Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 21

Ðề tài: Thiền Tông Đốn Ngộ ( Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử)

  1. #1
    Nhị Đẳng Avatar của Mr.ALI
    Gia nhập
    Feb 2011
    Nơi cư ngụ
    Thế Giới Tịnh Lưu Ly
    Bài gởi
    2,487

    Mặc định Thiền Tông Đốn Ngộ ( Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử)

    [COLOR="Red"]mình là 1 phật tử tu theo trường phái thiền tông đốn ngộ
    của thiền phái trúc lâm yên tử[/COLOR]


    hum nay mình lập topic này mong muốn chia sẻ và giới thiệu đôi chút về thiền phái trúc lâm yên tử đến mọi người...^^


    Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

    Dầu ai quyết chí tu hành,
    Có lên Yên Tử mới đành lòng tu.




    Vua Trần Nhân Tông



    DẪN NHẬP

    Sơ tổ Trần Nhân TôngTheo dòng lịch sử, chúng ta nhìn lại Phật giáo Việt Nam hẳn thấy nổi bật một nét đột phá vô cùng thú vị - một Thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một vị vua anh hùng của dân tộc. Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng.
    Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật, đó là một lẽ thật bình đẳng không phân chia ranh giới Việt Nam, Ấn Độ, Trung Hoa hay Nhật Bản.... "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh". Song Phật giáo truyền vào mỗi nước, thì mỗi nước có tính dân tộc riêng, có ngôn ngữ, có nếp sinh hoạt, nếp suy nghĩ theo cá tính dân tộc, do đó Phật giáo cũng phải hoà nhập vào mỗi dân tộc để có được sự tiếp thu dễ dàng thích ứng. Chính vì vậy nên mới có Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Hoa, Phật giáo Tích Lan, vv... Vậy đã gọi là Phật giáo Việt Nam thì nó phải có những nét gì đặc sắc của Việt Nam khiến người nhìn vào đánh giá được đó là Phật giáo Việt Nam? Điều này, điểm qua lịch sử, chúng ta thấy Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử quả thực đã làm nổi bật lên những nét chấm phá của Phật giáo Việt Nam, nếu khai thác đúng mức, chắc rằng nó sẽ đóng góp rất nhiều lợi ích trên đường phát triển của dân tộc và sẽ ảnh hưởng sâu rộng ra ngoài nữa.
    Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật giáo Sử luận đã viết: "Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hoá Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình." (Tập I, tr. 482)
    Tức là nền Phật giáo Trúc Lâm tự có một nét độc lập của nó, và đó chính là điểm chúng ta cần khai thác và phát huy. Mà nói Phật giáo Trúc Lâm, cũng tức nói đến Thiền phái Trúc Lâm, vì lúc đó không có giáo hội nào khác nữa. Chúng ta là người Việt Nam học Phật, quyết không thể bỏ qua, không hiểu về Phật giáo Việt Nam, trong đó Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử, một của báu của dân tộc càng phải được hiểu rõ.

    MẠCH NGUỒN THIỀN PHÁI TRÚC LÂM.


    1. XÉT XA VỀ TRƯỚC: Như chúng ta đã biết, Thiền phái Trúc Lâm vốn dung hợp ba dòng thiền đã có từ trước:

    * TỲ NI ĐA LƯU CHI - Thế kỷ 6:
    Cuối thế kỷ thứ sáu, thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi người Nam Thiên Trúc sang Trung Hoa, đắc pháp với tam tổ Tăng Xán và được Tổ chỉ dạy về phương Nam truyền đạo. Vâng lời dạy của Tam Tổ, Sư đến Việt Nam ở chùa Pháp Vân tháng ba năm Canh Tý (580), sau đó truyền pháp cho thiền sư Pháp Hiền, người Việt Nam mở đầu cho dòng thiền tông "Giáo ngoại biệt truyền" tại đất Việt, truyền thừa được 19 thế hệ.

    * VÔ NGÔN THÔNG - Thế kỷ 9:
    Do thiền sư Vô Ngôn Thông, người Trung Hoa, đệ tử đắc pháp của tổ Bá Trượng truyền sang. Sách Truyền Đăng Lục gọi là Bất Ngữ Thông.
    Năm 820, Sư từ Quảng Châu qua Việt Nam ở chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Đức, Bắc Ninh, gặp nhà sư Lập Đức tiếp nhận được tông chỉ, Sư truyền pháp và đổi tên là Cảm Thành. Từ đó, Việt Nam có thêm dòng thiền Vô Ngôn Thông, cũng gọi là dòng Kiến Sơ, truyền thừa được 17 thế hệ.

    * THẢO ĐƯỜNG - Thế kỷ 11:
    Do thiền sư Thảo Đường, một vị tăng được phát hiện trong nhóm tù nhân bắt được của Chiêm Thành mà vua Lý Thánh Tông đã đem quân chinh phạt năm 1069. Sư cũng là người Trung Hoa, thuộc truyền thống của thiền sư Tuyết Đậu - Minh Giác, tông Vân Môn, truyền thừa được 6 thế hệ.

    Trên đây là ba dòng thiền đã hội nhập vào một Thiền phái Trúc Lâm. Tuy nhiên nếu xét xa về trước nữa thì mạch nguồn thiền tông này phát xuất từ Phật Thích Ca truyền cho Tổ Ca Diếp và chảy dài xuống.

    2. MẠCH NGUỒN TRỰC TIẾP:
    Thiền phái Trúc Lâm tuy do Đại Đầu Đà Trúc Lâm làm Sơ tổ, nhưng mạch nguồn Yên Tử vốn bắt nguồn từ thiền sư Hiện Quang (thế hệ 15 dòng Vô Ngôn Thông). Chính Sư là người khai sơn chùa Vân Yên, sau đổi là Hoa Yên, trên núi Yên tử. Sư là đệ tử nối pháp của thiền sư Thường Chiếu (thế hệ 13 dòng Vô Ngôn Thông), trước ở núi Từ Sơn sau mới đến Yên Tử và chính là Tổ ban đầu của dòng truyền Yên Tử.
    Kế tiếp thiền sư Hiện Quang là quốc sư Trúc Lâm mà vua Trần Thái Tông gọi là Đại Sa Môn Trúc Lâm trong chuyến vượt thành lên núi của Vua, đã thuật lại trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam. Đa số người đồng cho là thiền sư Đạo Viên hay Viên Chứng (thế hệ 16 dòng Vô Ngôn Thông).
    Tiếp theo quốc sư Trúc Lâm là quốc sư Đại Đăng, người đã từng về kinh thành Thăng Long hành đạo và tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa.
    Tiếp theo quốc sư Đại Đăng là thiền sư Tiêu Diêu (thế hệ 17 dòng Vô Ngôn Thông), thầy của Thượng sĩ Tuệ Trung, cũng gọi là đại sư Phúc Đường ở tịnh xá Phúc Đường. Tiêu Diêu cũng là người đắc pháp với ngài Ứng Thuận dòng Vô Ngôn Thông (thế hệ 13).
    Kế tiếp thiền sư Tiêu Diêu là thiền sư Huệ Tuệ, mà theo Nguyễn Lang, tác giả Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, đã cho là Sư vốn làm hoà thượng đàn đầu truyền giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi vua xuất gia.
    Sau thiền sư Huệ Tuệ, mới chính là Đại đầu đà Trúc Lâm Trần Nhân Tông.
    Kế đó là:
    - Tổ sư Pháp Loa
    - Tổ sư Huyền Quang
    - Quốc sư An Tâm
    - Quốc sư Phù Vân (hiệu Tĩnh Lự)
    - Quốc sư Vô Trước
    - Quốc sư Quốc Nhất
    - Tổ sư Viên Minh
    - Tổ sư Đạo Huệ
    - Tổ sư Viên Ngộ
    - Quốc sư Tổng Trì
    - Quốc sư Khuê Thám
    - Quốc sư Sơn Đằng
    - Đại Sư Hương Sơn
    - Quốc sư Trí Dung
    - Tổ sư Tuệ Quang
    - Tổ sư Chân Trú
    - Đại sư Vô Phiền
    (Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục, Phúc Điền)

    Vậy xét theo dòng truyền Yên Tử thì Đại đầu đà Trúc Lâm thuộc thế hệ thứ sáu, nhưng đến Ngài, Ngài đã thống nhất các thiền phái đã có thành một thiền phái Trúc Lâm, lấy Ngài làm Sơ Tổ. Từ đây, Việt Nam thực sự đã có một dòng thiền Phật giáo của người Việt, do chính người Việt làm Tổ...

    Song đó là nói theo truyền thống lịch sử, nếu nói thẳng trong lẽ thật sâu xa, chính bắt nguồn thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử là từ sự tỏ ngộ của vua Trần Nhân Tông.
    Chính khi vua hỏi Thượng sĩ Tuệ Trung:
    - Thế nào là tông chỉ của việc bổn phận?
    Thượng sĩ đáp:
    - Soi sáng lại chính mình, đó là việc bổn phận, chẳng từ nơi nào khác để được.
    Ngay đó vua nhận được tông chỉ Thiền, mở sáng con mắt Đạo. Từ sức sống đó, vua đã sống vượt qua mọi biến chuyển của thế gian, để rồi chuyển mình thành thiền sư, truyền mạch sống cho một dòng thiền Việt Nam chảy mãi đến ngày nay. Nếu không có sứ sống chân thật kia thử hỏi dòng thhiền Trúc Lâm có được mạch sống thiền đúng như nghĩa của nó, hay chỉ là trên hình thức chữ nghĩa? Do đó, khai thác mạch nguồn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, chúng ta không thể chỉ khai thác trên bề mặt lịch sử dễ thấy, hoặc trên hình thức phân ích theo chiều suy nghĩ của tình thường, mà còn phải khai thác phần sâu xa vượt ngoài chữ nghĩa ấy!
    Chúng ta hãy lặng lòng lắng nghe lờ mở đầu cho buổi đại tham của sơ tổ Trúc Lâm tại chùa Sùng Nghiêm, tức mở đầu truyền mạch sống thiền cho đại chúng:
    " Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong, bước lên toà. Vị thượng thủ bạch chùy, v.v..., rồi Ngài nói:
    - Phật Thích Ca Văn vì một "việc lớn" mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi (nói pháp) mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ông lên ngồi toà này, biết nói chuyện gì đây?"
    Chúng ta thấy một điểm đặc biệt khác thường. Trước khi nói pháp, Ngài chặn đầu trước, dẫn Phật Thích Ca 49 năm nói pháp nhưng vốn chưa từng nói một lời nào, vậy thì hiện tại sẽ nói cái gì đây? Những điều Ngài sắp nói là có nói hay không?
    Chính đây là một cách khéo léo nhằm nhắc nhở người nghe phải thấu qua chữ nghĩa, nghe đến tộ trước khi mở miệng kìa! Đó mớithực là sức sống thiền mà Ngài muốn truyền đạt. Còn chữ nghĩa nói ra là việc bất đắc dĩ, là ngọn ngành về sau, bởi vì người chưa thấu tột cội nguồn kia nên phương tiện phải nói. Song nói mà ý vốn không ở nơi lời. Tông chỉ thiền hay Yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền chính đã thổ lộ trong đó. Người lanh mắt hẳn bắt gặp ngay.
    Mạch nguồn chân thật của thiền phái Trúc Lâm chính là đó.
    Do đó, người muốn thâm nhập mạch nguồn thiền phái Trúc Lâm Yên tử, đòi hỏi phải là một HÀNH GIẢ, không thể là một HỌC GIẢ.
    .-*-.-*-._Ưng Vô Sở Trụ_.-*-.-*-.
    ..........................Nhi Sanh Kỳ Tâm......................

  2. #2
    Nhị Đẳng Avatar của Mr.ALI
    Gia nhập
    Feb 2011
    Nơi cư ngụ
    Thế Giới Tịnh Lưu Ly
    Bài gởi
    2,487

    Mặc định

    Giới thiệu đường lối tu thiền


    Chùa Lân Yên Tử

    Nói đến Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 là nói đường hướng tu thiền của Tu viện Chân Không (1970-1986) ngày trước, hay của Thiền viện Thường Chiếu... hiện nay (1974-1991...) do chúng tôi (Thích Thanh Từ) chủ trương hướng dẫn. Chúng tôi không theo các tông phái chi nhánh Thiền tông Trung Hoa sau này, như tông Tào Ðộng, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn. Chúng tôi chỉ kết hợp ba cái mốc quan trọng trong dòng lịch sử truyền thừa Thiền tông từ Trung Hoa đến Việt Nam. Mốc thứ nhất là Nhị Tổ Huệ Khả, mốc thứ hai là Lục Tổ Huệ Năng, mốc thứ ba là Sơ Tổ Trúc Lâm. Hòa hội chỗ thấy, chỗ ngộ và sự ứng dụng tu hành của ba vị Tổ này thành phương pháp tu thiền trong các Thiền viện chúng tôi.

    Hòa hội chỗ thấy, chỗ ngộ và sự ứng dụng tu hành của ba vị Tổ này thành phương pháp tu thiền trong các Thiền viện chúng tôi.

    1. Nhị Tổ Huệ Khả 2. Lục Tổ Huệ Năng 3. Sơ Tổ Trúc Lâm
    Dung Hợp Thiền Sư Thích Thanh Từ



    NHỊ TỔ HUỆ KHẢ (494 - 601)
    Sau khi ngài Huệ Khả được Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) nhận làm đệ tử mà lòng vẫn còn thao thức, tại sao tâm mãi lăng xăng trong lúc ngồi thiền. Một hôm đến trước Tổ, Ngài bạch: "Bạch Hòa thượng, tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm." Tổ Ðạt-ma nhìn thẳng, bảo: "Ðem tâm ra ta an cho." Ngài sửng sốt quay lại tìm tâm, không thấy bóng dáng, bạch Tổ: "Con tìm tâm không được." Tổ bảo: "Ta an tâm cho ngươi rồi." Ngay đây ngài Huệ Khả biết được đường vào.
    Chỗ biết được đường vào của ngài Huệ Khả là một pháp tu mà không có pháp. Bởi vì từ xưa đến nay, tất cả chúng ta đều nhận cái suy nghĩ phân biệt lăng xăng là tâm của mình, ngài Huệ Khả cũng chung một thông lệ ấy. Cho nên ngồi lại tu, muốn cho tâm an mà nó không chịu an, khiến chúng ta rất khổ sở về vấn đề này. Cầu pháp an tâm là điều cấp thiết của người quyết chí tu hành. Ở đây Tổ Ðạt-ma không dạy phương pháp gì, Ngài chỉ bảo "Ðem tâm ra ta an cho". Câu này là một tiếng sấm dẹp tan mê lầm muôn thuở của ngài Huệ Khả.



    Bình thường chúng ta nhận cái hay suy nghĩ là tâm của mình, chịu sự sai sử lôi kéo của nó. Bất thần chúng ta tìm lại nó thì nó mất tăm mất dạng. Khi nó không còn tăm dạng thì không an là gì? Cho nên Tổ nói "Ta an tâm cho ngươi rồi". Ngài Huệ Khả sáng ý nhận ra được lẽ này nên biết đường vào. Như vậy, Tổ Ðạt-ma có dạy phương pháp gì an tâm không? Nếu không, tại sao ngài Huệ Khả biết đường vào? Rõ ràng pháp an tâm mà không có pháp, chỉ xoay ánh sáng trí tuệ soi rọi xem cái tâm bất an ấy thế nào thì nó biến mất. Thuật ngữ nhà Thiền gọi là "Hồi quang phản chiếu". Chúng tôi gọi "Biết vọng không theo". Chính đây là "Biết được đường vào" của ngài Huệ Khả.

