh một niệm hoan hỉ, tán dương 'lành thay, lành thay'.'"
    Ðại bồ tát Phổ Dũng kể lại với đức Thế tôn: "Thưa Thế tôn, còn những người khi nghe tuyên thuyết Chánh Pháp Ðại Tập Hội mà đảnh lễ bằng cách chắp tay cung kính, họ được công đức gì?"
    Ðức Thế tôn đáp,:
    "Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
    Bất cứ một ai vướng nghiệp ngũ nghịch, tự mình làm, bảo người làm, hay thấy người làm mà lòng mừng theo, khi nghe bài kệ bốn câu của Chánh Pháp Ðại Tập Hội mà biết đảnh lễ bằng cách chắp tay cung kính.
    Phổ Dũng, ông nên biết tội chướng ngũ nghịch của người ấy đều tiêu diệt cả, huống gì nghe được trọn vẹn Chánh Pháp Ðại Tập Hội, công đức lại nhiều hơn gấp bội.
    Thiện nam tử, Như lai sẽ giải thích ý nghĩa này cho ông.
    Ví dụ cung điện long vương trong hồ Vô Nhiệt Não [Anavatapta], nơi đó mặt trời không soi sáng, lại có năm con sông lớn, nước chảy xiết vô cùng vô tận.
    Có người muốn đếm từng giọt nước trong năm con sông lớn kia, Phổ Dũng, ông nghĩ thế nào, có đếm hết được không?"
    Phổ Dũng thưa: "Không thể, thưa Thế tôn."
    Ðức Thế tôn nói: "Phổ Dũng, gốc rễ điều lành của Chánh Pháp Ðại Tập Hội này cũng vậy, dù có đếm hàng trăm hàng ngàn kiếp cũng không thể nào đếm hết.
    Phổ Dũng, nếu ông thắc mắc vì sao lại như vậy, Như lai hỏi ông: Người tuyên thuyết Chánh Pháp Ðại Tập Hội trong một phút giây, có nhọc công hay không?"
    Phổ Dũng đáp, "Dạ có, thưa Như lai."
    Ðức Thế tôn nói, "Phổ Dũng, người nào có khả năng tuyên thuyết Chánh Pháp Ðại Tập Hội phải nhọc công còn hơn vậy nữa.
    Ví như đếm nước trong năm con sông lớn chảy từ hồ Vô Nhiệt Não, không thể nào cùng."
    Bồ tát Phổ Dũng thưa: "Thưa Thế tôn, năm con sông lớn ấy tên gọi là gì?"
    Ðức Thế tôn đáp, "Ðó là sông Ganges, sông Sita, sông Vakshu, sông Yamuna và sông Chandrabhaga.
    Năm con sông lớn này đổ ra đại dương.
    Mỗi con sông đều có năm trăm nhánh sông đổ vào.
    Phổ Dũng, năm trăm nhánh sông này từ trời chảy về, mỗi nhánh sông lại có hàng ngàn nhánh sông nhỏ, nhờ vào đó mọi loài chúng sinh đều được lợi ích."
    Phổ Dũng thưa: "Hàng ngàn nhánh sông nhỏ đó là gì?"
    Ðức Thế tôn đáp: "Sundari có hàng ngàn nhánh sông,
    Shamkha có hàng ngàn nhánh sông, Vahanti có hàng ngàn nhánh sông, Chitrasena có hàng ngàn nhánh sông, Dharmavritta có hàng ngàn nhánh sông.
    Những con sông lớn này đều có hàng ngàn nhánh sông, làm thành suối mưa lên cõi địa cầu.
    Phổ Dũng, suối mưa rơi xuống tạo hoa màu, cây trái, vụ mùa.
    Khi rớt trên cõi địa cầu thì thành nước.
    Nhờ nước mà đồng ruộng vườn tược đều được thỏa thuê xanh tốt.
    Phổ Dũng, ví như toàn thể thế giới có một vị luân vương nắm giữ thiên hạ, làm cho ai cũng được hạnh phúc.
    Chánh Pháp Ðại Tập Hội cũng vậy, được tuyên thuyết trong thế giới hệ này là để chúng sinh cùng được lợi ích hạnh phúc.
    Nguyện thường thấy chư Phật, thường thấy Bồ tát, thường thấy chơn thiện tri thức, thường nghe chư Phật nguyện, thường nghe Bồ tát hạnh, thường nghe Bồ tát Ba la mật môn .

  9. #9

    Mặc định

    còn nữa ,CTBN sẽ gắng pót hết
    Nguyện thường thấy chư Phật, thường thấy Bồ tát, thường thấy chơn thiện tri thức, thường nghe chư Phật nguyện, thường nghe Bồ tát hạnh, thường nghe Bồ tát Ba la mật môn .

  10. #10

    Mặc định

    Các bạn có thể tải toàn bộ kinh chánh pháp này tại đây

    Chư thiên cõi trời Trayastrimsha [cõi
    trời Tam Thập Tam] sống rất thọ, nhưng loài người thì
    không được như vậy. Nếu ông hỏi cõi trời
    Trayastrimsha là cõi trời nào, ông phải biết đó là cõi
    của thiên vương Đế thích [Indra].
    Phổ Dũng, có những người khẩu nghiệp thanh tịnh,
    công đức nhiều không thể ví dụ được. Lại có những
    người khẩu nghiệp nặng nề, sinh vào địa ngục và súc
    sinh. Chúng sinh đau khổ trong ba cõi địa ngục, ngạ
    quỉ và súc sinh không có nơi nương dựa, hy vọng đứt
    đoạn, ấy là vì ảnh hưởng của thầy bạn không tốt. Còn
    kẻ khẩu nghiệp thanh tịnh, công đức không thể ví dụ,
    ấy là nhờ ảnh hưởng của thầy bạn tốt.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 46)

    Thầy bạn tốt là thiện tri thức, gặp thiện tri thức là gặp Như lai.
    Gặp Như lai thì ác nghiệp tiêu diệt cả. Vua mà làm lợi ích
    cho chúng sinh, chúng sinh mừng vui không thể ví dụ.
    "Phổ Dũng, Chánh Pháp Sanghata cũng vậy, mang
    đầy đủ chức năng của đấng Như lai trong thế giới này.
    Ai không được nghe Chánh Pháp Sanghata thì không
    thể thành tựu vô thượng bồ đề, không thể chuyển pháp
    luân, không thể đánh trống đại pháp, không thể ngồi
    tòa Sư tử chánh pháp, không thể nhập cõi niết bàn,
    không thể phóng vô lượng ánh sáng. Phổ Dũng, không
    nghe Chánh Pháp Sanghata này thì không có khả năng
    ngồi trong trái tim của giác ngộ."
    Phổ Dũng hỏi, "Thưa Thế tôn, con có điều thắc
    mắc, thưa Thiện thệ, con có thể hỏi được chăng?"
    Đức Thế tôn đáp, "Phổ Dũng, ông có thắc mắc gì,
    Như lai sẽ vì ông mà giải đáp."
    Phổ Dũng nói, "Thưa Thế tôn, đức Liên Hoa Tạng
    Như lai có nói về vị thánh nhân giúp nhiều chúng sinh
    diệt nghiệp vô gián, rồi đặt từng người vào thánh vị Tu
    đà hoàn. Vậy vị thánh nhân đó là ai?"
    Đức Thế tôn đáp,
    "Phổ Dũng đại bồ tát,
    Lời nói của Như lai
    Rất thâm sâu vi diệu,
    Ông hãy nghe cho kỹ.
    Chính kinh Sanghata
    Là Pháp sư giảng pháp,
    Hóa hiện làm thánh nhân,
    Hóa hiện thân Phật đà,
    Nhiều như cát sông Hằng,
    Sắc tướng thật phong phú.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 47)


    Thân Phật nói pháp Phật,
    Vén mở cả kho tàng
    Tinh túy của chánh pháp.
    Nếu có chúng sinh nào
    Khao khát gặp đức Phật,
    Thấy được Sanghata
    Là thấy được Như lai.
    Sanghata ở đâu,
    Như lai ngay nơi ấy."
    Đức Phật lại nói, "Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
    Trong quá khứ, chín mươi chín thời kỳ vô số về trước,
    có mười hai triệu Phật đà cùng tên là Ratnottama. Như
    lai lúc ấy đang là vị đại thí chủ, chí tâm cúng dường
    mười hai triệu Phật đà tên Chandra, mang đồ ăn thức
    uống, hương thơm, hương xoa, vòng hoa, tất cả những
    gì có thể làm vui lòng Phật, Như lai đều cúng dường
    đủ cả. Bấy giờ Như lai được thọ ký sẽ thành tựu vô
    thượng bồ đề.
    "Phổ Dũng, Như lai còn nhớ trong kiếp quá khứ có
    mười tám triệu Phật đà tên gọi Ratnavabhasa, Như lai
    lúc bấy giờ cũng đang là vị đại thí chủ, đã cúng dường
    mười tám triệu Như lai tên gọi Garbha-sena với đầy đủ
    vòng hoa, hương xoa, vật trang trí và trang sức, cứ
    điều gì thích hợp với vị Phật nào, Như lai đều cúng
    dường đủ cả. Bấy giờ Như lai được thọ ký sẽ thành tựu
    vô thượng bồ đề.
    "Phổ Dũng, Như lai còn nhớ hai mươi triệu đức
    Phật cùng mang tên Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri
    Shikhi-sambhava.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 48)

    Phổ Dũng, Như lai cũng nhớ hai mươi triệu đức Phật cùng mang tên Kashyapa, lúc bấy
    giờ Như lai cũng đang là một vị đại thí chủ, cúng
    dường chư Phật với hương liệu, vòng hoa, hương xoa,
    hết lòng tôn kính phụng sự. Bấy giờ Như lai được thọ
    ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
    "Phổ Dũng, lại có mười sáu triệu đức Phật cùng tên
    là Vô Cấu Quang [Vimala-prabhasa], lúc ấy Như lai
    đang là một đại trưởng giả, tiền của rất nhiều. Như lai
    mang hết tài sản cúng dường chư Phật, và được thọ ký
    tương lai sẽ thành bậc chánh giác. Tuy nhiên thời gian
    vẫn chưa chín mùi.
    "Phổ Dũng, ông hãy nghe đây. Lại có chín mươi
    lăm triệu đức Phật sinh ra trong thế giới, cùng tên là
    Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri Shakyamuni. Lúc
    ấy Như lai đang là vị quốc vương, mang hương thơm,
    vòng hoa, hương xoa, y phục, trang sức, hương đốt,
    tràng phan, và được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ
    đề. Như lai hãy còn nhớ rất rõ.
    "Phổ Dũng, lại có chín mươi triệu đức Như lai, ứngng
    cúng, Chánh biến tri cùng tên là Krakutsanda. Lúc ấy
    Như lai đang là một thanh niên thuộc giai cấp bà la
    môn, nhiều tiền lắm của, mang hết của cải ra cúng
    dường chư Như lai, với hương thơm, vòng hoa, hương
    xoa, y phục, trang sức và đích thân phụng sự cho từng
    vị Như lai, bấy giờ được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng
    bồ đề. Như lai còn nhớ. Nhưng thời gian vẫn chưa chín
    mùi.
    "Phổ Dũng, lại có mười tám triệu Phật đà, cùng tên
    là Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri Kanakamuni.
    Lúc ấy Như lai đang là vị đại thí chủ, cúng dường tất cả các bậc Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri ấy, và
    được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 49)


    Nhưng thời gian vẫn chưa chín mùi.
    "Phổ Dũng, lại có mười ba triệu Phật đà, cùng tên
    là Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri Avabhasashri.
    Lúc ấy Như lai cúng dường chư Phật ấy với y phục,
    trang sức, hương thơm, vòng hoa, hương xoa, chăn
    mền và trang trí. Cần phụng sự cúng dường ra sao,
    Như lai đều chu toàn đầy đủ. Các đức Như lai ấy giải
    thích rộng rãi về ý nghĩa của chánh pháp cho các đệ
    tử, và Như lai lúc ấy được thọ ký trong tương lai sẽ
    thành tựu vô thượng bồ đề. Nhưng thời gian vẫn chưa
    chín mùi.
    "Phổ Dũng, lại có hai mươi lăm triệu Như lai, ứng
    cúng, Chánh biến tri cùng tên là Diệu Hoa [Pushya].
    Lúc ấy Như lai đang là người xuất gia, cung kính cúng
    dường tất cả các đấng Như lai ấy, làm những việc tôn
    giả A Nan ngày nay làm cho Như lai, không sai khác.
    Lúc ấy Như lai cũng được thọ ký sẽ thành tựu vô
    thượng bồ đề. Nhưng Như lai còn nhớ, thời gian lúc ấy
    vẫn chưa chín mùi.
    "Phổ Dũng, lại có mười hai triệu Như lai, ứng
    cúng, Chánh biến tri cùng tên là Vipashyin. Như lai
    lúc bấy giờ cúng dường các bậc Như lai, ứng cúng,
    Chánh biến tri ấy với y phục, trang sức, hương thơm,
    vòng hoa, hương xoa. Các đấng Như lai ấy cần gì,
    Như lai đều chu toàn đầy đủ. Vào lúc ấy, Như lai đang
    là người xuất gia, và ngay lúc ấy Như lai còn nhớ đã
    được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Khi đức
    Phật Vipashyin cuối cùng nói về Chánh Pháp Sanghata này, Như lai nghe qua đã hiểu.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 50)

    Ngay lúc ấy,
    trên trời mưa xuống bảy loại châu báu quí giá, cõi thế
    gian không còn kẻ bần cùng, và cũng ngay lúc ấy,
    Như lai lại được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
    Từ đấy về sau, trải qua một thời gian dài Như lai
    không còn nhận sự thọ ký."
    Bồ tát Phổ Dũng hỏi, "Thưa Như lai, thời gian ấy là
    gì? Duyên ấy là gì?"
    Đức Thế tôn đáp, "Phổ Dũng, ông hãy nghe đây.
    Một thời kỳ vô số sau ngày hôm ấy, có đấng Như lai,
    ứng cúng, Chánh biến tri Nhiên Đăng [Dipamkara]
    xuất hiện trên cõi thế gian, lúc ấy, Như lai đang là một
    thanh niên thuộc giai cấp bà la môn tên là Megha. Khi
    Như lai Nhiên Đăng nhập thế, Như lai đang tu phạm
    hạnh dưới dạng bà la môn. Khi gặp Như lai Nhiên
    Đăng, thanh niên ấy rải bảy nhánh hoa ưu đàm cúng
    dường, hồi hướng vô thượng bồ đề. Bấy giờ Như lai
    Nhiên Đăng thọ ký cho thanh niên ấy sẽ thành đấng
    Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri tên Thích ca mâu
    ni.
    "Phổ Dũng, khi ấy, Như lai ngồi trong không gian,
    cao bằng mười hai cây đa la, đạt vô sinh pháp nhẫn.
    Như lai nhớ rõ như mới hôm qua, Như lai thấy rất rõ
    tất cả những gốc rễ điều lành mà Như lai đã cấy trồng
    từ khi xuất gia tu phạm hạnh trải qua vô số kiếp, và
    đạt được những đức tính toàn hảo. Phổ Dũng, ngay từ
    thời gian ấy Như lai đối với vô số lần trăm ngàn triệu
    tỉ chúng sinh, đã phát nguyện dẫn dắt từng người vào
    với chánh pháp, huống chi bây giờ Như lai đã thành
    tựu vô thượng bồ đề, sẽ vì chúng sinh mà tạo lợi ích lớn lao.

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 51)

    Phổ Dũng, Như lai sẽ dạy cho chúng sinh Phật
    Pháp vi diệu thậm thâm. Chúng sinh có nhu cầu gì,
    Như lai sẽ dạy Phật Pháp phù hợp với nhu cầu ấy. Ở
    cõi trời, Như lai dùng thân trời để dạy Phật Pháp. Ở
    cõi rồng, Như lai dùng thân rồng để dạy Phật Pháp. Ở
    cõi dạ xoa, Như lai dùng thân dạ xoa để dạy Phật
    Pháp. Ở cõi quỉ đói, Như lai dùng thân quỉ đói để dạy
    Phật Pháp. Ở cõi người, Như lai dùng thân người để
    dạy Phật Pháp. Chúng sinh nào cần Phật dạy dỗ, Như
    lai liền hiện thân Phật để dạy dỗ. Chúng sinh nào cần
    bồ tát dạy dỗ, Như lai liền hiện thân bồ tát để dạy dỗ.
    Bất cứ chúng sinh cần gì, Phật hóa hiện thân ấy để dạy
    Phật Pháp. Phổ Dũng, Như lai dùng đủ loại sắc tướng
    để dẫn dắt chúng sinh.
    "Phổ Dũng, vì sao Như lai lại dùng nhiều sắc tướng
    như vậy? Là vì để chúng sinh tích lũy nhiều loại thiện
    căn. Chúng sinh sẽ tu hạnh thí, tạo công đức, quên cả
    nghỉ ngơi để tự cứu mình, sẽ hành thiền, sẽ không
    quên sinh tử, thiện nghiệp nào có thể làm được, họ đều
    làm đủ. Nhờ nghe chánh pháp, họ sẽ nhớ lại gốc rễ
    điều lành đã làm trong quá khứ. Làm như vậy là để
    nhắm vào lợi lạc lâu dài trong cõi trời và người.
    "Phổ Dũng, chúng sinh ấy khi được nghe Chánh
    Pháp Sanghata, mọi đức tính, mọi lợi lạc, mọi thiện
    căn sẽ tức thì trở nên không giới hạn.
    "Lúc bấy giờ, chúng sinh ấy sẽ nói với nhau như
    sau, ‘với những việc đã làm, đã thu thập, nhất định
    phải có một pháp hiển lộ thành tựu chánh đẳng giác,
    và quả lành là tâm nguyện lợi lạc chúng sinh sẽ thành
    thục viên mãn.’

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 52)

    "Chúng sinh tin tưởng trong sáng nơi Phật Pháp, sẽ
    nói, ‘Có một Pháp hoàn toàn phù hợp với thực tướng
    của sự vật’, từ đó mà phát sinh quả lành là đại lạc vô
    thượng của chánh pháp. Còn chúng sinh nào mê muội,
    điên rồ, nói rằng các pháp không có, và cũng không có
    gì siêu việt các pháp, từ đó mà phát sinh quả dữ là đọa
    vào ác đạo, đời đời kiếp kiếp đâm đầu vào cõi dữ.
    Tám kiếp chịu khổ đau địa ngục. Mười hai kiếp chịu
    khổ đau quỉ đói. Mười sáu kiếp sinh cõi a tu la. Chín
    ngàn kiếp sinh làm ác quỉ yêu tinh. Quả dữ cạn rồi lại
    sinh vào loài người, nhưng mười bốn ngàn kiếp sinh ra
    không lưỡi. Mười sáu ngàn kiếp chết trong thai mẹ.
    Mười hai ngàn kiếp sinh làm hòn thịt. Mười một ngàn
    kiếp sinh làm người mù, chịu mọi khổ đau, khiến cha
    mẹ nghĩ rằng: ‘Thật phí công sinh dưỡng, sinh ra đứa
    con này chẳng để làm gì, mang nặng chín tháng chỉ
    hoài công’. Phải chịu nóng lạnh, đói khát, khổ đau bức
    bách. Dù có được một đứa con mà bậc cha mẹ vẫn
    cảm thấy tuyệt vọng, không chút niềm vui.
    "Phổ Dũng, chúng sinh nào từ bỏ chánh pháp, phải
    chịu luân hồi trong cõi địa ngục và súc sinh. Đến lúc
    mạng chung phải chịu đớn đau cơn hấp hối. Phổ
    Dũng, người nào nói rằng, "các pháp có thật, và có
    người siêu việt các pháp’, Nhờ thiện căn đó mà sinh
    vào phương Bắc cõi Uttara-kurus. Hai mươi lăm ngàn
    kiếp sinh vào cõi trời Trayastrimsha [cõi trời Tam
    Thập Tam], khi quả báo ấy cạn thì lại sinh vào phương
    Bắc cõi Uttara-kurus, sẽ không sinh từ thai mẹ, sẽ thấy
    một trăm ngàn thế giới, đều là cõi Sukhavati [Tịnh
    độ], sẽ thấy tất cả các cõi Phật, an trú nơi ấy, tại nơi ấy thành tựu vô thượng bồ đề.


    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 53)


    "Phổ Dũng, diệu dụng của kinh Chánh Pháp
    Sanghata là vậy. Chúng sinh nào tin tưởng sâu xa kinh
    này sẽ không bao giờ chết trong sự sợ hãi, sẽ đầy đủ
    đức hạnh.
    Phổ Dũng, có người tự hỏi, ‘Như lai ngày đêm giải
    thoát vô lượng chúng sinh, vậy mà số lượng chúng
    sinh trong cõi luân hồi vẫn không giảm. Có nhiều
    người giác ngộ, hoặc sinh vào cõi trời, hoặc được
    nguồn an lạc, vậy tại sao chúng sinh luân hồi vẫn
    không giảm bớt?’
    Lại có những người tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang
    thang, khổ hạnh lõa thể, có ý nghĩ như sau, ‘chúng ta
    phải đến chất vấn Cồ Đàm về điều này.’ Tám mươi
    bốn ngàn bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang thang
    cùng hàng trăm người khổ hạnh lõa thể cùng kéo đến
    thành Vương Xá. Lúc bấy giờ, đức Thế tôn mỉm
    miệng cười.
    Thấy vậy, đại bồ tát Di Lạc từ chỗ ngồi đứng dậy,
    vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm
    đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, thưa
    rằng, "Thưa Thế tôn, vì lý do gì mà Thế tôn mỉm
    miệng cười? Không phải vô cớ mà đấng Như lai, −ng
    cúng, Chánh biến tri lại mỉm cười như vậy."
    Đức Thế tôn nói, "Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
    Ngày hôm nay, có một đoàn người rất đông sẽ tiến
    đến thành Vương Xá này."
    Bồ tát Di Lạc hỏi, "Thưa Thế tôn, ai sẽ đến đây?
    trời, rồng, dạ xoa, loài người hay loài không phải
    người [phi nhân]?"

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 54 )

    Đức Thế tôn đáp, "Di Lạc, tất cả trời, rồng, dạ xoa,
    loài người và loài không phải người đều sẽ đến đây
    ngày hôm nay. Cả tám mươi bốn ngàn bà la môn cũng
    sẽ đến; chín mươi ngàn triệu tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ
    lang thang, khổ hạnh lõa thể cũng sẽ đến đây chất vấn
    Như lai. Như lai sẽ nói Pháp cho họ nghe, khiến tan
    biến mọi hý luận, nghi hoặc. Các vị bà la môn sẽ phát
    tâm vô thượng bồ đề, chín ngàn triệu tu sĩ ngoại đạo,
    khất sĩ lang thang, khổ hạnh lõa thể sẽ đạt quả Tu đà
    hoàn. Mười tám ngàn triệu long vương sẽ đến, nghe
    Như lai thuyết pháp. Nghe xong họ sẽ phát tâm vô
    thượng bồ đề. Sáu mươi ngàn triệu thiên tử cõi trời
    thanh tịnh sẽ đến. Ba mươi ngàn triệu Thiên ma cùng
    tùy tùng sẽ đến. Mười hai ngàn triệu a tu la vương sẽ
    đến. Các vị đại vương, tất cả có năm trăm, cùng tùy
    tùng cũng sẽ đến nghe pháp. Tất cả sau khi nghe Như
    lai thuyết Pháp, đều sẽ phát tâm vô thượng bồ đề."
    Nghe vậy, đại bồ tát Di Lạc mang đỉnh đầu lạy
    ngang chân đức Thế tôn, theo hướng bên phải của đức
    Thế tôn đi quanh ba vòng, rồi thân hình biến mất ngay
    nơi ấy.
    Last edited by 123456789; 18-03-2010 at 06:01 AM.
    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  11. #11

    Mặc định

    Đại bồ tát Phổ Dũng lúc ấy từ chỗ ngồi đứng dậy,
    vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm
    đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, thưa
    rằng, "Thưa Thế tôn, năm trăm vị đại vương sẽ đến
    đây, đại danh của họ là gì?"
    Đức Thế tôn đáp, "Phổ Dũng ông hãy nghe đây.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 55)

    Trong số các vị đại vương ấy có,
    đại vương Hoan Hỷ [Nanda],
    đại vương Diệu Hỷ [Sunanda],
    đại vương Tối Thượng hỷ [Upananda],
    đại vương Nhân Tiên [Jinarsabha],
    đại vương Tịnh Quân [Brahma-sena],
    đại vương Phạm Ân [Brahma-ghosha],
    đại vương Thiện Kiến [Sudarshana],
    đại vương Thắng Quân [Jayasena],
    đại vương Hỷ Quân [Nanda-sena],
    đại vương Tần-bà-sa-la [Bimbi-sara],
    đại vương Ba-tư-nặc [Prasena-jit],
    đại vương Tăng Trưởng [Virudhaka],
    các vị đại vương nói trên cùng nhiều vị khác, tất cả
    năm trăm vị, mỗi vị dẫn theo một trăm ngàn triệu tùy
    tùng. Tất cả đều hướng tới vô thượng bồ đề, ngoại trừ
    đại vương Tăng Trưởng [Virudhaka]."
    Ba mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ phương
    Đông. Năm mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ phương
    Nam. Sáu mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ phương
    Tây. Tám mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ phương
    Bắc. Chín mươi ngàn triệu bồ tát đang đến từ không
    gian phía dưới. Một trăm ngàn triệu bồ tát đang đến từ
    không gian phía trên, các vị bồ tát này đều an trú thập
    địa, từ mười phương tiến về thành Vương Xá, đỉnh
    Linh Thứu, để hội diện cùng đức Thế tôn. Tất cả các
    vị bồ tát này đều mang tâm hướng về vô thượng bồ đề.
    Lúc ấy, Phật bảo đại bồ tát Phổ Dũng, "Phổ Dũng,
    ông hãy đến mười phương thế giới, báo với tất cả các
    vị bồ tát rằng, ‘Hôm nay, tại thành Vương Xá, Như lai
    sẽ tuyên thuyết chánh pháp, mời tất cả những ai trú
    trong mười phương thế giới hãy hoan hỉ tùy thuận,
    chắp tay đảnh lễ.’ Ông hãy khéo đi nhanh, rồi về đây nghe Pháp."

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 56)


    Nghe xong, đại bồ tát Phổ Dũng từ chỗ ngồi đứng
    dậy, cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế tôn, đi quanh
    đức Thế tôn ba vòng theo chiều bên phải rồi vận dụng
    thần thông làm cho thân hình biến mất ngay nơi ấy.
    Đại bồ tát Phổ Dũng theo lời đức Thế tôn, đi đến
    mười phương thế giới báo tin cho các vị bồ tát, "Hôm
    nay Như lai sẽ nói chánh pháp nơi thành Vương Xá.
    Xin quí bồ tát hãy tùy thuận hoan hỉ, cất lời tán thán
    "lành thay", nhờ vào đó ngày hôm nay chư vị sẽ được
    lợi ích, thành tựu đại lạc."
    Bồ tát Phổ Dũng đi như vậy khắp cả mười phương
    thế giới, cung thỉnh vấn an mọi đấng Phật đà, báo tin
    cho chư bồ tát, chỉ trong thời gian một búng tay đã trở
    về lại thành Vương Xá, cạnh đức Thế tôn.
    Tất cả bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang
    thang, khổ hạnh lõa thể đều về tụ họp. Các loài trời,
    rồng, loài người và loài không phải người, cùng năm
    trăm vị đại vương và tùy tùng. Ba mươi ba ngàn triệu
    ma vương ác hiểm cũng tụ họp cùng tùy tùng.
    Lúc bấy giờ thành Vương Xá chấn động, trên trời
    mưa xuống bụi trầm hương thơm ngát, lại mưa xuống
    những đóa hoa trời, kết thành cung điện nguy nga trên
    chóp đỉnh đức Thế tôn. Cũng vào lúc ấy, thiên vương
    Đế thích thả sấm sét xuống trước mặt Như lai. Bốn
    ngọn gió lớn nổi lên từ bốn hướng, quét sạch bụi uế
    trong thành. Mười phương thế giới mưa xuống những
    hạt nước thơm trong, rồi lại mưa xuống hoa ưu đàm,
    hoa sen [padmas], hoa sen vàng [kumudas], hoa sen
    trắng [pundarikas], kết thành chiếc lọng hoa rực rỡ trên đầu chư vị trong Pháp hội, lại kết thành tám mươi
    bốn ngàn lầu thành bất động ngay trên đỉnh đầu đức
    Như lai.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 57)

    Nơi tám mươi bốn ngàn lầu thành kết bằng
    hoa quí ấy có tám mươi bốn ngàn pháp đàn kết bằng
    bảy loại ngọc báu. Trên mỗi pháp đàn có một đấng
    Như lai đang tuyên giảng chánh pháp. Khi ấy tam
    thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách.
    Đại bồ tát Phổ Dũng thấy vậy chắp tay cung kính
    hướng về đức Thế tôn hỏi, "Thưa Thế tôn, vì lý do gì
    mà thành Vương Xá hôm nay lại có điềm lành hy hữu
    như vậy?"
    Đức Thế tôn nói, "Ví dụ có lần vua xoa đầu một
    người tâm trí bất định, kiêu mạn, ích kỷ, xem vật gì
    cũng là của mình, lại rất nghèo. Người ấy đến trước
    cung vua, nhất định đòi vào cung. Quan quân bắt lại,
    đánh đập thê thảm. Ngay lúc ấy, vua nghe có người
    khăng khăng đòi xông vào cấm điện, nghĩ rằng ‘người
    này muốn giết ta.’ Nghĩ vậy vua nổi giận, nói với quần
    thần, ‘hãy mang hắn lên vách núi giết quách đi. Giết
    luôn tất cả những gì thuộc về hắn, cha mẹ, con cái, tôi
    tớ giúp việc.’ Theo lịnh vua, cả gia tộc người kia bị
    giết cả. Thân nhân rơi vào cảnh ngộ cực kỳ bi thảm.
    Phổ Dũng, tương tự như vậy, Như lai, ứng cúng,
    Chánh biến tri vừa tuyên thuyết chánh pháp cho chúng
    sinh. Kẻ phàm phu ấu trĩ cũng như kẻ kiêu ngạo điên
    rồ kia, thấy được sắc tướng bên ngoài, hình dạng, màu
    sắc, giới phái, dung mạo lại cho rằng đây chính là thân
    Phật. Người như vậy nghe càng nhiều Phật Pháp thì lại
    càng kiêu mạn, ham nói lời vô nghĩa. Dần dà chỉ còn
    biết có mình, ích kỷ thiển cận, tự mình không nghe chánh pháp, lại càng không thể thuyết chánh pháp.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 58)


    Nếu có ai nói kinh, dù chỉ một bài kệ bốn câu, họ cũng
    chẳng chuyên chú nghe, chẳng cố gắng hiểu, cho rằng
    ‘ta thừa biết rồi.’ Vì sao? Vì kiêu mạn, thấy mình học
    rộng nên quay lại chiêm ngưỡng trí tuệ của chính
    mình. Những người giao du với kẻ phàm phu ấu trĩ
    như vậy sẽ không sống thuận theo chánh pháp, sẽ
    không nghe được lời thuận với chánh pháp, vì biết
    nhiều nên trở nên ngạo mạn. Lại hay viết thi kệ, kinh
    điển, tự viết lời giới thiệu. Họ mang bất hạnh lớn đến
    cho người khác và cho chính mình. Họ cũng ăn đồ
    cúng dường của khách thập phương, ăn rồi không tiêu
    hóa nổi. Đến lúc gần chết, chịu nỗi sợ hãi lớn lao.
    Người xung quanh mới hỏi, ‘ông đã dùng trí tuệ tinh
    xảo, dẫn dắt rất nhiều người, nay sao lại không thể an
    định cho chính mình?’ Người ấy nói, ‘Này các đạo
    hữu, nay tôi không thể an định cho chính mình." Khi
    ấy mọi người mới kinh hoàng khóc than đủ cách. Vì
    hành động của một người mà thân nhân quyến thuộc
    vô tội bị họa lây. Tương tự như vậy, những người kia
    khi gần chết cất tiếng khóc than, thấy mình bị trói
    buộc vào cõi địa ngục, vào thai súc sinh, tất cả chỉ vì
    lầm lẫn noi theo bạn đạo không tốt.
    "Vì vậy, Như lai nói với các ông, hỡi các vị bà la
    môn, tu sĩ ngoại đạo, các ông đừng khinh mạn. Chim
    non chưa mọc cánh, chưa thể vượt trời rộng bay đến
    cõi Trời. Các ông cũng vậy, không thể đạt niết bàn.
    Thần lực ấy, các ông chưa có. Vì sao? Vì xét về
    nghiệp quả, nghiệp của các ông so với nghiệp sinh vào
    kiếp chim chẳng khác, thân xác chẳng bao lâu sẽ rã tan trong cái chết.

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 59)

    Đến khi gần chết, vị giác mất cả,
    chỉ còn nỗi sợ hãi lớn lao, nghĩ rằng "Vì sao ta lại bám
    giữ xác thân này, đã không vui được nỗi vui của trời
    và của người, lại không thể trú ở niết bàn, bám giữ
    thân này vô ích như vậy, rồi tương lai sẽ tái sinh cõi
    nào? Đâu sẽ là nơi cho ta nương tựa? Rồi ta sẽ sinh
    vào đâu, sẽ diệt về đâu?"
    Đức Thế tôn lại nói với những người tu sĩ ngoại
    đạo, khất sĩ lang thang, khổ hạnh lõa thể và bà la môn,
    "Các ông đối với cõi Diêm phù đủ bảy loại ngọc báu
    này đừng bao giờ tuyệt vọng. Đừng tự loại mình ra
    khỏi kho tàng chánh pháp. Có gì nghi hoặc, các ông
    hãy hỏi Như lai, Như lai sẽ toàn thành mọi ước nguyện
    cho các ông."
    Lúc bấy giờ, các vị bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất
    sĩ lang thang và khổ hạnh lõa thể đứng lên từ chỗ ngồi,
    lấy tay áo che vai, chắp tay hỏi đức Thế tôn, "Đức Thế
    tôn ngày đêm lúc nào cũng giải thoát chúng sinh ra
    khỏi luân hồi không lơi nghỉ, vậy tại sao số lượng của
    chúng sinh trong luân hồi vẫn không tăng không
    giảm? Thưa Thế tôn, vì nhân duyên gì mà chúng sinh
    vẫn triền miên sinh diệt không hề giảm?"
    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  12. #12

    Mặc định

    Lúc ấy, đức Thế tôn nói với đại bồ tát Dược Quân,
    "Dược Quân, người ngoại đạo mặc áo giáp tinh tấn,
    nêu lên vấn đề hệ trọng, có khả năng xua tan phiền
    não, thắp sáng ngọn đèn chánh pháp. Đúng thật như
    vậy, Dược Quân, sau này chúng sinh nhiều tuổi hay ít
    tuổi sẽ hiểu cảnh sinh diệt luân hồi. Dược Quân, cũng
    có chúng sinh nhiều tuổi, giống như người ít tuổi, mê
    muội chẳng biết gì.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 60)

    "Dược Quân, ví như có người gội đầu, mặc áo mới,
    bước ra đường. Ai thấy cũng khen đẹp. Lại có người
    cũng gội đầu, giặt áo cũ. Đầu tuy gội, nhưng áo đã cũ
    không đẹp. Dược Quân, người nhiều tuổi cũng như áo
    cũ, không thể làm đẹp cõi Diêm phù. Còn người ít tuổi
    thì lại hiện tướng sinh diệt."
    Lúc ấy các bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang
    thang và khổ hạnh lõa thể đứng dậy hỏi đức Thế tôn,
    "Thưa Thế tôn, trong chúng tôi, ai người nhiều tuổi, ai
    người ít tuổi?"
    Đức Thế tôn đáp, "Nhiều tuổi là chúng sinh triền
    miên trong cảnh khổ đau luân hồi ác đạo mà không
    thấy đủ, vậy các ông đều là người nhiều tuổi."
    Khi ấy tất cả bà la môn cùng các long vương thưa
    với đức Thế tôn, "Thưa Thế tôn, chúng tôi không còn
    ham thích phiền não khổ đau trong luân hồi."
    Những người tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang thang và
    khổ hạnh lõa thể lại nói, "Trong số những người ít
    tuổi, không có ai lại có khả năng trực nhận chân tướng
    của thực tại."
    Đại bồ tát Dược Quân lúc bấy giờ thưa cùng đức
    Thế tôn, "Thưa Thế tôn, hãy xem họ kìa. Sao tinh tấn
    lại khó đến như vậy."
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ông hãy lắng nghe.
    Bây giờ Như lai sẽ thu nhiếp toàn bộ thế giới."
    Lúc ấy, chín mươi bốn ngàn triệu người mới sinh
    đứng trước mặt Như lai, không thưa, không chào, cũng
    không hỏi đáp gì với Như lai, chỉ đứng yên lặng như
    vậy. Đại bồ tát Dược Quân hỏi đức Như lai, ‘Kính
    thưa Như lai, vì lý do gì họ đến trước Như lai lại không thưa không nói, không chào, không hỏi?"

    (Kinh Chánh Pháp sanghata 61)

    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, những ai nói rằng
    ‘người ít tuổi không thể trực nhận chân tướng của thực
    tại" thì nên gặp những người ít tuổi này.
    Những người ấy nói, "Thưa Thế tôn, chúng con là
    người ít tuổi. Thưa Thiện thệ, chúng con là người ít
    tuổi."
    Đức Thế tôn nói, "Các ông hãy trực nhận thế giới
    này rồi dùng thân của các ông để thị hiện phạm vi của
    thế giới."
    Lúc ấy, chín mươi bốn ngàn triệu người ít tuổi
    không rời thân mình, trụ giữa không gian, an trú thập
    địa. Đại bồ tát Dược Quân cất lời tán thán, "Thưa Thế
    tôn, những người này tinh tấn vượt bực, khéo đạt pháp
    diệt, khéo vượt sinh tử luân hồi. Thưa Thế tôn, họ mới
    sinh ra hôm nay, cũng ngay trong ngày hôm nay họ
    được giải thoát, bước vào thập địa."
    Khi ấy, các bà la môn, tu sĩ ngoại đạo, khất sĩ lang
    thang, khổ hạnh lõa thể, các vị long vương, ma vương
    cùng tùy thuộc, lúc đầu toan đến phá rối, bây giờ đều
    cất tiếng nói với đức Thế tôn, "Thưa Thế tôn, chúng
    con đến trước mặt Như lai, nghe được chánh pháp này,
    sinh lòng tin tưởng trong sáng nơi Phật, Pháp. Nguyện
    an lạc như Như lai an lạc, nguyện thành bậc Như lai,
    −ng cúng, Chánh biến tri, trong thế giới này."
    Đức Thế tôn nói, "Tốt lắm, tốt lắm! bất luận các
    ông đến gặp Như lai như thế nào, nghe được Chánh
    Pháp Sanghata này rồi phát tâm vô thượng bồ đề, nhờ
    gốc rễ điều lành ấy, các ông sẽ mau chóng thành tựu
    chánh đẳng chánh giác."

    (Kinh Chánh Pháp sanghata 62)

    Đức Thế tôn nói xong, tất cả người ngoại đạo tức
    khắc đạt vô sinh pháp nhẫn, chứng quả thập địa bồ tát.
    Rồi cùng thăng lên không gian cao bằng bảy cây đa la,
    dùng thần lực hóa hiện lầu thành bằng bảy loại ngọc
    quí, cúng dường Như lai, thị hiện phong phú, thi triển
    thần thông. Họ lại trú trên đỉnh của đức Thế tôn, rãi
    hoa quí lên mình Như lai, chiêm bái Như lai, quán
    thân mình là thân Phật.
    Bấy giờ, hàng trăm ngàn triệu tỷ thiên tử đang
    đứng trên tầng không đồng loạt mang hoa báu rãi trên
    mình Như lai, đọc bài kệ này,
    "Sa môn Cồ Đàm
    Là bậc tối thắng,
    Là đại phước điền,
    Là đại cứu độ,
    Thành tựu Tam Muội,
    Trí biết cùng khắp,
    Tròn đầy viên mãn.
    Đối với chúng sinh
    Trầm luân luân hồi,
    Ngài luôn vận dụng
    Phương tiện thiện xảo,
    Lần lượt cứu độ
    Tất cả mọi loài,
    Không sót một ai.
    Dù chỉ một lời
    Cũng đủ giải thoát
    Biết bao hữu tình"

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 63)

    Bấy giờ đại bồ tát Dược Quân từ chỗ ngồi đứng
    dậy, vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống
    chấm đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn
    thưa rằng, "Thưa Thế tôn, vì lý do gì mà những vị
    thiên tử này lại hát bài kệ, thị hiện thần thông, dùng lời
    phong phú thiết tha tán dương công hạnh của Như lai
    như vậy?"
    Đức Phật bảo, "Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
    Không phải họ tán dương Như lai mà tán dương chính
    bản thân họ. Rồi họ sẽ đặt thân mình làm tòa Pháp, sẽ
    đặt thân mình làm tòa Pháp vô thượng, sẽ từ thân mình
    phóng ra ánh sáng chánh pháp, sẽ được tất cả Như lai
    giữ gìn cho họ thành tựu vô thượng bồ đề, rồi chuyển
    pháp luân, giảng giải sâu rộng về chánh pháp thâm
    diệu."
    Lúc ấy đại bồ tát Dược Quân thưa với đức Thế tôn,
    "Thưa Thế tôn, mỗi ngày đêm, có biết bao nhiêu
    chúng sinh được giải thoát, sao đến nay luân hồi vẫn
    chưa cạn?"
    Đức Thế tôn đáp, "Tốt lắm, Dược Quân, ông hỏi
    Như lai như vậy là tốt lắm. Ông hãy nghe đây. Ví như
    có một phú ông, tiền rừng bạc biển. Người ấy có nhiều
    tiền, nhiều hạt, nhiều kho bồ, nhiều gia nô, tá điền. Lại
    có rất nhiều tài sản, ruộng vườn, lúa mạch, lúa mì, lúa
    gạo, hạt mè, hạt đậu cả trăm giống loại đều dồi dào
    đầy đủ. Mùa Xuân gieo hạt, sang Thu hạt chín gặt về
    chất vào kho. Hạt về tới kho, giống nào cất riêng
    giống nấy, ăn dần cho đến mùa xuân năm sau lại mang
    hạt ra cấy. Dược Quân, chúng sinh cũng vậy, trong
    quá khứ tạo được thiện nghiệp, luôn tìm phước điền để
    tạo thiện căn. Nhờ được thiện căn mà tinh tấn hành trì
    chánh pháp, khiến thiện pháp tăng thêm.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata 64 )

    Nhờ thiện pháp tăng mà thân tâm được hỉ lạc, tri túc, và nhờ đó
    mà trải qua hàng ngàn triệu kiếp thiện căn vẫn không
    bị phí uổng.
    "Dược Quân, bồ tát mới phát tâm cũng vậy, nhờ
    phát tâm bồ đề dũng mãnh mà thiện căn không hư
    hoại, nắm giữ các pháp trong dạng tinh túy nhất."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, bồ tát mới phát
    tâm, trong mơ thường thấy gì?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, bồ tát mới phát tâm
    trong mơ thường thấy cảnh dữ. Vì sao? Vì bồ tát mới
    phát tâm đang giải nghiệp cũ. Dược Quân, gieo ác
    nghiệp rồi không thể tránh khổ đau. Nhưng bồ tát thấy
    cảnh dữ trong mơ thì tâm không khiếp sợ.
    Dược Quân lại hỏi, "Thưa Thế tôn, bồ tát mới phát
    tâm, trong mơ thường thấy cảnh dữ gì?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, bồ tát mới phát
    tâm, một là mơ thấy lửa cháy, khi ấy phải nghĩ rằng,
    "lửa này đốt tan tham dục." Dược Quân, hai là mơ thấy
    nước xoáy, bồ tát mới phát tâm cũng không sợ hãi. Vì
    sao? Dược Quân, vì như vậy là có thể ném bỏ mọi
    ràng buộc đến từ vô minh, thanh tịnh ác nghiệp. Dược
    Quân, ba là mơ thấy cảnh tượng cực kỳ dữ dằn."
    Dược Quân hỏi, "Là cảnh gì, thưa Thế tôn?"
    Đức Thế tôn đáp, "Thấy đầu mình bị chém. Dược
    Quân, lúc ấy bồ tát mới phát tâm cũng không sợ hãi.
    Vì sao? Vì lúc ấy nghĩ rằng, "Tham, sân, si ta chặt lìa.
    Luân hồi sáu cõi, ta chiến thắng cả." Bồ tát mới phát
    tâm sẽ không bao giờ vào cõi địa ngục, ngạ quỉ, súc
    sinh, a tu la, rồng, trời, mà chỉ sinh vào cõi Phật thanh
    tịnh. Dược Quân, trong tương lai, ở một thời về sau, nếu có ai có được niệm bồ đề, phải nên thấy người ấy
    mang đại nguyện.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata 65)

    Dược Quân, mặc dù người ấy sẽ bị
    trách móc, khinh rẻ. Dược Quân, khi ấy bồ tát đã phát
    tâm bồ đề không được sinh tâm buồn nản, chán
    chường.
    "Dược Quân, Pháp Như lai dạy nhiều vô kể. Cả
    trăm ngàn lần vô số kiếp Như lai siêng tu phạm hạnh.
    Dược Quân, việc khó làm Như lai đều làm cả, không
    vì tiền tài thế lực, không vì mưu cầu hạnh phúc thế
    gian, cũng không vì thần thông. Dược Quân, việc khó
    làm Như lai gánh hết, chỉ để hiểu được chân tướng của
    thực tại. Trước khi được nghe Chánh Pháp Sanghata,
    Như lai không được quả vô thượng bồ đề. Ngay lúc
    được nghe Chánh Pháp Sanghata, Như lai đạt vô
    thượng bồ đề.
    Vậy ông phải biết Chánh Pháp Sanghata là pháp
    cực kỳ sâu xa vi diệu. Dược Quân, cho dù cả trăm
    ngàn lần vô số kiếp cũng hiếm mà được nghe Chánh
    Pháp Sanghata. Dược Quân, Như lai xuất thế là điều
    cực kỳ hiếm hoi. Người thọ trì Chánh Pháp Sanghata
    cũng cực kỳ hiếm hoi. Tất cả những ai được nghe
    chánh pháp này sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Dược
    Quân, người ấy trong một trăm ngàn kiếp sẽ vượt thoát
    luân hồi, sẽ sinh vào cõi Phật thanh tịnh, sẽ đủ khả
    năng biết rõ các pháp Diệt và Đạo, biết rõ cội nguồn
    của chánh pháp, biết rõ thiện xứ, biết rõ và trực chứng
    thiện xứ, biết rõ thiện xứ và pháp diệt của thiện xứ.
    Dược Quân, ông có biết nói "diệt" là nghĩa gì?
    Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, ‘diệt’ chính là
    pháp xứ."

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 66)

    Đức Thế tôn lại hỏi, "‘Pháp xứ’ là gì?"
    Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, pháp xứ là ‘tinh
    tấn’, ‘trì giới’, và ‘giới hạnh đầy đủ.’ Như vậy gọi là
    Pháp tạng, các pháp từ kho tàng chánh pháp này mà
    khởi sinh."
    Đức Thế tôn nói, "Hay lắm, Dược Quân. Ông trước
    Như lai đáp được nghĩa này, thật là hay lắm."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, vì lý do gì các
    đấng Như lai xuất hiện cõi thế?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, người nào biết về
    kho tàng trí tuệ thì sẽ biết tướng hiện của Như lai. Biết
    được tướng hiện của Như lai thì biết tướng hiện của
    Như lai là nơi an lạc thắng diệu. Rồi khi Như lai xuất
    hiện cõi thế, người ấy sẽ thông đạt các pháp, nhờ khéo
    léo phương tiện mà biết rõ mọi việc thế gian và xuất
    thế gian, lại biết rõ về trí tuệ thế gian và trí tuệ xuất
    thế gian."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, được trí tuệ rồi,
    làm sao chứng niết bàn?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, biết chân tướng của
    Pháp thì biết được niết bàn. Dược Quân, tương tự như
    vậy, biết được chánh pháp trong dạng tinh túy nhất thì
    chứng ngộ đầu tiên khởi sinh. Giữ gìn chánh pháp
    trong tâm đúng như được nghe thì thu nhiếp được
    chánh pháp. Dược Quân, giống như một thương gia, đi
    xa làm giàu, thu góp vàng bạc của người và của mình
    được ngàn nén vàng. Trước khi lên đường, cha mẹ dặn
    dò, ‘Con yêu quí, mang vàng bạc của mình và của
    người, nhiều những ngàn nén, phải thận trọng đừng để
    thất thoát uổng phí đi. Kiếm được nhiều lợi, phải giữ vàng cho cẩn thận.

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 67)

    Đó là sẽ món lợi lớn cho chúng ta,
    cho chúng ta cuộc sống hạnh phúc.’ Người con đáp,
    ‘con sẽ cẩn thận.’ Rồi mang vàng lên đường.
    "Thương gia mang vàng lên đường, chưa đầy
    tháng, số vàng đã phần mất phần phung phí, một nén
    cũng không còn. Người ấy buồn rầu lo nghĩ, trái tim
    đau nhức bởi mũi tên sầu muộn. Quá lo lắng xấu hổ,
    người ấy không tìm về lại nhà. Cha mẹ ở nhà nghe tin,
    trái tim đau nhức tuyệt vọng. Họ khóc vật vã, xé áo xé
    quần, nói rằng, ‘Thằng con bất hiếu! Vì nó mà cả nhà
    bị vạ lây! Đã không làm được gì cho cha mẹ, lại còn
    biến tất cả thành kẻ tôi đòi.’ Cha mẹ người ấy vì quá
    sầu khổ tuyệt vọng nên qua đời. Người con cũng vì
    quá sầu khổ tuyệt vọng mà qua đời. Dược Quân,
    tương tự như vậy, mặc dù Như lai đã có lời giải thích,
    nhưng đám người kia không tin lời Như lai, đến nỗi tự
    mình tách lìa chính mình ra khỏi ngọc báu chánh
    pháp, tuyệt vọng mà tìm cái chết, khi lìa đời trái tim
    đau nhức bởi mũi tên sầu muộn. Cũng như cha mẹ
    người kia, vì ham vàng mà khóc than vật vã, tâm thần
    xáo trộn tột bực, chỉ vì vàng bạc của mình và của
    người. Tương tự như vậy, Dược Quân, ai không tin lời
    Như lai, tâm bất an, chịu đủ loại phiền não khi gần kề
    cái chết. Quá khứ làm được điều lành, đạt được cõi tái
    sinh tốt đẹp nhưng không biết tiếp tục tích lũy thiện
    nghiệp, để nghiệp báo cạn hết, tâm chìm trong phiền
    não. Bấy giờ thấy cảnh kinh hoàng cõi địa ngục, thai
    súc sinh và thế giới Diêm Vương, lại nghĩ, ‘ai che chở
    cho tôi? để tôi khỏi thấy cảnh địa ngục, súc sinh, quỉ
    đói, cõi Diêm Vương, để tôi khỏi đớn đau nơi đó.’

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 68)

    Người con lâm bịnh, thần trí mê sảng, trôi dần vào cõi
    chết. Cha mẹ nói:
    "Con yêu của cha mẹ,
    Dù đau đớn tật bịnh
    Là điều kinh hãi nhất
    Nhưng con ơi đừng sợ
    Con không thể nào chết.
    Kẻ chết mới sợ bịnh
    Con yêu hãy vững tin
    Cho dù là tật bịnh
    Hay sợ hãi tật bịnh
    Rồi con sẽ thoát cả.
    "Người con đáp, ‘thần thức mê mờ, thân thể nhức
    nhối, tứ chi đớn đau. Con thấy con đang chết. Mắt
    không thấy, tai không nghe, thân không cảm, tứ chi
    thúc đau như khúc gỗ vô tri. Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ nói cho
    con nghe, cái chết vẫn chưa đến đi mẹ!’
    "Người mẹ đáp, ‘Đừng nói vậy, con yêu. Con đừng
    làm mẹ sợ. Con chỉ sốt nóng mê sảng đó thôi.’
    "Người con nói, ‘Con không cảm thấy thân con
    đang sốt, bịnh, hay đau. Chỉ thấy cái chết bủa vây bức
    bách. Ai cứu con đây? Ai sẽ là người che chở cho
    con?’
    "Cha mẹ bảo rằng, ‘Con trai yêu ơi, con khổ như
    vậy chắc là vì thần linh đang giận dữ. Hay là đến cúng
    tế để xin họ che chở cho con?’
    "Người con nói, ‘Xin cha mẹ giúp cho con được
    yên ổn. Cha mẹ hãy đi nhanh, đến đền thờ cầu khẩn
    nhanh nhanh.’
    "Cha mẹ người ấy đến đền thờ, cúng hương bái thần linh.

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 69)

    Cúng hương rồi, người giữ đền nói, ‘Thần
    linh đang nổi giận với các người. Các người phải cúng
    tế đúng phép thì mới được yên. Cần phải giết một
    người để tế máu, con của các người sẽ khỏi bịnh.’ Khi
    ấy, cha mẹ người kia bàn với nhau, ‘Phải làm sao bây
    giờ? Chúng ta quá nghèo. Nếu thần linh không vui,
    con mình sẽ chết uổng, còn nếu khiến được thần linh
    vui, con mình sẽ được chở che. Thôi thì dù nghèo
    cũng nên kiếm cho ra một nạn nhân tế thần.’ Bàn xong
    họ chạy vội về nhà, có được chút gì họ bán đi cả, vét
    hết tiền bạc, lại đi vay thêm của người, hẹn mười ngày
    không trả được sẽ đến đợ thân trả nợ. Gom đủ vàng,
    họ liền mua một nạn nhân. Mua xong, nạn nhân ấy
    vẫn không biết mình sẽ thành vật tế thần. Cha mẹ
    người kia như cuồng như dại, không về nhà mà đi
    thẳng đến đền thờ, nói với người giữ đền, ‘Xin hãy
    chuẩn bị việc tế thần cho nhanh.’ Rồi tự tay giết nạn
    nhân kia, cướp đi mạng sống của người ấy. Người giữ
    đền đốt mỡ lên làm đồ cúng, bắt đầu lễ tế thần. Lúc ấy
    thần linh giáng xuống, nói rằng, ‘Ta sẽ thâu nhận con
    trai các người.’ Cha mẹ người ấy vui mừng nhảy nhót,
    nói với nhau, ‘Vậy là con mình tai qua nạn khỏi, dù
    chúng ta có phải sống kiếp tôi đòi cũng cam tâm.’ Nói
    xong bái tạ thần linh, quay trở về nhà. Tới nhà thấy ra
    con mình đã chết. Cha mẹ đau lòng quá độ, chết ngay
    tại chỗ. Dược Quân, cần phải thấy giao du với người
    bất thiện tai hại đến như vậy."
    -------------------------------------
    (còn tiếp)
    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  13. #13

    Mặc định

    Các bạn có thể tải toàn bộ kinh chánh pháp này tại đây

    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, xin cho con hỏi
    một điều."
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ông cứ hỏi."

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 70)

    Dược Quân nói, "Thưa Thế tôn, những người kia
    chết rồi sinh về đâu?"
    Đức Phật nói, "Thôi, Dược Quân, ông đừng hỏi
    việc ấy."
    Dược Quân đáp, "Xin đức Thế tôn mở lòng từ bi
    nói cho chúng con được biết."
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, người mẹ sinh vào
    địa ngục Khóc than [Hào khiếu]. Người cha sinh vào
    địa ngục Núi đè [Chúng hợp]. Người con sinh vào địa
    ngục Nóng [Viêm nhiệt]. Người giữ ngôi đền sinh vào
    địa ngục A tỳ."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, còn nạn nhân vô
    tội kia, sinh vào cõi nào?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông nên biết rằng
    người vô tội kia được sinh vào cõi trời Trayastrimsha
    [cõi trời Tam Thập Tam]."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, nhờ nhân gì mà
    được sinh vào cõi trời Trayastrimsha?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân ông hãy nghe đây.
    Lúc chết, lúc bị cướp đi mạng sống, người ấy nảy một
    niệm tin tưởng trong sáng nơi Như lai, nói mấy chữ
    sau đây, "Nam mô Như lai, −ng cúng, Chánh biến tri."
    Chỉ một lần thôi. Nhờ thiện căn này mà được sinh vào
    cõi trời ấy, sống an lạc sáu mươi kiếp. Biết được việc
    trong tám mươi kiếp về trước. Sinh ra ở đâu cũng
    không gặp phiền não. Sinh ra là phiền não tan đi.
    Chúng sinh ấy không thể làm cho phiền não tận diệt."
    Nghe xong, đại bồ tát Dược Quân hỏi, "Thưa Thế
    tôn, phải thế nào mới có thể làm cho phiền não tận
    diệt?"

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 71)

    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, cần phải tinh tấn
    vượt bực."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, phải tinh tấn vượt
    bực như thế nào?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy nghe đây:
    tinh tấn là tướng hiện của quả. Cái gọi là ‘quả Tu đà
    hoàn’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả Tư đà
    hàm’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả A na
    hàm’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả A la
    hán’, và sự tịch diệt của bậc A La Hán, là chỗ của
    hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả Độc Giác" và trí tuệ của
    bậc Độc Giác, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả
    bồ tát" và đại giác ngộ, là chỗ của hạnh tinh tấn. Dược
    Quân, tất cả những điều nói trên đều được gọi là ‘chỗ
    của hạnh tinh tấn.’
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, Tu đà hoàn và quả
    Tu đà hoàn có tướng hiện như thế nào?"
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ví như có người
    trồng cây, vừa trồng xuống, cây đã đâm chồi chỉa
    nhánh sum suê. Nội một ngày rễ sâu một do tuần. Lại
    cũng có người trồng cây, khi trồng gặp gió lớn, cây
    chẳng lên được chồi xanh nào. Người ấy bứng cây đi.
    Người kia thấy vậy lên tiếng, ‘Vì sao ông đào đất của
    tôi?’ Trong lúc cả hai đang dằn co với nhau, nhà vua
    đi ngang, thấy có trận cãi vã liền bảo quần thần, ‘gọi
    hai người ấy đến đây cho ta.’
    "Quần thần vâng lời, chạy nhanh đến nói, ‘Đại
    Vương truyền gọi hai ông.’
    "Nghe vậy, một người hoảng hốt sợ sệt, còn một
    người vẫn điềm tĩnh an nhiên.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 72)

    Cả hai đến trước mặt vua. Vua hỏi, ‘Vì cớ gì hai ngươi dằn co cãi vã với
    nhau?’
    "Một trong hai người đứng lên thưa, ‘Thưa Đại
    Vương, tôi không có ruộng vườn, chỉ mượn được mảnh
    đất này trồng cây. Trồng một ngày, cây đơm hoa kết
    trái, nửa sống nửa chín. Ngay ngày đó, người kia cũng
    đến trồng cây, nhưng trong khi trồng gặp gió lớn, cây
    không thể đâm chồi. Thưa Đại Vương, rễ cây của
    người ấy không sâu đủ một do tuần, vì vậy người ấy
    không vui đến kiếm chuyện sinh sự với tôi, nói rằng
    tất cả đều là lỗi của tôi. Xin Đại Vương xét cho, tôi
    hoàn toàn không có lỗi.’
    "Khi ấy nhà vua triệu tập ba mươi triệu quần thần,
    phán rằng, ‘Các ông nói đi.’
    "Quần thần thưa, ‘Tâu Đại Vương, nói điều gì?’
    "Vua đáp, ‘Các ông có bao giờ từng nghe có ai
    trồng cây mà trong một ngày mọc lên đủ cành đủ lá,
    hoa trái sum suê, nửa sống nửa chín? Các ông nói thử
    xem có thể có chuyện như vậy được hay không?’
    "Quần thần đứng dậy, tâu rằng, ‘Tâu Đại Vương,
    chuyện này là phép lạ, chúng tôi không thể biết chắc
    được. Phải hỏi người kia kỹ hơn.’
    "Nhà vua quay lại hỏi người kia, ‘Lời ngươi nói lúc
    nãy có thật không?’
    "Người ấy đáp, ‘Tâu Đại Vương, toàn là sự thật.’
    "Vua nói, ‘Ta chưa từng nghe qua chuyện lạ như
    vậy. Ngươi nói rằng ‘cây trồng một ngày, đơm hoa kết
    trái’, thật là chuyện khó tin.’
    Người ấy chắp tay đáp, ‘Nếu Đại Vương không tin,
    xin cứ hãy đến đó đích thân trồng thử.’

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 73)

    "Vua bèn ra lệnh nhốt hai người kia vào ngục, tự
    mình dẫn ba mươi triệu quần thần ra mảnh đất nọ, lấy
    cây trồng thử. Cây không nảy mầm, không ra lá,
    chẳng đơm hoa, không kết trái. Vua nổi giận truyền
    lịnh, ‘Mang rìu lại đây.’ Quần thần đưa rìu lại, vua hạ
    lịnh đốn ngã gốc cây sum suê hoa trái người kia trồng.
    Thân cây ngã xuống, mười hai cây khác mọc lên. Vua
    lại bảo chặt. Mười hai cây ngã xuống, hai mươi bốn
    cây khác lại mọc, với đầy đủ gốc rễ hoa trái, chồi xanh
    mơn mởn, lấp lánh bảy thứ châu ngọc quí giá. Trên
    cây xuất hiện hai mươi bốn con chim mào vàng cánh
    ngọc, âm thanh trong suốt. Vua thấy vậy lại càng tức
    tối, tự tay đưa rìu bổ xuống gốc cây. Rìu phập vào
    thân cây, nước cam lồ tuôn ra. Bấy giờ nhà vua cảm
    thấy bất an, truyền lịnh, ‘Thả hai người kia ra khỏi
    ngục’, quần thần dạ rang, tức tốc chạy về ngục dẫn hai
    người đến gặp vua.
    "Vua bấy giờ lên tiếng hỏi, ‘Ngươi trồng thứ cây
    gì, mà cứ đốn xuống thì lại mọc lên nhiều gấp bội,
    thành những hai mươi bốn cây, trong khi cây của ta
    chẳng ra mầm trổ lá, chẳng kết trái đơm hoa?’
    "Người kia thưa rằng, ‘Vì công đức người trồng
    không giống nhau.’
    "Quần thần nghe xong, quì cả hai chân, nói với
    người kia, ‘Ông mới xứng là vua trị nước. Vua trước
    không xứng đáng.’ Người kia bấy giờ nói,
    ‘Phước báu đế vương
    Tôi chẳng mong cầu
    Cũng không mong cầu
    Tiền tài, của cải.

    (Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 74)

    Chỉ tin nơi Phật.
    Nguyện trở thành bậc
    Tôn quí nhất trong
    Các loài hai chân.
    Nguyện đến được nơi
    Như lai trú ở
    Thanh tịnh niết bàn.
    Nguyện đem chánh pháp
    Thuyết cho các ông
    Cùng đến niết bàn. ‘
    "Người ấy xếp chân
    Theo thế hoa sen,
    Và thú nhận rằng:
    ‘Trong thời quá khứ,
    Tôi phạm ác nghiệp,
    Nên nay bị nhốt
    Vào ngục của vua.
    Bây giờ tại đây,
    Phát tâm bồ đề
    Nguyện tan nghiệp cũ’
    "Lúc ấy hai mươi bốn triệu con chim mỏ ngọc kim
    cương xướng lên âm thanh trong vắt. Lại có ba mươi
    hai ngàn tòa lầu hiện ra, mỗi tòa rộng hai mươi lăm do
    tuần, với hai mươi lăm triệu con chim mỏ vàng mào
    vàng, mặt vàng, cất tiếng người nói rằng,
    ‘Đại Vương chặt cây, gây quả ác. Hai mươi bốn
    cây trong số một trăm triệu cây, mọc sừng sững trước
    mặt Đại Vương. Vì việc làm bất thiện này mà Đại
    Vương sẽ gặp quả bất thiện. Đại Vương có biết người
    trồng cây ấy là ai chăng?’
    Last edited by 123456789; 18-03-2010 at 06:10 AM.
    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  14. #14

    Mặc định

    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, xin cho con hỏi
    một điều."
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ông cứ hỏi."

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 70)

    Dược Quân nói, "Thưa Thế tôn, những người kia
    chết rồi sinh về đâu?"
    Đức Phật nói, "Thôi, Dược Quân, ông đừng hỏi
    việc ấy."
    Dược Quân đáp, "Xin đức Thế tôn mở lòng từ bi
    nói cho chúng con được biết."
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, người mẹ sinh vào
    địa ngục Khóc than [Hào khiếu]. Người cha sinh vào
    địa ngục Núi đè [Chúng hợp]. Người con sinh vào địa
    ngục Nóng [Viêm nhiệt]. Người giữ ngôi đền sinh vào
    địa ngục A tỳ."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, còn nạn nhân vô
    tội kia, sinh vào cõi nào?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông nên biết rằng
    người vô tội kia được sinh vào cõi trời Trayastrimsha
    [cõi trời Tam Thập Tam]."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, nhờ nhân gì mà
    được sinh vào cõi trời Trayastrimsha?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân ông hãy nghe đây.
    Lúc chết, lúc bị cướp đi mạng sống, người ấy nảy một
    niệm tin tưởng trong sáng nơi Như lai, nói mấy chữ
    sau đây, "Nam mô Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri."
    Chỉ một lần thôi. Nhờ thiện căn này mà được sinh vào
    cõi trời ấy, sống an lạc sáu mươi kiếp. Biết được việc
    trong tám mươi kiếp về trước. Sinh ra ở đâu cũng
    không gặp phiền não. Sinh ra là phiền não tan đi.
    Chúng sinh ấy không thể làm cho phiền não tận diệt."
    Nghe xong, đại bồ tát Dược Quân hỏi, "Thưa Thế
    tôn, phải thế nào mới có thể làm cho phiền não tận
    diệt?"

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 71)

    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, cần phải tinh tấn
    vượt bực."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, phải tinh tấn vượt
    bực như thế nào?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy nghe đây:
    tinh tấn là tướng hiện của quả. Cái gọi là ‘quả Tu đà
    hoàn’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả Tư đà
    hàm’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả A na
    hàm’, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả A la
    hán’, và sự tịch diệt của bậc A La Hán, là chỗ của
    hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả Độc Giác" và trí tuệ của
    bậc Độc Giác, là chỗ của hạnh tinh tấn. Cái gọi là ‘quả
    bồ tát" và đại giác ngộ, là chỗ của hạnh tinh tấn. Dược
    Quân, tất cả những điều nói trên đều được gọi là ‘chỗ
    của hạnh tinh tấn.’
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, Tu đà hoàn và quả
    Tu đà hoàn có tướng hiện như thế nào?"
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ví như có người
    trồng cây, vừa trồng xuống, cây đã đâm chồi chỉa
    nhánh sum suê. Nội một ngày rễ sâu một do tuần. Lại
    cũng có người trồng cây, khi trồng gặp gió lớn, cây
    chẳng lên được chồi xanh nào. Người ấy bứng cây đi.
    Người kia thấy vậy lên tiếng, ‘Vì sao ông đào đất của
    tôi?’ Trong lúc cả hai đang dằn co với nhau, nhà vua
    đi ngang, thấy có trận cãi vã liền bảo quần thần, ‘gọi
    hai người ấy đến đây cho ta.’
    "Quần thần vâng lời, chạy nhanh đến nói, ‘Đại
    Vương truyền gọi hai ông.’
    "Nghe vậy, một người hoảng hốt sợ sệt, còn một
    người vẫn điềm tĩnh an nhiên. Cả hai đến trước mặt vua. Vua hỏi, ‘Vì cớ gì hai ngươi dằn co cãi vã với
    nhau?’

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 72)

    "Một trong hai người đứng lên thưa, ‘Thưa Đại
    Vương, tôi không có ruộng vườn, chỉ mượn được mảnh
    đất này trồng cây. Trồng một ngày, cây đơm hoa kết
    trái, nửa sống nửa chín. Ngay ngày đó, người kia cũng
    đến trồng cây, nhưng trong khi trồng gặp gió lớn, cây
    không thể đâm chồi. Thưa Đại Vương, rễ cây của
    người ấy không sâu đủ một do tuần, vì vậy người ấy
    không vui đến kiếm chuyện sinh sự với tôi, nói rằng
    tất cả đều là lỗi của tôi. Xin Đại Vương xét cho, tôi
    hoàn toàn không có lỗi.’
    "Khi ấy nhà vua triệu tập ba mươi triệu quần thần,
    phán rằng, ‘Các ông nói đi.’
    "Quần thần thưa, ‘Tâu Đại Vương, nói điều gì?’
    "Vua đáp, ‘Các ông có bao giờ từng nghe có ai
    trồng cây mà trong một ngày mọc lên đủ cành đủ lá,
    hoa trái sum suê, nửa sống nửa chín? Các ông nói thử
    xem có thể có chuyện như vậy được hay không?’
    "Quần thần đứng dậy, tâu rằng, ‘Tâu Đại Vương,
    chuyện này là phép lạ, chúng tôi không thể biết chắc
    được. Phải hỏi người kia kỹ hơn.’
    "Nhà vua quay lại hỏi người kia, ‘Lời ngươi nói lúc
    nãy có thật không?’
    "Người ấy đáp, ‘Tâu Đại Vương, toàn là sự thật.’
    "Vua nói, ‘Ta chưa từng nghe qua chuyện lạ như
    vậy. Ngươi nói rằng ‘cây trồng một ngày, đơm hoa kết
    trái’, thật là chuyện khó tin.’
    Người ấy chắp tay đáp, ‘Nếu Đại Vương không tin,
    xin cứ hãy đến đó đích thân trồng thử.’

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 73)

    "Vua bèn ra lệnh nhốt hai người kia vào ngục, tự
    mình dẫn ba mươi triệu quần thần ra mảnh đất nọ, lấy
    cây trồng thử. Cây không nảy mầm, không ra lá,
    chẳng đơm hoa, không kết trái. Vua nổi giận truyền
    lịnh, ‘Mang rìu lại đây.’ Quần thần đưa rìu lại, vua hạ
    lịnh đốn ngã gốc cây sum suê hoa trái người kia trồng.
    Thân cây ngã xuống, mười hai cây khác mọc lên. Vua
    lại bảo chặt. Mười hai cây ngã xuống, hai mươi bốn
    cây khác lại mọc, với đầy đủ gốc rễ hoa trái, chồi xanh
    mơn mởn, lấp lánh bảy thứ châu ngọc quí giá. Trên
    cây xuất hiện hai mươi bốn con chim mào vàng cánh
    ngọc, âm thanh trong suốt. Vua thấy vậy lại càng tức
    tối, tự tay đưa rìu bổ xuống gốc cây. Rìu phập vào
    thân cây, nước cam lồ tuôn ra. Bấy giờ nhà vua cảm
    thấy bất an, truyền lịnh, ‘Thả hai người kia ra khỏi
    ngục’, quần thần dạ rang, tức tốc chạy về ngục dẫn hai
    người đến gặp vua.
    "Vua bấy giờ lên tiếng hỏi, ‘Ngươi trồng thứ cây
    gì, mà cứ đốn xuống thì lại mọc lên nhiều gấp bội,
    thành những hai mươi bốn cây, trong khi cây của ta
    chẳng ra mầm trổ lá, chẳng kết trái đơm hoa?’
    "Người kia thưa rằng, ‘Vì công đức người trồng
    không giống nhau.’
    "Quần thần nghe xong, quì cả hai chân, nói với
    người kia, ‘Ông mới xứng là vua trị nước. Vua trước
    không xứng đáng.’ Người kia bấy giờ nói,
    ‘Phước báu đế vương
    Tôi chẳng mong cầu
    Cũng không mong cầu
    Tiền tài, của cải.
    Chỉ tin nơi Phật.

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 74)


    Nguyện trở thành bậc
    Tôn quí nhất trong
    Các loài hai chân.
    Nguyện đến được nơi
    Như lai trú ở
    Thanh tịnh niết bàn.
    Nguyện đem chánh pháp
    Thuyết cho các ông
    Cùng đến niết bàn. ‘
    "Người ấy xếp chân
    Theo thế hoa sen,
    Và thú nhận rằng:
    ‘Trong thời quá khứ,
    Tôi phạm ác nghiệp,
    Nên nay bị nhốt
    Vào ngục của vua.
    Bây giờ tại đây,
    Phát tâm bồ đề
    Nguyện tan nghiệp cũ’
    "Lúc ấy hai mươi bốn triệu con chim mỏ ngọc kim
    cương xướng lên âm thanh trong vắt. Lại có ba mươi
    hai ngàn tòa lầu hiện ra, mỗi tòa rộng hai mươi lăm do
    tuần, với hai mươi lăm triệu con chim mỏ vàng mào
    vàng, mặt vàng, cất tiếng người nói rằng,
    ‘Đại Vương chặt cây, gây quả ác. Hai mươi bốn
    cây trong số một trăm triệu cây, mọc sừng sững trước
    mặt Đại Vương. Vì việc làm bất thiện này mà Đại
    Vương sẽ gặp quả bất thiện. Đại Vương có biết người
    trồng cây ấy là ai chăng?’

    (Kinh Chánh Pháp sanghata trang 75)

    "Vua rằng,
    ‘Tôi thật không biết.
    Xin nói cho tôi nghe
    Người trồng cây ấy
    Đích thật là ai?’
    "Chim đáp,
    ‘Người ấy sẽ là
    Ngọn đèn thế giới,
    Xuất hiện cõi trần,
    Làm người dẫn dắt
    Toàn thể chúng sinh
    Ra khỏi ràng buộc
    Sinh tử luân hồi.’
    "Vua hỏi,
    ‘Vậy còn người kia
    Trồng cây không mọc,
    Đã làm những gì
    Trong thời quá khứ?
    Xin chim giải thích
    Tôi nghe được chăng?
    "Chim đáp,
    ‘Đề Bà Đạt Ma
    Là tên người ấy.
    Không chút căn lành,
    Lấy gì cây mọc?’
    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  15. #15

    Mặc định

    "Vua rằng:

    ‘Tôi thật không biết.
    Xin nói cho tôi nghe
    Người trồng cây ấy
    Đích thật là ai?’

    "Chim đáp:

    ‘Người ấy sẽ là
    Ngọn đèn thế giới,
    Xuất hiện cõi trần,
    Làm người dẫn dắt
    Toàn thể chúng sinh
    Ra khỏi ràng buộc
    Sinh tử luân hồi.’

    "Vua hỏi:

    ‘Vậy còn người kia
    Trồng cây không mọc,
    Đã làm những gì
    Trong thời quá khứ?
    Xin chim giải thích
    Tôi nghe được chăng?

    "Chim đáp:

    ‘Đề Bà Đạt Ma
    Là tên người ấy.
    Không chút căn lành,
    Lấy gì cây mọc?’

    "Ngay lúc ấy, ba mươi triệu quần thần nghe chánh
    pháp này đồng loạt chứng quả thập địa, được trí huệ
    trong suốt, còn nhà vua an trụ thập địa rồi thành tựu
    thiện pháp."

    Kinh Chánh Pháp sanghata Trang 76

    Bồ tát Dược Quân nghe đức Thế tôn kể xong, hỏi
    rằng, "Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà ba
    mươi triệu quần thần đạt được trí tuệ trong suốt, an trụ
    thập địa?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy nghe Như
    lai giải thích đây.
    Bấy giờ đức Thế tôn mỉm miệng cười, từ miệng
    phóng ra tám mươi bốn ngàn tia sáng lớn, đủ cả trăm
    vạn sắc màu xen lẫn, xanh, vàng, đỏ, trắng, tía, pha lê,
    bạc, chiếu sáng rực rỡ thế giới vô lượng vô biên, rồi về
    lại cạnh đức Thế tôn, vòng quanh ba vòng theo chiều
    bên phải rồi tan biến vào đỉnh đầu của Phật.
    Lúc ấy đại bồ tát Dược Quân từ chỗ ngồi đứng dậy,
    vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm
    đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn mà nói,
    "Thưa Thế tôn, vì lý do gì Thế tôn mỉm cười? Không
    phải vô cớ mà bậc Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri
    lại mỉm cười."
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, ông có thấy vô số
    người từ bốn phương đang về đây tụ họp không?"
    Dược Quân đáp, "Thưa không, con không thấy."
    Đức Thế tôn nói, "Vậy ông nhìn lại cho kỹ, nhiều
    vô cùng tận."
    Bấy giờ đại bồ tát Dược Quân quan sát kỹ lưỡng,
    thấy phương Đông có một gốc đại thụ tỏa rộng đến
    bảy ngàn do tuần. Trên đó có hai mươi lăm ngàn triệu
    thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi,
    không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ
    ngồi chờ im lặng. Phương Nam có một gốc đại thụ tỏa
    rộng đến bảy ngàn do tuần.

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 77

    Trên đó có hai mươi lăm ngàn triệu thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
    Phương Tây có một
    gốc đại thụ tỏa rộng đến bảy ngàn do tuần. Trên đó có
    hai mươi lăm ngàn triệu thân người tụ tập, không nói
    năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn,
    không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng. Phương
    Bắc có một gốc đại thụ tỏa rộng đến bảy ngàn do tuần.
    Trên đó có hai mươi lăm ngàn triệu thân người tụ tập,
    không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện,
    không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
    Không gian phía dưới có một gốc đại thụ tỏa rộng đến
    bảy ngàn do tuần. Trên đó có hai mươi lăm ngàn triệu
    thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi,
    không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ
    ngồi chờ im lặng.Không gian phía trên có một gốc đại
    thụ tỏa rộng đến bảy ngàn do tuần. Trên đó có hai
    mươi lăm ngàn triệu thân người tụ tập, không nói
    năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn,
    không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
    Đại bồ tát Dược Quân mới thưa đức Thế tôn, "Thưa
    Như lai, ứng cúng, Chánh biến tri, xin cho con hỏi
    một điều."
    Đức Thế tôn đáp, "Ông có điều gì thắc mắc cứ hỏi,
    Như lai sẽ vì ông mà trả lời tất cả."
    Đại bồ tát Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, vì sao
    vô số thân người như vậy từ bốn phương kéo đến và
    ngồi lại đây? Vì sao ở giữa không gian phía trên và
    phía dưới lại có năm mươi ngàn triệu người kéo đến,
    và ngồi lại? Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà
    có việc như vậy?"

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 78

    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy tự mình
    đến thăm các đấng Như lai trong mười phương thế
    giới, hỏi xem những thân người này đến từ cõi nào."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, con dùng thần lực
    nào để đi? Thần lực của Như lai, hay thần lực của
    chính mình?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy đi bằng
    thần lực của chính mình."
    Đại bồ tát Dược Quân nghe xong, theo hướng bên
    phải của đức Thế tôn đi quanh ba vòng, rồi thân hình
    biến mất ngay nơi ấy. Sau khi đi qua hơn chín mươi
    sáu triệu thế giới, đại bồ tát Dược Quân đến thế giới
    tên gọi Nguyệt Đăng [Chandrapradipa]. Vị Như lai,
    ứng cúng, Chánh biến tri của cõi ấy tên là Nguyệt
    Thượng Cảnh Giới [Chandravati-kshetra]. Như lai
    Nguyệt Thượng Cảnh Giới đang thuyết Pháp cho tám
    mươi ngàn triệu đại bồ tát.

    Khi ấy đại bồ tát Dược Quân tới cõi Nguyệt Đăng,
    đến bên Phật, mang đỉnh đầu lạy ngang chân đức Thế
    tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới, bậc Như lai, ứng
    cúng, Chánh biến tri, rồi đứng dậy chắp tay cung kính
    hướng về đức Thế tôn, nói rằng, "Thưa Thế tôn con từ
    cõi Phật của đức Thế tôn Thích ca mâu ni Như lai, tại
    cõi Ta bà, đã vượt chín mươi sáu ngàn triệu thế giới để
    đến đây. Không nơi nào con thấy được nhiều thân
    người như con đã thấy ở cõi ấy. Thưa đức Thế tôn, vì
    nguyên do gì trong Pháp hội của đức Thế tôn Thích ca
    mâu ni Như lai tại cõi Ta bà lại có nhiều thân người từ
    mười phương về tụ họp đông đảo như vậy? Con chưa
    từng thấy số lượng thân người nhiều như số lượng thân người đang trú ở cõi Ta bà."


    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 79

    Đức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới đáp,
    "Dược Quân, ngay chính nơi ấy, họ thường lang thang
    và ở lại."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, vì sao lại như
    vậy?"
    Đức Thế tôn đáp, "Họ từ cây gỗ vô tri sinh ra."
    Dược Quân nói, "Con chưa từng nghe nói có chúng
    sinh nào lại từ cây gỗ vô tri sinh ra."
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông chưa từng nghe
    nói thật sao?"
    Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, con chưa từng
    nghe qua, chưa từng được thấy."
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông muốn thấy
    không? Như lai sẽ chỉ cho ông thấy."
    Dược Quân thưa, "Thưa Thế tôn, con rất muốn.
    Thưa Thiện thệ, con rất muốn."
    Bấy giờ Đức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới
    Như lai duỗi cánh tay. Từ cánh tay Phật sinh ra một
    trăm ngàn triệu thân người. Mỗi thân người duỗi ra
    một trăm cánh tay, rãi các loại hương hoa hương xoa
    cúng dường Như lai. Khi ấy đức Thế tôn Nguyệt
    Thượng Cảnh Giới Như lai hỏi đại bồ tát Dược Quân,
    "Ông bây giờ thấy được chưa, Dược Quân? có thấy
    thân người đang rãi hương hoa hương xoa cúng dường
    Như lai?"
    Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, con có thấy, thưa
    Thiện thệ, con có thấy."
    Đức Thế tôn dạy, "Thế đó, thân người vô tri hiện
    ra. Thế đó, con người vô tri ra đời."

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 80

    Một trăm triệu thân người, mỗi thân duỗi ra một
    trăm cánh tay, và đều rơi đọa. Dược Quân nói, "Thưa
    Thế tôn, vì sao lại như vậy? Thưa Thiện thệ, vì sao
    trăm cánh tay mà trong khoảnh khắt có thể rơi đọa như
    vậy? Thưa Thế tôn, cúng dường với hàng trăm cánh
    tay mà vẫn chưa giải thoát, vậy người chỉ có hai tay
    giải thoát được còn hiếm đến mức nào!"
    Đức Thế tôn đáp, "Ông nói đúng lắm, Dược Quân.
    Tương tự như vậy, thân người vô tri sinh, vô tri diệt.
    Dược Quân, ông nên biết xác thân này là vật vô tri,
    như mộng như huyễn."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, thân người ấy có
    phải cũng có kẻ ít tuổi, có kẻ nhiều tuổi?"
    Đức Thế tôn đáp, "Đúng vậy, Dược Quân, có kẻ ít
    tuổi, có kẻ nhiều tuổi."
    Dược Quân lại hỏi, "Thưa Thế tôn, vậy ai là kẻ ít
    tuổi? ai là kẻ nhiều tuổi?"
    Đức Thế tôn đáp, "Những kẻ ông vừa thấy rơi đọa
    đó, là kẻ nhiều tuổi, còn những người do cây sinh ra là
    kẻ ít tuổi."
    Dược Quân nói, "Xin Thế tôn cho con được gặp
    những người ít tuổi."
    Bấy giờ Đức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới
    đưa bàn tay phải ra; từ mười phương, một trăm ngàn
    triệu thân người tụ họp lại. Từ không gian phía trên và
    phía dưới, năm mươi triệu thân người tụ họp lại. Tất cả
    đều không quì đảnh lễ đức Thế tôn cũng không thưa
    gởi, chỉ đứng im lặng.
    Khi ấy đại bồ tát Dược Quân nói, "Thưa Thế tôn, vì
    sao những người này không nói năng mà chỉ đứng im lặng?"

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 81

    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông không biết
    sao? Cõi này vô tri không nói, cũng không hiểu chánh
    pháp. Vì sao? Dược Quân, có những người ít tuổi
    trong Pháp hội này không biết sinh, không hiểu diệt.
    Dù có thấy khổ não lớn lao của già, bệnh, sầu muộn,
    khóc than, yêu phải xa, ghét phải gần, chết và chết
    không đúng kỳ, họ vẫn không xúc động, không chán
    ngán. Vậy họ lấy gì để hiểu? Dược Quân, họ là những
    người cần được giáo hóa luôn luôn."
    Nghe xong đại bồ tát Dược Quân nói, "Thưa Thế
    tôn, vậy những kẻ ít tuổi không biết chánh pháp ấy, họ
    đến từ đâu? đi về đâu? sẽ tái sinh về cõi nào?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy nghe đây.
    Thân người họ có không phải là sản phẩm của thợ
    vàng, thợ hàn, thợ mộc, cũng không phải do thợ thủ
    công nắn đất mà thành. Thân ấy cũng không vì sợ vua
    mà hiện ra. Thân ấy do nghiệp mà thành, từ phối hợp
    nam nữ sinh ra. Kiếp này sang kiếp khác họ được dạy
    nhiều tiểu xảo, gặp lắm nỗi đau bén nhọn triền miên,
    toàn là kết quả của ác nghiệp đã làm trong quá khứ.
    Dược Quân, ở cõi này, những kẻ ít tuổi chưa tỉnh thức
    sẽ phải chịu nhiều khổ đau như vậy. Vì lý do ấy họ
    không nói năng trò chuyện. Họ không nói lời nào cả.
    Dược Quân, những người ít tuổi này không biết điều
    lành, không biết sinh, không biết diệt, nên sẽ không
    đạt được thân người. Dược Quân, những người như
    vậy được gọi là "người ít tuổi."
    Dược Quân lại hỏi, "Thưa Thế tôn, vậy người ít
    tuổi sinh ra như thế nào? chết đi ra sao?"

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 82

    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, giống như người
    cầm củi đưa vào trong lửa, củi sẽ bắt lửa cháy sáng.
    Thân thể con người cũng tương tự như vậy, đầu tiên
    sinh vào thân người. Sau khi sinh, thì có cảm xúc."
    Dược Quân hỏi, "Ở đây ai là người có sự sinh toàn
    hảo? Ai là người đã đạt Đại niết bàn?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, đúng như ông hỏi,
    Phật đà có sự sinh toàn hảo, Như lai đã đạt Đại Niết
    bàn. Ví như có người bị vua nhốt vào hầm tối. Vào
    hầm rồi nhìn đâu cũng chỉ thấy bóng tối thăm thẳm.
    Lại có người khi xưa đã từng chịu nhiều khổ não, nay
    thấy người này bị đưa vào chỗ tối, nghĩ rằng, ‘Người
    này chưa từng trải qua cảnh tối tăm như vậy, chắc
    chắn không thể thích nghi, e chết mất thôi.’ Nghĩ vậy
    mới đốt một ngọn lửa nhỏ phía sau nhà để khích lệ an
    ủi người đang bị nhốt. Không ngờ ngọn lửa tình cờ bốc
    lớn, lan rộng, cả tòa nhà bốc cháy, thiêu chết người.
    Nhà vua nghe tin có người chết, trong lòng xốn xang
    nghĩ rằng, ‘Từ nay ta sẽ thôi không nhốt người vào
    hầm tối.’ Rồi nói với người trong vương quốc, ‘Các
    người đừng sợ hãi, rồi các người sẽ được bình an. Từ
    nay về sau sẽ không còn ai đánh đập nhốt các người
    vào hầm tối. Ta sẽ không hại mạng sống của các
    người. Không cần phải sợ hãi nữa.’
    "Dược Quân, tương tự như vậy, Như lai là người
    đốt tan mọi phiền não, chữa lành mọi bịnh khổ. Như
    người kia nhà cháy thân cũng cháy, vì bình an phúc
    lạc của chúng sinh mà giải thoát tất cả ra khỏi vòng tù
    tội, Như lai cũng vậy, xả bỏ mọi ô nhiễm tham sân si,
    xuất hiện trong cõi thế như ngọn đèn soi sáng chúng

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 83

    sinh, giải thoát tất cả ra khỏi địa ngục, ra khỏi thân súc
    sinh, quỉ đói [ngạ quỉ] hay a tu la. Chúng sinh ít tuổi
    hay nhiều tuổi, Như lai đều giải thoát cả."
    Khi ấy trên không rãi xuống âm thanh hát lời kệ,
    "Ruộng phước tuyệt hảo
    Ruộng phước tối thắng
    Đã khéo bày mở,
    Hạt giống gieo vào
    Không bị mất đi.
    Ruộng phước Phật đà,
    Cõi Phật thanh tịnh,
    Khai mở chánh pháp
    Của đấng Đại Hùng.
    Đạo sư vận dụng
    Kho tàng trí tuệ,
    Độ dẫn chúng sinh
    Vào cõi niết bàn.
    Xuất hiện cõi thế,
    An lạc cõi trần,
    Thanh tịnh cõi Phật,
    Những người nhiều tuổi
    Cùng người ít tuổi
    Trong toàn ba cõi
    Đều được cứu thoát
    Ra khỏi luân hồi.
    Phật đóng tất cả
    Cửa vào địa ngục,
    Cửa vào súc sinh,
    Cửa vào ngạ quỉ,

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 84

    Nhờ đó thế gian
    Cùng cõi xuất thế
    Đều được thanh tịnh."

    Lúc ấy đức Như lai Nguyệt Thượng Cảnh Giới mỉm
    miệng cười, nói rằng,
    "Lành thay, thấy được bậc tối thắng.
    Lành thay, thấy được đấng Phật đà.
    Lành thay phước điền diệu pháp.
    Lành thay Tăng già hòa hợp.
    Lành thay Chánh Pháp Sanghata được tuyên
    thuyết, là nơi tận diệt của ác pháp. Ai nghe được pháp
    này sẽ thành tựu đường tu tối thượng."
    Khi ấy đại bồ tát Dược Quân chắp tay cung kính
    hướng về đức Thế tôn, thưa rằng, "Thưa Thế tôn, vì
    nhân gì, vì duyên gì mà đức Thế tôn mỉm miệng
    cười?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, Thiện nam tử, ông
    có thấy những người ít tuổi kia không?"
    Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, con có thấy. Thưa
    Thiện thệ, con có thấy."
    Đức Thế tôn nói, " Dược Quân, ngày hôm nay tất
    cả những người ấy sẽ thành tựu thập địa bồ tát."
    Khi ấy đại bồ tát Dược Quân bay lên không trung,
    cao tám mươi ngàn do tuần, lại có tám mươi ngàn triệu
    thiên tử mưa xuống những đóa hoa rực rỡ cúng dường
    đức Thế tôn. Thấy đại bồ tát Dược Quân, những người
    ít tuổi chắp tay đảnh lễ. Khi ấy đại bồ tát Dược Quân
    đứng trong không trung, vận dụng âm thanh lớn rót
    vào tam thiên đại thiên thế giới. Chúng sinh trong ba
    mươi hai địa ngục lớn đều nghe, chúng sinh ba mươi hai tầng trời đều nghe, tam thiên đại thiên thế giới
    chấn động sáu cách.

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 85

    hai tầng trời đều nghe, tam thiên đại thiên thế giới
    chấn động sáu cách. Tám mươi bốn ngàn long vương
    tận đáy đại dương cũng nghe rung chuyển, ba mươi
    ngàn triệu la sát lũ lượt kéo về, hai mươi lăm ngàn
    triệu quỉ đói, dạ xoa, la sát từ vương quốc Adakavati
    kéo về trước mặt đức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh
    Giới, tụ họp đông đảo. Khi ấy đức Thế tôn nói pháp
    cho những người ít tuổi, và một trăm triệu bồ tát từ các
    thế giới mười phương cùng dùng thần lực kéo đến dự
    hội.
    Khi ấy đại bồ tát Dược Quân chắp tay cung kính
    hướng về đức Thế tôn, nói rằng, "Thưa Thế tôn, rất
    nhiều đại bồ tát đều đến tụ họp đông đảo, thưa Như
    lai, các loài trời, thần, rồng, cũng đều đến tụ họp đông
    đảo. Lại có rất nhiều dạ xoa, la sát, quỉ đói, đến từ thế
    giới Adakavati, cùng về tụ họp đông đảo, mong được
    nghe Pháp."
    Khi ấy đức Thế tôn nói với Bồ tát Dược Quân,
    ‘Thiện nam tử, ông hãy về lại đây."
    Đại bồ tát Dược Quân dùng thần lực trở xuống từ
    tầng không, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn
    thưa rằng, "Tập hợp chánh pháp’, thưa Thế tôn, con
    được nghe nói về ‘tập hợp chánh pháp’. Vậy xin Thế
    tôn cho con hỏi ‘tập hợp chánh pháp’ nghĩa là gì?"
    Đức Thế tôn đáp, "Thiện nam tử, khi nào có người
    tu phạm hạnh thì gọi là ‘tập hợp chánh pháp.’ Vì gắng
    tu phạm hạnh, nên tránh điều bất thiện. Ông có thấy,
    Thiện nam tử, những người ít tuổi kia, việc gì không
    thích hợp với phạm hạnh, họ đều không làm. Họ sẽ
    nắm được năng lực Tổng Trì, sẽ thu nhiếp được vạn pháp."

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 86

    Dược Quân lại hỏi, "Thưa Thế tôn, nhờ đâu mà
    đông đảo chúng sinh về tụ hội nơi đây để nghe nói về
    ‘tập hợp chánh pháp’?"
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, có rất nhiều chúng
    sinh không biết rằng sinh chính là khổ, lão chính là
    khổ, bịnh chính là khổ, rằng sầu đau là khổ, khóc than
    là khổ, thương mà phải xa là khổ, ghét mà phải gần là
    khổ, rồi sau biết bao nhiêu khổ đau như vậy, cái chết
    đến cướp đi thân thể và tánh mạng. Dược Quân, tất cả
    những điều ấy đều gọi là ‘khổ’, nhưng có rất nhiều
    chúng sinh đối với ý nghĩa khổ đau này lại không
    nghe, không biết."
    Người ít tuổi trong Pháp hội nghe đức Phật dạy,
    chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, hỏi rằng,
    "Thưa Thế tôn, phải chăng chúng con cũng sẽ chết?"
    Đức Thế tôn nói, "Đúng vậy, Thiện nam tử, tất cả
    chúng sinh đều sẽ chết."
    Họ lại hỏi, "Thưa Thế tôn, cái chết đến như thế
    nào?"
    Đức Thế tôn đáp, "Thiện nam tử, ngay lúc chết,
    đến sát na cuối cùng của tâm thức, có ba luồng khí
    mang tên gọi ‘khiến thức tận diệt’, ‘khiến thức xao
    động’ và ‘khiến thức tán loạn’. Thiện nam tử, vào lúc
    mạng chung, ba loại khí này sẽ khiến thần thức cuối
    cùng xáo trộn, chao động và tán loạn."
    Họ lại hỏi, "Thưa Thế tôn, vào lúc mệnh chung, có
    ba loại khí khiến thân thể hư hoại, ba loại khí ấy là
    gì?"
    Đức Thế tôn nói, "khiến cho thân thể hư hoại có ba thứ, gọi là ‘vũ khí’, ‘hấp dẫn’ và ‘thương tổn."


    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 87


    Họ lại hỏi, ‘Thưa Thế tôn, cái gọi là ‘thân thể’, thật
    ra là gì?"
    Đức Thế tôn nói, "Thân còn được gọi là ‘bốc sáng’,
    là ‘lửa cháy’, là ‘đờm dãi’, là ‘phun ợ’, là ‘viếng nghĩa
    trang’, là ‘ngu muội’, là ‘gánh nặng’, là ‘khổ vì sinh’,
    là ‘động vì sinh’, là ‘khổ não vì sinh lực’, là ‘mang lại
    cái chết và lìa người thân thương’. Những sự như vậy
    đều là tên gọi của ‘thân’.
    Họ lại hỏi, "Thế nào là sống ? thế nào là chết?"
    Đức Thế tôn đáp, "Này những người sống lâu, các
    ông nên biết, ‘thức’ chết còn ‘nghiệp’ trường tồn. Cái
    gọi là ‘thân’, gắn liền với hàng triệu gân mạch, tám
    mươi bốn ngàn lỗ chân lông, mười hai ngàn chi và hơn
    ba trăm sáu mươi đốt xương. Lại có tám mươi bốn
    ngàn loại ký sinh trùng sống bên trong thân thể. Tất cả
    đều sẽ chết; đều đoạn diệt. Khi con người chết đi thì
    các loài trùng đều không còn hy vọng. Vì chúng kích
    động quay lại nhai nuốt lẫn nhau, nên khí trong thân
    thể bị xáo trộn. Vì vậy mà chúng phải chịu khổ não
    lớn lao, hoặc khổ vì con trai, hoặc khổ vì con gái,
    hoặc khổ vì chồng, vì vợ, tất cả các sinh vật này đều bị
    mũi tên phiền muộn đâm thủng, nhai nuốt lẫn nhau
    cho đến khi chết hết, chỉ còn lại hai con. Lại tranh đấu
    với nhau cho đến bảy ngày. Sau bảy ngày, một con
    chết, một con thoát.
    Này người sống lâu, nếu các ông tự hỏi cái gì gọi là
    ‘Pháp’? Các ông nghĩ sao? Cũng giống như các loài
    trùng kia đấu tranh nhai nuốt lẫn nhau cho đến chết,
    chúng sinh phàm phu mê muội cũng vậy, luôn tranh chấp, chém giết nhau, chẳng biết sợ sinh, sợ già, sợ
    bịnh, sợ chết.


    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 88

    Cũng như hai con trùng kia đánh giết lẫn
    nhau, chúng sinh phàm phu mê muội cũng vậy, đánh
    giết lẫn nhau. Đến khi mạng chung, có thiện tri thức
    đến hỏi, ‘Này đạo hữu, ông đặt lòng tin của mình ở
    đâu? Có biết sinh là khổ nạn? Có biết lão là khổ nạn?
    Có biết bịnh là khổ nạn? Có biết tử là khổ nạn?’
    Người phàm phu đáp, ‘Tôi đã thấy và biết sinh lão
    bịnh tử là khổ.’ Thiện tri thức lại hỏi, ‘Vậy tại sao
    không từng cấy trồng gốc rễ điều lành? Sao không
    từng cấy trồng thiện căn, tập hợp chánh pháp, để đến
    với hạnh phúc của cả hai thế giới? Đạo hữu, cho
    chúng tôi hỏi thêm lần nữa, sao không tích tụ công đức
    để vượt thoát sinh tử? Sao không tìm hiểu đâu là nơi
    mình cần hướng tâm về? Sao không nghe tiếng trống
    đại pháp dóng lên trên toàn cõi thế? Sao không thấy
    việc cấy trồng hạt lành nơi ruộng phước Như lai, dâng
    các món hương thơm, vòng hoa, vòng đèn? Sao không
    thấy việc cúng dường ẩm thực cho Như lai, cho bốn
    chúng thanh tịnh, tỷ kheo, tỷ kheo ni, ưu bà tắt, ưu bà
    di đang dốc lòng tu học Phật Pháp?’
    Cứ như vậy họ nói lời lợi ích cho người sắp chết.
    ‘Này vua, sao không làm được việc thiện nhỏ nhoi
    nào? Này người, sinh vào cõi Diêm phù này, sao chỉ
    làm toàn việc bất thiện?’
    "Lúc ấy, vị Đại Pháp Vương nói lời kệ, khích lệ
    người sắp chết,
    ‘Gặp Như lai xuất thế,
    Nghe trống pháp quảng đại,
    Nhận kho tàng diệu pháp,

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 89

    Mở niết bàn an lạc,
    Gặp được thiện duyên này,
    Sao vẫn chưa tinh tấn?’
    "Người ấy đáp rằng:
    ‘Tâm tôi vốn mê muội,
    Lại không gặp bạn hiền,
    Nên chứa mầm ô nhiễm.
    Tâm vướng đầy tham ái,
    Tạo lắm nghiệp chẳng lành:
    Giết hại nhiều chúng sinh;
    Phá chúng Tăng hòa hợp;
    Dùng tâm lý chấp ngã,
    Đập phá tháp cùng chùa;
    Thường nói lời phỉ báng
    Làm phiền lòng mẹ cha.
    Nay những nghiệp đã tạo,
    Tôi thấy rõ tất cả.
    Tôi thấy tôi sinh vào
    Cõi địa ngục Hào khiếu,
    Vào địa ngục Chúng hợp,
    Chịu đau đớn không cùng.
    Rồi vào ngục Đại nhiệt,
    Lại chìm cõi Vô gián,
    Gào thét cõi Đại liên,
    Sợ hãi cõi Hắc thằng,
    Hàng trăm lần chưa hết.
    Chúng sinh cõi địa ngục
    Bị lôi xuống không ngừng,
    Nên cứ hoài sợ hãi.
    Rơi trăm ngàn do tuần,

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 90

    Sâu thẳm trong nỗi sợ,
    Như tuột vào lòng phễu
    Không tìm được lối ra.
    Hàng ngàn đao gươm bén,
    Trong cõi ngục đao binh [Kshura].
    Trăm ngàn lần vô số
    Rừng gươm và núi đao
    Cắt thân hình đứt đoạn,
    Vì nghiệp cảm mà thành.
    Lại có cơn bão lớn
    Xốc tung thân thể lên,
    Xốn xang không kể xiết.
    Chúng sinh nào cũng thấy
    Thân tôi đầy đớn đau.
    Cướp tài sản người khác
    Giữ hết làm của mình,
    Lại chẳng từng cho ai.
    Giữ con trai con gái,
    Giữ cha mẹ anh em,
    Giữ thân nhân bằng hữu,
    Giữ gia đinh, nô tỳ,
    Giữ ngựa bò, gia súc.
    Tôi lạc lối lầm đường,
    Sa đọa cảnh giàu sang.
    Mang bạc vàng châu báu,
    Gấm vóc cùng ngọc ngà,
    Xây lầu thành nguy nga,
    Người ra vào tấp nập.
    Nhạc du dương không dứt,
    Tham đắm cùng âm thanh.

    Kinh Chánh Pháp sanghata 91

    Thân mình tẩm nước thơm,
    Chẳng từng nghe thỏa mãn.
    Ôi thân thể tham lam,
    Vì thân mà lầm lạc,
    Chẳng còn nơi nương tựa,
    Bây giờ và tương lai,
    Khi bão lớn nổi lên,
    Thân xốc tung từng mảnh.
    Lưỡi quen nếm vị ngọt,
    Trên đầu quen kết hoa,
    Mắt mê mờ sắc đẹp,
    Không thể nương dựa vào.
    Mắt này đã nhiều lần,
    Là nhân tạo nghiệp dữ.
    Cũng như các nghiệp dữ
    Vì tai mà sinh ra.
    Cánh tay mang vòng quí,
    Nhẫn đeo đầy ngón tay,
    Cổ lấp lánh trai ngọc,
    Trang sức nặng hai chân,
    Vòng vàng quanh mắt cá
    Toàn thân phủ ngọc ngà.
    Đầy chuỗi vàng vòng bạc
    Hưởng vô tận giàu sang.
    Tâm khoái lạc đam mê,
    Quen cảm giác êm dịu,
    Tham đắm cùng lụa là,
    Thảm đẹp với chăn êm.
    Nuông thân trong xa xỉ
    Tẩm thân bằng nước quí,

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 92

    Xông ướp đủ loại hương,
    Trầm hương cùng chiên đàn,
    Không gian mùi tỏa ngát.
    Xạ hương, hương xoa quí,
    Xoa tẩm cả thân hình.
    Y phục toàn lụa mịn,
    Trắng thanh khiết tinh nguyên.
    Bước xuống từ lưng voi,
    Lại bước lên lưng ngựa,
    Tôi thấy tôi tôn quí
    Như một vị đại vương,
    Những con người tầm thường
    Gặp tôi là trốn chạy
    Quanh tôi đầy mỹ nữ,
    Múa hát thật du dương.
    Súc vật kia vô hại,
    Tôi săn giết không chừa.
    Làm đủ điều bất thiện,
    Không biết chuyện đời sau.
    Nhai nuốt thịt chúng sinh,
    Nghiệp gây nên như vậy,
    Tự tạo lắm khổ đau,
    Không biết chết là gì.
    Quá nuông chìu bản thân.
    Bây giờ chết đã đến,
    Chẳng còn ai che chở.
    ‘Này người thân của tôi,
    Sao nhìn tôi như thế?
    Vì sao xé áo y,
    Khóc than thật ảo não,

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 93

    Bức tóc rồi đấm ngực,
    Rãi bụi dơ lên đầu?
    Tôi sống đời vô ích,
    Cảnh sống gia đình này
    Lẽ ra phải từ bỏ.
    Sao các người còn vẫn
    Gắng mà buộc thêm vào?
    Thân này rồi cầm thú,
    Loài sói, chó, quạ chim,
    Sẽ tha hồ rỉa rói.
    Nuông chìu thân thể này,
    Thật đã quá uổng công.
    Rắn diệt tận đeo đuổi,
    Nên vẫn tái sinh hoài.
    Muốn thoát nỗi sợ này,
    Phải tìm cho đúng thuốc.
    Thầy thế gian cho thuốc,
    Chẳng thể chữa nọc tham.
    Đứng trước thềm sinh tử,
    Chỉ chánh pháp là cần.
    Đừng đưa tôi rượu thịt,
    Đừng nuông chìu thân tôi,
    Thân này rồi hoại diệt,
    Tốn công thêm làm gì?
    Tích lũy thêm ác nghiệp,
    Có giúp được gì đâu!
    Quá nuông chìu bản thân,
    Mà thân rồi sẽ diệt.
    Này con trai con gái,
    Sao đưa mắt nhìn cha?

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 94

    Con mong cha hết bịnh
    Phỏng được lợi ích gì?
    Đừng khóc than vô ích
    Hãy nghe kỹ lời cha,
    Đừng gây thêm nhiễu hại.
    Cha vì lo cho con,
    Đã cướp nhiều tiền của.
    Nay trước thềm sinh tử,
    Tuyệt vọng ôi vô bờ.
    Cõi sinh là cõi sợ,
    Cõi tử là cõi đau,
    Cha cảm được pháp "xúc"
    Cùng pháp "tưởng", "thọ", "hành".
    Do ái thủ làm nhân,
    Kẻ phàm phu trôi lạc,
    Hái toàn quả phiền não,
    Sinh vào nhà bất thiện,
    Vướng kẹt trong khổ đau.
    Tưởng công đức không đáng,
    Gây hại lớn cho người.
    Xoay lưng với chánh pháp.
    Giới hạnh và bố thí,
    Cha đều không làm được.
    Lại không hiểu rằng sinh,
    Chính vì do nghiệp ái,
    Nọc độc của rắn Tham
    Vướng phải mà không biết.
    Vì si mà trôi lạc
    Vào nơi không nẻo thoát.
    Nghĩa giải thoát không hiểu,

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 95

    Làm lắm việc chẳng lành.
    Chạy theo lòng tham ái,
    Tâm tán loạn mê mờ,
    Mang đầy nỗi ràng buộc,
    Lửa phiền não chói chang,
    Thân lang thang vô định,
    Chẳng lúc nào bình an,
    Cũng chẳng biết tìm đâu,
    Cho ra chốn an lạc.
    Chỉ có nơi cửa Phật
    Là tìm được hạnh phúc.
    Chánh pháp luân chính là
    Liều thuốc công hiệu nhất.
    Giới hạnh cùng giới pháp,
    Là tiếng lời Như lai."

    Khi ấy đức Thế tôn nói với đại bồ tát Dược Quân,
    "Dược Quân, tương tự như vậy, có lắm chúng sinh đến
    khi chết không có được chút nhân lành để chuyển
    thành quả lành, lại không có chốn nương dựa."
    Bấy giờ đức Thế tôn lại đọc bài kệ này,
    "Làm những việc chẳng lành,
    Đọa sinh cõi địa ngục.
    Lửa đỏ là áo mặc,
    Sắt nung là nước uống,
    Toàn thân than hồng phủ,
    Biết bao nỗi hãi hùng,
    Thân thể cháy thành than,
    Không phút giây an lạc,
    Không nghe được chánh pháp.


    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 96

    Người phàm phu mê muội,
    Làm việc trái chánh pháp,
    Thân tâm do nghiệp cảm,
    Chẳng được chút gì vui.
    Người thâm tín chánh pháp,
    Đủ giới hạnh, trí tuệ,
    Thân gần thiện tri thức,
    Sẽ thành đấng Như lai.
    Như lai vào cõi thế
    Để độ cho những ai
    Vận dụng hạnh tinh tấn
    Biết nghiêm chỉnh tu hành.
    Như lai vào cõi thế
    Với tâm đại từ bi
    Thuyết giảng về chánh pháp
    Khuyên góp gom thiện nghiệp.
    "Dược Quân, ông là người
    Giới hạnh thật uy nghiêm,
    Ông nghe điều này rồi
    Được thành tựu viên mãn,
    Giải thoát khỏi sinh tử,
    Thấy được chư Như lai
    Vốn là bậc Cứu Độ
    Với tiếng lời tuyệt hảo.
    "Như lai chính là cha,
    Là mẹ của thế giới,
    Và là Tâm Bồ Đề.
    Người tuyên thuyết Pháp này,
    Là bậc thiện tri thức,
    Rất khó mà gặp được.
    Người tiếp thọ Pháp này,
    Sẽ thành đấng Phật đà,
    Sẽ thành bậc Như lai.

    Kinh Chánh Pháp sanghata 97


    Ai người biết tôn kính
    Những người con Như lai
    Đều sẽ được giải thoát.
    Khi sống trong cõi thế,
    Đều sẽ được chở che."
    Khi ấy, đại bồ tát Dược Quân nói với đức Thế tôn,
    "Thưa Thế tôn, vì sao núi này lại chấn động?"
    Đức Thế tôn nói với đại bồ tát Dược Quân, "Dược
    Quân, ông hãy nhìn cho thật kỹ."
    Đại bồ tát Dược Quân nhìn quanh, thấy mặt đất
    bốn phía nẻ ra, từ trong đất trồi lên hai mươi triệu
    chúng sinh, cùng với hai mươi triệu chúng sinh từ
    không gian phía dưới, và hai mươi triệu chúng sinh từ
    không gian phía trên. Những người ít tuổi đang ở trong
    Pháp hội thấy việc như vậy, cất tiếng hỏi đức Thế tôn,
    "Thưa Thế tôn, những người vừa được sinh ra đây là
    ai?"
    Đức Thế tôn đáp, "Các ông có thấy đoàn người
    đông đảo ấy không?"
    Họ đáp, "Thưa Thế tôn, có thấy."
    Đức Thế tôn nói, "Họ là những người vì niềm an
    lạc hạnh phúc của các ông mà sinh ra."
    Những người ít tuổi lại hỏi, "Vậy họ có sẽ chết?"
    Đức Thế tôn nói, "Đúng là như vậy. Họ cũng sẽ
    chết."
    Khi ấy những người ít tuổi đang có mặt trong đại
    hội chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, nói
    rằng, "Thưa Thế tôn, chúng con không còn muốn chịu
    khổ sinh tử."

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 98

    Đức Thế tôn hỏi. "Các ông muốn đạt năng lực tinh
    tấn chăng?"
    Họ nói, "Chúng con nguyện trực tiếp thấy Như lai,
    nguyện cầu pháp gì được nghe pháp ấy, nguyện gặp
    Tăng đoàn thanh tịnh, nguyện gặp chúng bồ tát quảng
    đại thần thông, đó là những điều chúng con nguyện
    mong, chúng con không còn ham chuyện sinh tử. "
    Bấy giờ, đại bồ tát Dược Quân cùng với năm trăm
    vị bồ tát, từ chỗ ngồi đứng dậy, dùng thần lực bay lên
    tầng không, ngồi kiết già, nhập chánh định. Từ sắc
    thân các ngài hóa hiện thành sư tử, cọp, rắn, voi, thị
    hiện nhiều thần biến. Các ngài lại ngồi kiết già trên
    đỉnh núi, và thăng cao hai mươi do tuần, hóa hiện thân
    mình thành mười ngàn triệu mặt trời, mặt trăng, tỏa
    ánh sáng lớn xuống toàn thể Pháp hội.
    Khi ấy những người ít tuổi nói với đức Thế tôn,
    "Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà thế giới này
    lại có luồng ánh sáng lớn cùng với biết bao nhiêu thần
    biến như vậy?"
    Đức Thế tôn đáp, "Thiện nam tử, các ông có thấy
    mặt trời và mặt trăng kia không?"
    Họ đáp, "Thưa Thế tôn, chúng con có thấy. Thưa
    Thiện thệ, chúng con có thấy."
    Đức Thế tôn nói, "luồng ánh sáng lớn và những
    thần biến ấy là do các đấng Bồ tát dùng thân thể của
    chính mình hóa hiện cho các ông thấy. Rồi chư bồ tát
    sẽ vì hạnh phúc lợi ích của rất nhiều chúng sinh mà từ
    bi giảng chánh pháp, sẽ vì lợi ích của chúng hội đông
    đảo, của người và trời. Ở đây, sau khi thể hiện cho các
    ông thấy thân vật lý và năng lực của tinh tấn, chư bồ
    tát sẽ còn nhiều thần biến khác."

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 99


    Họ nghe xong, thưa rằng. "Xin Thế tôn cho pháp,
    để cho luồng ánh sáng lớn này được hiện."
    Đức Thế tôn nghe xong nói với đại bồ tát Dược
    Quân rằng, "Dược Quân, ông có thấy tam thiên đại
    thiên thế giới chấn động sáu cách?"
    Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, con có thấy. Thưa
    Thiện thệ, con có thấy."
    Bồ tát Dược Quân còn đang băn khoăn không rõ
    nên hỏi về việc này hay chăng, thì đức Thế tôn nói,
    "Dược Quân, ông có thắc mắc gì cứ hỏi. Như lai sẽ vì
    ông mà trả lời tất cả. Dược Quân, Như lai sẽ giải thích
    tất cả mọi việc trong ba thời quá khứ, hiện tại, và vị
    lai."
    Dược Quân đáp, "Vậy xin Thế tôn lên tiếng xoá tan
    nghi hoặc. Thưa Thế tôn, con thấy quanh Như lai có
    tám mươi bốn ngàn thiên tử, tám mươi bốn ngàn triệu
    bồ tát, mười hai ngàn triệu long vương, mười tám ngàn
    triệu ác quỉ, hai mươi lăm ngàn triệu quỉ đói và quỉ ăn
    tinh khí."
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, họ đến tụ tập trước
    mặt Như lai và ngồi lại là để nghe Pháp, không vì lý
    do gì khác. Dược Quân, ngay hôm nay họ sẽ chiến
    thắng luân hồi. Nhờ một niệm vì chúng sinh mà hôm
    nay họ sẽ an trú Thập địa. An trú thập địa rồi, sẽ vào
    cảnh giới niết bàn.
    Muốn thoát già, chết,
    Nên làm việc lành,
    Tạo quả an lạc,

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 100

    Cởi nút phiền não,
    Nhờ đó bước vào
    Dòng giống của Phật.
    Dược Quân nói, "Thưa Thế tôn, tùy nghiệp quả mà
    phát sinh đủ loại cảnh giới cho chúng sinh. Vì sao
    chúng sinh vẫn còn ở lại cạnh đức Thế tôn nhiều đến
    như vậy?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông hãy nghe đây.
    "Người phàm phu mê muội,
    Không biết đâu là nơi
    Mình sẽ được giải thoát.
    Hôm nay người ít tuổi
    Sẽ nắm được Tổng Trì,
    Thành tựu được thập địa,
    Làm được việc Phật làm,
    Chuyển bánh xe chánh pháp,
    Rãi xuống mưa chánh pháp.
    Vì vậy mọi chúng sinh
    Ở trong Pháp hội này,
    Đều hoan hỉ nghe Pháp.
    Trời, rồng, và quỉ đói,
    Cùng giống a tu la,
    An trụ thập địa rồi
    Sẽ vận dụng Pháp Âm
    Nói chánh pháp vi diệu.
    Sẽ gióng trống đại pháp,
    Sẽ thổi loa đại pháp.
    Còn những người ít tuổi
    Nắm được lực tinh tấn,
    Thành tựu được các Pháp,
    Đồng bậc với Như lai."

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 101

    Khi ấy năm ngàn người ít tuổi từ chỗ ngồi đứng
    dậy, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, thưa
    rằng,
    "Làm sao có thể
    Không muốn kết thúc
    Sinh tử cho được.
    Kính thưa Thế tôn,
    Thân là gánh nặng,
    Toàn sự sợ hãi,
    Thật khó kềm chế.
    Đường đi không thấy,
    Và cũng không có
    Đường đi nào cả,
    Vì mắt mù lòa,
    Chúng con không gặp
    Được nơi nương dựa.
    Hôm nay đồng tâm
    Thỉnh cầu một việc:
    Nguyện đấng đạo sư
    Cho chúng con được
    Lắng nghe chánh pháp.
    Chúng con sinh ra
    Không nhiều trí tuệ
    Không ham khoái lạc
    Xin Phật nói Pháp
    Giải thoát chúng con
    Ra khỏi khổ đau
    Bủa vây dày kín.

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 102

    Nguyện sinh ở đâu,
    Cũng đều thấy Phật."

    Bấy giờ đại bồ tát Dược Quân đến chỗ những người
    ít tuổi đang đứng, nói rằng,
    "Các ông hãy ăn
    Đồ ăn ngon miệng.
    Bao giờ thấy tâm
    Không còn khiếp sợ,
    Bấy giờ các ông
    Chuẩn bị nghe Pháp."
    Họ hỏi,
    "Thưa, ngài là ai?
    Chúng tôi không biết
    Hồng danh của ngài.
    "Chúng tôi thấy ngài
    Sắc thân tuyệt hảo,
    Tướng mạo uy nghi
    Chứa đầy định lực
    Như người thoát khỏi
    Thế giới kinh hoàng
    Của loài quỉ đói,
    Địa ngục, súc sinh,
    Mọi điều bất thiện
    Đều tuyệt không còn.
    "Chúng tôi thấy ngài
    Tay cầm bình bát
    Bằng bảy ngọc quí,
    Thân mang chuỗi vàng
    Trang nghiêm tỏa sáng.

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 103

    "Những lời thanh tịnh
    Ngài vừa nói ra,
    Chúng tôi không biết
    Trả lời thế nào.
    "Thức ăn hảo hạng,
    Cùng các thức uống,
    Đối với chúng tôi
    Thật không cần thiết.
    Thức ăn thành phẩn,
    Cũng như nước uống
    Trở thành nước tiểu;
    Máu đến từ nước,
    Thịt đến từ máu,
    Thức ăn thức uống,
    Chúng tôi không cần.
    Lụa, len, vải vóc,
    Chúng tôi không cần.
    Vòng vàng chuỗi ngọc,
    Nhẫn đeo trên tay,
    Chúng tôi không cần,
    Toàn là vô thường,
    Phải chịu sinh diệt.
    Chúng tôi là những
    Con người bất hạnh,
    Không muốn để mình
    Lún sâu sinh tử,
    Nếu muốn đến với
    Niềm vui chư thiên,
    Đến với chánh pháp,
    Điều cần nhất là
    Bậc thiện tri thức.

    104 Kinh Chánh Pháp sanghata trang 104


    Ngay cả những bậc
    Vua chuyển pháp luân
    Cũng chẳng cần gặp.
    Vua chuyển pháp luân
    Khi lìa dục giới
    Cũng vẫn phải chết,
    Con trai con gái
    Đều không thể theo,
    Bảy loại ngọc quí
    Đều phải để lại.
    Trăm vạn quần thần
    Đều không thể theo,
    Không thể đi trước,
    Cũng không cách gì
    Đuổi theo sau đó.
    Vua chuyển pháp luân
    Chỉ được một đời,
    Khi nghiệp báo cạn
    Lại phải đọa rơi
    Chịu cảnh vô thường.
    Vì trong quá khứ,
    Phạm nhiều ác nghiệp
    Nên ngục Hào khiếu
    Cũng sẽ rơi vào.
    Dù trong cõi thế
    Vua chuyển pháp luân
    Nhờ có trong tay
    Bảy loại ngọc quí
    Nên nắm giữ hết
    Bốn đại bộ châu.

    Kinh Chánh Pháp sanghata 105


    Nhưng khi đọa vào
    Địa ngục Hào khiếu,
    Quyền năng vĩ đại
    Biến cả đi đâu?
    Không còn đất đứng,
    Người đã chết rồi,
    Không thể hóa hiện
    Thần thông quyền biến.
    "Thưa ngài, xin hãy
    Nghe lời chúng tôi.
    Hãy lên đến nơi
    Như lai trú ở.
    Như lai cũng như
    Là bậc cha mẹ,
    Chúng tôi tha thiết
    Mong gặp Như lai.
    Chúng tôi không có
    Cha mẹ anh em,
    Như lai là người
    Độ cả thế giới.
    Là cha mẹ của,
    Toàn thể chúng sinh.
    Là chính bản thân
    Mặt trăng mặt trời,
    Khai mở con đường
    Đưa đến an lạc,
    Cứu độ tất cả
    Ra khỏi luân hồi,
    Thoát cảnh sinh tử.

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 106

    Biển dục lớn lao
    Thật đáng kinh hãi;
    Như lai là bè
    Chở chúng sinh qua
    Đến bờ bên kia,
    Không còn trở lại.
    Như lai nói Pháp
    Viên mãn trong sáng,
    Chỉ con đường đến
    Vô thượng bồ đề.
    "Thức ăn không cần.
    Đến cả vương quốc
    Cũng đều không cần.
    Vì không muốn rơi
    Vào cảnh địa ngục,
    Nên chẳng tìm cầu
    An lạc chư Thiên.
    "Thân người là quí.
    Chính ngay thân ấy
    Có thể xuất hiện
    Một đấng Như lai.
    " Đời sống ngắn ngủi.
    Lắm kẻ quẩn quanh
    Vận dụng tâm mình
    Làm điều bất thiện.
    Không biết nỗi chết,
    Đắm dục thế gian,
    Lầm trong sinh tử,
    Không từng sợ hãi,

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 107

    Không chút trí tuệ,
    Tâm trí loạn động,
    Ngắn ngủi không bền,
    Không biết diệu pháp,
    Không làm việc thiện,
    Không biết chánh định,
    Đến khi mạng chung
    Cũng không hối hận,
    Trôi lăn trong cõi
    Tái sinh vô tận
    Chịu khổ triền miên.
    "Vì trong quá khứ
    Đã từng đánh đập,
    Cướp bóc người khác
    Cho nên tạo nghiệp
    Bị trói bị giết,
    Hy vọng lụi tàn,
    Gánh nhiều hoang man,
    Đớn đau khổ não.
    Đến giờ phút chết
    Than vãn đủ điều,
    ‘Ai sẽ là người
    Che chở cho tôi?
    Tôi tặng tất cả
    Vàng bạc châu báu,
    Sẽ làm nô lệ,
    Làm hết mọi điều.
    Tôi không còn muốn
    Khoái lạc thế gian.
    Tiền bạc của cải,
    Tôi cũng không cần.

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 108


    Không muốn tấm thân
    Chứa đầy ác nghiệp.’
    "Thưa bậc tiền bối,
    Tương tự như vậy,
    Thức ăn chúng tôi
    Cũng không thấy cần.
    Vua chúa hưởng toàn
    Cao lương hảo hạng,
    Rồi vẫn phải chết.
    Vua ăn thức ăn,
    Mang chất cứng lỏng
    Vào trong thân mình,
    Vốn toàn rỗng không,
    Không là gì cả.
    Tham đắm mùi vị,
    Làm việc bất thiện.
    Vì sao phải tham
    Vào thứ mùi vị
    Toàn tướng vô thường
    Rỗng không vô nghĩa?
    Chúng tôi không ham.
    Thức ăn thật là
    Điều không cần thiết.
    Ăn vào có giúp
    Giải thoát được không?
    Tương tự như vậy,
    Đời sống nơi này
    Cũng không cần thiết.
    Điều chúng tôi cần
    Chính là chánh pháp.

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 109


    Chúng tôi cầu thoát
    Ràng buộc thế gian.
    Chúng tôi cầu thoát
    Khỏi lòng tham ái,
    Cởi thoát phiền não,
    Cầu qui y Phật,
    Là đại thánh hiền,
    Là đại cứu độ,
    Thấy suốt khổ não
    Của cả chúng sinh.
    "Xin bậc tiền bối
    Hãy vì chúng tôi
    Mà đến bên Phật,
    Cúi đầu đảnh lễ.
    "Chúng tôi không biết
    Hồng danh của ngài
    Xin ngài cho biết
    Tên ngài là chi?"
    Bấy giờ Bồ tát Dược Quân đáp,
    "Các ông cùng mọi người
    Đều hỏi danh tánh tôi
    Quanh Như lai có cả
    Ngàn triệu người ít tuổi"
    Họ đáp,
    "Ngài là đệ tử Phật,
    Hồng danh hẳn thâm thúy,
    Chắc chắn rất uy nghi.
    Tất cả mọi chúng sinh
    Đều mong nghe danh tánh."

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 110

    Dược Quân đáp,
    "Tên tôi là ‘Dược Quân.’
    Là thuốc của chúng sinh,
    Tôi bây giờ sẽ nói
    Cho các ông cùng nghe
    Về loại thuốc quí nhất
    Trong tất cả các thuốc.
    Chúng sinh gặp bịnh khổ
    Nhờ vào liều thuốc này
    Chữa được mọi chứng bịnh.
    Tham dục là trọng bịnh,
    Hủy hoại toàn thế giới.
    Vô minh là trọng bịnh,
    Khiến cho người mê muội
    Phải lỡ bước lầm đường,
    Khiến chúng sinh đọa xuống
    Cõi địa ngục, súc sinh.
    Sân si là trọng bịnh,
    Thuốc này đều chữa được."
    Họ nói,
    "Nghe được Pháp lành này
    Chúng tôi sẽ giải thoát
    Khỏi khổ não, vô minh.
    Khổ não thoát được rồi
    Mọi tâm lý bất thiện
    Đều từ bỏ được hết.
    Nhờ được nghe chánh pháp
    Việc bất thiện bỏ rồi,
    Chừng đó mọi sợ hãi
    Chúng tôi đều bỏ được.

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 111


    Nguyện mau thấy Phật đà
    Là thầy thuốc giỏi nhất
    Sẽ chữa lành mọi bịnh
    Xóa hết mọi khổ đau.
    Thưa ngài, xin hãy mau
    Đến bên cạnh Như lai,
    Đảnh lễ và qui thuận,
    Chuyển lời của chúng tôi
    Thỉnh cầu bậc cứu độ,
    Cầu xóa tan bịnh khổ.
    Thân chúng tôi bỏng cháy,
    Thiêu đốt không hề ngưng.
    Xin đức Phật từ bi,
    Dập lửa bất trị này.
    Thân vốn là gánh nặng,
    Khó bỏ và khó kham,
    Mang đến đầy khổ não.
    Chúng sinh cứ không ngừng,
    Chịu gánh nặng sân si,
    Cứ trôi lăn như vậy,
    Không biết đường tháo gỡ,
    Không biết cách giải thoát,
    Cũng không thấy được đâu
    Là con đường giải thoát.
    Vậy mà đến khi chết
    Vẫn chưa từng biết sợ.
    Tâm chìm trong mê muội.
    Vọng tưởng chẳng mất đi,
    Chúng sinh nhiều lần chết
    Mà vẫn cứ mãi quên.

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 112


    Chúng sinh không nghĩ xa,
    Không hiểu rằng bịnh khổ
    Sẽ đeo đuổi theo hoài.
    Ăn là khiến thân mòn
    Mà vẫn không từng biết.
    Kiệt sức vì phiền não
    Mà vẫn không từng hay.
    Từ vô minh mà ra
    Biết bao nhiêu phiền não
    Tưởng, thọ cùng với hành
    Là gánh nặng đáng sợ
    Trôi lăn trong ái thủ,
    Không biết đến chánh pháp
    Thân gánh nặng trĩu đầy.
    Sinh ra trong cõi này,
    Thật không chút ý nghĩa.
    Thân thể được tưng tiu,
    Tắm rửa và xoa nắn,
    Khoát y áo thanh lịch,
    Rồi sẽ được những gì?
    Lại đam mê vị ngọt,
    Tai chỉ cầu tiếng hay
    Của năm loại nhạc cụ,
    Mắt chỉ cầu tướng đẹp
    Của châu báu ngọc ngà,
    Lưỡi chỉ nếm vị ngọt,
    Thân chỉ chạm vật êm,
    Thịt da cùng thân thể
    Đều trau chuốc giữ gìn.

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 113

    Thân này vốn vô nghĩa,
    Chỉ ham khoái lạc thôi,
    Nuông chìu cả đôi chân,
    Quần êm cùng giày đẹp.
    Đứng trước thềm sinh tử,
    Trang sức cùng y phục
    Chẳng giúp được thân này.
    Thân này, không thể giúp,
    Trang sức để làm chi?
    Lấy thân, gọi là ‘người’,
    Biết hô hấp, biết nghe,
    Biết tư duy suy nghĩ,
    Thân biết được lắm điều.
    Trong những thời quá khứ
    Đã từng có ngựa, voi,
    Nhưng không biết chánh pháp
    Chẳng chăm lo tu hành,
    Mải mê việc bất thiện,
    Không biết đến đời sau,
    Chỉ rong chơi vui đùa,
    Trôi lăn trong sinh tử.
    Cái chết đến gần kề,
    Thêm một lần khổ não.
    Tiếng khóc than vây kín.
    Mẹ chết rồi đến cha,
    Rồi thân nhân họ hàng,
    Con chết, vợ cũng chết,
    Ngũ uẩn toàn là không,
    Chỉ có tâm mê đắm
    Tự ràng buộc lấy mình,

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 114

    Để tham dục nung nấu
    Tưởng là thứ đáng tin.
    Pháp Định vốn khó thấy,
    Chết không có gì vui,
    Tâm mê mờ tham lam,
    Không từng biết san sẻ.
    Trong tất cả ác pháp,
    Lòng tham là nặng nhất
    Vậy mà không biết tránh.
    Chúng tôi lỡ sinh ra,
    Là bởi tâm mê lầm,
    Cả thế gian mê muội,
    Tuy nghe được âm thanh,
    Nhưng không thấy chân tướng
    Nhiệm mầu của thiện pháp.
    Chúng tôi chỉ mong cầu
    Giải thoát và thiền định.
    Thân người là gánh nặng
    Chúng tôi không ham nữa.
    Nguyện vì khắp chúng sinh
    Trầm luân trong cõi thế
    Mà thành bậc chánh giác,
    Thành đức Phật, Đạo Sư.
    Phật là mẹ, là cha,
    Phật là người dẫn đường,
    Tạo nhân cho mưa rơi
    Đầy những loại ngọc quí
    Trên toàn cõi Diêm phù.
    Kẻ phàm phu không biết,
    Tập hợp Pháp là gì.

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 115

    Phải phát tâm bồ đề
    Thì tập hợp chánh pháp.
    Tất cả mọi sự vật
    Do yếu tố kết hợp,
    Thực chất đều là Không.
    Cũng tương tự như vậy,
    Cảnh khoái lạc sang giàu
    Thực chất cũng là Không.
    Đến khi thấy ngay cả
    Bản thân cũng là không
    Thì lòng tham không còn.
    Kính thưa đức Dược Quân,
    Xin nghe chúng tôi nói.
    Hãy vì chư bồ tát,
    Chuyển lời dùm chúng tôi.
    Nhớ khổ nạn luân hồi,
    Bồ tát không mỏi mệt,
    Tâm tinh tấn dũng mãnh,
    Giới hạnh thật trang nghiêm,
    Tích lũy mọi tánh đức.
    Xin ngài đến tận nơi
    Trú ở của Đạo sư,
    Là bậc Trí viên mãn,
    Hàng phục mọi ma quân
    Không từng thấy mệt mỏi,
    Thỉnh cầu dùm chúng tôi,
    Rằng ‘Thưa đức Thế tôn,
    Thế tôn đã chiến thắng
    Tất cả mọi ma vương
    Làm tiêu tan ma lực.

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 116

    Xin nâng đỡ giữ gìn
    Cho tất cả chúng sinh
    Cùng đạt được trí Phật.’
    Vì chúng tôi chưa được
    Nghe pháp lợi cho mình
    Nên kính xin tiền bối
    Hãy đi cho thật nhanh.
    Chúng tôi chưa từng thấy
    Ba hai tướng Như lai,
    Nên vẫn chưa qua được
    Đến bến bờ bên kia.
    Chúng tôi xin kính cẩn,
    Kiên nhẫn đợi tin ngài."

    Dược Quân nói,
    "Các ông hãy nhìn
    Lên phía trên cao
    Xem thử có gì
    Đang ở trên ấy?"

    Họ nhìn lên trên và thấy tất cả ba ngàn năm trăm
    tòa thành lộng lẫy, đầy khắp không trung, trang hoàng
    đủ bảy loại ngọc quí, rèm treo lưới ngọc. Bên trong
    hoa rũ, hương thơm thanh khiết thoảng ngát không
    gian.

    Họ hỏi, "Vì sao lại có những tòa thành lộng lẫy, rèm
    treo lưới ngọc, đầy chuỗi hoa sen?"

    Dược Quân đáp,
    "Tòa sen này để
    Đưa các ông đến
    Diện kiến Phật đà,
    Đưa các ông đến
    Cảnh giới Như lai.

    Kinh Chánh Pháp sanghata 117


    Phật là vị thầy
    Siêu việt thế giới.
    Phật là ánh sáng
    Của cả thế gian."
    Họ nói,
    "Chúng tôi không biết cách đi,
    Chúng tôi không thấy Như lai,
    Chúng tôi không biết lối đi.
    Ở đâu có thể
    Đảnh lễ Phật đà?"
    Dược Quân đáp,
    "Như vòm trời cao
    Không thể với tới,
    Chẳng ai có thể
    Đảnh lễ Phật đà,
    Là người ban cho
    Sự không sinh tử.
    "Như núi Tu Di
    Là cảnh giới thật.
    Phật ở chốn Phật,
    Cao như Tu Di,
    Sâu như biển cả.
    Tất cả bụi mỏng
    Của cả ba ngàn
    Đại thiên thế giới
    Đều có thể đếm,
    Nhưng không thể biết
    Như lai đang hiện
    Ở nơi chốn nào.

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 118


    Bồ tát mười phương
    Đều đến cúng dường
    Ánh Sáng Thế Giới."
    Họ nói,
    "Chúng con nguyện thấy
    Bậc đại cứu độ.
    Chúng con nguyện được
    Toàn hảo như Phật.
    Chúng con chúng sinh
    Nguyện đảnh lễ Thầy,
    Nguyện đạt thiện quả."
    Dược Quân đáp,
    "Đạo Sư là người
    Dẫn dắt chúng sinh
    Ra khỏi luân hồi.
    Đạo sư là người
    Nâng đỡ chúng sinh,
    Không ham hương hoa,
    Vòng hoa, hương xoa.
    "Đến với Như lai,
    Là bậc chiến thắng
    Toàn thể tâm thức,
    Ngay cả ma vương
    Khó trị bậc nhất
    Cũng không dám phiền.
    Rồi chúng sinh sẽ
    Sớm đạt Tổng trì
    Không bị sức mạnh
    Cái chết thao túng.

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 119


    "Tâm tin tưởng trong sáng
    Chí thành hướng về Phật
    Tâm ấy chắc chắn sẽ
    Được diện kiến Như lai."

    Bấy giờ đức Thế tôn, Như lai, mỉm miệng cười ngọt ngào như tiếng chim Ca Lăng Tần Già. Bồ tát Dược Quân từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, nói rằng, "Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà Thế tôn mỉm miệng cười, khiến cho tám mươi bốn ngàn ánh sáng từ mặt đức Thế tôn phóng ra?" Tam thiên đại thiên thế giới đầy cả ánh sáng, ba mươi hai đại địa ngục đầy cả ánh sáng, và đến cả ba mươi hai tầng trời của chư thiên cũng rực ánh sáng. Những tia sáng đủ màu, xanh, vàng, đỏ, trắng, cam, pha lê, bạc v.v. phóng ra từ mặt đấng Thế tôn, làm sáng ngời hỉ lạc lòng chúng sinh của cả tam thiên đại thiên thế giới, rồi quay về, theo hướng bên phải của đức Thế tôn bay quanh bảy vòng, biến mất trên đỉnh của đức Thế tôn."
    Rồi đại bồ tát Dược Quân lại hỏi, "Con có điều chưa hiểu, xin Như lai, úng cúng, Chánh biến tri cho con được hỏi."
    Đức Thế tôn nói với đại bồ tát Dược Quân, "Dược Quân, ông cứ hỏi, Như lai sẽ vì ông mà trả lời."
    Dược Quân hỏi, "Thưa Thế tôn, hôm nay có ba mươi ngàn lần triệu người ít tuổi hiện ra. Họ hiểu được nghĩa lý thâm thúy vi diệu của lời Như lai giảng, và nói với người nhiều tuổi như sau, ‘này người nhiều tuổi, các ông không biết chánh pháp.

    Kinh Chánh Pháp sanghata trang 120

    Các ông luôn chấp vào những điều bất thiện trái chánh pháp, không tin vào diệu pháp, nói lời khinh xuất, làm đủ điều tác hại.’ Thưa Thế tôn, vì sao lời họ nhẹ nhàng dễ nghe?"
    Đức Thế tôn nói, ‘Dược Quân, ông không biết vì sao họ nói lời như vậy? Đó là họ nói lời nhẹ nhàng dễ nghe cho Như lai. Dược Quân, nhờ nghe Pháp, họ sẽ nhớ ý nghĩa của tất cả các Pháp, sẽ được mọi tánh đức, tất cả sẽ chứng đắc Tổng trì. Từ hôm nay, họ sẽ được đặt vào địa vị Thập địa. Ngày hôm nay, họ sẽ gióng trống đại Pháp, sẽ nhiếp thọ được toàn bộ chánh pháp. Dược Quân, ông có thấy những tòa thành kia không?"
    Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, con có thấy. Thưa Thiện thệ, con có thấy."
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, hôm nay người ít tuổi sẽ bước vào những tòa thành đó, sẽ có được trí tuệ trong sáng về các pháp. Ngay chính hôm nay họ sẽ thành tựu viên mãn mọi thiện pháp. Hôm nay, họ sẽ đánh trống đại pháp. Hôm nay, cõi chư thiên sẽ có được trí tuệ trong sáng về chánh pháp. Chúng sinh cõi địa ngục và nhiều chốn tối tăm khi nghe được biểu hiện của trí tuệ toàn hảo Như lai, sẽ phá tan luân hồi, thành bậc tối thắng. Đến khi chín mươi ngàn triệu chúng sinh nhiều tuổi sẽ đắc quả Tu đà hoàn. Tất cả đều nhiếp thọ chánh pháp. Dược Quân, tất cả đều sẽ từ bỏ khổ não, đều thấy được Như lai. Tất cả cũng đều thành tựu âm thanh trống đại pháp. Dược Quân, ông hãy nhìn ra bốn hướng."
    Đại bồ tát Dược Quân quan sát bốn hướng, thấy phương Đông chư bồ tát nhiều như cát trong năm mươi triệu sông Hằng kéo đến; phương Nam, bồ tát nhiều như cát trong sáu mươi triệu sông Hằng đều đến;

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 121

    phương Tây, bồ tát nhiều như cát trong bảy mươi triệu sông Hằng đều đến; phương Bắc, bồ tát nhiều như cát trong tám mươi triệu sông Hằng đều đến; không gian phía trên bồ tát nhiều như cát trong chín mươi triệu sông Hằng đều đến; không gian phía dưới bồ tát nhiều như cát trong một trăm triệu con sông Hằng đều đến. Họ đến trước mặt đức Thế tôn, ngồi ở hai bên.
    Khi ấy, đại bồ tát Dược Quân nói với đức Thế tôn, "Thưa Thế tôn, những sắc tướng đen và đỏ hiện ra trên vòm trời kia là gì?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, ông không biết những sắc đen và đỏ kia là gì? Như lai biết, Như lai sẽ nói cho ông nghe. Dược Quân, đó là ma vương. Ông có muốn thấy không?"
    Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, con muốn thấy. Thưa Thiện thệ, con muốn thấy."
    Đức Thế tôn nói, "Dược Quân, cũng tương tự như vậy, bồ tát nhiều như cát của một trăm triệu sông Hằng đã đến."
    Dược Quân nói, "Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà các vị bồ tát ấy đến đây?"
    Đức Thế tôn đáp, "Dược Quân, người ít tuổi là duyên lành cho chúng sinh nơi đây có được pháp Định. Dược Quân, ông có thấy rất nhiều chúng sinh đủ mọi sắc tướng, cùng nguồn năng lực gia trì vĩ đại đến từ thần lực?"

    Kinh Chánh Pháp Sanghata trang 122

    Dược Quân đáp, "Thưa Thế tôn, con thấy bồ tát nhiều như cát trong một trăm triệu sông Hằng, và bồ tát nhiều như cát trong một trăm ngàn tỉ triệu sông Hằng được đặt vào vô số thần lực, trú ở rất nhiều hình, sắc, tướng. Con thấy vô số bồ tát ấy được đặt vào Thánh vị, các vị bồ tát ấy cùng tùy thuộc đều được an trụ trong chánh pháp."
    Khi đức Thế tôn nói như vậy, đại bồ tát Phổ Dũng, đại bồ tát Dược Quân, những người nhiều tuổi và ít tuổi, cùng toàn thể chúng sinh khác trong pháp hội như trời, người, a tu la, càn thát bà, tất cả đều hoan hỉ, tán dương Pháp Phật vừa thuyết.
    ------------------------------
    [Kinh Chánh Pháp Sanghata kết thúc ở đây.]
    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  16. #16

    Mặc định

    Nam Mo Duoc Su Luu Ly Quang Vuong Phat
    VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY

  17. #17

    Mặc định

    Lành thay ,lành thay ,nước biển có thể cạn ,công đức của người vì chúng sanh mà tuyên thuyết kinh Chánh Pháp Đại Tập Hội này chẳng thể cùng tận vậy ,huynh COLONY với 123456789 đã có thể vì chúng sinh mà pót kinh này ,CTBN xin dùng tấm lòng thành mà khen ngợi ,cũng xin dùng lòng thành mà cúng dường kinh này .
    Nguyện thường thấy chư Phật, thường thấy Bồ tát, thường thấy chơn thiện tri thức, thường nghe chư Phật nguyện, thường nghe Bồ tát hạnh, thường nghe Bồ tát Ba la mật môn .

  18. #18

    Mặc định

    Cám ơn CTBN, mong cho đệ ngày càng tinh tấn trong đường đạo.
    VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY

  19. #19

    Mặc định

    Ko ngờ từ lâu xa đã có người post kinh này trc mình ah . Thật là sơ sót wa .

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. "sự cố" trong lễ hội "linh tinh tình phộc" năm canh dần
    By Bin571 in forum Các bài NC của XUANDIEN70
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 26-07-2011, 08:52 PM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 11-01-2010, 07:35 PM
  3. Trả lời: 9
    Bài mới gởi: 16-08-2008, 09:54 PM
  4. "Thiền" trong Pháp Bảo Đàn Kinh.
    By lotus74 in forum Thiền Tông
    Trả lời: 5
    Bài mới gởi: 16-01-2008, 04:23 PM
  5. Sách "Lời kinh xưa, buổi sáng này - Nguyễn Duy Nhiên"
    By do anh tuan in forum Sách Tôn Giáo
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 26-10-2007, 09:08 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •