Nguồn gốc các THẦN TÀI
![]()
Nguồn gốc các THẦN TÀI
![]()
NAM QUỐC sơn hà NAM ĐẾ cư
TIỆT NHIÊN định phận tại THIÊN THƯ
Đây là link Fanpage của Diễn đàn TGVH anh em nha https://www.facebook.com/thegioivohinh.fanpage/
Đây là Youtube của Diễn đàn hay đăng ký ủng hộ nhé : https://www.youtube.com/@thegioivohinh571
Tiktok1 - @thegioivohinh.571 : https://www.tiktok.com/@thegioivohin...9Wjn42o3s&_r=1
Tiktok2 - @thegioivohinh.com : https://www.tiktok.com/@thegioivohin...9WnFaFDRX&_r=1
sao lắm thần tài thế nhỉ.Mà đệ toàn thấy thần tài ngồi ở xó nhà là sao @_@
Phúc cho kẻ nào chưa thấy mà đã tin:dont_tell_anyone:
Bài sưu tầm rất bổ ích
Nam Mô Phật Lực Oai - Nam Mô Phật Lực Hộ - Vô Lượng Công Đức Phật - Tam Phủ Công Đồng - Tứ Phủ Vạn Linh - Linh Thiêng Non Sông Đất Việt
Nhộn nhịp chuẩn bị cúng vía thần Tài
Còn vương vấn chút ít không khí Tết, mùng 10 tháng Giêng hàng năm, nhà nhà lại nô nức sắm sửa lễ vật cúng vía thần Tài, mong được một năm làm ăn suôn sẻ, đắc lộc đắc tài.
Chị Châu, nhà ở đường Võ Thị Sáu, TP HCM, cho biết: “Tết nhất bận rộn với nhiều ngày cúng kiếng, mệt là vậy nhưng đến ngày cúng vía thần Tài là tôi lại phấn chấn hẳn. Cầu cho một năm thuận lợi, sung túc về tiền bạc thì ai lại chẳng muốn. Từ mùng 8 Tết tôi đã lên danh sách những món đồ cần mua để chuẩn bị mâm lễ thịnh soạn. Tôi cũng tự tay mình lo toan mọi thứ, không nhờ vả ai vì nghĩ phải tự tay mình thực hiện thì mới có thành ý”.
Hình tượng ông thần Tài quen thuộc mọi người với gương mặt hoan hỉ, tay cầm thỏi vàng, nhưng hiểu rõ về vị thần này thì không phải ai cũng biết. Thần Tài là vị thần chủ quản về tài lộc, được người phương Đông thờ từ rất lâu đời, vì mọi người đều mong muốn mình có nhiều tiền của, cuộc sống sung túc.
Chuẩn bị mâm cúng thần Tài. Ảnh: Hoàng Hải Bình
Tục thờ thần Tài của người xưa phân biệt: Văn Thần Tài và Võ Thần Tài. Văn thần Tài phù trợ cho người theo ngành “văn”, có nghĩa là những công việc văn phòng, sổ sách, giấy tờ, thơ ca hội họa… Còn Võ Thần Tài phù trợ cho gia chủ theo nghiệp “võ” như làm quan chức, chính quyền… Riêng việc kinh doanh thì “văn”, “võ” đều thờ thần Tài cả.
Đứng đầu là Chính nhất thần Tài Triệu Công Minh, có râu xồm, mặt đen dữ tợn, cưỡi hổ vằn, một tay cầm roi sắt, tay kia cầm chậu tụ bảo, thống lĩnh 4 bộ hạ gồm Chiêu Tài, Chiêu Bảo, Nạp Trân, Lợi Thị. Những tập đoàn kinh doanh, hay những công ty lớn thường thờ ông này, vì mang lại tiền lớn. Cúng Triệu Công Minh thần Tài vào ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch. Đồ cúng hết sức linh đình, công phu và thịnh soạn.
Hình tượng thần Tài phổ biến nhất là Văn Thần Tài, đội mũ cánh chuồn, râu đen 3 chòm, miệng cười rất tươi, tay cầm chậu tụ bảo hoặc thỏi vàng. Đây là vị thần được thờ cúng nhiều ở trong nhà, vì mang lại tài lộc và giữ tiền của cho gia chủ. Ông thường được thờ chung ở bàn thờ Thổ - Địa, tạo thành bộ 3: Ông Địa, Thần Tài, Thổ Địa.
Nói vui theo dân gian, thì cấp bậc của Văn Thần Tài thuộc “Trung ương”, tức là “công chức” trực thuộc Thiên Đình. Nhiều người thường nhầm Văn Thần Tài với Thổ Địa. Thổ Địa đội mũ vải, râu trắng 3 chòm, một tay cầm gậy đầu rồng, một tay cầm 3 thỏi vàng. Thổ Địa còn một tên khác là Phước Đức Chính Thần, là vị thần trông coi ghi nhận và ban Phước - Đức cho gia chủ. Nói cách khác, “tấu sớ” của Táo Quân hàng năm về chầu có phần đông “nhận xét” của Thổ Địa. Nếu gia chủ có nhiều nhà cửa, đất đai, thì Thổ Địa là người liên kết và theo dõi điền trạch đó. Xét theo cấp bậc, thì Thổ Địa cai quản một vùng rộng hơn ông Địa, cỡ “tổ dân phố”; còn cấp “quản lý” cao hơn là Thành Hoàng, thời xưa cai quản cả một làng, xã.
Còn lại trong bàn thờ đó là hình tượng ông Địa: bụng phệ, tay cầm quạt. Đây là vị thần trông coi nhà cửa, nói nôm na là “bảo vệ” nhà, giống như Môn Thần vậy. Trong tấm liễn sau lưng các ông có ghi “tiền hậu địa chủ”, thì ông Địa chính là hình tượng của các vị “chủ đất” này.
Trong vài năm gần đây, từ những công ty kinh doanh lớn đến các gia đình cũng thờ thần Tài đúng cách, nghĩa là bàn thờ Địa - Tài có đủ 3 ông, chứ không còn nhầm lẫn thần Tài với Thổ Địa nữa. Bàn thờ Địa - Tài có mặt trong hầu hết gia đình Việt Nam, nhiều bàn thờ được gia chủ dày công trang hoàng lên đến mấy chục triệu đồng.
Cúng Địa - Tài vào mùng 10 âm lịch hàng tháng rất thịnh soạn: phổ biến nhất là cúng thịt lợn quay và chè đậu đỏ. Từ xa xưa, lợn quay đã là món ăn đắt tiền và trang trọng trong những dịp lễ lớn nên dùng để cúng tế. Dân gian cũng truyền tụng thần Tài thích ăn lợn quay, nhưng chỉ cần cúng mặn là được, vì thần thánh thì vẫn ăn mặn, chứ không cần cúng chay như cúng Phật. Tuy nhiên đồ ăn cần tươm tất, vì ai cũng muốn tiền vào “đầy đủ”.
Riêng ngày mùng 10 tháng Giêng mọi người thường cúng lớn nhất, một số công ty kết hợp khai trương vào ngày này, do đây là ngày vía của thần Tài để may mắn thuận lợi hơn.
Cúng vía thần Tài phải chuẩn bị mâm lễ thịnh soạn có lợn quay (nhiều người thay bằng cá lóc nướng), một món mặn, một món xào, một món canh; trái cây có quýt, sơ ri, đu đủ vàng, đậu phộng sống; bộ tam sên; cải thảo, hẹ, xà lách, hành lá, tần ô; một dĩa xôi, 5 chum rượu, chè đậu đỏ… Nhiều người còn cầu kỳ luộc bắp cải tím và đặt bộ tam sên gồm trứng, thịt luộc, tôm luộc lên trên, với ý nghĩa hình tượng bắp cải luộc như bàn tay đang nắm giữ tiền. Có người cũng hóa vàng khi cúng vía thần Tài.
Hoàng Hải Bình
NAM QUỐC sơn hà NAM ĐẾ cư
TIỆT NHIÊN định phận tại THIÊN THƯ
Đây là link Fanpage của Diễn đàn TGVH anh em nha https://www.facebook.com/thegioivohinh.fanpage/
Đây là Youtube của Diễn đàn hay đăng ký ủng hộ nhé : https://www.youtube.com/@thegioivohinh571
Tiktok1 - @thegioivohinh.571 : https://www.tiktok.com/@thegioivohin...9Wjn42o3s&_r=1
Tiktok2 - @thegioivohinh.com : https://www.tiktok.com/@thegioivohin...9WnFaFDRX&_r=1
Gái điếm, ăn trộm thờ chung ’thần’?
18/02/2012 1247
Tổ nghề có đôi lông mày trắng (thần Bạch Mi) lạ lùng nhất trong các Tổ nghề. Không những thế, ông còn được các nhà chứa và giới ăn trộm "tranh giành" là ông tổ nghề của mình.
Do gần gũi về mặt địa lý cũng như có sự ảnh hưởng, giao thoa văn hóa với Trung Quốc mà ở Việt Nam, một thời, thần lông mày trắng (thần Bạch Mi) vẫn được không ít nhà chứa và nhiều tên trộm chuyên nghiệp thờ để được phù hộ cho được đông khách, dễ “làm ăn”.
Một ông tổ hai "nghề" thờ
Mặc dù là tổ nghề song lại là của những "nghề" khá nhạy cảm và bị xã hội lên án nên thường tục thờ thần Bạch Mi không được phổ biến rộng rãi hay nói khác chỉ những người trong "nghề" mới am tường.
Trong giới "buôn phấn bán hương", tục này được Đại thi hào Nguyễn Du miêu tả trong Truyện Kiều, đoạn Mã giám Sinh đưa Kiều về giao cho Tú bà, Tú bà bắt Kiều quỳ lạỵ tổ, như sau: “Giữa thì hương án hẳn hoi/Trên treo một tượng trắng đôi lông mày/Lầu xanh quen thói xưa nay/Nghề này thì lấy ông này tiên sư/Hương hoa hôm sớm phụng thờ/Cô nào xấu vía, có thưa mối hàng/Cởi xiêm trút áo sỗ sang/Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm/Đổi hoa lót xuống chiếu nằm/Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi”.
Như vậy, có thể thấy, phàm những nhà chứa, hoặc gái làng chơi xưa đều thờ cúng Thần Bạch Mi. Cứ đến mồng một, ngày rằm thì đều lấy khăn tay lau mồ hôi lau qua mặt Thần một lượt. Có làm như vậy mới được khách thương yêu lưu luyến không thôi.
Hoặc, trong lúc làm ăn vắng khách, bị ế hàng, chủ nhà chứa hoặc chính bản thân gái bán hoa đến trước thần Mày Trắng, trút bỏ cả quần áo, đốt hương van vái, cầu nguyện. Ðoạn lấy hoa mới cúng trên bàn thờ đem lót ở chiếu mình nằm, tất sẽ đắt khách hàng...
Ảnh minh họa
Trong giới "đào tường khoét vách" thì việc thờ vị thần này lại kèm theo những luật lệ nghiêm ngặt và phức tạp hơn. Chẳng hạn, ngoài những lễ cúng thông thường vào ngày rằm, mồng một, theo luật tổ, chỉ được truyền cho con cái ruột hoặc con rể chứ không được truyền cho người dưng. Nếu tuyệt tự thì có thể chọn con nuôi. Sau khi được tổ "ô kê", môn sinh uống rượu thề có pha tiết gà sống và bắt đầu theo chân sư phụ (thường là cha) học nghề ngay đêm đầu tiên.
Khi nhập môn được nhập môn với cấp "lôi". Môn sinh chỉ theo sư phụ để cảnh giới, cũng là học điều nghiên hiện trường. Đúng một năm sau, môn sinh sẽ được lên cấp "điện", được truyền dạy lý thuyết "phép" ẩn thân, độn thổ và được phép leo vô hàng rào phụ giúp khuân đồ mang ra ngoài.
Một năm sau, môn sinh mới được luyện thực hành ẩn thân và độn thổ, đồng thời học thêm "phép" bấm độn, đoán ngày xui, tháng hạn, giờ xuất hành. Thành thục phép này, có khi 2-3 năm, môn sinh mới được "thi" lên cấp "phong". Không vượt qua được cấp này, môn sinh sẽ bị sư phụ làm phép giải nghệ, cho đi... ăn mày.
Sau khi đạt cấp "phong", môn sinh phải thực hiện thành công đủ 99 vụ trộm mà không bị nạn nhân bắt quả tang mới được tiếp tục vượt qua một bài thi rất đơn giản để leo lên cấp "hỏa": Sư phụ bảo học trò nhập nha vào một nhà. Chờ cho học trò chui khuất vào trong, sư phụ... la làng: "Bớ làng xóm! Có ăn trộm!". Gã học trò phải tìm đủ mọi cách thoát thân an toàn. Đạt cấp "hỏa" xem như gã học trò được giữ chức "trợ lý ăn trộm" và có quyền lập bàn thờ tổ và nhận đệ tử. Gã trộm đạt cấp "hỏa" có đủ bản lĩnh xuất quỷ nhập thần, lỡ vận thất thời còn có thể làm thầy tử vi xem ngày giờ cưới gả, xuất hành, mua may bán đắt để độ nhật.
Từ cấp "hỏa" gã trộm phải tiếp tục nhập nha thành công 99 vụ để lên cấp, tuần tự theo: hỏa, sơn, thủy, thổ, mộc. Ở mỗi cấp cao hơn, đạo chích có thêm một số quyền năng nhiệm mầu hơn...
Thần Bạch Mi là ai?
Dù không phổ biến và chính thống nhưng chắc chắn ở Việt Nam có tồn tại việc thờ vị thần lông mày trắng này. Vậy thần Bạch Mi có xuất xứ từ đâu và tại sao được thờ?
Có hai thuyết nói về vị thần này còn gây nhiều tranh cãi. Thuyết thứ nhất cho rằng, đó chính là Tể tướng nước Tề thời Xuân Thu.
Nguyên đời Xuân Thu, Quản Di Ngô tức Quản Trọng được Tề Hoàn công vời đến, bàn về quốc sách trước khi được phong làm Tể tướng, có hỏi: "Làm sao có của đủ dùng trong nước?".Quản Trọng hiến kế thưa: "Khai mỏ để đúc tiền, nấu nước biển làm muối cho lợi chung cả thiên hạ, buôn để một chỗ, đợi dịp cao mà bán ra lấy lãi; lập 300 nhà nữ lư cho khách buôn bán đi lại tụ họp mua vui để lấy thuế....".
Lập "nữ lư" tức là lập nhà chứa gái để khách mua vui. Ðể họ làm lén hay khi khách mua hoa - nhất là hạng thương buôn - thì biết có chỗ. Thế là bọn gái nầy vừa có tiền, lợi cho cá nhân vừa nộp thuế làm lợi cho nhà nước.
"Nữ lư" có thể được coi như một tổ chức lầu xanh đầu tiên. Cho nên, nghề làm này "thì lấy ông nầy tiên sư", suy tôn là một vị tổ để cầu cho được phát đạt, cửa hàng đông khách và cũng như nhiều nghề khác... đều có tổ!
Quản Trọng có đôi mày trắng như trong tranh vẽ, được Hoàn công nước Tề phong làm Tể tướng, lại còn được các lầu xanh tôn là thần Bạch Mi làm tổ của nghề.
Ðời nhà Minh (1368-1648), các lầu xanh có tục lạ là đuổi vía, khi cô nào vắng khách, bị ế hàng thì đến trước thần Mày Trắng, trút bỏ cả quần áo, đốt hương van vái, cầu nguyện. Ðoạn lấy hoa mới cúng trên bàn thờ đem lót ở chiếu mình nằm, tất sẽ đắt khách hàng.
Một thuyết khác lại cho rằng, thần Bạch Mi chính là Hồng Nhai Tiên Sinh trong truyền thuyết cổ đại của Trung Hoa. Sách Vạn Trai tỏa lục kể rằng, kỹ nữ Hồng Nhai người thời Tam Hoàng, là người đầu tiên mở ra kỹ viện và được coi là thủy tổ của nghề kỹ nữ. Sách Lữ Thị Xuân Thu, Cổ Thi nói: “Thần Bạch Mi nguyên là bề tôi của Hoàng Đế có danh là Linh Luân, là người chế ra nhạc luật”.
Linh Luân nghe được tiếng chim kêu phân ra được 12 luật, Hoàng Đế mới sai Linh Luân đúc 12 chiếc chuông để hòa với ngũ âm”. Sách Lộ Sữ cũng chép: Linh Luân chế ra khánh để hòa với bát âm, đều hòa với ngũ âm thành ra lịch pháp, phối hợp với bát âm xếp thành ngôi thứ. Từ đó mấy kỹ nữ (gái làng chơi xuất thân từ nhạc công) mới lấy Thần Bạch Mi tức Hồng Nhai Tiên Sinh, hoặc gọi Linh Luân làm tổ sư gia.
Đến thời "Phản Thanh phục Minh", thành viên các "hội kín" được huấn luyện 5 kỹ năng tình báo gồm: hành thích (ám sát), hành tẩu (bỏ chạy), hành ẩn (ẩn trốn), hành quy (hóa thân) và hành phục (nhập vai) theo từng đẳng cấp. Căn cứ vào đẳng cấp, họ được phân vào vai ăn mày, thích khách, kỹ nữ để làm "tình báo" lấy thông tin.
Có thuyết còn cho rằng, các lực lượng phản Thanh phục Minh lấy các lầu xanh làm trạm giao liên. Để phân biệt với các lầu xanh bình thường, họ thờ Bạch Mi Lão Thần để làm ám hiệu. Công cuộc phản Thanh phục Minh thoái trào, nhân sự Thiên Địa Hội tỏa khắp các nơi, bị mất gốc và chuyển hóa thành... tệ nạn xã hội.
(Theo báo Đất Việt)
NAM QUỐC sơn hà NAM ĐẾ cư
TIỆT NHIÊN định phận tại THIÊN THƯ
Đây là link Fanpage của Diễn đàn TGVH anh em nha https://www.facebook.com/thegioivohinh.fanpage/
Đây là Youtube của Diễn đàn hay đăng ký ủng hộ nhé : https://www.youtube.com/@thegioivohinh571
Tiktok1 - @thegioivohinh.571 : https://www.tiktok.com/@thegioivohin...9Wjn42o3s&_r=1
Tiktok2 - @thegioivohinh.com : https://www.tiktok.com/@thegioivohin...9WnFaFDRX&_r=1
Thời kỳ này là thời kỳ mạc kiếp rồi. Mau lo tu hành đi, đừng có vọng phàm tâm mà ham mê vật chất nữa, cứ cầu tài riêng cho mình thì còn mang thêm tội tham đó, chúng ta nên cầu cho mưa thuận gió hoà, vạn dân yên vui no ấm, thiên hạ thái bình. Trong Kinh Đức Chí Tôn có dạy:
Sắc, tài, tửu khí hao hơi
Gắn công tu niệm thờ Trời tụng kinh.
Chúng ta nên giữ một đức Tin, nhứt tâm nhứt đức tin Cha Trời thiêng liêng là vô vi, đừng bày ra sắc tướng mà gieo thêm nghiệp chướng.
Tặng các bạn bài kinh Tu Chơn Thiệp Quyết, các bạn nương theo đó mà vững chí tu hành:
KINH TU CHƠN THIỆP QUYẾT
NGỌC LỊNH BAN HÀNH KHẢI CỮU CUNG
HOÀNG MÔN XUÂN SẮC TUỢNG UNG DUNG
THƯỢNG HÀNH HẠ HIỆU ĐÔ CÔNG QUẢ
ĐẾ ĐẠO HOẰNG KHAI CHIẾM THƯỢNG PHONG.
1- CUNG BẠCH NGỌC NGỰ LÂM BỮU TOẠ
Thọ Chư Thần triều hạ đã yên
Thân thân giá hạnh Nam Thiên
Trước xem Tam Giái, cháu Tiên Con Rồng
2- Đã đôi kiếp dày công nhọc sức
Dạy chúng sanh kỉnh Phật thờ Trời
Thương thay cũng tại số người
Ngạo lời Thánh huấn, kỉnh lời quỉ vương
3- Lòng chẳng kể Cang Thường là Đạo
Dạ hằng lo hung bạo làm đầu
Thấy vầy Thầy phải nghĩ sâu
Tam Kỳ Phổ Độ Nam Châu phen nầy
4- Lời Thầy phán rẽ mây vén ngút
Kinh Thầy ban chạm Ngọc, khảm vàng
Khác nào rọi đuốc chỉ đàng
Khuyên Con tạc dạ ghi xương chớ rời
5- Sách chép chữ khôi khôi Thiên võng
Đời ghi câu lộng lộng lưới giăng
Nhặt thưa mau, chậm cân phân
Mựa rằng sơ sót mắt Thần không sai
6- Thầy đã dạy nhiều bài vàng đá
Con nỡ đành chẳng dạ sắt đinh
Con hư Thầy phụ chẳng đành
Con nên, Thầy được phỉ tình ước ao
7- Đời hằng nói Trời cao có mắt
Sách thường biên Thái Nhứt Vô Hình
Minh mông đồ sộ rộng thinh
Mà soi xét đủ tình hình thế gian
8- Đây giáng bút ít hàng vắn tắt
Đặng trao lời vuông tất nhiệm mầu
Chớ rằng chẳng tiếng cao sâu
Khuyên thường chử dạ mựa hầu sai ngoa
9- Ơn cúc dục Công CHA, Nghĩa MẸ
Đức sanh thành nuôi bé dạy khôn
Tục rằng cây cội nước nguồn
Cây xanh nhờ có nước luôn tư mùa
10- Cùng bạn tác không dua, không nịnh
Với anh em, đừng phỉnh, đừng phờ
Thấy người quyền quí đừng mơ
Gặp người hoạn nạn chớ lơ lãng lòng.
11- Đạo quân tử vợ chồng gây mối
Mối Cang thường dòng dỏi trổ nên
Một lòng, một dạ vững bền
Sớm khuya dạy bảo nhủ khuyên ngọt ngào
12- Tình máu mũ đồng bào cốt nhục
Cũng rún nhao một cục xắn chia
Đừng toan chước quỉ phân lìa
Ở cho hoà nhã tiếng bia danh đồn
13- Đạo Thần Tử lo tròn phận sự
Nghĩa Tôi-Con nắm giữ thân danh
Sao cho công toại danh thành
Sao cho muôn thuở sử xanh tên đề
14- Cân Tạo hoá nhiều bề mắc mỏ
Máy Kiền Khôn hiếm chỗ cam go
Nước Đời sâu chống, cạn dò
Đừng chơi biển thẩm, chớ mò lạch khơi
15- Thần Tiên đã bày lời Trung Chánh
Thánh hiền còn thêm gánh nghĩa nhơn
Thương Đời chẳng biết công ơn
Chê bai thấp thỏi, chờn vờn cầu cao
16- Muốn đặng ngọc thì vào non thẩm
Muốn tìm vàng phải ngắm biển sâu
Muốn cho phú quí công hầu
Thì tua gắng chí dãi dầu tuyết sương
17- Ai cũng muốn Tây Phương lạy Phật
Sao không lo Thánh thất chầu Thầy
Vì Con, Thầy mới đến đây
Cạn phân lợi hại, tỏ bày thiệt hơn
18- Phải tích Đức, tu Nhơn làm trước
Lo tu Thân, tác Phước cho cần
Trên đầu có Thánh, có Thần
Có Trời, có Phật cầm cân chẳng lầm
19- Đừng tưởng chỗ tối tăm chẳng thấy
Chớ tưởng điều phải quấy không soi
Có câu khuynh phúc tài bồi
Nước sông rong, kém máy Trời vần xây
20- Vầng Nhựt-Nguyệt đêm ngày soi xét
Lẽ âm-dương, hàn-nhiệt giao thông
Có câu Thiên-Dịa chí công
Hoạ Dâm, Phước Thiện mãy lông chẳng chừa
21- Đừng tưởng lấy vải thưa che Thánh
Chớ tưởng dùng sức mạnh qua Trời
Đáng thương mà cũng đáng cười
Vì lòng kiêu ngạo dễ ngươi Cao Dày
22- Lòng bất nhẫn thêm bày ít đoạn
Dạ Từ bi phụ giảng vài bài
Khuyên Con tạc dạ chớ sai
Khuyên Con chớ thấy dông dài bỏ qua.
23- Nên xa lánh Dâm Tà Sắc Dục
Hư thân danh, điếm nhục Tổ tông
Hại nầy thiệt hại vô cùng
Phật-Trời chẳng chút thứ dung tội nầy
24- Ví kiếp trước dẫy đầy âm chất
Sa mê dâm, phước đức tiêu mòn
Hại mình, hại vợ, hại con
Hại luôn sự nghiệp, hại dồn đời sau.
25- Chước quỉ quái, lòng sâu, dạ độc
Kế tinh yêu, nước đục béo cò
Lập mưu thả lưới giăng dò
Hại người lương thiện, ấm no thân mình
26- Người cậy thế khôn lanh, xão trá
Trời dành phương Nhơn-quả, trả vay
Phủi tay chẳng kíp thì chầy
Reo cười chưa thoả, xin mày không cơm
27- Đành búng rãy ngày đơm, tháng giổ
Nỡ phụ phàng chim tổ, người tông
Ỷ mình đủ cánh, đủ lông
Quên ơn Cha Mẹ, phủi công Ông Bà
28- Tội bất hiếu phui pha đâu có
Chữ vô tư, tỏ rõ phải không ?
Kiếm đao, địa ngục song song
Đem vào trước dạy, vở lòng phanh gan
29- Chủ lường gạt, mua gian bán lận
Tớ gian tham, lời chận, lỗ thêm
Miếng môi chuốc ngót cho êm
Lường công, tiếc việc, dao ghim đầy lòng.
30- Phường sâu độc toan phòng ngọt mật
Tánh cưu mang nhữ bắt giết ruồi
Mưu sâu gẫm lại than ôi !
Hồi đầu báo ứng kêu Trời muộn thay
31- Ngày chí tối phô bày nanh vút
Sớm cùng trưa xúi giục kiện thưa
Xiết bao kế lận mưu lừa
Ôm gồm hai phía đỏng đưa đôi đàng
32- Cậy quyền thế tham quan ô lại
Giả xưng hô quý phái cao môn
Líu lo ba tấc lưởi dòn
Đã thâu của báu, lại bòn đồ xưa
33- Giọt thán oán như mưa thấy thảm
Tiếng bi ai dường sấm bên tai
Sống cho vạn ách Thiên tai
Thác cho kiếp kiếp đầu thai bồi thường
34- Dối Thần Phật, gạt lường tế độ
Phỉnh chúng sanh tu bổ chùa chiền
Trọng Tăng, kỉnh Phật Thiêng liêng
Lòng thành dưng cúng, bạc tiền sá chi
35- Nghề đồng cốt khinh khi Tiên bụt
Nghiệp bóng chàng đàn đột hư vô
Xác Ông, xác Cậu, xác Cô
Dưng chay, cúng mặn thế đồ vớt vong
36- Chẳng hiểu chữ sắc không, không sắc
Chẳng thông câu không có, có không
Giam vào vô để lao lồng
Chờ ngày phán đoán Đại đồng Thế gian
37- Kẻ bợ đở mua quan, bán bạn
Tánh nịnh lùa, giả dạng, cầu thân
Cũng phường mọt nước, sâu dân
Phú cho địa ngục trầm luân giam cầm.
38- Phô những lủ tìm tâm ích kỷ
Khắp các phường tính kế hại người
Hại người mình lại vui cười
Hoả khanh địa ngục đốt đời chẳng dung
39- Răn Đệ tử chớ dùng rượu thịt
Khuyên chúng sanh ráng ít chơi bời
Sắc-Tài-Tửu-Khí hao hơi
Gắng công tu niệm thờ Trời tụng kinh
40- Lời Thầy phán phải tin, phải tưởng
Tiếng Thầy răn chớ cượng chớ sai
Tu cho rạng tiếng Cao Đài
Cha hiền, Con thảo, Trai ngay, gái lành
41- Trối những kẻ khinh danh Đạo Cả
Thây các phường thoá mạ khi Thầy
Khoe khoang kiêu ngạo đặt bày
Đền xong tội thế, đến ngày gặp Ta
42- Đều biếng nhác bởi già nghiệp chướng
Tánh trù trì khó hưởng thanh nhàn
Khuyên Con giữ dạ bền gan
Lòng lo tu niệm Thiên đàng mau lên
43- Mãng những ước thành Tiên, thành Thánh
Mà quên lo tu Tánh, tu Tâm
Tu lo bồi đấp thiện căn
Tu cho Trung hiếu, nghĩa nhân vẹn tuyền
44- Tu là cứu Cữu huyền Thất Tổ
Tu là cần phổ độ chúng sanh
Cầu cho cãi dữ về lành
Cầu cho đất nước thái bình muôn năm
45- Tu cho được Thần khâm, quỉ phục
Tu cho nên thoát tục siêu phàm
Công danh quyền quí tước hàm
Mây tan, nước chảy mà ham nỗi gì
46- Thế thường nói tu chi cho nhọc
Để mà lo tước lộc công hầu
Sao không suy trước nghiệm sau
Tiền căn, hậu quả, bởi sao được vầy
47- Phân năng bón thì cây mới tốt
Rể thường tươi thì đọt mới xanh
Muốn cho cả cội sung nhành
Tu hành lo trước, sau dành thảnh thơi
48- Thầy thương xót ngùi ngùi kẻ dại
Muốn thành công mà lại ngao du
Phật mang tám nạn cũng tu
Thầy còn muôn kiếp công phu giải dầu
49- Ai dẫu được công hầu khanh tướng
Mà không lo tiếp dưỡng tài bồi
Gốc cây sùng đục đã rồi
Không trông nứt mục, nẩy chồi, đơm bông
50- Tu phước đức bền lòng cho lắm
Tên quỉ vương hay nhắm người tu
Mũi tên đã độc lại mau
Ghim nhằm một mũi khó hầu gở ra
51- Tên nó sắm những là rượu bọt
Tên nó giồi gái tốt, vàng ròng
Muôn ngàn tên độc vô cùng
Vương nhằm một mũi thì không còn hồn
52- Tu thì chớ bôn chôn nóng nảy
Tu thì cho quấy phải phân minh
Chánh tà, Chơn nguỵ được rành
Phật Trời mới chứng cho mình rằng tu
53- Tu cho được Phụ từ, Tử hiếu
Tu cho thành huynh hữu, đệ cung
Gái tu Tứ đức, Tam tùng
Trai tu Nhơn-nghĩa, Hiếu-trung làm đầu
54- Thế tưởng vậy là tu Nhơn Đạo
Nào hay rằng Thiên Đạo bởi đây
Chẳng lo Nhơn đạo cho dày
Mong thành Thiên đạo mặc may làm gì
55- Phật đã dạy Tam Quy Ngũ Giái
Đời chẳng tuân để hại Nguơn thần
Bởi thương nên mới phân trần
Vì thương nên mới ân cần nhủ khuyên
56- MỘT, khuyên phải Kiền thiền mộ Đạo
HAI, tuân lời Tam Giáo Thánh Nhơn
Đạo là Chí Chánh Chí Chơn
Những lời Thánh Huấn chạm xương ghi lòng
57- BA, khuyên nhớ Tổ Tông Công Đức
BỐN, lo tu đúng bực Cang Thường
Cha sanh, Thầy dạy kỷ cương
Anh em bạn tác, náo nương vợ chồng
58- NĂM, khuyên nhớ kẻ nông công khó
SÁU, xót thương tầm phụ nhọc nhằn
Cày sâu, cấy cạn bón phân
Làm nên tơ chỉ trăm phần lao đao
59- BẢY, liên lạc đồng bào huynh đệ
TÁM, khuyên đừng xua mỵ quyền môn
Sao cho tiếng ngợi danh đồn
Đáng trang đạo đức, phải tôn, phải vì
60- CHÍN, khuyên chớ khinh khi cô quả
MƯỜI, khuyên tua hỉ xã lỗi người
Khuyên đừng biết giận hờn ai
Xót người hoạn nạn, cứu nơi cơ hàn
61- Được vậy mới gọi trang Tu Tánh
Tánh tu rồi, mới định tu Tâm
Càng tu, càng thấy cao thâm
Càng tu, càng thấy sự lầm lạc xưa
62- Biết lầm lỗi thì chừa cho gấp
Đặng mau lo bồi đấp cội lành
Như vầy mới gọi tu hành
Như vầy mới gọi chứng minh Bồ Đề
63- Khuyên Con phải kiêng dè cho lắm
Mười lời khuyên như tẩm Cam lồ
Đêm ngày dầu tụng Nam Mô
Mà không noi giữ nhành khô rể còi
64- Mừng Con đặng có mòi tấn phát
Rưới cho Con nước mát mùi thơm
Bốn mùa hoa nở trái đơm
Hơi bay bát ngát, nhuỵ tươm ngọt ngào ./-
There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)
Bookmarks