    Tại sao nhà Thiền không chấp nhận cái tâm suy nghĩ so tính ấy? Bởi vì, nếu chấp nhận nó làm tâm mình sẽ mắc phải những lầm lỗi như sau:
    1. Cái tâm suy nghĩ ấy khi có khi không, còn chúng ta thì lúc nào cũng hằng hữu. Nếu chấp nhận nó là mình thì khi không suy nghĩ là không có mình sao?
    2. Bình thường nó suy nghĩ lăng xăng, khi nhìn lại tìm kiếm nó thì mất tăm mất dạng. Nếu nó là thật mình thì lúc nào cũng phải có. Trái lại khi tìm thì mất, chẳng qua nó chỉ là bóng dáng mà thôi. Chấp nhận cái bóng làm mình thì thật là đau khổ cho con người.
    3. Chúng ta ai cũng thừa nhận mình trước sau vẫn là mình, mình là một từ bé đến già. Thế mà, tâm suy nghĩ ấy lại trăm ngàn thứ, có khi nghĩ lành như hiền thánh, có nghĩ dữ như cọp sói... thì cái nào là mình?
    4. Lúc đang suy nghĩ, chúng ta biết mình đang suy nghĩ, lúc không suy nghĩ biết không suy nghĩ. Cái suy nghĩ ấy là đối tượng bị biết của chúng ta. Ðã là đối tượng tức là khách, là cái bên ngoài không phải mình. Nếu cái suy nghĩ là thật mình, lúc không suy nghĩ, ai biết không suy nghĩ? Ðã có cái biết lúc không suy nghĩ thì làm sao nhận cái suy nghĩ làm mình được?
    Cái không phải mình mà lầm nhận là mình, trong kinh Phật gọi là "Nhận giặc làm con", tai họa không thể lường được. Cho nên bao nhiêu kinh điển, bao nhiêu pháp tu, đức Phật đều dạy xoay quanh cái trục "Chận đứng tâm suy nghĩ lăng xăng này". Tụng kinh phải nhiếp tâm, niệm Phật phải nhất tâm, tọa thiền phải định... Song đặc biệt là Thiền tông, chư Tổ không dùng phương tiện để đè bẹp, để ngăn chận nó, mà dùng trí biết rõ bản chất không thật của nó thì nó hết tác quái. Chính câu "Ðem tâm ra ta an cho" của Tổ Ðạt-ma đủ thể hiện ý nghĩa này.
    "Biết đường vào" chưa phải là kẻ đến nhà, phải trải thời gian lâu xa, ngài Huệ Khả mới bạch với Tổ Ðạt-ma: "Từ đây trở đi con dứt hết các duyên." Tổ Ðạt-ma bảo: "Chớ rơi vào đoạn diệt." Huệ Khả thưa: "Không rơi." Tổ Ðạt-ma hỏi: "Con làm thế nào?" Huệ Khả thưa: "Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến." Tổ Ðạt-ma dạy: "Ðây là chỗ truyền của chư Phật, chớ nên hoài nghi." Ðến đây mới thật là người về tới nhà, không còn nghi ngờ gì nữa.
    Khi Tổ Ðạt-ma sắp tịch, hỏi lại chỗ sở ngộ của các đồ đệ, đến lượt Huệ Khả, Ngài chỉ bước ra đảnh lễ ba lạy rồi lui. Tổ Ðạt-ma nói: "Ông được phần tủy của ta." Ðến chỗ cứu kính không còn ngôn ngữ để trình bày, vì ngôn ngữ là phương tiện tương đối, không thể diễn tả được cái chân thật tuyệt đối. Từ đó ngài Huệ Khả được truyền y bát làm Tổ thứ hai ở Trung Hoa.


    [COLOR="Red"]LỤC TỔ HUỆ NĂNG (638 - 713)[/COLOR

    hỗ sở ngộ của Tổ Huệ Năng là do nghe kinh Kim Cang Bát-nhã. Sau khi được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn cho vào thất và nghe giảng kinh Kim Cang đến đoạn Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi: "Khi phát tâm cầu vô thượng chánh giác, làm sao an trụ tâm?" Phật đáp: "Chẳng nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm kia; nên không chỗ trụ mà sanh tâm ấy." Ngài đại ngộ kêu lên: "Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh! Ðâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt! Ðâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ! Ðâu ngờ tánh mình vốn không dao động! Ðâu ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp!" Ngũ Tổ bảo: "Chẳng biết bản tâm học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm mình, gọi là Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật..." Thế là Ngài được Ngũ Tổ truyền y bát làm Tổ thứ sáu.
    Qua câu chuyện ngộ đạo của Lục Tổ, chúng ta thấy từ lý Bát-nhã không cho sáu căn dính mắc (trụ) với sáu trần là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Lục Tổ không dừng ở chỗ không dính mắc, mà nhảy vọt vào thể tánh thanh tịnh, bất sanh bất diệt của chính mình. Chính thể tánh này gọi là Pháp thân hay Bản Lai Diện Mục, đã có sẵn từ vô thủy nơi tất cả chúng ta. Thấy tột chỗ này và sống được với nó là Ðốn ngộ, là Kiến tánh. Bản thân Lục Tổ được như vậy, song khi dạy người Ngài cũng có phương tiện.
    Lục Tổ vì phương tiện lập Tam vô: Vô Niệm làm Tông, Vô Tướng làm Thể, Vô Trụ làm Bổn. Theo Lục Tổ giải: Ðối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy Vô trụ làm gốc. Ngoài lìa tất cả tướng gọi là Vô tướng, hay lìa tướng tức là pháp thể thanh tịnh, đây là lấy Vô tướng làm thể. Ðối trên các cảnh tâm không nhiễm, gọi là Vô niệm (Kinh Pháp Bảo Ðàn, phẩm Ðịnh Huệ). Không nhiễm các pháp, không kẹt các tướng, không dính mắc các pháp, đây là chủ trương của Lục Tổ. Không nhiễm, không kẹt, không dính, ngay khi tiếp xúc với sáu trần là thiền định. Không phải chạy trốn cảnh trần, rồi sau tâm mới an định như các lối thiền định khác.



    SƠ TỔ TRÚC LÂM (1258 - 1308)
    Vua Trần Nhân Tông lúc còn làm Thái tử đã thông suốt Thiền tông do sự giáo dục của Tuệ Trung Thượng sĩ. Sau khi bỏ ngôi đi xuất gia, lấy hiệu là Hương Vân Ðại Ðầu-đà, Ngài hòa hội các phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Ðường đã truyền bá trên đất nước Việt Nam, lập thành phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ðây là phái thiền hoàn toàn Việt Nam. Ở đây chúng tôi chỉ chắt lọc một vài nét nổi bật trong sự chỉ dạy của Ngài để làm tiêu chuẩn, đó là bài kệ Hữu Cú Vô Cú:



    Hữu cú vô cú
    Ðằng khô thọ đảo
    Cơ cá nạp tăng
    Chàng đầu khái não.

    Hữu cú vô cú
    Thể lộ kim phong
    Hằng hà sa số
    Phạm nhẫn thương phong.

    Hữu cú vô cú
    Lập tông lập chỉ
    Ðả ngỏa toản qui
    Ðăng sơn thiệp thủy.

    Hữu cú vô cú
    Phi hữu phi vô
    Khắc chu cầu kiếm
    Sách ký án đồ.

    Hữu cú vô cú
    Hỗ bất hồi hỗ
    Lạp tuyết hài hoa
    Thủ chu đãi thố.


    Câu có câu không
    Bìm khô cây ngã
    Mấy kẻ nạp tăng
    U đầu sứt trán.

    Câu có câu không
    Thể bày gió thu
    Hằng hà sa số
    Va đao chạm bén.

    Câu có câu không
    Lập tông lập chỉ
    Ðập ngói dùi rùa
    Trèo non lội nước.

    Câu có câu không
    Chẳng có chẳng không
    Khắc thuyền mò kiếm
    Tìm ngựa bản đồ.

    Câu có câu không
    Hồi hỗ hay không
    Nón tuyết giày hoa
    Ôm cây đợi thỏ.


    Hữu cú vô cú
    Tự cổ tự kim
    Chấp chỉ vong nguyệt
    Bình địa lục trầm.

    Hữu cú vô cú
    Như thị như thị
    Bát tự đả khai
    Toàn vô bả tỷ.

    Hữu cú vô cú
    Cố tả cố hữu
    A thích thích địa
    Náo quát quát địa.

    Hữu cú vô cú
    Ðao đao phạ phạ
    Tiệt đoạn cát đằng
    Bỉ thử khoái hoạt



    Câu có câu không
    Tự xưa tự nay
    Nhìn tay quên trăng
    Ðất bằng chết chìm.

    Câu có câu không
    Như thế như thế
    Chữ bát mở ra
    Sao không nắm mũi.

    Câu có câu không
    Ngó tả ngó hữu
    Lau chau mồm mép
    Ồn ào náo động.

    Câu có câu không
    Ðau đáu lo sợ
    Cắt đứt sắn bìm
    Ðó đây vui thích.


    Qua bài kệ này chúng ta thấy Ngài phản đối cái chấp hai bên biểu trưng bằng Có và Không. Song cái chấp hai bên có vô số loại: có không, phải quấy, hơn thua, tốt xấu, thắng bại, hay dở, lành dữ v.v. và v.v. Chính cái chấp hai bên là mầm tranh đấu, là nhân phiền não, kết quả khổ đau không thấy chân lý.

    Cho nên chín đoạn trong bài kệ này, Ngài vừa quở trách, vừa chỉ dạy rất đầy đủ. Như đoạn một: "Mấy kẻ nạp tăng, u đầu sứt trán", đoạn hai: "Hằng hà sa số, va đao chạm bén", đoạn ba: "Ðập ngói dùi rùa, trèo non lội nước", đoạn bốn: "Khắc thuyền mò kiếm, tìm ngựa bản đồ", đoạn năm: "Nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ", đoạn sáu: "Nhìn tay quên trăng, đất bằng chết chìm", đoạn bảy: "Chữ bát mở ra, sao không nắm mũi", đoạn tám: "Lau chau mồm mép, ồn ào náo động", đoạn chín: "Cắt đứt sắn bìm, đó đây vui thích".
    Ðoạn một và hai, Ngài quở người chấp hai bên là tự chuốc khổ vào mình. Ðoạn ba và bốn, Ngài chê kẻ chấp hai bên là dại khờ, chỉ nhọc nhằn luống công. Ðoạn năm và sáu, Ngài trách những phương tiện tạm bợ mà người vì cố chấp hai bên nên không thấy chân lý. Ðoạn bảy và tám, Ngài chỉ thẳng chân lý ngay trước mắt như lỗ mũi nằm sẵn dưới chân mày mà người ta không nhận, cứ lý luận ồn ào vô ích. Ðoạn chín, Ngài nói ai dứt chấp hai bên mới thật vui thích. Ngay đoạn chín này hẳn là chỗ Nhị Tổ trình kiến giải bằng ba lễ mà không có một lời. Không kẹt hai bên là căn bản của Thiền tông, cũng chính là cốt tủy của Phật giáo.
    Lại một bài kệ kết thúc bài phú "Cư Trần Lạc Ðạo" của Sơ Tổ Trúc Lâm là cô đọng những gì Lục Tổ đã thấy và ứng dụng.


    Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
    Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
    Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
    Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.


    Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
    Ðói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
    Trong nhà có báu, thôi tìm kiếm
    Ðối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.


    Chỉ hai câu chót trong bài kệ cũng đủ kết thúc chỗ sở ngộ và mục tiêu dạy tu hành của Lục Tổ một cách kỳ diệu. Thấy hòn ngọc sẵn có trong nhà, chính là chỗ Lục Tổ thốt lên "Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh!..." Thiền là đối cảnh không tâm thì làm gì có niệm nhiễm, là vô niệm; không tâm thì đâu kẹt cảnh bên ngoài, là lìa tướng tức vô tướng; không tâm thì lấy gì để dính mắc, là vô trụ. Một câu kết này đã bao gồm cả Vô Niệm, Vô Tướng, Vô Trụ hay Tông, Thể, Bổn của Lục Tổ dạy. Thiền là đối cảnh không nhiễm, không kẹt, không mắc, chính đây là chủ trương của Lục Tổ. Ngài Trúc Lâm Ðầu-đà đã ứng dụng tuyệt vời chỗ thấy của Nhị Tổ, chỗ ngộ và hành của Lục Tổ. Chúng ta là kẻ hậu học, tự hãnh diện ở Việt Nam xuất phát một phái thiền trọn vẹn mang dấu ấn của chư Tổ tiền bối và dung hội tài tình đường lối tu hành của người xưa, làm kim chỉ nam cho hành giả Việt Nam chúng ta.

    DUNG HỢP

    Chúng tôi dung hợp pháp tu của ba vị Tổ trên thành một lối tu cụ thể như sau:
    - Nơi Nhị Tổ, chúng tôi ứng dụng pháp an tâm. Nghĩa là biết rõ tâm suy tưởng lâu nay là hư ảo, không để nó đánh lừa, lôi dẫn chúng ta chạy theo trần cảnh, nên nói "Vọng tưởng không theo". Mỗi khi nó dấy lên đều biết rõ như vậy. Một khi hành giả nhận diện bản chất hư ảo của chúng thì chúng tự biến mất. Khi tọa thiền cũng như lúc tiếp duyên xúc cảnh đều thấy rõ, không lầm chúng. Ðến bao giờ được như Nhị Tổ nói "Ðoạn hết các duyên mà rõ ràng thường biết, nói không thể đến" là đạt kết quả.

    Tuy nhiên vọng tưởng này không phải dễ lắng, dứt cái này khởi cái khác liên miên không dừng. Hành giả phải bền chí theo dõi, soi sáng mãi chúng mới từ từ thưa dần. Nhận vọng tưởng hư ảo làm tâm mình là mê lầm, biết vọng tưởng hư dối không thật là tỉnh giác. Lối tu này là dùng "cái dụng của trí để phá si mê", chớ không có pháp gì dùng để đè bẹp, nên nói "pháp an tâm mà không có pháp". Khi hết si mê vọng tưởng lặng thì trí dụng cũng dừng, như trong mười mục chăn trâu, khi trâu mất thì người chăn cũng không còn. Trí dụng hết đối trị, liền hội nhập trí thể.
    - Với Lục Tổ, chúng tôi ứng dụng sáu căn không dính mắc sáu trần làm hướng tiến tu. Ðó là câu "Bất ưng trụ sắc sanh tâm..." trong kinh Kim Cang được Ngũ Tổ giảng cho Lục Tổ. Nhưng làm sao căn không dính trần? Ðương nhiên phải dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu, thấy các pháp duyên hợp hư dối như huyễn như hóa. Vì thế trong kinh Pháp Bảo Ðàn, sau phẩm Hành Do là đến phẩm Bát-nhã. Nhờ trí tuệ Bát-nhã soi rọi thấy rõ các pháp duyên sanh, không có chủ thể (vô ngã), không cố định (vô thường) nên tâm không nhiễm trước sắc... do đó căn, cảnh không dính mắc nhau. Căn, cảnh không dính mắc nhau là Vô Niệm, Vô Tướng, Vô Trụ, đó là chủ trương của Lục Tổ.
    Lại có một cách khác, nếu hành giả kiến tánh như Lục Tổ, hằng sống với thể tánh bất sanh bất diệt của mình thì còn gì bận bịu với vọng tưởng hư dối, với sáu trần giả hợp. Ði đứng nằm ngồi không lúc nào rời tự tánh chính mình. Ðược thế thì ung dung tự tại, nên nói "đói ăn khát uống".
    - Ðến Sơ Tổ Trúc Lâm, trong bài kệ "Câu Có Câu Không", đoạn thứ tư nói "Nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ", là tinh thần Bát-nhã của Lục Tổ. Các pháp hư giả như nón tuyết, như đôi giày bằng hoa, tạm có rồi tan mất, mới thấy đẹp rồi héo xàu, có gì lâu bền. Nếu chấp giữ nó là người ngu, như kẻ "ôm cây đợi thỏ". Toàn thể pháp đối đãi đều không thật, do phương tiện bày lập, giống như dây sắn dây bìm, một phen cắt đứt chúng mới là an vui tự tại. Ðấy là tinh thần hai câu kết của bài kệ "Cắt đứt sắn bìm, đó đây vui thích". Vừa dấy niệm là đối đãi, vừa thốt lời là đối đãi, nếu dứt hết đối đãi thì còn niệm nào để khởi, còn lời gì để nói. Ðây là hằng sống thật với thiền.
    Phần sau ở hai câu kệ "Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Ðối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền", là hình ảnh Lục Tổ thốt lên "Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh!..." Thấu triệt tánh mình như thấy hòn ngọc quí vô giá có sẵn trong nhà, còn gì phải tìm kiếm đâu xa. Thấy tánh mình thanh tịnh, chẳng sanh chẳng diệt, so với thân vô thường tạm bợ và tâm vọng tưởng hư ảo thì thân tâm này còn có giá trị gì. Trong không chấp thân, không chấp vọng tưởng làm mình, ngoài đối cảnh không còn dính mắc, chính đây là chủ yếu của Thiền tông, cũng là cội nguồn của Phật pháp. Ở đây chúng tôi lấy "Ðối cảnh không tâm" làm tiêu chuẩn tu hành. Không tâm là không tâm vọng tưởng chạy đuổi theo ngoại trần, chớ chẳng phải không tâm là vô tri vô giác như cây gỗ. Không tâm hư ảo sanh diệt mà vẫn có tâm hằng giác hằng tri, bất sanh bất diệt. Ðây là chỗ giải thoát sanh tử của người tu Phật.
    Nhị Tổ Huệ Khả sau khi ngộ đạo vẫn được Tổ Ðạt-ma giới thiệu bốn quyển kinh Lăng-già để ấn tâm. Lục Tổ Huệ Năng nghe giảng kinh Kim Cang ngộ đạo. Thế là đủ minh chứng Thiền tông không rời Kinh, vì Thiền là tâm của Phật, Kinh là miệng của Phật. Ðức Phật tâm miệng không khác thì Thiền và Giáo làm sao tách rời được. Cho nên chúng tôi chủ trương "Thiền, Giáo đồng hành".
    Ðể thấy rõ nét lối dung hợp pháp tu qua ba vị Tổ trên, chúng tôi cô đọng lại bằng những lối tu:
    1. Biết vọng không theo, vì vọng tưởng là những tâm niệm hư ảo.
    2. Ðối cảnh không tâm, vì nó là tướng duyên hợp giả dối tạm bợ.
    3. Không kẹt hai bên, vì đối đãi là không thật.
    4. Hằng sống với cái thật, không theo cái giả, vì giả là luân hồi, thật là giải thoát.

    Ðây là bốn phương tiện chúng tôi tạm lập để hướng dẫn người tu. Tùy theo căn cơ trình độ nhanh chậm, cao thấp của hành giả mà lối ứng dụng có khác. Cũng có thể bốn lối tu này, hành giả linh động ứng dụng theo thứ tự từ pháp thứ nhất đến pháp thứ tư để tu hành cũng tốt. Những nét cô đọng trên là kết thúc bài này của chúng tôi.

    Trích yếu: Thiền Tông Việt Nam Cuối TK 20
    .-*-.-*-._Ưng Vô Sở Trụ_.-*-.-*-.
    ..........................Nhi Sanh Kỳ Tâm......................

  3. #3
    Nhị Đẳng Avatar của Mr.ALI
    Gia nhập
    Feb 2011
    Nơi cư ngụ
    Thế Giới Tịnh Lưu Ly
    Bài gởi
    2,487

    Mặc định

    Chùa Lân Yên Tử Và Lich Sử

    Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, còn gọi là Chùa Lân hay tên chữ là Long Động Tự thuộc địa phận thôn Nam Mẫu, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.


    toàn cảnh chùa lân

    Lịch sử
    Tam quan chùa

    Năm 1293 vua Trần Nhân Tông đã cho tôn tạo, xây dựng chùa Lân thành một nơi khang trang lộng lẫy, chùa Lân trở thành Viện Kỳ Lân, là nơi giảng đạo, độ tăng. Ba vị sư tổ Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang thường đến đây thuyết pháp, giảng kinh. Chùa Lân xưa kia là một trong những ngôi chùa quan trọng nhất trong hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm.

    Trong kháng chiến chống Pháp, chùa gần như bị thiêu huỷ hoàn toàn, chỉ còn hệ thống các mộ tháp gồm 23 tháp, trong đó tháp lớn nhất là tháp mộ thiền sư Chân Nguyên (1647-1726).


    chánh điện

    Cây đa cổ thụ và "bia truyền thống"


    Bồ đề Đạt ma tổ sư


    Sân Thiền viện với quả cầu Như Ý được chứng nhận là lớn nhất VN


    Tháp Tịch Quang


    Kệ truyền pháp


    Trai đường và khu vực của người tu tập - Khách du lịch không được vào


    thiền đường



    thung lũng :D
    .-*-.-*-._Ưng Vô Sở Trụ_.-*-.-*-.
    ..........................Nhi Sanh Kỳ Tâm......................

  4. #4

    Mặc định

    đây là một trong số kiếp của ta hic hic

  5. #5

    Mặc định

    tam sư đệ kìa haha ,trông làm vua cũng oai quá chứ há há

  6. #6

    Mặc định

    haha đại sư huynh kìa , ngồi trông cũng bảnh đó chứ ha ha

  7. #7

    Mặc định

    chủ trương năm xưa là mang rựa đi chặt cây haha

  8. #8
    Nhị Đẳng Avatar của Mr.ALI
    Gia nhập
    Feb 2011
    Nơi cư ngụ
    Thế Giới Tịnh Lưu Ly
    Bài gởi
    2,487

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi tuevanthuongsi Xem Bài Gởi
    tam sư đệ kìa haha ,trông làm vua cũng oai quá chứ há há

    ăn nói cẩn thận nha cậu boxing4
    .-*-.-*-._Ưng Vô Sở Trụ_.-*-.-*-.
    ..........................Nhi Sanh Kỳ Tâm......................

  9. #9

    Mặc định

    tụi trẻ con chẳng biết gì vậy mà vẫn thành phật thật là diệu !

  10. #10
    Nhị Đẳng Avatar của Mr.ALI
    Gia nhập
    Feb 2011
    Nơi cư ngụ
    Thế Giới Tịnh Lưu Ly
    Bài gởi
    2,487

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi tuevanthuongsi Xem Bài Gởi
    tụi trẻ con chẳng biết gì vậy mà vẫn thành phật thật là diệu !
    mod Bad nick ông này dùm cái slapping
    .-*-.-*-._Ưng Vô Sở Trụ_.-*-.-*-.
    ..........................Nhi Sanh Kỳ Tâm......................

  11. #11

    Mặc định

    Không Đạo tức Tâm, Không Tâm tức Đạo.

  12. #12

    Mặc định

    Hì hì!!!! Thiệt là khó hiểu!
    Thành thật với bản thân sẽ nhận thấy đúng đắn... điều cần sửa nơi tâm! Che đậy vòng vo chỉ làm thêm khổ đau!

  13. #13

    Mặc định

    Không biết điều kiện để xuất gia tu thiền tại thiền phái trúc lầm yên tử là như thế nào ? và địa điểm của thiền viện là ở đâu đạo hữu có thể bộc lộ chút được không ? ( chỉ hỏi để biết, chưa có ý xuất gia bây giờ )

  14. #14

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi tieuthientinh92 Xem Bài Gởi
    Không Đạo tức Tâm, Không Tâm tức Đạo.
    ---------------------------------------------------------------------
    Người mà ngộ được câu này là đã xã được chữ ĐẠO thật đáng khen
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  15. #15

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mysterious Xem Bài Gởi
    haha đại sư huynh kìa , ngồi trông cũng bảnh đó chứ ha ha
    --------------------------------------------------------------
    Quá khứ có chi là đắc ,tương lai có chi là đắc ,hiện tại có chi là đắc ,chớ vọng TÂM làm nhiễu loạn cả tam thiên
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  16. #16

    Mặc định

    thánh phàm chẳng có thì tam thiên ở đâu ra

  17. #17

    Mặc định

    không thành ko phàm ..vậy ai đang nói

  18. #18

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi thế ngoại lão nhân Xem Bài Gởi
    không thành ko phàm ..vậy ai đang nói
    con ma nàyv ..theo ám chúng ta hoài vậy

  19. #19

    Mặc định

    chẳng phải thánh , chẳng phải phàm

  20. #20

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mysterious Xem Bài Gởi
    chẳng phải thánh , chẳng phải phàm
    --------------------------------------------------------------
    wa....wa...mấy vị thánh này xuất phép MINH ĐÀI né nghen ngồi coi cho đã luôn tiếp tục đi hay quá đó
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 11-11-2012, 11:52 PM
  2. mong các bạn giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm
    By big_stone09 in forum PHẬT GIÁO nguyên thủy
    Trả lời: 5
    Bài mới gởi: 02-01-2012, 10:35 PM
  3. Những câu chuyện ly kỳ trên dãy Yên Tử
    By Bin571 in forum Tâm linh – Tín ngưỡng – Siêu hình học – Ngoại cảm
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 24-11-2011, 10:53 PM
  4. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 24-04-2011, 12:26 AM
  5. Ý muốn giác ngộ
    By phúc minh in forum Đạo Phật
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 04-04-2011, 08:50 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •