kết quả từ 1 tới 4 trên 4

Ðề tài: Hướng Dẫn Thực Tập Thiền Căn Bản: Quán Niệm Hơi Thở

  1. #1
    Nhị Đẳng Avatar của Mr.ALI
    Gia nhập
    Feb 2011
    Nơi cư ngụ
    Thế Giới Tịnh Lưu Ly
    Bài gởi
    2,487

    Mặc định Hướng Dẫn Thực Tập Thiền Căn Bản: Quán Niệm Hơi Thở

    Khải Thiên



    I. Chuẩn Bị Tư Thế Ngồi Thiền

    1. Thân: Bạn có thể ngồi xếp bằng, kiết già, bán già, hoặc ngồi trên ghế thả hai chân xuống đất nhưng phải ngồi thẳng lưng để cho cột sống thẳng hàng. Hai bàn tay xếp bằng, gác trên chân ngay dưới bụng hoặc để trên hai đầu gối. Tư thế ngồi phải vững chãi, thảnh thơi, và an lạc.

    2. Tâm: Tập trung sự chú ý (chú tâm) của bạn vào điểm xúc chạm của hơi thở tại vùng cửa mũi hay môi trên. Nếu cảm thấy khó chịu hay căng thẳng, có thể chuyển sự chú tâm vào vùng dưới rốn hoặc để tâm ngay trước mặt. Sự chú tâm trong lúc ngồi thiền phải đầy đủ ba yếu tố của chánh niệm (mindfulness) đó là: tỉnh thức (awareness), chú ý (attention), và tỉnh giác (alertness).

    3. Hơi thở: Để hơi thở vô / ra tự nhiên; không cố làm cho hơi thở dài thêm hai ngắn lại. Thở đều đặn, nhẹ nhàng một cách tự nhiên.Ghi nhớ hơi thở là đối tượng duy nhất trong suốt thời gian hành thiền. Thỉnh thoảng nếu bị phóng tâm (nghĩ đến chuyện khác), bạn phải cố gắng tỉnh thức và đem tâm trở về an trú trên đối tượng thiền bằng cách theo dõi luồng hơi thở vô ra và dán chặt tâm nơi điểm xúc chạm ở cửa mũi hay phồng xẹp ở bụng. Hãy hình dung rằng hơi thở vô-ra là cái cộc; niệm (sự chú tâm) là sợi dây vô hình dùng để buộc tâm vào đối tượng thiền quán, không cho nó phóng túng.



    II. Ba Bước Thực Tập Thiền Căn Bản

    1. Bước một:

    Biết rõ: Hơi thở vô, ra, dài, ngắn.

    Bạn chỉ đơn thuần theo dõi và nhận biết rõ ràng hơi thở vô dài / hơi thở ra dài, hoặc hơi thở vô ngắn / hơi thở ra ngắn. Ở đây, bạn chỉ cố gắng biết rõ bốn biểu hiện của hơi thở: vô / ra; dài / ngắn. Phải biết rõ các biểu hiện của từng hơi thở một cách cụ thể để giữ tâm tỉnh thức, không tán loạn (suy nghĩ lung tung) và đạt đến sự định tâm. Khi tâm trở nên yên tịnh (không còn phóng tâm) và hơi thở trở nên nhẹ nhàng, bạn có thể chuyển qua bước hai kế tiếp.



    2. Bước hai:

    “Cảm giác toàn thân hơi thở vô”—“Cảm giác toàn thân hơi thở ra”

    Cố gắng nhận biết rõ toàn thể hơi thở, bao gồm: điểm đầu-giữa-cuối của hơi thở vô, và điểm đầu-giữa-cuối của hơi thở ra. Đây là sự nỗ lực ghi nhận toàn thể luồng hơi thở một cách rõ ràng. Điểm quan trọng của bước thực tập này là bạn nên để sự chú ý (niệm) ngay tại điểm xúc chạm và nhận biết luồng hơi thở vô ra một cách trọn vẹn. Không nên đem tâm đi theo luồng hơi thở vào bên trong cơ thể hay đi ra khỏi điểm xúc chạm; vì làm như thế tâm bạn sẽ trở nên tán loạn.



    3. Bước Ba:

    “An tịnh thân hành, tôi thở vô”—An tịnh thân hành, tôi thở ra”

    Cố gắng duy trì chánh niệm và tỉnh giác về hơi thở một cách liên tục với quyết tâm làm cho hơi thở, thân, và tâm trở nên an tịnh. Nếu hơi thở vẫn chưa dịu dàng, an tịnh, bạn nên thầm khởi niệm rằng “Nguyện cho hơi thở của tôi được an tịnh.” Khi phát khởi quyết tâm như thế, hơi thở sẽ dần trở nên an tịnh. Hơi thở an tịnh thì thân và tâm sẽ an tịnh. Ở bước này, hơi thở thường trở nên rất vi tế khó nhận diện; có lúc nó dường như không hiện hữu, nhưng đấy chỉ là cảm giác an tịnh của hơi thở. Bạn cứ giữ tâm tại điểm xúc chạm, hơi thở sẽ xuất hiện rõ ràng trở lại.



    III. Những Lưu Ý Quan Trọng



    1. Nếu bạn không thể định tâm bằng cách theo dõi hơi thở vô ra, bạn có thể tập cách đếm hơi thở như sau: Hít vô-thở ra đếm một, hít vô-thở ra đếm hai…, cứ như thế đếm cho tới mười rồi trở lại một. Thực tập như vậy một hồi lâu, tâm bạn sẽ an định. Khi tâm đã an định, bạn trở lại theo dõi bốn biểu hiện của hơi thở: vô, ra, dài, ngắn, hoặc toàn luồng hơi thở, như đã đề cập.

    2. Không chuyển sự chú tâm theo dõi từ hơi thở sang các đề mục khác như tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Ba đặc tính này thuộc về đối tượng thiền quán ở giai đoạn sau. Ở đây, mục đích chính của niệm hơi thở là để an trú tâm và để đạt đến sự an định.

    3. Khi chuyển từ bước một sang bước hai hoặc bước ba, bạn chỉ làm một việc duy nhất đó là tác ý (khởi niệm) cảm nhận toàn thân hơi thở (bước hai), hoặc là tác ý quyết tâm đạt đến sự an tịnh của hơi thở và thân tâm (bước ba). Trong lúc tác ý, bạn vẫn duy trì sự chú tâm theo dõi hơi thở.

    4. Năm chướng ngại (năm triền cái): Có năm chướng ngại lớn trong việc thực tập thiền định đó là: Dục (các loại tham ái), sân (các loại tâm sân hận), hôn trầm (sự lừ đừ, buồn ngủ, tâm mê mờ, dã dượi), trạo hối (tâm dao động, bất an), và nghi (nghi ngờ, thiếu niềm tin vững chắc).

    5. Khi tâm an định trong một khoảng thời gian dài (từ một tiếng trở lên), định tướng của hơi thở, như mùi hương, ánh sáng hay màu sắc .v.v. sẽ xuất hiện với nhiều hình thức khác nhau tùy ở mỗi người. Bạn không nên rời hơi thở để chú tâm vào các tướng đó.Bạn phải giữ chánh niệm liên tục trên đối tượng chính là hơi thở.

    6. Nếu bạn có thể duy trì sự an định này trong khoảng thời gian dài, bạn sẽ vào Cận định (upacāra) khi từ bỏ năm triền cái (xem số 4); và sẽ vào An chỉ định (appanā) khi làm cho sung mãn năm thiền chi: tầm (duy trì tỉnh thức nơi đối tượng), tứ (an trú vững chắc nơi đối tượng), hỷ (hân hoan, vui mừng), lạc (an lạc), và nhất tâm (an định).

    7. Bạn có thể ứng dụng các bước thực tập thiền niệm hơi thở vào đời sống hàng ngày trong mọi lúc, mọi nơi như đi, đứng, nằm, ngồi. Nên nhớ rằng niệm hơi thở là nền tảng của hiện pháp lạc trú (drsta-dharma-sukha-viharin / Living happily in the present moments.)

    8. Khi đã hành trì thuần thục quán niệm hơi thở ở bước một, bạn nên tiếp tục thực tập ba bước tiếp theo (xem phần IV. 16 đề mục thiền dưới đây.)



    IV. 16 Đề Mục Thiền trong Kinh Anapanasati



    (I) Thân niệm xứ:

    · Thở vô dài, tôi biết: “Tôi thở vô dài”. Thở ra dài, tôi biết: “Tôi thở ra dài”.

    · Thở vô ngắn, tôi biết: “Tôi thở vô ngắn”. Thở ra ngắn, tôi biết: “Tôi thở ra ngắn”.

    · “Cảm giác toàn thân (hơi thở), tôi thở vô”—“Cảm giác cả toàn thân, tôi thở ra”.

    · “An tịnh thân hành, tôi thở vô”—An tịnh thân hành, tôi thở ra”.

    (II) Thọ niệm xứ:

    · “Cảm giác hỷ thọ, tôi thở vô”—“Cảm giác hỷ thọ, tôi thở ra”.

    · “Cảm giác lạc thọ, tôi thở vô”—“Cảm giác lạc thọ, tôi thở ra”.

    · “Cảm giác tâm hành, tôi thở vô”—“Cảm giác tâm hành, tôi thở ra”.

    · “An tịnh tâm hành, tôi thở vô”—“An tịnh tâm hành, tôi thở ra”.

    (III) Tâm niệm xứ:

    · “Cảm giác về tâm, tôi thở vô”—“Cảm giác về tâm, tôi thở ra”.

    · “Với tâm hân hoan, tôi thở vô”—“Với tâm hân hoan, tôi thở ra”.

    · “Với tâm định tĩnh, tôi thở vô”—“Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra”.

    · “Với tâm giải thoát, tôi thở vô”—“Với tâm giải thoát, tôi thở ra”.

    (IV) Pháp niệm xứ:

    · “Quán vô thường, tôi thở vô”—“Quán vô thường, tôi thở ra”.

    · “Quán ly tham, tôi thở vô”—“Quán ly tham, tôi thở ra”.

    · “Quán đoạn diệt, tôi thở vô”—“Quán đoạn diệt, tôi thở ra”.

    · “Quán từ bỏ, tôi thở vô”—“Quán từ bỏ, tôi thở ra”.

    ***

    “Này các tỷ kheo, ta thường tu tập phương pháp quán niệm hơi thở này trong hầu hết thời giờ của ta.Và nhờ sống trong tu tập phương pháp này mà thân thể và đôi mắt ta không hề mệt nhọc; nhờ kết quả ấy mà tâm ta giải thoát các lậu hoặc.” (Sn, V, 317)



    “Và này các tỷ kheo, định do quán hơi thở này, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, là an tịnh và cao thượng, là trú xứ an lạc vô nhiễm, loại trừ và làm cho tịnh chỉ các bất thiện tư duy ngay khi chúng khởi lên.” (S. V. 321)



    “Những người đã đạt được sơ thiền ở một mức độ nào đó sẽ được tái sinh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Phạm thiên. Và ngay cả sự tu tập định cận hành cũng dẫn đến sự tái sinh tốt đẹp hơn trong những thiện thú thuộc dục giới.” (Visuddhimagga XI.123)

    .-*-.-*-._Ưng Vô Sở Trụ_.-*-.-*-.
    ..........................Nhi Sanh Kỳ Tâm......................

  2. #2
    Nhị Đẳng Avatar của Mr.ALI
    Gia nhập
    Feb 2011
    Nơi cư ngụ
    Thế Giới Tịnh Lưu Ly
    Bài gởi
    2,487

    Mặc định

    Thiền tông đốn ngộ

    giới thiệu 1 chút về thầy thích thanh tứ



    Hòa thượng húy là Trần Hữu Phước, pháp danh Thích Thanh Từ, sau đổi lại húy là Trần Thanh Từ. Sinh ngày 24 tháng 07 năm Giáp Tý (1924), tại ấp Tích Khánh, làng Tích Thiện, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Vĩnh Long).


    Hòa thượng húy là Trần Hữu Phước, pháp danh Thích Thanh Từ, sau đổi lại húy là Trần Thanh Từ. Sinh ngày 24 tháng 07 năm Giáp Tý (1924), tại ấp Tích Khánh, làng Tích Thiện, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Vĩnh Long).

    Thân phụ của Hòa thượng húy Trần Văn Mão, từ nhỏ theo nghiệp Nho, giữ nếp sống thanh bần. Cụ ông theo đạo Cao đài, lập gia đình hơi muộn. Thân mẫu của Hòa thượng húy Nguyễn Thị Đủ quê làng Thiện Mỹ, dòng Thanh Bạch, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Cụ bà chân chất hiền lành, suốt đời tận tụy hy sinh vì chồng vì con. Hòa thượng sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn nghèo túng, nhưng Người đã nổi bật những nét riêng từ thuở ấu thơ: trầm mặc, ít nói, thích đọc sách, có chí xuất trần và đặc biệt rất hiếu thảo với Cha Mẹ.

    Khoảng năm 9 tuổi, nhân theo Cụ ông lên Mốp Văn, Long Xuyên thọ tang người Bác thứ ba, Hòa thượng được đến chùa Sân Tiên trên núi Ba Thê cúng cầu siêu cho Bác. Duyên xưa gặp lại, nghe tiếng chuông chùa ngân dài giữa khoảng thinh không cô tịch, Hòa thượng rúng động như có một nỗi niềm giao cảm tự bao giờ. Bất thần Người xuất khẩu thành thơ:
    Non đảnh là nơi thú lắm ai,
    Đó cảnh nhàn du của khách tài.
    Tiếng mõ công phu người tỉnh giấc,
    Chuông hồi văng vẳng quá bi ai!

    Có thể nói rằng chí xuất trần của Hòa thượng nổi dậy kể từ đây.
    Sớm chìm nổi theo dòng đời và nhất là sống trong thời loạn lạc, Hòa thượng càng thấm thía, càng đau xót nỗi thống khổ của con người. Chí xuất trần của Hòa thượng vì thế càng trở nên mãnh liệt hơn và Người luôn ôm ấp một tâm niệm “ Nếu tôi không thể làm một viên linh đơn cứu tất cả bệnh của chúng sanh, ít ra cũng là một viên thuốc bổ giúp cho người bớt khổ.”

    Từ dạo đó trái nhân duyên đã chín muồi, cuộc đời của Hòa thượng rẽ sang một con đường sáng.

    ImageNgày 15 tháng 07 năm Kỷ Sửu 1949, sau ba tháng công quả tại chùa Phật Quang, Hòa thượng được Tổ Thiện Hoa chánh thức cho xuất gia với pháp danh là Thanh Từ. Thế là ước nguyện của Người đã được thành tựu. Từ đây Hòa thượng siêng năng theo Tổ công phu bái sám, vừa học giáo lý, vừa dạy trẻ em. Ngoài ra còn phụ trông nom coi sóc mấy chục chú Tiểu trong chùa. Công việc tuy nhiều, song Hòa thượng luôn để tâm học Giáo điển.

    Năm 1949 -1950, Hòa thượng theo học lớp Sơ đẳng năm thứ ba tại Phật Học Đường Phật Quang.

    Đến năm 1951, Hòa thượng bắt đầu học lên Trung đẳng.

    Image Một khuya nọ, nhân đọc Kinh Lăng Nghiêm đến chỗ Phật chỉ Tôn giả A Nan nhận ra bản tâm chân thật của chính mình qua tánh thấy, tánh nghe, bất giác Hòa thượng xúc động rơi lệ. Phải chăng đây là dấu hiệu cho biết chủng duyên Phật Pháp nhiều đời của Người đã bắt đầu nẩy mầm?
    Cũng trong năm nầy chùa Phật Quang bị binh biến, Tổ Thiện Hoa phải dời Tăng chúng lên chùa Phước Hậu, Hòa thượng cũng được theo và thọ giới Sa Di tại đây do Tổ Khánh Anh làm Hòa thượng Đàn đầu.

    Năm 1953 Hòa thượng theo Bổn sư là Tổ Thiện Hoa lên Sài gòn, tiếp tục học lớp Trung đẳng tại Phật Học Đường Nam Việt chùa Ấn Quang. Tại đây, Hòa thượng được thọ giới Cụ túc do Tổ Huệ Quang làm Hòa thượng Đàn đầu.

    Từ năm 1954 -1959, Hòa thượng học Cao đẳng Phật học tại Phật Học Đường Nam Việt. Những vị đồng khóa cùng ra trường với Hòa thượng như quí Ngài Huyền Vi, Thiền Định, Từ Thông, ...

    Như vậy là ngót mười năm Hòa thượng đã trải qua hai năm Sơ đẳng, ba năm Trung đẳng, bốn năm Cao đẳng. Tốt nghiệp các lớp Phật học xong là đoạn đường Tăng sinh đã hoàn tất. Hòa thượng bước sang thời kỳ hóa đạo. Hòa thượng là một vị Giảng sư trong Giảng sư đoàn của ban Hoằng Pháp, có uy tín lớn thời bấy giờ và được sự mến mộ của Phật tử xa gần.

    Năm 1960 -1964, Hòa thượng đã giữ những chức vụ trong Phật giáo:

    • Phó Vụ Trưởng Phật Học Vụ.
    • Vụ Trưởng Phật Học Vụ.
    • Giáo sư kiêm Quản viện Phật Học Viện Huệ Nghiêm.
    • Giảng sư Viện Đại Học Vạn Hạnh và các Phật Học Đường Dược Sư, Từ Nghiêm, ...

    Sau lễ mãn khóa Cao Trung Chuyên Khoa tại Huệ Nghiêm và Dược Sư, Hòa thượng thầm nghĩ với ngần ấy đóng góp cũng phần nào tạm đủ nói lên tấm lòng tri ân và báo ân của mình đối với Thầy Tổ rồi. Hòa thượng liền xin phép với Tổ Thiện Hoa được lui về núi ẩn tu. Chí đã quyết, Hòa thượng dằn lòng dứt áo ra đi, âm thầm một mình một bóng lên chốn non thâm.

    Hòa thượng đã thật sự giã từ Phật Học Viện, giã từ phấn bảng với năm tháng miệt mài vì tứ chúng. Nhưng hai tiếng "Tăng Ni" vẫn xoáy sâu vào lòng Người, để sau này chút duyên "Thầy Trò" ấy lại gặp nhau và càng thêm son sắt trên đỉnh Tương Kỳ.

    Image Tháng 04 năm 1966, Hòa thượng dựng Pháp Lạc thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Ngôi thất lá vuông vức bốn thước đơn sơ với bộ Đại Tạng Kinh, nhưng đã ấp ủ một thiền Tăng nghèo quyết nhận lại cho kỳ được hạt châu vô giá của chính mình.

    Đến rằm tháng tư năm Mậu Thân, Hòa thượng tuyên bố nhập thất vô hạn định với lời kiên quyết: " Nếu đạo không sáng, thệ không ra thất.” Thế là cửa sài đôi cánh khép. Toàn thể môn nhân qui ngưỡng lên non một lòng mong đợi.

    Tháng 07 năm 1968, Hòa thượng liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát Nhã. Từ con mắt Bát Nhã trông qua tạng Kinh, lời Phật, ý Tổ hoác toang thông thống. Giáo lý Đại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng khám phá từ công phu thiền định của Người.

    Ngày 08 tháng 12 năm ấy, Hòa thượng tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử. Nước cam lồ từ đây rưới khắp, suối từ bi từ đây tuôn chảy. Pháp Lạc thất thật xứng đáng là linh hồn của dòng Thiền Chân Không. Nơi đây, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình, một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tu của Hòa thượng. Hoài bão tu Thiền đã thai nghén bao năm trong thầm lặng đơn độc của Người, đến đây mới thật sự có điểm khởi phát và lớn dậy, để sau nầy Phật giáo Việt Nam vinh dự có một ngôi sao sáng mở ra trang Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng vào cuối thế kỷ 20.

    Hòa thượng đã từng nói: “Tôi là kẻ nợ của Tăng Ni và Phật tử. Ai biết đòi thì tôi trả trước, ai chưa biết đòi thì trả sau.” Suốt đời Ngài đều dốc hết sức mình lo cho Phật pháp, đặc biệt là làm sống lại Thiền tông đời Trần, tạo điều kiện cho Tăng Ni tu hành tiến bộ. Tăng Ni tu hành có tiến bộ thì Phật pháp mới còn và lớn mạnh được. Sự tu hành tiến bộ của Tăng Ni là niềm vui của Ngài. Ngài nói: “Hoài bão của Thầy đều gởi gắm hết vào sự nỗ lực tu tập của tụi con. Tăng Ni tu có niềm vui, sáng được việc lớn, đó là biết thương tưởng đến Thầy. Bằng ngược lại thì thật là Thầy chưa đủ phước để được vui trước khi nhắm mắt. Bởi vì nguyện vọng khôi phục Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần của Thầy chưa thành tựu.”

    Các thiền viện sau đây chính thức được Hòa thượng thành lập, làm nơi giáo hóa và hướng dẫn tu hành:

    Image • Thiền viện Chân Không, núi Tương Kỳ - Vũng Tàu, thành lập vào tháng 04 năm 1971; dời về Thường Chiếu năm 1986, được phép tái thiết năm 1995.
    • Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 08 năm 1974.


    Image • Thiền viện Viên Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 04 năm 1975.

    • Thiền viện Huệ Chiếu, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành lập tháng 04 năm 1979.
    • Thiền viện Linh Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 02 năm 1980
    Image • Thiền viện Phổ Chiếu, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành lập tháng 06 năm 1980.

    • Thiền viện Tịch Chiếu, Long Hải, thành lập tháng 07 năm 1987.

    • Thiền viện Liễu Đức, Long Thành - Đồng Nai.
    • Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt - Lâm Đồng, thành lập tháng 04 năm 1993.
    • Chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, 2002.
    • Thiền viện Tuệ Quang, Linh Trung, Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh.
    • Thiền viện Hương Hải, Long Thành - Đồng Nai.
    • Thiền viện Đạo Huệ, Long Thành - Đồng Nai.
    • Thiền viện Tuệ Thông, Long Thành - Đồng Nai.
    • Thiền viện Quang Chiếu, Forthworth, Texas, Mỹ, thành lập năm 2000.
    • Thiền viện Đại Đăng, Bonsall, California, Mỹ, thành lập năm 2001.
    • Thiền viện Đạo Viên, Québec, Canada, thành lập năm 2002.
    • Thiền viện Bồ Đề, Boston, Mỹ, thành lập năm 2002.
    • Thiền viện Diệu Nhân, Sacramento, Mỹ, thành lập năm 2002.
    • Thiền viện Tiêu Dao, Úc.
    • Ngoài ra, còn có Thiền Thất Ngọc Chiếu, Garden Grove, CA, Mỹ. Thiền Thất Thường Lạc - Pháp. Thiền Trang Hỷ Xả - Úc……




    Hòa thượng cũng đã góp sức trùng tu hai Tổ đình Phật Quang và Phước Hậu, Trà Ôn, Vĩnh Long.
    Hòa thượng giảng và dịch rất nhiều bộ Kinh, Luận và Sử từ Hán văn sang Việt văn. Ngoài ra Hòa thượng còn giảng giải rất nhiều bài pháp phổ thông cho Tăng Ni và Phật tử.
    Hòa thượng đã đi du hoá và thăm viếng các nước:
    .-*-.-*-._Ưng Vô Sở Trụ_.-*-.-*-.
    ..........................Nhi Sanh Kỳ Tâm......................

  3. #3
    Nhị Đẳng Avatar của Mr.ALI
    Gia nhập
    Feb 2011
    Nơi cư ngụ
    Thế Giới Tịnh Lưu Ly
    Bài gởi
    2,487

    Mặc định

    Thiền tông đốn ngộ


    TT Thích Thông Phương

    Một đạp vỡ tung vô lượng cõi
    Lắc mình pháp giới bặt tăm hơi



    Nói đến thiền tông là nói đến đốn ngộ.
    Tức chóng ngộ ngay bản tánh chính mình cùng Phật không khác, không trải qua thứ lớp, không do tu hành mới được. Đây là phá tan cái thấy còn kẹt trên thứ lớp, vượt qua giáo nghĩa phân biệt, ngộ thẳng tự tâm.


    Điển hình, Đức Sơn vốn là một giảng sư kinh Kim Cang nổi tiếng mà ban đầu Sư còn không hiểu nổi và đã phát nguyện : “Kẻ xuất gia muôn kiếp học oai nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh Phật còn chẳng được thành Phật, ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt sạch những giống ấy để đền ơn Phật”. Kịp đến khi Sư gặp bà già bán bánh, nghe bà hỏi một câu, đáp không trôi, mới thấy lại : Còn có cái gì nữa? Rồi khi Sư gặp Long Đàm, đưa đèn thổi tắt, liền chợt ngộ “Trí vô sư vốn vượt ngoài chữ nghĩa đã học được”.

    Quả thật, chân lý thiền vốn ở ngay nơi người, ngay trong tự tâm chúng ta đây thôi. Vậy ai có tâm thì chắc chắc có thiền, không nghi ngờ gì nữa. Nhưng tại sao có người đành quay lưng từ chối không nhận?

    Kìa, Phật thành đạo là thành ở đâu? Có lẽ nào lại ở dưới cội bồ đề hay trên sao mai? Thấy như thế, thì đến tột mé vị lai hẳn cũng chưa gặp. Rồi chư Tổ tỏ ngộ là tỏ ngộ ở đâu? Quyết không thể ở nơi bộ kinh này, bộ kinh kia hay ngữ lục nọ. Moi móc kiếm tìm trong đám rừng chữ nghĩa đó thì đời đời kiếp kiếp vẫn không bao giờ gặp chư Tổ.

    Kìa gió thổi thông reo, lá rung trước mắt, ánh sáng vĩnh hằng đang hiển bày ra đó. Sức sống này làm sao ghi chép chú giải?

    Kìa, Tuệ Hải đến Mã Tổ toan cầu pháp vi diệu. mã Tổ bảo ngay :

    Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì? Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì?

    Sư lễ bái thưa : Cái gì là kho báu nhà mình của Tuệ Hải?

    Mã Tổ nghiêm nghị bảo thẳng : Chính ngươi hiện đang hỏi ta, đó là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không hề thiếu thốn, tự do sử dụng, đâu ngờ tìm cầu bên ngoài.

    Ngay câu nói này, Sư tự nhận bản tâm không do hiểu biết, liền vui mừng lễ tạ.

    A! Kho báu từ vô thủy bỗng chốc hiện bày trước ra mắt, còn gì vui sướng hơn? Nhưng đặc biệt ‘không do hiểu biết’, chỗ này chữ nghĩa làm sao ghi chép được.
    Thực vậy, Thiền tông chỉ thẳng là chỉ thẳng ngay đây, khỏi phải quanh co trên lý luận dài dòng. Người nhận thì nhận liền, không cho suy nghĩ chần chờ. Phải chộp lấy thời cơ kịp lúc, nhảy qua cả ông thầy, tự sống dậy không thể nghĩ bàn. Chính vì thế, Thiền tông thường lưu truyền: “Cái thấy bằng Thầy, còn kém Thầy nửa đức, cái thấy vượt hơn Thầy mới kham truyền trao”. Phải vậy chớ, “Kia đã trượng phu, ta đây cũng vậy”. Đâu thể tự khinh mình mà còn đành lui sụt. Hãy tin chắc,ÁNH SÁNG TÂM TÔNG đang tỏa chiếu trong ta. Nói năng qua lại, đi đứng tới lui, mọi động dụng hằng ngày có thiếu thốn bao giờ đâu. “Trường An ồn náo, nước con vẫn an ổn”, ai ai đều có dẵn một chỗ bất khả xâu phạm ấy, sao không tự nhận đi, chạy tìm kiếm nơi người thì bao giờ mới được an? Chân lý thì rất đơn giản, mà con người tưởng tượng quá nhiều thành rắc rối, lạ lùng, xa lạ, đáng thương! Đây này, ngay một niệm hiện tiền bặt cả ba đời trước sau. Còn ai dối được mình? Chớ học theo Chu Kim Cang, đối diện bà già đưa bánh tới tận miệng, lạimđành ôm bụng đói ra đi. Thất đáng tiếc! đáng tiếc!

    Một chút xíu đó mà xưa nay nói hoài cũng không hết. Bởi vậy, Thiền tông nêu cao tông chỉ:

    Truyền riêng ngòai giáo
    Chẳng lập văn tự
    Trực chỉ nhân tâm
    Kiên tánh thành Phật


    I- THIỀN LÀ GÌ ?

    Thiền, nói đủ là Thiền-na, Trung Hoa dịch là tĩnh lự; nghĩa là lặng lẽ những lo nghĩ lăng xăng, hay cũng dịch là định tuệ đẳng trì, tức tâm lặng và sáng đầy đủ. Tuy nhiên đó chỉ là định nghĩa theo danh từ, phương tiện mà giải thích cho người tạm hiểu, xét trên lý thật thì đó chưa phải là bản thân của Thiền.

    Bởi tĩnh lự hay định tuệ đẳng trì đó, nó không nằm ở trên những ngôn từ hoặc chữ nghĩa vô tri kia, mà nó ở ngay trong tâm người, Do đó, dù ai có cố gắng giải thích thế mấy cũng không bao giờ chạm đến bản thân thiền chân thật. Cho nên Thiền mà còn định nghĩa được, đó là Thiền Chết, Thiền Văn Tự, không phải Thiền Sống. Đến chỗ cứu cánh thiền thì bỏ xa văn tự. Chữ nghĩa làm sao ghi được cái tâm lặng lẽ trong sáng đó ? Dù máy móc điện tử tối tân cũng không thể ghi được chỗ này .

    II- THỂ NGHIỆM TRỰC TIẾP

    Chân lý sống là cái hiện thực ngay nơi mỗi người, trong mỗi người, người đang sống trong đó chứ không ở đâu khác. Như nói Thiền là tĩnh lự, là tâm lặng lẽ trong sáng, song đặt câu hỏi lại: Thế nào là tâm lặng lẽ trong sáng ? Đây không còn là chuyện giải thích danh từ nữa, mà phải tự cảm nhận nơi mình mới thấu rõ thôi . Vì vậy, muốn cảm nhận chân lý Thiền là phải thể nghiệm trực tiếp, phải thẳng vào chớ không đứng bên ngoài bàn bạc, lý luận suông .

    Có vị tăng hỏi Thượng Sĩ Tuệ Trung :

    - Bạch Thượng Sĩ, thế nào là đại ý Phật pháp ?

    Thượng Sĩ đáp :

    - Đầu trạnh vỗ sóng mắt sâu bọ,

    Cánh bằng nhốt gió ruột kiến trùng .

    Hỏi:- Như vậy học nhân làm sao được lối vào ?

    Đáp:- Gãi ngứa phải đâu người khác ngứa,

    Đói ăn chính thật nhà ngươi ăn

    Ông hỏi đại ý Phật pháp, ông muốn hiểu được lẽ thật đó, thì ông phải quên niệm phân biệt theo thói quen suy nghĩ lâu nay đi, ông phải đích thân cảm nhận nơi mình chớ không thể đứng bên ngoài mà hỏi, mà muốn tìm hiểu biết . Gãi ngứa là tự ông ngứa, đâu phải người khác ngứa thay cho ông; cũng vậy, đói là tự ông ăn thì mới hết đói, ai ăn thay cho ông được? Cho nên trong nhà Thiền, nhất là Thiền tông luôn nhấn mạnh đến chỗ trực nhận không qua ý niệm .

    Thiền sư Nghĩa Huyền, sau này là Tổ tông Lâm Tế, lúc còn đang tham thiền trong hội Ngài Hoàng Bá, khi đến hỏi về “Đại ý Phật pháp”, ba lần hỏi thì ba lần đều bị ăn gậy mà không được giải thích một lời. Hoặc ông Thôi Tề Công đến hỏi Thiền sư Thần Hội:

    - Thiền sư ngồi thiền một phen định, về sau bao lâu mới xuất định?

    Sư đáp:

    - Thần không có chỗ nơi, có cái gì là định ư?

    - Đã nói không định, sao gọi là dụng tâm?

    - Nay tôi định còn không lập, ai nói có dụng tâm?

    - Tâm và định đều không, thế nào là đạo?

    - Đạo là “đạo như thế”, không có “đạo thế nào”.

    - Đã nói không có “đạo thế nào”, vậy chỗ nào có “đạo như thế” ?

    - Nay nói “đạo như thế” là do có “đạo thế nào”, nếu như không có ‘đạo thế nào” thì “ như thế” cũng không còn .

    Nghĩa là, với Thiền sư thì không có giải thích dài dòng theo chữ nghĩa. Bởi do có hỏi “đạo thế nào” nên mới tạm nói “đạo như thế” để đối đáp lại. Nói “như thế” là để dừng lại chỗ suy nghĩ, tìm hiểu của ông thôi, chớ thực ra nếu ông không có hỏi thế nào, thì cũng không có nói “như thế” làm gì. Bởi vì “Nó vốn như thế là như thế rồi’, khỏi phải nói thêm cái tên “như thế” nữa. Nói “như thế” là đã dán thêm cái nhãn hiệu lên nó.

    Đây là muốn nhắc người hỏi, phải can đảm buông xả hết mọi ý niệm hướng về nó, thì chân lý thiền hiện tiền sáng ngời đây thôi. Còn hướng đến nó tức là còn đứng ngoài nó. Từ đó mà biết, hiện có nhiều người đang tranh cải về thực tại thế này, thế kia, là có, là không, thì rõ ngay là chưa chạm đến thực tại. Trong nhà Thiền không chấp nhận cho người cứ đứng bên ngoài mà lý luận.

    Như có Thượng Tọa Định thuộc dòng Lâm Tế, một hôm trên đường thọ trai nhà thí chủ đi về, gặp ba vị tọa chủ trên cây cầu, trong đó một vị mới hỏi Sư:

    - Thế nào là tột đáy sông thiền ?

    Sư liền chộp ngực vị ấy định ném xuống sông. Hai vị kia hoảng hốt xin tha rối rít. Sư liền bảo:

    - Nếu không có hai vị đây tôi đã cho ông xuống tột đáy sông thiền cho biết .

    Thiền chân thật là thế ! Ông muốn biết tột đáy sông thiền, hãy vào đó thì biết ngay, không phải giải thích chữ nghĩa dài dòng . Cứ đứng ngoài mà hỏi, dù có nói cho ông nghe cũng chỉ là tưởng tượng, là khái niệm thôi, đâu cảm nhận được lẽ thật ấy.

    Bởi vậy tôn chỉ của Thiền tông là “Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền”, tức là tự có con đường sống, vượt qua ngôn giáo, chữ nghĩa bên ngoài. Do đó nếu người không trực tiếp thể nghiệm, làm sao rõ được ?

    III- TU THIỀN TÔNG PHẢI VƯỢT QUA CHỮ NGHĨA.

    Lục Tổ Huệ Năng, một bậc Tổ Sư phi thường của Thiền tông, hiện thân là vị tiều phu không biết chữ mà ngộ đạo được truyền y bát, kế vị Tổ thứ sáu Thiền tông Trung Hoa. Truyện kể rằng, lúc Sư ẩn ở thôn Tào Hầu, có lần Bà ni Vô Tận Tạng đem kinh Niết Bàn hỏi Sư, Sư bảo: “chữ thì tôi không biết nhưng nghĩa thì cứ hỏi”. Bà ni nói: “Chữ còn không biết, làm sao biết nghĩa?” Sư bảo: “Diệu lý của chư Phật không dính dáng gì đến văn tự. Bà ngạc nhiên biết là bậc khác thường, liền đi báo cho người trong thôn đến lễ bái cúng dường.

    Đây là Lục Tổ đánh thức cho người học Phật phải học thấu qua văn tự chữ nghĩa, chớ không thể bám chặt vào những dòng chữ, những nghĩa lý chết kia. Chữ nghĩa nó đâu biết ngộ đạo, đâu bíết chiếu soi gì ! Thí dụ mấy chữ bản lai diện mục, kiến tánh, minh tâm, thoại đầu, công án, Tổ sư, nó có hiểu biết gì đâu. Chính người đọc ra nó, mới biết giác, biết ngộ, phải phản chiếu “con người ấy”, đó mới chính là chân thật tham thiền, là chỗ nhắm của chư Tổ ra đời. Do đó, khi vua Trần Nhân Tông hỏi Thượng Sĩ Tuệ Trung về: “Tông chỉ của việc bổn phận”, Thượng Sĩ đáp: “Soi sáng lại chính mình, đó là việc bổn phận, chẳng từ nơi nào khác mà được”.( Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tòng tha đắc )

    Soi sáng lại chính mình tức là vượt qua chữ nghĩa, văn tự, lời dạy bên ngoài, mà đánh thức sức sống chân thật ngay chính mình. Mạch sống Thiền là đó. Cho nên dù trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử nhưng sức sống Thiền vẫn bất tuyệt. Còn có người thực tu là còn có người thực ngộ, và ánh sáng Thiền vẫn hiện hữu..

    IV- TÓM KẾT .

    Thiền là sống, là sáng tạo, luôn luôn mới mẻ tinh khôi, không nằm trong một khuôn khổ chết hay một ước lệ nào .

    Vào Thiền, phải dám buông lại những kiến thức vay mượn từ bên ngoài để phát khởi trí vô sư, trí tự nhiên nơi mỗi người . Đây là con đường thể nghiệm chân lý trực tiếp nơi mình, không qua trung gian ý thức suy luận, và đây cũng chính là cội nguồn của đạo Phật. Bởi ngay từ buổi đầu, khi thành đạo đức Phật đã muốn nhập niết bàn, không muốn đi thuyết pháp, vì thấy chỗ chứng ngộ đó quá sâu xa, vượt ngoài ngôn ngữ văn tự, khó nói cho người hiểu được. Phạm thiên thỉnh ba lần Phật mới hứa khả đi thuyết pháp giáo hóa. Vậy có nói ra là phương tiện tạm thời không phải cứu cánh . Người học Phật, tu Phật cần học , tu đến chỗ vượt qua ngôn ngữ văn tự, thể nghiệm trực tiếp ngay chính mình, mới đạt được ý Phật, mới gặp Phật, gặp Tổ .

    Chính đây là con đường của HÀNH GIẢ đúng ý nghĩa .
    .-*-.-*-._Ưng Vô Sở Trụ_.-*-.-*-.
    ..........................Nhi Sanh Kỳ Tâm......................

  4. #4
    Nhị Đẳng Avatar của Mr.ALI
    Gia nhập
    Feb 2011
    Nơi cư ngụ
    Thế Giới Tịnh Lưu Ly
    Bài gởi
    2,487

    Mặc định

    Tu Thiền Có Chứng Đắc Hay Không?

    Một Sức Sống Chân Thật Giữa Thế Gian
    THIỀN TÔNG ĐỐN NGỘ
    Thích Thông Phương
    Hội Thiền Học Việt Nam PL. 2547 - DL. 2003

    TU THIỀN CÓ CHỨNG ĐẮC HAY KHÔNG ?


    I. ĐẶT LẠI VẤN ĐỀ CHỨNG ĐẮC.

    Thường thường với tâm lý người thế gian hễ làm việc gì cũng mong muốn có kết quả, được thành tựu cái gì đó mới chịu, mới hăng hái làm. Trong đạo, người tu thì muốn đắc quả, muốn chứng đạo, cho nên có những danh từ đắc đạo, đạt đạo, chứng đạo, thành đạo v.v… Vậy thật sự có đạo để chứng, để thành hay không? Đây là điểm cần phải nhận định kỹ, không để bị lầm lẫn, bị gạt khiến rơi vào đường tà.

    Nếu bảo là không: thì tại sao có CHỨNG ĐẠO CA? Tức khúc ca nói lên sự chứng đạo của Thiền sư Huyền Giác rất nổi tiếng trong nhà thiền.

    Hoặc như Hòa thượng Câu Chi lúc ở am có bà ni tên Thật Tế đến am của Sư bèn đi thẳng vào chẳng giở nón, cầm gậy đi quanh giường thiền ba vòng và nói:

    - Nói được thì tôi giở nón!

    Hỏi ba lần Sư không đáp được. Vị ni từ giã đi. Sư cầm lại:

    - Trời đã chiều, cô hãy ở lại nghỉ tạm.

    Vị ni nói:

    - Nói được thì ở lại.

    Sư cũng không nói được. Vị ni liền đi. Sư tự than:
    - Ta tuy mang hình tướng trượng phu mà không có khí trượng phu!

    Liền phát phẫn, quyết rõ việc này. Sư định bỏ am đi các nơi thưa hỏi. Đêm đó Sơn thần báo mộng:

    - Thầy chẳng cần đi đâu khác. Ngày mai có nhục thân Bồ tát đến, sẽ nói pháp cho thầy.

    Hôm sau quả nhiên có Hòa thượng Thiên Long đến, Sư lạy thỉnh vào am, kể lại rành rẽ việc hôm qua. Nghe xong, Thiên Long liền đưa ngón tay lên chỉ đó!

    Câu Chi bỗng nhiên đại ngộ.

    Sau này, khi sắp tịch Sư bảo chúng:

    - Ta được một ngón tay thiền của Hòa thượng Thiên Long, cả đời dùng chẳng hết. Cần hiểu chăng? Sư đưa ngón tay lên rồi tịch.

    Hãy xem ngài Câu Chi tuYên bố giữa chúng: “Ta được một ngón tay thiền của Hòa thượng Thiên Long, cả đời dùng chẳng hết.” Chỉ một ngón tay thiền mà suốt đời dùng không hết. Là có được hay không ?

    Hay như Hòa thượng Tuyết Phong, có vị tăng từ giã Sư đi. Sư hỏi:

    - Ông đi đâu?

    Tăng thưa:

    - Con đi Hồ Nam.

    Sư bảo:
    - Ta có người bạn đồng hành ở Nham Đầu, gửi ông một lá thư đưa hộ cho. Thơ viết: “Tôi gởi thơ lên sư huynh, từ ngày tôi thành đạo ở Ngao Sơn về sau cho đến nay vẫn còn no chưa đói.”

    Một phen thành đạo về sau no mãi chẳng đói, là có được hay không ?

    * NẾU NÓI CÓ: Sao có vị tăng hỏi Hòa thượng Tuyết Phong:

    - Hòa thượng gặp Tuyết Phong được cái gì liền thôi?

    Sư đáp:

    - Ta đi tay không về tay không.

    Xem Sư, đi tay không, về tay không thì có được cái gì ?

    Và chuyện Động Sơn Y Bát. Có vị tăng hỏi Động Sơn:

    - “Thường thường xuyên lau chùi” vì sao chẳng được y bát kia? Chưa biết người nào nên được ?

    Tăng thưa:

    - Chỉ như người chẳng vào cửa, lại được hay không ?

    Sư đáp:

    - Tuy nhiên như thế, không thể chẳng cho y.

    Sư bèn hỏi lại:

    - Nói thẳng “xưa nay không một vật” vẫn còn chưa thể gọi là được y bát kia, ông hãy nói người nào nên được? Trong đây nên hạ một chuyển ngữ, hãy nói là chuyển ngữ gì ?

    Bấy giờ có vị tăng nói 96 chuyển ngữ đều không khế hợp, đến một chuyển ngữ cuối cùng mới hợp ý Sư.

    Có vị tăng rình nghe nhưng không nghe được một chuyển ngữ cuối cùng đó, ông bèn theo hỏi vị tăng ấy. Vị tăng ấy cũng chẳng chịu nói. Suốt ba năm như thế theo hỏi mà chẳng được vị tăng ấy thuật lại câu đó. Một hôm vị tăng ấy bị bệnh, ông tăng này liền bảo:

    - Tôi ba năm nay xin được thuật lại lời trước kia mà chẳng được. Thượng tọa từ bi nói, dùng lành chẳng được thì phải dùng dữ.

    Ông bèn cầm con dao bén bảo:

    - Nếu Thượng tọa chẳng thuật lại cho tôi nghe, tôi giết Thượng tọa ngay!

    Vị tăng ấy tỏ vẻ run sợ nói:

    - Xà lê! Hãy đợi tôi thuật lại cho!

    Bèn nói: - Dù cho đem đến cũng không chỗ để !

    Ông tăng này liền lễ tạ.

    Hãy nghe kỹ câu nói “Dù cho đem đến cũng không chỗ để ” trong ấy vốn là “xưa nay không một vật thì có chỗ nào bám ?

    Vậy cuối cùng là có chứng đắc hay không ? Rồi việc truyền tâm ấn trong nhà thiền là thế nào ?

    II. TU CHỨNG TỨC CHẲNG KHÔNG, NHIỄM Ô CHẲNG THỂ ĐƯỢC.

    Để rõ việc chứng đắc, chúng ta nghe câu chuyện ngài Hoài Nhượng đến tham vấn Lục Tổ liền sáng tỏ.

    Sư đến gặp Lục Tổ, Tổ hỏi:

    - Ở đâu đến ?

    Sư thưa:

    - Từ Tung Sơn đến.

    Tổ hỏi:

    - Vật gì thế ất đến ?

    Sư không đáp được. Trải qua tám năm Sư có tỉnh bèn đến Tổ thưa:

    - Con có chỗ lãnh hội

    Tổ hỏi:

    - Lãnh hội thế nào ?

    Sư thưa:

    - Nói giống một vật tức chẳng trúng.

    Tổ gạn lại:

    - Có tu chứng chăng?
    Sư thưa:
    - Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô chẳng thể được.
    Tổ bảo:
    - Chỉ cái "chẳng nhiễm ô" này, là chỗ hộ niệm của chư Phật, ông đã như thế ta cũng như thế.

    Qua chỗ đối đáp của ngài Hoài Nhượng, cho thấy Sư đã thật sự có chỗ sống đàng hoàng, không phải chỉ hiểu trên lý suông. Xem Sư trả lời: “Nói giống một vật tức chẳng trúng” chỗ chân thật đó vốn vượt ngoài mọi sự so sánh hiểu biết của thức tình phân biệt. Có chỗ so sánh tức thành cái bị biết rồi. Song Tổ còn e rằng Sư chỉ hiểu trên lý giải thôi mà chưa có chỗ thực chứng, nên gạn lại: “Có tu chứng chăng?” nếu là người kiến giải suông sẽ đáp ngay: “Không có tu chứng.” Vì nó không giống một vẫt thì tu chứng cái gì? Song với Sư thì trả lời chắc thật: “Tu chứng tức chẳng không, nhễm ô chẳng thể được.” Nghĩa là, tuy trong ấy nói giống một vật cũng không trúng, không thể so sánh hiểu biết được, mà không phải là chỗ nói suống, chỉ có trên ngôn ngữ. Trái lại, trong đó có thể chứng nghiệm rõ ràng, người có công phu chân thật khế hợp thì tự cảm nhận không nghi ngờ. Chỉ có một điều là “nhiễm ô nó chẳng thể được", xưa nay nó vốn chưa từng bị nhiễm ô, cũng không có cái gì làm nhiễm ô được nó. Nếu làm nhiễm được nó, nó thành cái vô thường rồi! Đã nhiễm ô chẳng thể được thì nói tu chứng mà thực không có cái gì khác để tu, để chứng. Lời đáp rất đầy đủ cả hạnh và giải, vì vậy Lục Tổ vừa nghe qua liền ấn chứng ngay: “Chính cái chẳng nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ông đã như thế ta cũng như thế.” Nghĩa là, ông thấy thấu được như thế, là thấu được chỗ sống của chư Phật. Chư Phật thành Phật là do giác ngộ chỗ này và sống viên mãn, trọn vẹn trong đó mà thành thôi. Rời chỗ đó thì Phật hết là Phật, nên nói là chỗ "hộ niệm", tức giữ gìn không thể sót mất. Ông đã như thế thì ta cũng như thế, tức chỗ thấy của ông khế hợp chỗ thấy của ta, không còn cách biệt, đó là ấn chứng, là truyền tâm ấn. Người đứng bên ngoài nghe nói truyền tâm ấn, liền tưởng tượng có cái gì đặc biệt để trao truyền khiến mình không hiểu nổi, từ đó nảy sinh ra những cách truyền lạ lùng bí mật. Quả là lầm lẫn ý Tổ, trở thành xuyên tạc và dối gạt lẫn nhau. Người học thiền phải chín chắn nhận rõ chỗ này!

    * KHI NÓI KHÔNG CHỨNG ĐẮC

    Trong nhà thiền khi nói vô sở đắc là có ý chỉ sâu xa trong đó.
    + Thứ nhất, là ngầm chỉ cái sẵn có. Nghĩa là, thể chân thật vốn là tự tánh sẵn có, không do công phu tạo tác bên ngoài mà thành, không do ai truyền trao cho được. Bởi vậy, với ngài Thần Tú: “Luôn luôn siêng lau chùi” là chỗ thấy còn trên hình thức công phu tạo tác bên ngoài, chưa thấu được chỗ “vốn chẳng thể nhiễm ô” nên chưa được vào cửa Tổ. Lục Tổ: “Xưa nay không một vật” thì có gì được mất trong ấy nữa? Liền đó được vào cửa.

    Còn kia, Bá Trượng hỏi Mã Tổ:

    - Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

    Mã Tổ đáp:

    - Chính là chỗ ông bỏ thân mạng.

    Muốn biết chỉ thú hay yếu chỉ Phật pháp, chính là chỗ bỏ thân mạng của ông. Chỗ đó làm sao hiểu? Tức phải bặt hết mọi chỗ nương tựa, không còn gì để bám víu, để suy nghĩ hiểu biết. Trong đó còn ai được? Được cái gì ?

    Xưa có vị Tỳ kheo hỏi Thế Tôn:

    - Theo chỗ thấy của con thì đối trong pháp của Thế Tôn, vừa có chỗ chứng là chưa phải, vậy Thế Tôn sẽ chỉ dạy cái gì?

    Thế Tôn bảo:

    - Này Tỳ kheo! Ta sẽ chỉ dạy cái gì? Chính đó là câu hỏi của ông.

    Lời Phật thật sâu xa thay! "Ta sẽ chỉ dạy cái gì? Chính đó là câu hỏi của ông". Ngay câu hỏi đó chính là câu trả lời rồi, còn suy tìm cái gì khác nữa đều chẳng phải. Câu hỏi rất hay, câu đáp rất chính xác, người nhạy bén liền đó tự nhận là xong.

    Kinh Kim Cang, Phật bảo Trưởng lão Tu Bồ Đề: “Thật không có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Phật Nhiên Đăng tức chẳng thọ ký cho Ta: ‘Ông ở đời sau sẽ được thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.’ Do thật không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì vậy Phật Nhiên Đăng thọ ký cho ta, nói lời thế này: ‘Ông ở đời sau sẽ được thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.’”

    Tức lúc đó Phật còn là vị Bồ tát, hiện thân làm đồng tử Thiện Tuệ cúng dường phật Nhiên Đăng năm cành hoa sen xanh, trải tóc lót bùn cho Phật đi qua, được Phật Nhiên Đăng thọ ký trải qua chín mươi mốt kiếp sau sẽ thành Phật ở cõi Ta bà này, hiệu là Thích Mâu Ni.

    Người học trên văn nghĩa liền hiểu, do Phật Nhiên Đang thọ ký nên Phật Thích Ca mới được thành. Không ngờ đây là một ý nghĩa sâu xa vượt ngoài văn tự. Nếu thực sự có cái Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác để trao cho được, tại sao Phật Nhiên Đang không trao cho ngay lúc đó đi mà phải thọ ký xa tít chín mươi một kiếp về sau này, lúc đó ai trao cho ai mà thành? Rồi thành với một cái hiệu là "Thích Ca Mâu Ni". Phật ở cái hiệu đó chăng ? Rõ ràng trong đây có ngầm ý chỉ: "Thành đó" là thành cái vốn sẵn có của phật Thích Ca thôi, Phật Nhiên Đăng không có trao cho một cái gì khác. Thọ ký chỉ là một phương tiện để xác chứng niềm tin vững vàng cho người, chớ không phải do thọ ký mới có được. Nếu thực sự có cái Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác để trao cho, thì ngay lúc đó Phật Nhiên Đăng đã trao cho đồng tử Thiện Tuệ rồi, đâu đợi phải thọ ký xa xôi về sau! Người tu Phật không thể lầm trên điểm này!

    + Thứ hai, nói không chứng đắc là trừ sạch tướng ngã. Bời người tu mà thấy có được Đạo, được ngộ, liền có tự đắc, tự mãn, tự kiêu trở thành thiền bệnh. Đâu biết, vừa thấy có được tức có nhiễm ô rồi! Là rớt bên ngoài cửa Tổ . Do đó, nhà thiền rất cẩn thận điểm này.

    Như Hòa thượng Nam Tuyền, một hôm cúng trai Mã Tổ, Sư bèn hỏi trong chúng:

    - Cúng trai Mã Tổ mà Mã Tổ có đến chăng?

    Không ai trả lời được. Lúc đó Lương Giới còn là Sa di, liền bước ra thưa:

    - Đợi có bạn liền đến.

    Nam Tuyền bảo:

    - Chú nhỏ tuy là hậu sanh rất dễ giũa gọt.

    Sư liền thưa:

    - Hòa thượng chớ ép kẻ lành thành đứa giặc.

    Cúng trai Mã Tổ, hỏi: “Mã Tổ có đến chăng?” là hỏi Mã Tổ nào? Đây là ngầm chỉ pháp thân. Pháp thân thì không hình tướng nên đâu có đến đi. Nhưng nếu một bề trống rỗng không ngơ thì để làm gì? Lương Giới đáp: “Đợi có bạn liền đến.” Nghĩa là, tuy pháp thân vốn vô tướng mà không phải là rỗng suông, không ngơ. Trái lại nếu có bạn, tức đủ duyên, người có công phu khế hợp, thì nó liền hiện, liền tự cảm nhận ngay. Sư đáp rất khéo, nên ngài Nam Tuyền khen: “Tuy là hậu sanh rất dễ giũa gọt.” Nếu là người khác nghe vậy hẳn tự thấy hài lòng, thành mắc kẹt. Lương Giới tự biết mình, không bị lời nói bên ngoài lừa, nên thưa: “Chớ ép kẻ lành thành đứa giặc.” Nếu lầm nhận tiếng khen đó để lộ tướng ngã ra, tức liền thành bệnh, chớ vội vui mừng!

    Cũng như trường hợp Thiền sư Nghĩa Huyền lúc còn ở với Hòa thượng Hoàng Bá. Một hôm Sư đang ngồi trước tăng đường, thấy Hoàng Bá đến, Sư liền nhắm mắt lại. Hoàng Bá làm thế sợ, rồi trở về phương trượng. Sư đi theo đến phương trượng lễ tạ. Thủ tọa đứng hầu bên cạnh, Hoàng Bá nói với Thủ tọa:

    - Vị tăng này tuy là hậu sanh lại biết có việc này!

    Thủ tọa nói:

    - Ông Hòa thượng gót chân chẳng chấm đất, lại đi chứng cứ cho kẻ hậu sanh.

    Hoàng Bá liền tự vả miệng một cái. Thủ tọa nói:

    - Biết là được.

    Chỗ đặc biệt trong nhà thiền là thế. Hoàng Bá cảm hứng, thuận tiện bên cạnh có Thủ tọa liền thốt lời khen Nghĩa Huyền. Thủ tọa không khen hùa theo mà nhắc khéo. Hoàng Bá tự thấy đã nói hớ rồi, nên tự vả miệng, không để cho người tự mãn, tự đắc. Đây là những kinh nghiệm cảnh tỉnh cho người, chưa gì đã tự mãn cho mình đã ngộ cao, ngộ sâu, cần nghiệm xét.

    Có vị tăng hỏi Thiền sư Cư Độn:

    - Người xưa được cái gì liền thôi đi.

    Sư đáp:

    - Như giặc vào nhà trống.

    Sở dĩ được chỗ thôi dứt, được an ổn thật sự là do đâu? “Như giặc vào nhà trống” vậy là có được cái gì ? Thấy có được cái này, có được cái nọ, chứa đầy một bụng là nguy. Nếu thấy có được là phải có mất, vì đó là chỗ cho giặc vào lấy của, thì hẳn là chưa “thôi đi” được. Phải tâm trống sạch như giặc vào nhà trống, không có gì để lấy thì nó tự bỏ đi. Cũng vậy, tâm bặt mọi niệm được mất, không chứa giữ một chút gì thì tự nó an, khỏi lo trừ dẹp. Trái lại, cứ lo tìm cầu chứa đựng đầy trong đó mà muốn an thì khó an. Ngươi muốn An phải nghiệm sâu, nghiệm kỹ chỗ này!

    * KHI NÓI CÓ CHỨNG ĐẮC

    Trong nhà thiền có lúc chư Tổ cũng thường nhắc nhở người tu: Phải thật tu, thật ngộ, thật chứng. Như Thiền sư Phật Giám bảo: “Tham phải thật tham, ngộ phải thật ngộ, hãy tham cứu cùng tột suốt đến đáy của giáo lý.” Vậy là thật có chứng chăng ? Bởi đây là ý các ngài muốn nhắc người học, phải có công phu thực hành chân thật, có chỗ sống vững vàng, tránh rơi vào chỗ nói lý suông, thiền trên môi lưỡi. Tức là, chỉ lấy cái hiểu của chư Tổ làm cái hiểu của mình, chỉ lo lý luận mà không được mà không có thực sống. Để gõ tỉnh cho hạng người này nên các ngài bảo phải thực tu, thực chứng đàng hoàng mới có đạo lực thắng được nghiệp phiền não. Không phải nói thế là bảo chúng ta thấy thật có chỗ chứng, chỗ đắc.

    Như Vương Thường Thị đến chỗ Lâm Tế, ông đi đến trước tăng đường xem xong, bèn bảo:

    - Tăng cả nhà này có xem kinh chăng?

    Lâm tế đáp:

    - Chẳng xem kinh.

    Ông hỏi:

    - Có học thiền chăng?

    Lâm tế đáp:

    - Chẳng học thiền.

    Ông hỏi:

    - Kinh chẳng xem, thiền cũng chẳng học, cuối cùng làm cái gì?

    Lâm tế đáp:

    - Thảy dạy họ làm Phật, làm Tổ.

    Người mới nghe qua, thấy có cao mạn hay không? Chỉ dạy làm Phật, làm Tổ thôi là sao? Đây là đánh thức tâm niệm lo đeo đuổi theo bên ngoài, bám vào công phu rỗng suông sanh diệt, phải thực sống trở lại sức sống chân thật. Làm Phật, làm Tổ đâu phải là chuyện nói suông mà được? Người không hiểu, lầm chấp theo chữ nghĩa, cho ta là tu cao làm Phật làm Tổ thôi, trở thành kiêu mạn, tự đắc, đó là bệnh. Cho nên chư Tổ thường nhắc: “Mạt vàng tuy quý, rơi vào tròng mắt cũng thành bệnh.” Mắt vốn là torng sáng, không chấp nhận chứa thêm một chút gì nữa. Bụi rơi vào cũng bệnh mà mạt vàng rơi vào cũng bệnh. Kinh Lăng Nghiêm Phật đã ân cần nhắc rõ: “Nếu khởi cái hiểu Thánh tức rơi vào bọn tà. Chẳng khởi tâm Thánh tức là cảnh giới lành.” (Nhược tác thánh giải tức thọ quần tà. Bất khởi thánh tâm tực thiện cảnh giới.)

    Vừa khởi tâm chứng Thánh. Thấy mình là Thánh tức đi lệch ra ngoài rồi, là tạo cơ hội cho bọn ma xen vào, phá hoại huệ mạng của mình. Đó là điều phải luôn luôn nhớ! Do đó, các ngài nói “được” nhưng không cho chúng ta chấp có “được”, nhằm khiến mình quên công phu tạo tác, tự thể nhập tự tánh sẵn có muôn thuở. Bởi vậy, tuy thực chứng thực đắc không nghi ngờ, mà không thể lầm cho là thật có chỗ được, người học phải nhận kỹ!

    Hòa thượng Hoáng Bá từng bảo: “Giả sử ông tu hành trải qua ba vô số kiếp, qua các địa vị, cùng người do một niệm chứng được, chỉ là chứng cái SẴN CÓ ” Ngài Hoàng Bá xác định rõ ràng, dù người công phu lâu dài trải qua thời gian cả ba vô số kiếp, cùng người ngay một niệm hiện tiền đây chứng được, cũng chỉ là chứng cái sẵn có nơi mình thôi, kỳ thật không có cái gì thêm bớt sai khác. Bởi bao nhiêu công phu lâu dài kia cũng chỉ là "trở về chỗ sẵn có" này thôi. Nếu khởi một niệm “TA có cái riêng được hơn người” tức liền mê ngay!

    III CĂN BẢN ĐÁNH THỨC TRỞ LẠI CÁI ĐANG HIỆN HỮU MÀ BỎ QUÊN

    Nói “được”, nói “không có được” cũng là lời nói hai đầu, điểm cốt yếu trong đây là đánh thức cái chân thật đang hiện hữu nơi mình mà người tự bỏ quên. Nhận ra chỗ này liền ró nói “được”, nói “không có được” cũng thừa.

    Kinh Lăng Nghiêm có dẫn chuyện Diễn Nhã Đạt Đa quên đầu. Một hôm Diễn Nhã Đạt Đa soi gương, thấy đầu mình torng đó đáng yêu biết mấy, chợt úp gương lại, không thấy bóng đầu mình đâu nữa, bèn phát cuồng chạy kêu: “Tôi mất đầu! Tôi mất đầu!” Câu chuyện chắc chắn có nhiều người nghe quá quen thuộc, có thể không muốn nghe lại. Song người thật sự có cảm nhận được ý nghĩa sâu xa trong ấy không mới là điều quan trọng! Đầu ở trong gương, úp gương lại không thấy, la mật đầu, phải nói sao đây? Đó là người gì? Chúng ta hiện tại có giống như thế chăng? Khi tâm nghĩ ngợi lăng xăng nói có tôi. Nghĩ ngợi lăng xăng lặng yên, liền bảo “mất tôi” rồi suy tìm! Thật quá lầm to! Có khác nào Diễn Nhã Đạt Đa ôm đầu chạy la mất đầu ? Vậy ngay khi Diễn Nhã Đạt Đa chạy la mất đầu đó, làm sao cho y tỉnh lại? Chỉ cần “cú” mạnh vào đầu y bảo: “Đây là gì ?” liền tự biết đầu vẫn còn nguyên có mất đi đâu! Như vậy, chính khi y chạy la mất đầu đó, cái đầu có mất chăng? Khi bị cú đầu tỉnh lại, có được chăng? Rõ ràng được mất chỉ là lời thừa.

    Thanh Nhuệ, một hôm đến thưa với Hòa thượng Tào Sơn:

    - Thanh Nhuệ nghèo thiếu xin thầy cứu giúp!

    Tào Sơn bảo:

    - Xà Lê Nhuệ! Hãy đến gần đây!

    Thanh Nhuệ đến gần, Sư bảo:

    - Ba chén rượu nhà họ Bạch ở Thanh Nguyên đã uống xong, còn nói chưa dính môi.

    Thanh Nhuệ bảo nghèo thiếu, nhưng gọi đến gần, BIẾT đi đến gần thì có thiếu cái gì, lại than nghèo? Vì vậy Tào Sơn bảo: “Đã uống xong ba chén rượu, còn nói chưa dính môi” thật mâu thuẫn! Việc ấy quá rõ ràng như vậy, tại sao lại chối bỏ chẳng nhận? Nhận ra thì tự đầy đủ khỏi nói được mất.

    Nếu người còn chưa rõ thì hãy nghe Hy Thiên đến gặp Thiền Sư Hành Tư ở núi Thanh Nguyên. Hành Tư hỏi:

    - Ông từ phương nào đến ?

    Hy Thiên thưa:

    - Dạ, con từ Tào Khê đến ?

    Hành Tư hỏi:

    - Đem được cái gì đến ?

    Hy Thiên thưa:

    - Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.

    Hành Tư bảo:

    - Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?

    Hy Thiên thưa:

    - Nếu không đến Tào Khê đâu biết chẳng mất.

    Quả thật, việc ấy vốn sẵn có, không đợi đến Tào Khê đợi chư Tổ chỉ bày mới có. Tuy nhiên nếu không đến Tào Khê, không nhờ chư Tổ chỉ bày, các thiện tri thức khơi dậy cho thì cũng không biết. Điều quan trọng là nếu trong đây thấy thật được, thật mất đều mê.

    Như vậy, việc này không thể một bề nói cố định là có được, cũng không thể một bề nói cố định là không được, cốt yếu là người "NHẬN RÕ việc này" là xong, khỏi kẹt có không hai đầu.

    IV. BẶT NIỆM PHÀM THÁNH, SẠCH KIẾN GIẢI.

    Đến chỗ tột lý thiền là dứt bặt hết ý niệm phàm thánh, sạch mọi kiến giải có khôgn đối đãi, trả lại tâm bình thường như thuở ban đầu chưa sanh, chưa có chút gì vay mượn. Đến đây mà còn một niệm phàm thánh đọng lại trong ấy tức còn bị quét.

    Hãy nghe Hòa thượng Nam Tuyền sắp tịch, vị Đệ nhất tòa hỏi:

    - Sau khi Hòa thượng trăm tuổi, sẽ đi về đâu?

    Sư bảo:

    - Làm con trâu dưới núi.

    Đệ nhất tòa thưa:

    - Con theo được chăng?

    Sư đáp:

    - Nếu ông muốn theo ta, phải ngậm theo một bó cỏ.

    Ngươi mới nghe, có thấy lạ chăng? Tại sao tu hành như Sư mà sau khi chết lại làm con trâu? Thật là khó hiểu! Song chính chỗ không hiểu nổi của người, lại là chỗ sống của các ngài. Bởi Sư trong lòng thật rỗng rang sạch hết niệm phàm thánh mới nói được như thế. Đâu phải nói làm con trâu liền thành con trâu. Người theo ngôn gnữ sanh hiểu là lầm. Trong đây, người muốn thấy được chỗ đi của Sư lòng phải rỗng sạch mọi niệm sở đắc mới cảm thông được. Vì vậy vị Đệ nhất tòa hỏi: “Con theo được chăng?” thì Sư bảo ngay: “Nếu muốn theo phải ngậm theo bó cỏ”. Tức là, cũng phải sạch mọi kiến giải phàm thánh, có không, được mất trong lòng. Nói trắng ra, trong tâm không còn dấu vết để thấy.

    Trong kinh Duy Ma Cật, Tôn giả Xá Lợi phất hỏi thiên nữ:

    - Còn bao lâu nữa thì cô sẽ đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?

    Thiên nữ đáp:

    - Nếu như ngài Xá Lợi Phất trở lại làm phàm phu, chừng đó tôi mới thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Tôn giả nói:

    - Tôi làm phàm phu, không có lẽ đó.

    Thiên nữ nói:

    - Tôi được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng không có lẽ đó. Tại sao? Vì Bồ đề không có chỗ trụ cho nên không có chỗ được ấy.

    Tôn giả hỏi:

    - Hiện nay chư Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chư Phật đã được, chư Phật sẽ được nhiều như số cát sông Hằng, những việc như vậy sẽ nói thế nào ?

    Thiên nữ đáp:

    - Thảy đều do văn tự thế tục ghi chép nên nói có ba đời, chớ chẳng phải Bồ đề có đời quá khứ, hiện tại, vị lai.

    Chú ý! Nói có Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lại đựơc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là do văn tự thế tục mà nói, không phải lý cứu cánh. Bởi Bồ đề mà có đã được, đang được và sẽ được tức thuộc về vô thường theo thời gian, không phải chân thật Bồ đề. Nói sẽ được, tức hiện giờ chưa có, sau này mới có hay sao? Cho nên người vừa thấy có được Bồ đề, liền mất Bồ đề. Đây là khiến người quên bặt niệm được mất, sạch hết kiến giải về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì tự sống trong đó rồi, còn được gì nữa? Vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ở ngay tâm người, không có ở đâu khác mà được. Người chưa quên cái hiểu về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức còn cách biệt với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không thể chối cãi.

    Với ý nghĩa trên, khi Linh Huấn từ giã Hòa thượng Quy Tông đi, Quy Tông bảo:

    - Ông đi đâu?

    Linh Huấn thưa:

    - Đi về Lãnh Trung.
    Quy Tôn bảo:

    - Ông ở đây nhiều năm, sửa soạn hành lý xong hãy đến đây, ta sẽ nói cho một câu Phật pháp cao tột.

    Linh Huấn thu xếp hành lý xong, liền đến trước Quy Tông. Quy Tông bảo:

    - Hãy đến gần đây!

    Linh Huấn đến gần. Quy Tông bảo:

    - Trời lạnh, đi đường hãy bảo trọng!

    Sư nghe lời này liền quên hết chỗ hiểu trước.

    Ai thấy Phật pháp cao tột ở chỗ nào? Bởi Linh Huấn ở đây nhiều năm, tức đã có nhiều kiến giải rồi. Hòa thượng Quy Tông khéo léo khêu gợi lòng mong mỏi của Linh Huấn. Nghe nói Phật pháp cao tột, Sư hẳn tưởng sẽ nghe được một câu gì đó thật tuyệt điệu. Không ngờ đến lúc ấy, chỉ nghe một câu bình thường giản dị, dường như không có gì là Phật pháp cả, chỉ là lời chúc lên đường thôi! Bao nhiêu mong đợi liền cắt đứt. Ngay đó Sư quên hết mọi chỗ hiểu từ trước, trả lại một tâm nguyên vẹn thuở nào, chưa từng xen ý niệm gì khác. Chỗ sống của Thiền là đấy! Còn đòi hỏi cái gì thêm nữa? Ai ai cũng đều có một chỗ sống chân thật nguyên vẹn ấy, sao lại không nhận, lại cứ lo đuổi tìm Hiểu Biết này nọ lăng xăng để Tạo Thành cái tri kiến ngã mạn, kiêu căng, rồi tự hào trên đó lấy làm của mình? Nên nhớ, đối trong lý tột của Phật pháp, vừa thấy có TA HIỂU, TA BIẾT, là ngay đó rơi vào đường tà rồi. Không tỉnh ngộ, lại còn bảo vệ nó nữa, là cách xa Phật pháp dù nói hay cách mấy! Người có đạo tâm chân thật không thể mê mờ điều này!

    V.TÓM KẾT

    Tu thiền là sống lại ngay chính mình từ thuở nào, không có thêm cái gì khác nữa. Dù nói chứng, nói đắc cũng là danh từ thôi, không thể ở trên những cái tên đó mà sanh tâm chứng đắc là Mê. Bởi ai ai cũng đều đang sống trong cái Ngã Tướng, nên luôn luôn thấy có một cái TA đi theo bên mình, do đó thường thấy có được, có mất. Cái gì được mất? TA được, TA mất chứ gì? Nếu thật sự quên cái TA đi, dứt sạch ý niệm sai lầm đóng khung trong cái ta tưởng tượng ấy, đã không có ta thì lấy gì được mất? Ngay đó liền tự giải thoát, tự tại đi trong thế gian không thể nghĩ bàn.

    Kìa Động Sơn hỏi Hịa thượng Long Sơn:

    - Hòa thượng được đạo lý gì bèn về ở núi này?

    Hòa thượng Long Sơn đáp:

    - Ta thấy hai con trâu đất húc nhau nhào xuống biển, thẳng đến nay bặt hết tin tức.

    Vậy là Hịa thượng Long Sơn đã được cái gì? Động Sơn hỏi được gì, là muốn nghiệm xét chỗ chứng, chỗ sống của Sư thế nào. Gặp Sư thì chỗ thấy dứt bặt dấu vết, tin tức cho người thấy được. Hai con trâu húc nhau nhào xuống biển mất hết tin tức, là bặt dấu vết chủ khách, chỗ nào có thể dòm lén ? Chính đó mới là chỗ sống thực của thiền sư. Còn người cứ lo phô bày kiến giải của mình, khiến người vừa nghe đã thấy tin tức rồi, đó là dấu vết tướng Ngã lộ bày, phải khéo soi trở lại !

    Chuyện Nam Tuyền thăm Trang sở là một ý nghĩa sâu sắc để cảnh tỉnh chỗ này. Một hôm Sư đến thăm Trang sở, Trang chủ chuẩn bị nghinh đón đàng hoàng. Sư hỏi:

    - Lão tăng bình thường ra vào chẳng cho người biết, tại sao hôm nay có việc bày biện thế này?

    Trang chủ thưa:

    - Hơm qua thổ địa mách sáng nay có Hòa thượng đến.

    Sư nói:

    - Vương lão sư tu hành vô lực, bị quỷ thần trộm thấy.

    Thị giả hỏi:

    - Hòa thượng là thiện tri thức, vì sao bị quỷ thần trộm thấy?

    Sư bảo:

    - Trước thổ địa để một phần cơm.

    Như vậy Nam Tuyền tu hành còn dở phải chăng? Người nhiều kiến giải sẽ cho là như thế, vì còn bị quỷ thần trộm thấy. Không ngờ chính mình còn mê! Bởi nghe Nam Tuyền bảo: “Vương lão sư tu hành vơôlực, bị quỷ thần trộm thấy.” bèn sanh hiểu, nghĩ là Sư tu còn dỡ, vậy mình hay hơn chớ gì ? Đâu biết, Nam Tuyền nói như thế, là ý ngầm nhắc người tu thiền chớ có thấy theo chỗ thổ địa thấy đó, mà phải thấy đến chỗ thổ địa không thể thấy kia kìa! Thấy được chỗ này mới thật thấy được ta! Bởi vì thổ địa thấy đó, là có thật thấy Nam tuyền chăng? Đó chỉ là cái thấy bóng của Sư thôi. Nếu người đến với Sư mà cứ thấy theo thổ điạ là thấy trộm, là dòm lén, tức thấy tà, chớ không phải thật thấy được Sư. Yù Nam Tuyền là như thế! Chớ vội đem tâm phân biệt của phàm phu mà phê bình hay dở, là phô bày chỗ mê của mình!

    Vậy cuối cùng tu thiền có chứng đắc hay không ? Đây xin dẫn vị tăng với tôn giả Nghiêm Dương để mọi người tự rõ.

    Tăng hỏi Tôn giả Nghiêm Dương:

    - Phật là gì?

    Sư đáp:

    - Cục đất.

    Hỏi: - Phật là gì?

    Đáp: - Đất lăn.

    Hỏi: Tăng là gì?

    Đáp: Ăn cháo, ăn cơm.

    Mặc cho mọi người có bao nhiêu kiến giải hiểu biết hãy đem ra hiểu xem! Cuối cùng, câu trả lời ở đâu? Đây là phần để dành lại cho mọi người!
    .-*-.-*-._Ưng Vô Sở Trụ_.-*-.-*-.
    ..........................Nhi Sanh Kỳ Tâm......................

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trợ Niệm Và Chuẩn Bị Khi Lâm Chung
    By vietnamese in forum Đạo Phật
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 17-06-2012, 09:44 AM
  2. CÁCH NIỆM HƠI THỞ
    By chanhhoitrong_123 in forum Thiền Tông
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 04-01-2012, 10:22 AM
  3. Xin hỏi về phương thức trợ niệm
    By ngocbich.ploy in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 9
    Bài mới gởi: 30-10-2011, 11:46 PM
  4. Niệm Phật Pháp Môn Giải Thoát
    By Nothing_To_Lose in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-09-2011, 11:28 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •