Đỗ Tiến sĩ vì Thần bảo đỗ
09/03/2010 07:06:24
- "Tương truyền, tuy xuất thân trong nhà nho sinh nhưng gia cảnh nghèo khó quá nên Phạm Công Trứ định bỏ học và bỏ làng đi nơi khác tìm nghề kiếm sống. Đêm trước hôm ông định đi, Phạm Công Trứ nằm chiêm bao thấy một vị thần bảo rằng: - Hãy học, phải đến lúc muộn mới làm nên!"
“Lời thần nói là điềm của tôi”
Nguyễn Duy Thì (1572 - 1652) người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc) khi chưa thi đỗ có cùng bạn bè ở xã khác rủ nhau đến am Xuân Lôi ở xã Yên Phong cầu mộng. Mọi người vừa chợp mắt thì đã mơ thấy thần nhân đọc:
- Yên Lãng nhân, Yên Lãng nhân. Quốc gia an nguy, hệ ngã nhất thân.
(Nghĩa là: Người Yên Lãng, người Yên Lãng. Nước nhà yên hay nguy quan hệ đến một thân ta)
Mấy người tỉnh dậy bàn tán nhưng chẳng hiểu câu đó có ý gì, riêng Nguyễn Duy Thì Ông đáp ngay:
- Lời thần nói là điềm của tôi.
Về sau Nguyễn Duy Thì thi đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất (1598) đời Lê Thế Tông, giữ các chức quan như Tá lý công thần, Tham tụng, Thượng thư Bộ Hộ, do từng dẹp nội loạn, lập công lớn được kiêm chức Chưởng Lục bộ sự, Thái phó, tước Tuyền Quận công, được mở phủ đệ riêng. Sau khi mất, ông được tặng chức Thái tể.
Gắng học thành tài vì câu nói thần trong giấc mơ
Phạm Công Trứ (1600 - 1675), người làng Liêu Xuyên, tổng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên) là một nhà chính trị tài năng được xếp trong 39 người “phò tá có công lao tài đức” thời Lê Trung Hưng.
Ông đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1628) đời Lê Thần Tông, làm quan trải nhiều chức vụ trong 50 năm, phò tá 5 đời vua Lê, 2 đời chúa Trịnh, đến chức Quốc lão, hàm Thái bảo, tước Yên Quận công, khi mất được truy tặng Thái tể, ban tên thụy là Kinh Tế.
![]()
Giám khảo trường thi thời xưa. Ảnh NHN
Tương truyền, tuy xuất thân trong nhà nho sinh nhưng gia cảnh nghèo khó quá nên Phạm Công Trứ định bỏ học và bỏ làng đi nơi khác tìm nghề kiếm sống. Đêm trước hôm ông định đi, Phạm Công Trứ nằm chiêm bao thấy một vị thần bảo rằng:
- Hãy học, phải đến lúc muộn mới làm nên!
Vì thế ông hiểu ra bèn bỏ ý định kia và dốc chí học tập để rồi đạt đến đỉnh cao của công danh và quyền lực; là người mưu lược, luôn chăm lo việc nước, tài năng xuất chúng trên mọi lĩnh vực: Nội trị, văn hóa, sử học, ngoại giao.
Mộng thấy thần nói: “Đến già mới đỗ”
Nguyễn Thọ Quyến (1578 - 1672) người xã Lạc Sơn, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay thuộc xã An Lạc, huyện Chí Linh, Hải Dương), đỗ Thám hoa khoa Tân Mùi (1631) đời Lê Thần Tông, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Công, hàm Thiếu bảo, tước Cẩm Quận công.
Khi đi thi, ông lấy tên là Nguyễn Minh Triết, sau được vua phê đổi tên là Thọ Quyến (có sách ghi là Thọ Xuân) vì vậy các sách đăng khoa lục đều ghi là Nguyễn Minh Triết, ngoài ra ông còn có tên là Nguyễn Hậu Quyến.
Nguyễn Thọ Quyến từ nhỏ đã nổi tiếng học giỏi ngang với thần đồng xã Hoạch Trạch nên bấy giờ có câu: “Thần đồng Hoạch Trạch, tú Lạc Sơn” (tú Lạc Sơn là chỉ Nguyễn Thọ Quyến). Mặc dù học giỏi nhưng đường thi cử của ông rất lận đận, thi nhiều lần nhưng đều trượt, mãi đến năm 54 tuổi mới đỗ.
Tương truyền rằng có lần Nguyễn Thọ Quyến đến chùa Hương Hải cầu mộng (chùa này ở xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, Hải Dương). Thần nhân ứng vào giấc mơ nói rằng:
- Độc thư đáo lão vị thành thân (Đọc sách đến già cũng không nên người)
Nguyễn Thọ Quyến tức lắm mới nói:
- Ta thử cố sức, xem thần làm gì được ta.
Tuy nhiên ông vẫn buồn phiền mới đem chuyện đó kể với bạn, người bạn động viên và giải thích lại rằng, chữ “vị” nghĩa là “mùi” tức là: “Đọc sách đến già mới nên người”, như vậy đến khoa thi năm Mùi sẽ đỗ. Qủa nhiên khoa Tân Mùi (1631) Nguyễn Thọ Quyến thi đỗ mặc dù đề thi có 12 mục, ông chỉ làm có 4 và bỏ 8 mục.
Mơ thấy có người gọi mình là Tiến sĩ
Vũ Công Đạo (1629 - 1714) người xã Mộ Trạch, huyện đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là thôn Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương) từ nhỏ đã nổi tiếng là anh tuấn, thông minh, học vấn rộng rãi.
Năm Mậu Tuất (1658) gặp khoa thi Hương, Vũ Công Đạo đi thi nhưng nửa đường được tin mẹ mất liền quay về quê chịu tang, trong lòng rất lo buồn. Trên đường về, đêm đó ông vào ngủ nhờ tại chùa Vô Ngại (nay thuộc thôn Vô Ngại, xã Ngọc Lâm, huyện Mỹ Hào, Hưng Yên) và mộng thấy có tiếng gọi:
- Tiến sĩ đi đâu đấy!?
Ông vào gặp người giữ cửa và hỏi rằng:
- Có quan nào trong ấy?
Người giữ cửa nói:
- Mặc áo vàng ngồi giữa là Ngọc Hoàng thượng đế, mặc áo đỏ và mặc áo xanh ngồi hai bên tả hữu là Nam Tào, Bắc Đẩu đấy!
Ông liền tiến vào sâu yết kiến và hỏi việc thi cử của mình, bỗng nghe tiếng nói:
- Năm nay thi đỗ
Bất giác Vũ Công Đạo giật mình tỉnh giấc, ông nghĩ thầm chưa hết tang, lại vắng mặt không được thi thì còn trông mong gì việc đỗ.
Sang năm sau, mùa xuân Kỷ Hợi (1659) triều đình mở khoa thi Hội nhưng vì có việc nên lại hoãn đến mùa đông. Bấy giờ chúa Trịnh Căn xuống chỉ cho phép những người vắng mặt, đi thi thay nếu có văn chương, học giỏi thì đều tha cho cả để thu dụng nhân tài. Vì thế Vũ Công Đạo được miễn lệ và vào thi Hội, khoa đó lấy đỗ 20 người, trong đó có ông.
Vũ Công Đạo làm quan đến chức Đô ngự sử, Nhập thị kinh diên. Vì trái ý chúa, bị bãi chức (1683). Sau Trịnh Căn nghĩ đến sự thẳng thắn của ông nên lại khởi dụng làm Hữu thị lang Bộ Hình (1691), Hữu thị lang Bộ Lại (Theo Đại Việt sử ký lục biên).
Được cử đi sứ Nhà Thanh (1673), khi về được thăng chức Thượng thư Bộ Hộ, tước Thọ Lĩnh bá. Vũ Công Đạo còn là một thầy giáo xuất sắc dạy dỗ rất nhiều anh tài, học trò của ông có người đỗ đến Bảng nhãn, Thám hoa, Hội nguyên.
Đỗ đạt đã được thần báo trước
Hà Tông Huân (1697 - 1766), người làng Kim Vực (tên Nôm là làng Vàng), huyện Yên Định, trấn Thanh Hóa (nay thuộc xã Yên Thịnh, huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa) từ nhỏ đã nổi danh thần đồng, trí nhớ khác thường. Sách Đại Việt sử ký tục biên cho biết năm 12 tuổi ông đỗ ở quận, 16 tuổi đỗ Hương giải (cử nhân), rồi đỗ khoa Hoành từ.
Khoa thi năm Mậu Tuất (1718), Hà Tông Huân đỗ đầu kỳ Sĩ Vọng, đến khoa thi Đình năm Giáp Thìn (1724) niên hiệu Bảo Thái thứ 5 đời vua Lê Dụ nên ông là người đỗ cao nhất nước, đương thời vẫn quen gọi là Bảng Vàng, tức là bảng nhãn làng Vàng.
Sau khi đỗ đạt, Hà Tông Huân làm quan trải các chức Đốc đồng, Đốc trấn, Hiến sát, Thượng thư rồi Tể tướng đầu triều.
Đến 65 tuổi ông xin về trí sĩ, các quan đồng triều trong bài văn tiễn ông có khen ngợi Hà Tông Huân rằng: “…Thanh giá ông như vàng, ngọc; phẩm chất ông như phượng, loan… Làm quan trong, quan ngoài, đi đến đâu cũng đều tốt.
Khi gặp việc khó khăn, giống như bổ củi rắn, gỡ tơ rối, cũng chỉ nhón tay là xong. Tới đất khách ở núi Bắc, hùng biện mà lấy lại được bờ cõi xưa. Ở Nam quan tiếp khách quý, đối đáp làm cho bớt cung đốn.
Cho đến làm Thừa tuyên, làm Trấn phủ, gần thì Sơn Tây, Sơn Nam, xa thì Thái Nguyên, An Quảng ... đến đâu cũng làm phúc tinh soi sáng mọi phương, làm giọt mưa ngọt thấm nhuần khắp cõi. Lúc đến thì dân mừng, lúc đi thì dân nhớ ...”
Tương truyền khi còn nhỏ, một đêm Hà Tông Huân nằm mộng thấy có vị thần đến nói rằng:
- Hãy gắng học, bảng Tam khôi thế nào cũng có tên đề!
Về sau ông đỗ Bảng nhãn, người ta cho đó ứng vào điềm giấc mộng khi trước, cũng vì thế mà sau khi ông mất, nhân dân lập đền thờ đã viết hai câu đối ca ngợi:
Sự nghiệp Tam Khôi trưng thần mộng
Nhất đẳng văn chương kết chủ tri.
Nghĩa là:
Sự nghiệp Tam khôi thần báo trước
Văn chương bậc nhất được vua khen.
Đặng Văn Kiều mơ đỗ Thám hoa
Đặng Văn Kiều (1824 - ?) vốn tên là Đặng Duy Kiệu, hiệu là Nghiêu Đình, quê ở xã Phất Não, tổng Thượng Nhị, huyện Thạch Hà, đạo Hà Tĩnh (nay là xã Thạch Bình, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh) đỗ Thám hoa khoa Nhã sĩ năm Ất Sửu (1865) đời vua Tự Đức.
Ông là người được đánh giá là “Đại bút hùng văn, nhất giáp thạch bi truyền quốc sử. Hoành từ nhã sĩ, thiên thu kim bảng trấn gia thanh” (Tay đại bút hùng văn, nhất giáp bia đá truyền sử trước. Bậc hoành từ nhã sĩ, nghìn thu bảng vàng rạng tiếng nhà).
Việc học hành, đỗ đạt của ông nhờ rất nhiều vào bà vợ cả là Trần Thị Thái, một người chăm chỉ, tần tảo vì chồng con.
Tương truyền, khi chưa về kinh dự thi, một đêm Đặng Văn Kiều mơ thấy mình thi đỗ Thám hoa, cờ quạt, võng lọng, vinh quy về làng. Ngủ dậy ông có kể lại chuyện đó với vợ, nhưng bà không tin vì dù gia đình chồng có truyền thống học tập nhưng nhiều đời chỉ đỗ đến tam tràng (sinh đồ). Sau đó Đặng Văn Kiều đi thi, đỗ Thám hoa, khi vinh quy về làng thì được tin người vợ bị bệnh ốm, vừa mất; ông vô cùng thương xót, khóc bà và nói rằng:
- Bà ơi, tôi đỗ Thám hoa thật rồi, tôi có nói dối về giấc mơ đâu, sao bà không chờ được?
Lê Thái Dũng
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks