Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958
Kinh 66 Do Thầy Thich Giác Khang Giảng , Nói Đến Thế gIới sát na tinh độ
kết quả từ 1 tới 12 trên 12

Ðề tài: Kinh 66 Do Thầy Thich Giác Khang Giảng , Nói Đến Thế gIới sát na tinh độ

Threaded View

  1. #1
    Đai Vàng
    Gia nhập
    Jun 2011
    Bài gởi
    79
    Post Thanks / Like

    Mặc định Kinh 66 Do Thầy Thich Giác Khang Giảng , Nói Đến Thế gIới sát na tinh độ

    Đây là bài giảng của thầy Giác Khang do mình vô tình tải được trên mạng . Xin thứ lỗi là mình không nhớ Link

    BÀI GIẢNG KINH SÁU SÁU
    về VÕ TRỤ QUAN
    ---------------------------------------
    Tóm tắt bài kinh Sáu Sáu có:
    1/ Phần dẫn nhập có 6 phần.
    2/ Thân bài có 4 phần.
    3/ Kết luận có 2 phần.
    Giảng bài này, đáng lý tôi viết lên bảng đen rồi quý phật tử vừa nhìn lên bảng vừa nghe tôi giàng, chúng ta làm việc 6 căn cùng một lượt thì có lẽ chúng ta dễ hiểu hơn. Thì thôi chúng ta tạm thôi. Sau tôi vẽ sơ đồ phát cho mỗi vị một bản và khi giảng vẽ lên bảng luôn. Vì mới nghe lần đầu lối giảng nó mới lạ, phối hợp giữa tư tưởng và Bát nhã, giữa cái nhất niệm và cái vô niệm rồi đi đến “vô niệm niệm, niệm vô niệm” thì hơi khó một chút. Ngoài cái đó chúng ta có nhiều thí dụ. Nhờ thí dụ chúng ta hiểu rõ hơn. Thôi chúng ta đi vào bài học.
    Tôi có nói trong võ trụ có Chân như tịnh và Chân như động. Chơn như tịnh ví dụ như nước. Chơn như động ví dụ như dòng nước có hình mà chưa có tướng, có thời gian tuyệt đối mà chưa có không gian và sóng con chó, con trâu, con bò có hình, có tướng, đó là cõi Uế độ của chúng ta.
    Còn dòng nước mà chưa có tướng là không phải chơn cũng không phải vọng. So với nước, nước là chơn, nước bất sinh bất diệt, bất biến đứng lặng hoàn toàn. Còn dòng nước chuyển biến, chuyển biến mà đứng lặng. Đã là chuyển biến nên so với bất biến đứng lặng thì nó là vọng.
    Có hai cách chuyển biến: chuyển biến đứng lặng và chuyển biến xao động. Mà đã xao động thì có hình có tướng luôn. Có hình có tướng tức là có không gian và thời gian. Hễ có không gian có thời gian là có chướng ngại, có hình tướng rõ rệt thì có sự nắm bắt rõ ràng. Như thế giới của chúng ta. Chúng ta có thể cầm 1 quyển kinh, có thể cầm cái đồng hồ, có thể cầm cái micrô, có thể rờ cây cột,…
    Còn chuyển biến đứng lặng là thế giới chuyển biến sátna chưa có tướng gì hết. Chỉ có sự chuyển biến, chuyển biến mà thôi. Chúng ta mới dựa vào thế giới đó, chụp mũ thế giới đó thành ra có hình có tướng một cách cô đọng, một cách có khuôn khổ như vậy.
    Chư Phật thấy vậy mới đau lòng, tạo ra thế giới có hình và dường như có tướng luôn. Nhưng mà cái tài tình trí huệ của các Ngài là dường như có tướng mà vẫn chuyển biến đứng lặng, chuyển biến từng sátna đó là cái độc đáo của cõi Tịnh độ, của chư Phật và vô lượng chư Phật.
    Thế giới của dòng nước thì chỉ có hình mà thôi chứ chưa có tướng. Còn thế giới Tịnh độ của chư Phật dường như có tướng nhưng mà chuyển biến sátna. Cái đó mới là cái khó hiểu nhất của Phật giáo. Thế giới chuyển biến của dòng nước, chuyển biến đứng lặng gọi là thế giới “pháp chấp”, nơi đó chưa có Ngã. Thế giới Tịnh độ của chư Phật cũng chỉ có “pháp chấp” mà thôi, mà chúng ta thường kêu là “hành khổ” trong 3 cái khổ: khổ khổ, hoại khổ, hành khổ.
    Thế giới chúng ta là thế giới Uế độ thì có không gian có hình có tướng luôn. Hễ có hình có tướng thì phải có hoại gọi là “hoại khổ”. Nếu biết nó hoại khổ rồi mà không chấp thủ nó thì không bị “khổ khổ”, đằng này chúng ta không biết nó chỉ có hình không có tướng gì hết, đã đành đi, nhưng tới cái tướng mà chúng cũng không biết nó do duyên hợp, giả hợp mà có, chúng ta lại tưởng nó có mà thật nữa, rồi chiếm hữu nó thì sanh ra cái khổ, nên khổ chồng thêm khổ gọi là khổ khổ. Đó là toàn thể của võ trụ của chúng ta. Do đó tất cả người trời từ địa ngục cho tới cõi trời phi tương phi phi tưởng cũng biết 3 cái đó, nhưng mà theo cốt lõi của tư tưởng uế độ mà đè nén, mà tập trung mà lấy đá dằn cỏ do đó nó vẫn lẩn quẩn trong luân hồi sinh tử khổ. Vì thế Bổn Sư Thích Ca ra đời để chỉ cho chúng sanh con đường trở về Chơn tâm.
    Con đường đi về Chơn tâm bất sinh bất diệt chính là con đường đi vào thế giới chuyển biến đứng lặng. Thế giới đó là thế giới mà thế giới xao động nương vào đó để mà phát hiện. Thành ra thế giới đó so với thế giới xao động nó là chơn, nhưng nó phải nương vào thế giới bất biến đứng lặng tức là Mặt trăng thiệt nó lại là vọng, thành ra thế giới này không phải vọng cũng không phải chơn. Nếu so với thế giới xao động nó là chơn, so với thế giới đứng lặng bất biến nó là vọng. Nhưng muốn qua thế giới nước bất biến đứng lặng thì phải qua thế giới đứng lặng chuyển biến của dòng nước. Đó là vấn đề tôi trình bày hôm nay.
    Do một niệm bất giác lọt xuống Alaya cá nhân. Thì Alaya cá nhân bây giờ lấy Mặt trăng thiệt (Chơn như tịnh) làm chủ thể tức là Kiến phần, khi nó chuyển biến chậm lại, nếu nó là chủ thể thì chúng ta thấy nó là bất biến tức là 1 vùng hào quang rực rỡ hoàn toàn sáng soi. Khi nó chuyển biến chậm lại thì nó vẫn là hào quang rực rỡ hoàn toàn sáng soi nhưng hơi mờ. Vì hơi mờ đó nên gọi là Hư vô vi tế (vi tế là nhỏ nhiệm, hư vô giống như là khoảng không gian vô lượng vô biên). Vì hơi mờ nên không còn gọi là Mặt trăng thiệt nữa mà gọi là Mặt trăng 1. Chơn như tịnh từ ở trên võ trụ do một niệm bất giác lọt xuống đây, danh từ cũng kêu là Chơn như tịnh tức là phần chủ thể (trong Duy thức kêu là Kiến phần.) so với Chơn như của võ trụ nếu nói là một thứ là sai, hai là trật, nó hơi chậm hơn một chút, nói mờ thì chưa mờ so ra thì nó na ná giống với võ trụ. Bởi vì Chơn như tịnh của võ trụ thì nó bao gồm hết cả Chơn như động, tức là nó tùy thuận, nhậm vận, tự tại trong cái chuyển biến đứng lặng của sátna và bao trùm luôn cả chuyển biến xao động của chu kỳ thì cái đó là Chơn như tịnh của võ trụ.
    Còn Chơn như tịnh của Alaya thức cũng sáng soi như vậy nhưng mà nó xuống cấp, nó không bao trùm được Chơn như động, khác nhau chỗ đó thôi.
    Thành ra nói nó là khác nhau thì trật, một thứ thì sai, nó xuống cấp hơi mờ một chút thôi, nhưng mà vẫn còn rực rỡ vô lượng vô biên. Rồi chuyển biến chậm nữa mới thành Hư vô vi tế, thì đó là tướng phần của Mặt trăng 1. Chơn như tịnh là kiến phần là phần chủ thể, đây là phần đối tượng, nhưng mà chúng ta nên nhớ chủ thể và đối tượng đây là đứng về phần đứng lặng mà nói mà chúng ta thường kêu là phần Bát nhã. Thì chủ thể và đối tượng này nó có thể nhập một, nó chuyển biến chậm rồi nó lại trở về chuyển biến nhanh tức là Mặt trăng thiệt Chơn như tịnh đi xuống Hư vô vi tế, Hư vô vi tế trở về Mặt trăng thiệt rực rỡ hoàn toàn sáng soi, rồi lại rực rỡ hoàn toàn sáng soi hơi mờ, rồi lại rực rỡ hoàn toàn sáng soi không mờ, rồi chuyển biến chậm rực rỡ sáng soi hơi mờ, 2 cái cứ qua lại như con thoi vậy.
    Thành ra chúng ta nói Mặt trăng 1 này nói nó dính liền với Mặt trăng thiệt thì cũng đúng, nói nó là Chơn như tịnh thì cũng đúng nhưng mà không đúng lắm, còn nói Hư vô vi tế là Mặt trăng 1 thì cũng đúng mà không đúng lắm. Thì Chơn như tịnh này cũng dính liền với Chơn như của võ trụ nhưng mà nó đã xuống cấp. Thành ra nó cũng là Mặt trăng 1 mà cũng là Mặt trăng thiệt, nó là cái nối tiếp.
    Chúng ta phải nhớ hễ chuyển biến trong Bát nhã chúng ta cũng thấy nó dính liền với nhau. Còn cái Hư vô vi tế này nó là cái tướng phần tức là phần đối tượng của Mặt trăng thiệt. Nhưng khi xuống cấp thành Mặt trăng 2, do Vọng tưởng kiên cố (kêu là chi mạt vô minh) mới đập vào tướng phần của Alaya tức là phần Hư vô vi tế này thì nó mới lọt xuống Mặt trăng 2. Thì Hư vô vi tế là tướng phần của Mặt trăng 1, bấy giờ nó trở lại thành phần chủ thể là kiến phần của Mặt trăng 2. Chúng ta thấy rằng Hư vô vi tế và Mặt trăng 2 với cái đối tượng là tướng phần của Mặt trăng 1, thì không phải 1 cũng không phải khác nhưng mà nó đã chuyển biến chậm lại, rồi Hư vô vi tế này chuyển biến chậm nữa thành Hư minh le lói chiếu soi, thì Hư minh le lói dường như là đối tượng.
    Chúng ta nên nhớ đối tượng của cõi Tịnh độ, của cõi chuyển biến sátna thì nó khác với đối tượng của cõi Uế độ. Cõi Uế độ muốn có kiến phần, tướng phần thì phải có cái Căn ở giữa làm môi giới cho nó lớn lên thì nó mới chiếu soi được, mới nhận thức được, bằng không thì nhận thức không phát hiện được.
    Ở đây, cõi Tịnh độ không cần, vì nhận thức và đối tượng nhận thức đều là hào quang, cũng đều đứng lặng, chớ không phải là xao động. Nếu xao động không thể nhập một được, nó phải tạo một cái Căn ở giữa làm môi giới để Căn-trần-thức đắm nhiễm. Còn ở đây, không cần cái Căn môi giới, kêu là nhận thức và đối tượng nhận thức một cách trực giác. Trực giác là đi thẳng vào đối tượng nhận thức, và đối tượng nhận thức có thể đi thẳng vào nhận thức, chúng ta có thể gọi là Chiếu soi và Tự chiếu soi.
    Cũng như cái gương soi mặt vậy đó nó chiếu soi, nó giống như phần xao động mà nó không thể tự chiếu soi. Thì chiếu soi cũng như con mắt thì nó thấy sự vật, nhưng con mắt không thể thấy con mắt, không thể thấy chính nó. Còn cảm giác nó nương vào dây thần kinh của thị giác để thấy được đối tượng là cái đồng hồ, thì cái cảm giác này không thấy được cái cảm giác, tức là không thể thấy được chính nó.
    Dây thần kinh là sinh lý, cảm giác là tâm lý, nhưng cảm giác phải nương vào dây thần kinh để thấy được cái đồng hồ. Thì dây thần kinh thị giác không phải là “cái thấy”, chỉ là cơ quan làm lớn cái đồng hồ để cảm giác nương vào đó mà thấy, mà cảm giác. Nhưng mà cảm giác chỉ thấy được cái đồng hồ, nương vào sự phóng đại, sự làm lớn ra của dây thần kinh thị giác. Cảm giác thấy được cái đồng hồ chứ cảm giác không thấy được cảm giác.
    Còn bên đứng lặng, bên Bát nhã thì chúng ta thấy rằng cái Hư vô vi tế thấy được cái Hư minh le lói chiếu soi. Vì nó là kiến phần nó thấy được tướng phần. Hư vô vi tế nó thấy được Hư vô vi tế và nó thấy được Chơn như tịnh Mặt trăng thiệt luôn và nó thấy Hư minh le lói chiếu soi luôn. Nghĩa là nó thấy cái thấp, nó tự chiếu soi thấy nó, rồi thấy cái cao hơn nó. Cái đó là cái độc đáo của Bát nhã. Bởi vì nó chiếu soi và nó tự chiếu soi được, bởi vì nó đứng lặng mà. Thành ra nó đi và nó trở về cùng một đường thẳng không có gì cản trở nó được hết.
    Còn bên xao động, cảm giác muốn thấy được các sự vật phải nhờ có Căn. Là cảm giác không thể chiếu soi ngược lại được. Thành ra cảm giác không thấy được cảm giác. Cảm giác chỉ thấy được những cảm giác thô tháo hơn cảm giác thì được. Còn những cảm giác vi thế hơn thì không thể thấy được và chính cảm giác không thể thấy được cảm giác.
    Còn ở đây, cái Hư vô vi tế nó thấy được 3 cách: thấy xuống, ngay nó và thấy trên. Còn bên kia chỉ thấy xuống không thể thấy ngay nó và cũng không thể thấy trên bởi nó xao động. Mà xao động thì sao? Xao động thì nó chướng ngại. Do chướng ngại chúng ta mới đau khổ. Do thông suốt, xuyên suốt được nên chúng ta mới giải thoát. Giải thoát là con người sống không có chướng ngại nữa. Mà chướng ngại là do cảm giác và tư tưởng đã tạo ra những cái “căn”. Đã xao động mà muốn thấy rõ sự vật thì phải có “căn” để làm lớn sự vật. Thành ra chúng ta phải coi chừng.
    Thí dụ con mắt muốn thấy cái đồng hồ. Đối với người cận thị thì không thấy, muốn thấy thì phải đeo kính cận thị. Mà thường thường chúng ta nói kính cận thị thấy, chúng ta nói như vậy là dốt. Phải nói con mắt thấy. Nói con mắt thấy cũng dốt. Kính cận thị làm lớn cho con mắt và tròng đen thấy sự vật và làm lớn thêm nữa mới qua dây thần kinh thị giác. Thì chúng ta nói dây thần kinh thị giác thấy thì cũng dốt. Thật sự dây thần kinh thị giác làm cho sự vật rõ hơn nữa, rồi cảm giác mới mượn cái cơ quan của dây thần kinh thị giác để thấy sự vật, để mà cảm giác lạc thọ, khổ thọ của sự vật, rồi sau đó đưa lên óc phân biệt. Chúng ta nói cái óc phân biệt theo khoa học, cũng dốt nữa. Cái óc không có phân biệt. Cái óc cũng giống như dây thần kinh thị giác vậy, nó làm cho cảm giác rõ hơn, nó là căn. Tư tưởng mới mượn cái óc này để mà phân biệt. Thì phải biết chính tư tưởng chứ không phải cái óc, óc chỉ là cơ quan để tư tưởng nó mượn để phân biệt. Thành ra óc gọi là Tịnh sắc căn cao đấy (trung khu thần kinh óc), còn dây thần kinh là Tịnh sắc căn thô hơn. Con mắt là phù trần căn, đây là căn quá thô tháo.
    Còn qua bên nhận thức đây thì không có căn. Thành ra không căn là không có ngã, nó không có luân hồi, không có ngã chấp, nó không có không gian, nó chỉ có thời gian tuyệt đối. Cái nhận thức đó gọi là trực giác, chúng ta còn kêu danh từ khác là nhận thức hiện tiền. Mà nhận thức hiện tiền thì không có quá khứ, không có hiện tại và không có vị lai, tức là không có hôm nay nhận thức khác, ngày mai nhận thức khác, hôm qua nhận thức khác hơn. Không có vấn đề đó. Bây giờ, hôm qua, ngày mai nhận thức cũng thế thôi, không thay đổi.
    Chúng ta để ý biết phân biệt, chia chẽ giữa Uế độ và Tịnh độ, nương vào bánh vẽ này, khi chúng ta lầm biết mình lầm. Chúng ta cứ để lầm nhưng phải biết mình đang lầm. Còn nhận cái lầm làm cái thiệt thì nhận giặc làm cha, thì chúng ta sẽ tiếp tục luân hồi sanh tử khổ. Vì chúng ta vô lượng kiếp đã lầm rồi. Nhờ giáo lý chỉ cho chúng ta cái lầm, muốn khỏi cái lầm, thì chúng ta chưa khỏi được đâu. Nhưng chúng ta phải biết mình đang lầm, chúng ta từ từ mới nhận thức đúng đắn lại. Nếu bánh vẽ mà học kỹ, chúng ta biết đây là nhận thức đúng đắn, chúng ta không cải sửa nữa, chúng ta nhờ giáo pháp, chúng ta trực nhận vào trong đó.
    Thành ra qua Bát nhã, căn không có, nhưng mà ác nghiệt thay trong Duy thức lại dùng đó là cái căn. Chúng ta chết là chết chỗ đó. Thì bây giờ cái nhận thức hồi nãy đó, tư tưởng đó, qua Bát nhã kêu là Trí tuệ. Ác nghiệt thay Trí tuệ bên Duy thức gọi là Căn (cái biết), còn cái biết tư tưởng kêu là Tâm. Cái căn đó là sinh lý, tư tưởng nó tạo ra, làm ra để làm lớn sự vật, làm ra cơ quan để nó nương vào cơ quan đó để làm lớn đối tượng, làm lớn cái Trần, để rồi Căn-Trần-Thức nó đắm nhiễm với nhau.
    Còn qua bên Bát nhã, cái căn không có. Vì nó trực giác không cần trung gian của căn. Mà ác nghiệt thay cái tư tưởng chuyển biến thành Trí tuệ, thì nó lại kêu Trí tuệ là Căn, do đó chúng ta mới lộn nhào, chúng ta không nắm được.
    Nên mới đầu đi vào Duy Thức, tôi điên đầu chỗ đó, mới nói “Ngu giả nan phân thức giữ căn”. Thức ở đây là Tư tưởng, là Cảm giác bên cõi Uế độ. Còn Căn đây là Trí tuệ của Bát Nhã.
    - Thức với cảm giác phải nương vào căn là xác thịt, là sinh lý cái đó lại kêu là Căn.
    - Còn bên đây, Trí tuệ Bát nhã trực nhận thẳng vào cái Trần, cái vật lý, thì cái Trí tuệ này lại kêu là Căn. Thành ra chúng ta mới chết ở chỗ đó.
    Thành ra cái cảm giác, cái phân biệt thuộc về Tâm. 2 Tâm này mới nương vào căn để nhận thức sự vật. Còn bên kia trực nhận thẳng vào sự vật không nương vào căn nữa tức là không có Ngã.
    Thành ra cái Căn với cái Thức:
    - Cái Căn bên Bát nhã là Tâm. Còn cái Thức bên tư tưởng cũng là Tâm.
    - Cái Căn bên tư tưởng là sinh lý, là chưa có cái biết, là Tịnh sắc căn thôi, nhưng lại kêu là Căn. Còn bên Bát nhã thì cái Tâm, cái Trí tuệ, cái Chơn tâm thì lại kêu là Căn. Thành ra giữa Trí tuệ và cái Thức chúng ta khó phân biệt được.
    Khó phân biệt là sao? Là cái Thức, cái Cảm giác thì nó có đối tượng. Cảm giác là cảm giác vào một cái gì đó. Tôi lạc thọ, tôi vui thì vui phải vui cái gì mới được. Ờ tôi nhớ mẹ tôi, tôi vui. Tôi định gặp mẹ tôi, tôi thấy mẹ tôi, nên tôi vui. Con mắt là cơ quan làm cho người mẹ tôi lớn ra, tỏ ra; cảm giác tôi nương vào con mắt, dây thần kinh thị giác để thấy mẹ tôi, thì cảm giác của tôi nổi lên vui. Mà nếu không có dây thần kinh thị giác, tôi sẽ không thể thấy mẹ tôi. Tôi đứt dây thần kinh thị giác hoặc không có tròng đen, thì cái thấy, cảm giác không phát hiện được. Còn bây giờ, cái cảm giác tôi có, dây thần kinh thị giác có, tròng đen có, nhưng mà mẹ tôi không hiện, khi ra đón sân bay mẹ tôi không về, thì cảm giác vui cũng không phát hiện. Thành ra ở đây có cảm giác thì nó phải đầy đủ 3 cái: có dây thần kinh thị giác, có tròng đen và có người mẹ đối tượng, tức là có Căn, có Trần, có Thức.
    Còn bên Bát nhã nói nó là cái biết, là cảm giác thì sai; nói nó không có cảm giác thì trật. Nó cũng như cái gương, nhưng mà khác cái gương là nó có thể tự chiếu soi được. Nó đứng lặng như vậy nó chiếu soi, nó tự chiếu soi trở về nó, rồi chiếu soi trở lên nữa, thì tất cả các cảm giác những cái căn: con mắt, tròng đen, dây thần kinh thị giác, cảm giác và người mẹ đều hiện lên trên cái gương này. Khi cảm giác phát hiện cái vui, khi người mẹ đến, khi có con mắt tốt, dây thần kinh thị giác đều hiện lên trên cái gương hết. Thì bây giờ cảm giác vui cái gương chiếu lại cảm giác vui, nhưng cái vui như vậy không phải của cái gương mà là của cảm giác. Cảm giác vui 100% thì cái gương cũng chiếu lại cảm giác vui 100%.
    Như vậy nói cái gương (ví như là Bát nhã) không biết thì sai, nói cái gương biết thì trật. Cảm giác này không phải của cái gương, nhưng cái gương biết được cảm giác 100%, 50% nó biết 100%, 50%. Nếu nói nó không có cảm giác là sai. Nếu nói nó có cảm giác, cảm giác là của nó thì trật. Thành ra nói tới Bát nhã thì khó nói, chư Phật tử phải thông cảm chỗ đó. Nói Bát nhã có cảm giác là sai, nói không cảm giác là trật, mà nói Bát nhã không cảm giác gì hết mà cảm giác tất cả.
    Rồi khi cảm giác này mất đi, khi người mẹ tôi xuống máy bay, tôi nói thí dụ bà ngã xuống chết liền lập tức, thì cảm giác vui mất, cảm giác buồn khổ sẽ đến liền. Thì chúng ta thấy cái gương đâu có khổ nhưng nó biết rằng đang có cảm giác khổ, thì nó chiếu lại cảm giác khổ. Như vậy nói nó không có khổ là sai, mà nói nó có khổ là trật. Khổ là khổ của cảm giác nhưng nó vẫn biết như thường. Nó vẫn biết khổ, nhưng cái khổ này là chỉ là phản ảnh, phản xạ thôi.
    Khi người con này có học giáo lý biết cái chết của người mẹ là vô thường thôi, nên hết khổ, thì cái gương cũng hết khổ, do ngoài này hết khổ. Cái gương bao giờ cũng không vui không buồn và cũng không hết khổ, nó luôn luôn đứng lặng, do đứng lặng nên nó chiếu soi tất cả, nhưng mà cái đứng lặng của nó là luôn luôn không vui không khổ gì hết, gọi là bất lạc bất khổ hồn nhiên, một trạng thái hoàn toàn đứng lặng, đứng lặng mà sáng soi. Do đó, nói biết cũng không đúng, nói không biết cũng không đúng. Mà chúng ta phải nói cái gương, cái Bát nhã này không biết gì hết mà biết tất cả.
    Còn cảm giác là biết và không biết. Khi thấy người mẹ thì vui, qua tiếp người mẹ thì cái vui nó mất. Rồi khi người mẹ chết buồn khổ nổi lên. Khi nghe mấy Thầy, mấy Sư cô giảng giáo lý thì cái khổ nó hết. Nhưng mà cái gương này không hết. Nó biết rằng cảm giác hết nhưng cái biết này nó vẫn còn.
    Thành ra mọi sự vật cái tình cảm vui buồn, không vui không buồn đều chiếu soi trên cái gương này hết. Thì cái gương này phản chiếu y nguyên như vậy, nó không giữ lại cái gì hết. Nó nhận tất cả và phản chiếu trả lại tất cả. Nó không giữ lại cái gì hết. Do không giữ lại cái gì hết chúng ta gọi là “Giải thoát” tức là chúng ta nhận tất cả, trả lại tất cả. Chúng ta không nắm níu, không trú ở, không ái trước cái gì hết. Nhưng mà biết tất cả, mà không giữ lại cái gì hết. Cái vui là cái vui của cảm giác, khi cảm giác vui thì nó biết vui, cảm giác buồn nó biết buồn. Qua cảm giác vui buồn rồi thì nó cũng là sự yên lặng thôi, kêu là “Niết bàn”.
    Người ta thường hiểu lầm Niết bàn là hư vô. Đặt dóc, là hoang đường. Chúng ta thấy lầm. Nếu chúng ta trực nhận được cái Niết bàn này, nếu chúng ta nắm được cuộc sống của chúng ta, chúng ta sẽ hiểu Niết bàn.
    Còn càng giải thích càng đi xa Niết bàn, nhưng mà không giải thích không hiểu được Niết bàn. Thành ra chúng ta phải giải thích bằng cách không giải thích gì hết, mà không giải thích gì hết mới là giải thích tất cả. Chúng ta phải nhận ngay cuộc sống này nếu chúng ta thấy được nó.
    Thành ra nhiều người đặt câu hỏi nó hơi vui vui, nhưng cũng như hơi ngớ ngẩn. Nếu chúng ta không nắm được thì có vô lượng câu hỏi. Mà nếu nắm được thì câu hỏi nào chúng ta cũng trả lời được hết.
    Thành ra ở đây chúng ta chia làm 3 mặt trăng, là tạm chia thôi. Nó đã xuống cấp rồi thì nó đã là vọng nếu đối với Mặt trăng thiệt. Nhưng muốn trở về Mặt trăng thiệt thì phải đi qua cái vọng này. Bởi vì đối với xao động nó lại là chơn, mà nó đã xuống cấp thì nó mờ mờ rồi, mà đã mờ thì vọng rồi. Nhưng mà vọng đây là vọng trung thực, tức là vẫn giữ hình tướng cũ thôi, chưa có thay đồi gì hết nhưng mà nó hơi mờ mờ thôi, thành ra nó không thể hoại được. Thành ra thế giới của Mặt trăng 1, 2, 3 này không có hoại, mà không hoại thì đời đời kiếp kiếp nó hằng hữu, nó luôn luôn như vậy thôi đâu có hoại được, nhưng mà nó “Hành”.
    Chữ “Hành” ở đây là chuyển biến, chuyển biến từng sátna. Mà đã hành thì Nhân quả đồng thời, sanh-trụ-hoại-diệt cùng một lúc. Đã sanh rồi thì diệt liền, đã diệt rồi thì sanh liền, không có một khoảng cách giữa sanh-trụ-hoại-diệt này, chỉ có những khe hở thôi, mà vì những khe hở này nó mới chuyển biến đấy. Nếu không có khe hở thì là bất biến. Khe hở tức là thời gian tuyệt đối.
    Còn nếu có khoảng cách thì sanh phải có một thời gian, trụ phải có một thời gian, diệt phải có một thời gian thì mới trở lại sanh nữa thì cái đó là khoảng cách. Có khoảng cách thì có không gian và thời gian tương ưng. Mà có không gian là cái danh từ khác của cái « Ngã ».
    Còn thời gian tuyệt đối thì ngã không có, chỉ có cái «Pháp» thôi, chỉ có chuyển biền, chuyển biến và chuyển biến mà chúng ta thường kêu là Nhân quả đồng thời.
    Còn có không gian và thời gian tương ưng là Nhân quả khác thời. Từ cái «nhân» đi qua cái «quả» phải có cái «duyên». Đứa bé sinh ra rồi là thành, rồi trụ một thời gian 50-70 năm, rồi già lần lần, tóc bạc da mồi rồi cuối cùng phải chết tức là hoại. Hoại rồi cái Thần thức này mới đi tìm một cái chúng sanh, rồi mới “thành-trụ-hoại-không” nữa.
    Và ngay trong cái “thành-trụ-hoại-không” từng chu kỳ này có cái sátna nằm trong đó. Sátna này không có hình tướng gì hết. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý gì hết, nhưng mà do sự mê mờ chúng ta chụp mũ mà thành. Thành ra cái sátna này còn gọi là dòng nước và chỗ để mà cái chu kỳ “thành-trụ-hoại-không” có hình tướng nương vào mà phát hiện.
    Còn cái chuyển biến sátna này nương vào cái bất biến mà phát hiện. Dòng nước không có tướng chỉ có hình nương vào nước Chơn tâm bất sanh bất diệt đứng lặng hoàn toàn để mà phát hiện.
    Còn nước không nương vào đâu, nó hằng hữu. Hễ hỏi tới nước là qua câu hỏi số 1 trước mà tôi đã giảng là “Chơn Như từ đâu mà có? Tới đây giải thích là bế tắc. Chỉ có người mê mới hỏi câu hỏi đó thôi. Chúng ta phải vô lý hóa câu hỏi đó chứ không thể chấp nhận câu hỏi đó. Chấp nhận câu hỏi đó là người ngu, chấp nhận vấn đề là ngu. Bởi vì ở đây phải thấy rằng không có vấn đề. Không có vấn đề mà mình chấp nhận vấn đề là một cái ngu. Mà giải quyết vấn đề lại càng ngu hơn nữa, sanh sứa vô lượng vấn đề. Bởi vì vốn cái đầu tiên nó không có cái vấn đề, chấp nhận là cái dại rồi. Làm sao mà giải quyết ? Mà giải quyết càng sanh ra nhiều vấn đề. Đó là cuộc sống hiện tại của chúng ta.
    Chúng ta từ địa ngục chúng ta thấy khổ quá, bây giờ muốn giải quyết khỏi địa ngục thì phải làm sao lên ngạ quỷ. Ngạ quỷ thấy khổ quá lên súc sanh. Rồi súc sanh thấy khổ quá lên atula. Atula thấy khổ quá lên người. Người thấy khổ quá lên trời dục giới, trời dục giới có 6 cõi. Trời dục giới thấy khổ quá lên trời sắc giới. Sơ thiền cũng thấy là khổ, bỏ sơ thiền lên nhị thiền. Nhị thiền cũng thấy khổ bỏ nhị thiền lên tam thiền. Bỏ tam thiền lên tứ thiền. Mà chúng ta thấy cõi trời dục giới trở xuống là chiếm hữu bên ngoài thì khổ đã đành, tưởng có mà thật nữa nên khổ chồng thêm khổ là khổ khổ. Bây giờ chiếm hữu bên trong không ai thấy, không ai cướp được của mình thì thấy sung sướng rồi nhưng mà phải hoại. Còn bây giờ không chiếm hữu bên ngoài nữa, nhà cửa, tiền bạc, vợ con,…đem cho hết thì sống với cảm giác tứ thiền của mình thôi, nhưng mà thấy vẫn còn hoại tức nhiên còn khổ. Tới cõi trời vô sắc giới chúng ta thấy chập chờn dường như hoại dường như không hoại. Nhưng mà ở đây do tư tưởng tạo ra thì cái cảnh ở đây nó giống giống na ná cũng như là Chơn tâm. Thành ra các ngài cho đó là cái «Tiểu ngã» của cái «Đại ngã». Cõi trời Không vô viên-Thức vô biên-Vô sở hữu-Phi tưởng phi phi tưởng, các ngài thấy được sự thật rồi nó mất, rồi các ngài tạo ra giống hệt như vậy, cái sản phẩm nội chế và cái sản phẩm thiệt giống hệt nhau. Thì cái sản phẩm nội chế là cái Tiểu ngã, còn cái sản phẩm thiệt là cái Đại ngã của võ trụ. Đức Phật gạt bỏ luôn. Chúng ta thấy rồi chúng ta sẽ đi tới con đường đó, sẽ quán xét cái đó. Thì chúng ta thấy đây tất cả là cái nồng cốt của Tề Thiên, cái lõi của tư tưởng thì chúng ta mới thấy được cái đứng lặng hoàn toàn. Mà cái đứng lặng không phải dễ thấy. Chúng ta phải đi từ cái đứng lặng của Mặt trăng 3. Mà Mặt trăng 3 là Mặt trăng xuống cấp rất là thô thì dường như nó muốn hiện hình nhưng mà tới đó là hết.
    Chúng ta nên nhớ 3 Mặt trăng đều là vô lượng vô biên và nó hằng hữu đời đời kiếp kiếp đều như vậy. Mặt trăng 2 là Hư minh le lói chiếu soi nó xuống cấp thành Mặt trăng 3 là Dung thông (cò gọi là vọng tưởng kiên cố hồn nhiên). Rồi Mặt trăng 3 trở về Mặt trăng 2. Thành ra Hư minh le lói chiếu soi vừa thấy được Mặt trăng 3, vừa thấy được chính nó, vừa thấy được Mặt trăng 1 là Hư vô vi tế. Còn Hư vô vi tế nó cũng vậy, nó thấy được Hư minh le lói chiếu soi, thấy luôn Dung thông bởi thấp hơn nó mà, nó thấy luôn chính nó và thấy luôn Mặt trăng thiệt là Chơn như tịnh. Còn Chơn như tịnh thì thấy tất cả, nó thấy được võ trụ trên kia là Chơn như tịnh võ trụ.
    Thì chúng ta thấy Chơn như tịnh, Chơn như động là vô lượng, vô biên của võ trụ. Còn Alaya thức là Chơn như tịnh, Hư vô vi tế, Mặt trăng 1 vô lượng vô biên của cá nhân. Nó cũng là võ trụ đấy nhưng nó nửa võ trụ nửa cá nhân. Nó xuống cấp Mặt trăng 2 là Hư minh le lói chiếu soi, cũng là vô lượng, vô biên, cũng là hằng hữu. Xuống cấp Mặt trăng 3 là Dung thông, thì Hư minh le lói chiếu soi và Dung thông cũng hằng hữu. Nhưng tới đây là hết.
    Thành ra chúng ta phải hiểu ngoài cái câu văn, nắm được ý thì hãy quên lời văn. Tức là Hư minh le lói chiếu soi và Dung thông nó chuyển biến với nhau, rồi trở lên kia, trở về Mặt trăng thiệt. Rồi Mặt trăng thiệt từ đó xuống. Không có nghĩa là khi nó xuống Mặt trăng 2 rồi thì Mặt trăng thiệt, Mặt trăng 1 là phải mất; Mặt trăng 2 xuống Mặt trăng 3 rồi thì Mặt trăng 2, Mặt trăng 1 phải mất. Chúng ta phải hiểu cái chỗ khó khăn đó.
    Còn bên xao động thì mất đấy. Bởi vì nó đã là xao động thì được cái thấp hơn là cái trên nó phải mất đấy. Mất không phải mất đi đâu mà nó ẩn ngay trong đó. Chẳng hạn chúng ta có tư tưởng, chúng ta phân biệt đây là cái đồng hồ. Đây là cái óc tôi phân biệt cái đồng hồ Trung Quốc, đồng hồ Việt Nam, thì cái óc là chỗ tư tưởng mượn để phân biệt. Rồi khi tư tưởng mượn mượn cái óc để phân biệt thì biết cái đồng hồ Trung Quốc, đồng hồ Việt Nam, thì cái óc là chỗ tư tưởng mượn để phân biệt. Rồi khi tư tưởng mượn cái óc để phân biệt thì cảm giác phải mất. Rồi khi chúng ta bắt đầu chìm đắm, thích cái đồng hồ thì cái tư tưởng mất. Bây giờ nó trở xuống dây thần kinh thị giác, cái cảm giác mới nhờ dây thần kinh thị giác để chiếm hữu cái đồng hồ, thì bây giờ cái tư tưởng mất. Mất thì không mất đi đâu, nó ẩn đó, nó không còn đủ duyên nữa, nó chiếu soi rồi không thể tự chiếu soi được. Cái cảm giác không bao giờ thấy được cái tư tưởng, nhưng mà cái tư tưởng có thể thấy được cái cảm giác. Như trong lúc tư tưởng phân biệt thì cảm giác nó ngủ ngầm trong đó. Chúng ta nên nhớ chỗ đó, chúng ta mới phân biệt được giữa cái đứng lặng và cái xao động. Để chúng ta hiểu và liễu tri rành rẽ, để chúng ta trở về không bị lầm, không bị gạt giữa tư tưởng và Bát nhã, nó rất là khó hiểu.
    Chúng ta nói về Phần đứng lặng. Là từ Mặt trăng thiệt của võ trụ Chơn như tịnh, Chơn như động do 1 niệm bất giác mới lọt xuống Alaya thức. Alaya thức mới chia 2: Mặt trăng thiệt là Chơn như tịnh chuyển biến chậm xuống là Hư vô vi tế. Rồi bây giờ mới chia làm 2. Vọng tưởng kiên cố nó mới đập vào Hư vô vi tế, tức là tướng phần của Alaya thức của Mặt trăng 1 đấy, kêu là Vọng tưởng kiên cố, do cái vọng tưởng này mới thành ra Mặt trăng2. Bấy giờ Hư vô vi tế mới trở thành chủ thể tức là kiến phần và khi chuyển biến chậm lại thành Hư minh le lói chiếu soi là tướng phần. Rồi từ đó nó mới xuống cấp một lần nữa thành Dung thông là Mặt trăng 3. Thì hồi nảy Hư minh le lói chiếu soi là tướng phần bây giờ trở thành kiến phần là phần nhận thức của Mặt trăng 3. Chuyển biến chậm lại thành Dung thông (Vọng tưởng kiên cố), tới đây rồi hết. Rồi nó trở lên lại.
    Không phải trở lên lại là mất nó; nó vừa qua lại, vừa trở lên mà cũng vẫn vừa qua lại. Chúng ta thấy nó chuyển biến thần tốc, đã là đứng lặng làm sao mất được. Nó như con thoi vừa chuyển biến lên đến tột cùng, nó vừa xuống 3 cái này, luôn luôn chuyển biến như vậy, chuyển biến qua lại, chuyển biến lên cấp và xuống cấp. Nó hằng hữu, nó vô lượng vô biên.
    Chú ý: Vọng tưởng kiên cố không tác ý thì chuyển biến sátna, còn Vọng tưởng kiên cố có tác ý thì chuyển biến chu kỳ.
    Bây giờ tới bên Phần xao động. Chúng ta thấy rằng cái Alaya chuyển biến sátna nhưng mà khi nó xao động rồi chúng ta kêu nó là chu kỳ, không kêu là Alaya nữa mà kêu là Mạtna. Cũng như khi nó chuyển biến đứng lặng xuống cấp rồi thì kêu Mặt trăng 2 chứ không phải Mặt trăng 1 nữa. Thành ra do cái Vọng tưởng kiên cố đập vào cái tướng phần là Hư vô vi tế mới có Mặt trăng 2.
    Thì bên đây cũng vậy, do cái Vọng tưởng kiên cố nó đập vào cái kiến phần tức là Chơn như tịnh (Mặt trăng thiệt) thì bắt đầu có MẠTNA. Mạtna độc đáo nó đập vào Mặt trăng thiệt mới chết chớ, nhưng nó là cái lăng kính xao động méo mó, thành ra nó mới tạo ra cái không gian để làm môi giới để nó tiếp xúc với kiến phần. Nó phát xuất từ Alaya tức là kiến phần, tướng phấn tức là từ cái Mặt trăng thứ 1, xao động bắt đầu có nó, rồi nó mới chiếu soi trở lại, nhưng mà chiếu soi làm sao được, nó lắc lư, mà nó lắc lư làm sao chiếu soi được Mặt trăng thiệt. Thành ra nó thấy không được Mặt trăng thiệt, nó mới chồng lên trên đó cái bóng mờ. Thành ra phát xuất từ Alaya, mà chiếu soi lại cái kiến phần Alaya tức là Chơn như tịnh, do lắc lư nên có cái bóng mờ. Nó làm sao mà thấy được cái kiến phần của Alaya, người ta là 1 trạng thái hào quang rực rỡ sáng soi không mờ, làm sao chiếu vào đó được, thành ra nó mới chụp mũ. Mà cái đạo lực, cái hào quang của Mặt trăng thiệt rất là sáng. Mạtna xao động nó không thể nhìn thấy được cái rực rỡ của Mặt trăng thiệt đó, nó chụp lên cái bóng mờ, cho cái đó là NGÃ, cho cái đó là không gian, mượn cái đó làm môi giới để vọng hóa. Và từ đây bắt đầu có nhận thức - có căn - có đối tượng nhận thức.
    Do cái xao động này mới bắt đầu có không gian là có căn, căn này không phải là nhận thức nữa mà căn này là sinh lý, nhưng mà cái căn lúc này rất là rộng lớn, căn này nó gần như là cái «tâm», nó với cái Thức gần như 1 nhưng mà không phải 1. Không gian lúc bấy giờ gần như là thời gian nhưng mà vẫn là 2. Thành ra cái này mới kêu là trực giác, nó chiếu soi và tự chiếu soi được, mà tự chiếu soi là trực giác. Nhưng vì nó lắc lư, nó giống như trực giác mà không phải là trực giác, thành ra tương tợ hiện lượng kêu là Tợ hiện lượng, thành ra cái cảnh của nó không phải là cảnh thiệt, không phải là Tánh cảnh nữa mà là cái cảnh vay mượn, tức là tự nó tạo ra cái cảnh nhưng mà mượn vào cái Tánh cảnh để rồi sửa lại, nhưng mà chưa biết sửa, cũng vẫn còn trung thực tức là giữ lấy cái mờ đó cho là cái Ngã, cái Ta, thành ra trong Duy thức kêu là Đới chất mà chơn thiệt. Chơn thiệt là chưa biết cải sửa gì hết, là bóng mờ mờ vậy thôi. Cái bóng đó có hình có tướng như thế nào thì chưa có, làm như có tướng, làm như không tướng, làm như có hình, làm như không có hình, nó ở giữa cái hình với cái tướng, cái tướng gì thì chưa rõ rệt, nhưng mà đã có tướng rồi.
    Còn bên đứng lặng thì nó hoàn toàn có hình thôi chưa có gì hết. Mặt trăng 3 dường như hội tụ, chưa có gì hết, dường như hội tụ có cái hình.
    Còn bên xao động bắt đầu có tướng rồi. Nhưng tướng gì? Tướng mờ mờ. Thành ra nó với Mặt trăng 3 khó mà phân biệt được. Thành ra chúng ta thấy nó gần như cái đứng lặng nhưng mà không phải đứng lặng vì cái gốc của nó là gốc xao động. Còn Mặt trăng 3 cái gốc người ta là gốc đứng lặng, mặc dù người ta xuống cấp tệ nhất nhưng mà người ta vẫn là đứng lặng, tức là vẫn trung thực. Còn cái này dường như trung thực nhưng mà đã có xao động trong đó, thành ra kêu nó là U ẩn, còn danh từ khác nữa kêu nó là căn bản sinh diệt. Sinh diệt là gì ? Nó nắm 2 cái sinh diệt: Nếu nó trở vào Alaya thì nó sinh diệt sátna, còn nó trở ra thành chủng tử thì nó sinh diệt chu kỳ.
    Thành ra cái nồng cốt căn bản, nền tảng của nó là sinh diệt. Nó nắm cả 2 cái sinh diệt: sinh diệt sátna khi trở vô Alaya, vô Alaya thì chủng tử biến thành năng lực hết, nhưng mà khi xao động trở ra thì có chủng tử thiện, ác và vô ký thì đây là sinh diệt chu kỳ. Thành ra cái nền mống luân hồi sanh tử chính là nó. Khi mà diệt được nó rồi chấm dứt con đường luân hồi, bởi vì nó mờ mờ giữa sinh diệt sátna và sinh diệt chu kỳ không phân biệt được, nó rất là u ẩn. Thành ra trong Kinh dùng nhiều danh từ rất là xác, không thể thay thế được. Thành ra thức thứ 7 có 2 danh từ: 1 danh từ là u ẩn, 1 danh từ là sinh diệt.
    Trong kinh ta thấy nói nó lấy Alaya thức làm căn. Mà Alaya thức là gì? Là hào quang rực rỡ hoàn toàn sáng soi và hào quang mờ tức là Chơn như tịnh và Hư vô vi tế, hai cái này đều là tâm hết rồi mới sanh ra nó, mà nó cũng là tâm. Tâm phát sanh từ tâm rồi chiếu rọi lại kiến phần Alaya cũng là tâm thì làm sao có cái gì đâu, nhưng mà không gian đã phôi thai trong đó rồi. Phôi thai tức là mới trứng nước thôi, chưa có rõ rệt. Thành ra nói nó là chưa có không gian cũng không đúng, mà nói nó là không gian hẳn cũng không đúng, mà không gian với thời gian còn trộn lẫn với nhau 1 cách rất là chặt chẽ, thành ra kêu nó là u ẩn. Mà không gian là sinh diệt chu kỳ, thời gian tuyệt đối là sinh diệt sátna, 2 cái này không phân biệt được, trở vô thành sátna, trở ra thành chu kỳ.

    Thành ra Mạt na chúng ta phải tham thiền kỹ, cho thấu đáo thì chúng ta mới thấy rõ nó được. Mà thấy rõ nó được thì luân hồi sanh tử mới có cơ duyên mà chấm dứt.
    Giờ qua tới ALAYA thức. Alaya còn khó hơn nữa. Trong kinh nói Alaya chúng ta không thể biết được căn, trần, thức của nó. Sự phát hiện và chuyển biến như thế nào, thì chỉ có Như lai mới thấy được thôi, mà diễn tả thì khó mà diễn tả, nhưng mà chúng ta cũng tàm tạm theo Duy thức chúng ta diễn ra.
    Chúng ta thấy rằng Alaya gồm có 3 phần:
    - Nó đi lên đó thì nó hợp với võ trụ tức là trở về với Mặt trăng thiệt, chúng ta kêu là “Diệt thọ tưởng định” tức là “Niết bàn tịch tịnh” đấy, tức là Chơn như tịnh của võ trụ mà chưa có Chơn như động. Vô trong đó và nằm trong đó để thấy được tất cả vạn vật chúng sanh và các pháp cứ chuyển biến sátna và chu kỳ ào ào như vậy, rồi chán nản quá không dám ra giáo hóa. Thì trở về Mặt trăng thiệt là Chơn như tịnh. Alaya này nó nối liền với Chơn như tịnh, hễ khi nó lên cấp thì thành Chơn như tịnh của võ trụ.
    - Khi nó xuống cấp ở đây thì thành Mặt trăng 1. Khi xuống cấp lần 2 nữa thì thành Mặt trăng 2. Thành ra Mặt trăng 2 cũng là Mặt trăng 1, Mặt trăng 1 cũng là Mặt trăng thiệt của võ trụ.
    - Rồi khi nó xao động thì nó qua Mạtna, thì mạtna cũng dính một phần của nó.
    Thành ra một mình nó đứng tới 3 chỗ : trở lên thì thành Mặt trăng thiệt của võ trụ, trở xuống thì thành Mặt trăng 2, trở qua xao động thì thành Mạtna.
    Thành ra nói Alaya là cái gì? Không nói được. Phải nói nó là “không gì là hết mà nó là tất cả”. Mà nói nó là động thì cũng không đúng, nói nó là tịnh cũng sai, nó chơn vọng hòa hợp. Thành ra chúng ta thấy khó nói về alaya.
    Bây giờ, chúng ta qua cái xao động. Thì sau khi mà cái mạtna nó từ alaya nó ra, nó trở lại chấp kiến phần alaya làm cái Ngã, thì lúc đó chúng ta thấy một trạng thái mờ mờ. Bây giờ nó vọng hóa nữa thành ra Thức thứ 6. Nó mới cung cấp chất liệu cho thức thứ 6. Ở đây chúng ta thấy cái căn của thức thứ 6 thì phải có 2 phần tất cả: một phần là mạtna, nó mới thấy được những cái sắc-thanh-hương-vị-xúc. Mà sắc, thanh, hương, vị, xúc là thế giới của tánh cảnh như mới nãy tôi nói là mặt trăng đứng lặng. Bây giờ nó thấy được cái đó nhưng với cái nhìn của nó là cái nhìn xao động, thành ra sắc trần không còn là sắc trần nữa mà là pháp trần. Nhưng nó xao động, mà xao động rất ít thành ra nó mới tạo ra cái tư tưởng để mà xao động rõ rệt.
    * Thành ra do duyên ý căn (tức là mạtna) tiếp xúc với pháp trần (là tiếp xúc sắc, thanh, hương, vị, xúc, mới sửa thành pháp trần theo nghiệp lực của mỗi loài chúng sanh) thì bây giờ tư tưởng mới phát hiện. Tư tưởng này phát hiện là do ý căn, do mạtna, cung cấp chất liệu cho nó, nó mới phát hiện được. Bây giờ nó mới cùng mạtnạ tạo ra cái óc. Để chi vậy? Để cái óc nó làm lớn cái sự vật ra, làm lớn cái sắc, thanh, hương, vị, xúc tạo thành cái pháp trần rõ rệt hơn.
    Hồi nãy, nó là một trạng thái mờ mờ của Mặt trăng 3, một số vi trần hội tụ thôi. Bây giờ cái này nó phải làm cho có tướng luôn thì phải nương vào cái óc làm môi giới, để cho cái tư tưởng nương vào cái óc, để nó đắm nhiễm với cái trần do nó tạo ra. Thành ra nó vẽ bùa rồi nó đeo bùa luôn. Chúng ta khổ sở là ở chỗ đó.
    Thì theo tôi ở đây là trạng thái của Tứ thiền. Nhưng mà chúng ta đâu có yên tâm ở đó, chúng ta còn chạy chọt còn nhảy nhót nữa “Tâm viên ý mã” mà. Do đó chúng ta thấy ở đây có tư tưởng, có căn là trung khu thần kinh óc và có trần là cái đồng hồ. Trần thì có vô lượng trần, đây tôi lấy thí dụ là cái đồng hồ, chúng ta nắm được một cái là chúng ta nắm được hết. Thì tư tưởng tôi mới mượn cái óc, xuyên qua cái óc thì mới thấy được cái đồng hồ. Nhưng trước tiên xuyên qua cái óc, mà cái óc không thấy được cái đồng hồ, óc làm cho cái cảm giác lớn lên. Cái cảm giác tức là dây thần kinh thị giác của tôi chứ không phải cái óc. Cái óc là tịnh sắc căn vi tế, còn dây thần kinh của con mắt là tịnh sắc căn hơi thô một chút. Mà tịnh sắc căn của dây thần kinh này chỉ phát hiện cảm giác thôi. Cảm giác nương vào dây thần kinh thị giác này thì mới nhận được cái đồng hồ ở trên cái tròng đen. Thành ra cảm giác này cũng không nhận cái đồng hồ ở ngoài mà nhận cái đồng hồ trên tròng đen thôi. Còn tròng đen thì mới nhận được cái đồng hồ bên ngoài. Chúng ta thấy cái đồng hồ bên ngoài với cái đồng hồ trên tròng đen chúng ta nói 1 thứ là sai, nói 2 là trật. Đồng hồ bên ngoài là đồng hồ của vật lý thô tháo, đồng hồ trên tròng đen là sinh lý vi tế hơn, còn đồng hồ đưa lên óc thì cái sinh lý này độc đáo hơn nữa.
    Hôm trước, tôi đã nói cây cột nhà hay cái đồng hồ là vật lý thì nó là đất, nước, lửa, gió. Nhưng khì mà nó biến thành xác thân của cây cỏ, thì cái thân cây cũng là là sinh lý đấy, cái đồng hồ là vật lý khi nó biến thành sinh lý thì nó khác. Cái xác thân tôi có da, thịt, xương là sinh lý nhưng khác với cái cây. Con thú, con chó cũng là sinh lý nhưng mà nó khác. Chúng ta nên nhớ hễ nhận thức càng cao thì vật lý, sinh lý càng biến đổi cao hơn. Thành ra xác thân của chúng ta với xác thân của Phật, chúng ta nói 1 thứ là coi chừng lầm đấy, mà chúng ta nói khác nhau coi chừng sai đấy. Đức Phật cũng là đất, nước, lửa, gió thôi, nhưng mà đất, nước, lửa, gió vô cái trí tuệ chiếu soi thì nó lại biến khác, còn do cái nhìn của chúng sanh nó lại khác nữa. Thành ra chúng ta thấy cái cõi này là biến hóa huyền ảo. Cũng như lúc trước chúng ta nói về nước chẳng hạn. Đối với loài người nước đó là nước, đối với loài khác không có nước, đối với loài thủy tộc là nhà ở, đối với nhà hóa học nó là oxy và hydro… Như vậy nước là gì? Thực tướng của nước không là gì hết, là Thức thôi, là năng lực. Thì chúng ta thấy cõi này nó là ảo hóa.
    Thành ra chúng ta phải thấy trước tiên ở kinh Sáu Sáu này rất là hay. Chúng ta muốn phân biệt được sự vật phải có tròng đen tiếp xúc với sự vật. Sự vật là đồng hồ qua cái tròng đen thì nó lại là vật lý, nó nằm ở tròng đen cũng là vật lý nhưng khác đấy, rồi dây thần kinh thị giác mới thấy cái đồng hồ vật lý trên, cái đồng hồ đó với cái đồng hồ này thì nó vi tế hơn. Khi nó báo hiệu cái cảm giác lên cái óc mới phát hiện nhìn cái đồng hồ này qua cái báo hiệu của cảm giác, thì cái đồng hồ lại khác nữa, thì đây là sự phân biệt.
    Chúng ta thấy nó có sự xuống dốc từ tư tưởng nhận được cái alaya khi nó thấy được cái đồng hồ này thì tư tưởng mới phát hiện, nó mới cung cấp chất liệu thì tư tưởng và mạtna mới tạo ra cái óc, thì cái óc mới thấy được cái đồng hồ. Nhưng trước khi thấy cái đồng hồ thì phải có dây thần kinh thị giác báo hiệu cảm giác lên, mà dây thần kinh thị giác muốn có cảm giác báo hiệu thì phải nhờ cái tròng đen, mà tròng đen tiếp xúc với sự vật bên ngoài. Thành ra trong kinh mới nói do duyên tròng đen, do duyên sắc trần, thì ở đây sắc trần bị sửa bị chụp mũ rồi đấy, chứ thật sự sắc trần chỉ là một khối vi trần hội tụ thôi. Bây giờ cảm giác, tư tưởng với mạtna mới đồng loạt tạo nên cái đồng hồ theo nghiệp người. Nếu con kiến thấy cái đồng hồ khác. Chúng ta phải để ý.
    Thành ra do duyên con mắt, do duyên sắc trần phát hiện ra nhãn thức. NHÃN THỨC chỉ là cái nhìn chưa có cái biết, mới manh nha thôi, mới phôi thai cái biết thôi. Cái đồng hồ mới hiện lên tròng đen như cái gương để nó làm cho cái đồng hồ sáng tỏ hơn. Rồi dây thần kinh thị giác mới thấy được cái đồng hồ ở trên tròng đen thì bây giờ cái cảm giác mới phát hiện, mà cái cảm giác chưa phải là phân biệt chỉ là cái biết thôi, biết vui, biết khổ, còn tại sao vui khổ thì không biết. Còn nói về cái đứng lặng thì chưa có cái gì hết, cảm giác nó chỉ là Mặt trăng 2 thôi, còn cái kia (sắc trần) là Mặt trăng 3 thôi. (6 căn-6 trần-6 thức là những cái mờ mờ, hỗn độn, vi trần, bụi bặm,…). Rồi bây giờ mới đưa lên trên óc nữa, thì bây giờ mạtna mới bắt đầu xuất hiện và cải sửa hết, cải sửa Mặt trăng 3, Mặt trăng 2, Mặt trăng 1, thì cái đó kêu là hiện hành. Từ ở trong mạtna, thức thứ 6, 5 thức đầu đưa ra ngoài. Bây giờ đã hiện hành rồi, đã vẽ bùa rồi, thì bây giờ đeo vào.
    Thì bây giờ có con mắt tiếp xúc với cái đồng hồ, rồi dây thần kinh mới tiếp xúc với cái đồng hồ trên con mắt. Thì hồi nãy là Nhãn thức, bây giờ có sự tiếp xúc đó mới có NHÃN THỌ. Rồi nhãn thọ mới đưa lên trên óc, thành ra có sự phân biệt là NHÃN ÁI. Còn nếu ta chấp thủ nữa thì có Thủ, có Hữu thì luân hồi sanh tử. Chặn ngang đây thì con đường luân hồi sanh tử sẽ chấm dứt, thành ra tới cái ÁI là hết.
    Nhưng mà cái Ái này cũng thuộc về cảm giác, mà cảm giác bất lạc bất khổ thọ, còn cái Thọ là thọ lạc và thọ khổ. Thành ra nói chỉ là cảm giác không thì cũng đúng nhưng mà cảm giác bất lạc bất khổ thọ. Nhưng mà khó phân biệt nhất là cảm giác bất lạc bất khổ thọ của tư tưởng xao động và cảm giác bất lạc bất khổ của hồn nhiên đứng lặng. Khó phân biệt được. Bởi vì cảm giác bất lạc bất khổ thọ bắt đầu từ Tứ thiền lên Tứ không: Không vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu, Phi tưởng phi phi tưởng, thì mấy cái này giữa cái Thức và giữa cái Căn (căn tức là cái hồn nhiên của Bát nhã) khó mà phân biệt, nó trộn lẫn nhau một cách rất là tinh vi, rất là vi tế. Vì cũng đều là bất lạc bất khổ hết, nhưng một cái hồn nhiên không mống niệm, không vọng tình, không vọng tưởng, không tác ý ; còn một cái là vọng tưởng, vọng tình, tác ý không hồn nhiên nữa.
    Thành ra chúng ta thấy Mặt trăng 1 do cái Vọng tưởng kiên cố đập một cách hồn nhiên vào Hư vô vi tế là cái tướng phần của Mặt trăng 1 thì bắt đầu có Mặt trăng 2. Còn bên đây cái xao động sau khi có tư tưởng rồi qua cảm giác, nó chiếm hữu, rồi nó chiếm hữu quá xá tới mất luôn cái biết, thì nó thành vật lý kiên cố. Thì cái kiên cố này với cái kiên cố kia không phân biệt được (cố là một cách cứng ngắt, kiên là bền bỉ) Kiên cố là bền bỉ một cách cứng ngắt, đập mãi vào đó mong rằng có hiện cái hình; Còn ở đây đập mãi, đập mãi chiếm hữu cho tới mất luôn cái biết thành ra đất đá kiên cố, thành ra vật lý kiên cố.
    Rồi tới cái Hư minh le lói chiếu soi là Mặt trăng 2, khi có chập chờn dường như có hình dường như không có hình. Dường như không có hình thì nó trở về Hư vô vi tế là hào quang sáng soi rực rỡ hơi mờ. Rồi lại chập chờn ra dường như có hình, rồi lại trở về hào quang rực rỡ hơi mờ, rồi lại mờ xuống cái dường như có hình rồi trở lên không có hình, cứ như thế mà nó chập chờn, nó le lói.
    Còn ở đây cái Tam thiền, do ly dục sanh hỷ lạc, do định sanh hỷ lạc, bây giờ ly hỷ diệu lạc, bỏ cái hỷ chìm đắm trong trạng thái lạc. Chẳng hạn như niệm Phật trong trạng thái này thì tức nhiên mất người niệm, chỉ còn cảm giác lạc thọ và câu niệm Phật thôi. Còn căn (dây thần kinh) để phát hiện lạc thọ dường như nó chìm đắm vô cái cảm giác. Cảm giác với căn bây giờ dường như nó nhập 1, chập chờn le lói dường như có tiếng niệm Phật, dường như có cảm giác, bây giờ cảm giác với tiếng niệm Phật khó mà phân biệt được. Lúc thì chỉ có cảm giác thôi, lúc thì cảm giác có tiếng niệm Phật thì giống như trạng thái của Mặt trăng 2, làm sao phân biệt được.
    Thành ra trong kinh mới nói là cái thế giới Tánh cảnh của 5 thức đầu, Sắc-thinh-hương-vị-xúc là thế giới Tánh cảnh mà lại có lạc thọ và khổ thọ, có thiện, có ác (đây là trường hợp của người trời mới có thiện ác. Còn thuần 4 ác thì chưa có thiện ác). Thành ra 5 thức đầu có lạc thọ và khổ thọ, có vô ký, có thiện ác nhưng mà hết, không có hỷ, không có tán thán, không trú ở, không ái trước, cái này của thức thứ 6 hết. Do cái chỗ này là cái chỗ mà chúng ta điên đầu, nhưng nếu chúng ta ngồi Thiền lâu thì chúng ta sẽ thấy. Rồi từ đó xuống dốc nữa Mặt trăng 2, Mặt trăng 3 này, cái kia toàn cái hỷ lạc thô tháo của tư tưởng chứ không thể dung thông nữa. Cái dung thông chỉ dung thông trạng thái tứ thiền và trạng thái tam thiền là hết. Từ đó xuống dốc.
    Chúng ta thấy Mặt trăng 1 dễ dung thông, tới Mặt trăng 2 vi tế hơn Mặt trăng 3. Khi đi xuống tới Mặt trăng 3 làm sao mà dung thông được, càng ngày càng xuống dốc thì cái vọng tưởng nó càng thô tháo, cái vọng hóa nó càng thô tháo, càng thô thiển thì nó càng đi gần với cái đứng lặng. Hai cái nó tréo ngoe, thành ra không thể dung thông được. Đó là cái lý do chúng ta phải hiểu, để rồi chúng ta mới nhận được Bát nhã rất là hay.
    Thành ra một vị Nhập lưu thì nắm được Mặt trăng 3 mà chiếu soi, không phải là chiếu soi tứ thiền, tứ thiền nó dung thông với Mặt trăng 1. Mà khi nhận được Mặt trăng 3 nó chiếu soi là chiếu soi vào sắc uẩn. Cái sắc uẩn thì nó lờ mờ theo bản năng, nó chưa có cảm giác, chưa có tư tưởng, chỉ có vật lý sinh lý thôi. Do con mắt tiếp xúc cái đồng hồ có Nhãn thức. Nhãn thức là một trạng thái lờ mờ chưa có gì hết, mới manh nha có cái biết thôi.
    Thì bây giờ Mặt trăng 3 là vị Nhập lưu mới nhìn thẳng vào đó, tức là thấy có người đi, có tác động đi nhưng mà không có một con người đi, chỉ là những trạng thái hội tụ của những cái vi trần thôi mà trong khoa học kêu là điện tử. Thành ra chúng ta phải theo dõi, trước là theo dõi cái vật lý và sinh lý của con người chúng ta, thì cái đó chúng ta phải quán “Không ta, không của ta và không tự ngã của ta”. Cái này chúng ta giảng sau, chúng ta đi cái này trước.
    Kế tới nữa, sau khi chúng ta thấy được sắc uẩn, mà sắc uẩn lại ác là nó nằm trong Mặt trăng 3, mà Mặt trăng 3 là cái thô tháo của cái đứng lặng, nó lại chiếu soi về cái sắc uẩn bởi cái tư tưởng làm sao chiếu soi được. Sắc uẩn của cái xao động khác, sắc uẩn của cái tư tưởng khác với sắc uẩn của cái cảm giác. Nói khác cũng không đúng, nói 1 thứ cũng không đúng, nhưng mà nó thô hơn. Rồi từ đó chúng ta tiến dần dần tới Mặt trăng 1.
    Thành ra đầu tiên là chúng ta phải lấy cái Hư minh le lói chiếu soi mà chiếu vào cái Dung thông của sắc uẩn, thì chúng ta mới phân biệt được cái nào là sắc uẩn, cái nào là cái đứng lặng của Mặt trăng 3. Tức là cái kia phải có căn-có trần-có thức. Còn cái này tất cả căn-trần chỉ là chuyển biến thôi chứ không có một con người chuyển biến. Cái kia có cái căn dường như là con người, còn trần là đối tượng của con người.
    Lần lần chúng ta mới đi tới Mặt trăng 2. Mặt trăng 2 thì cái Tam thiền nó dung thông đấy, thì chúng ta sẽ thấy Mặt trăng 2 sẽ chiếu soi vào cái cảm giác và dây thần kinh thị giác, thính giác,…Nếu chúng ta niệm Phật, chúng ta nghe cái dây thần kinh thính giác và câu niệm Phật. Thì ở đây dây thần kinh thính giác, cái cảm giác là cảm giác lạc thọ khởi lên thì dây thần kinh thính giác-câu niệm Phật và cảm giác 3 cái này dường như chập chờn. Thì chúng ta thấy rằng dường như không có một con người mà tất cả là cái Hư minh le lói chiếu soi thôi. Cảm giác thì cũng chập chờn, mà dây thần kinh thính giác cũng chập chờn, mà tiếng niệm Phật cũng le lói chập chờn. Mà nếu như thấy được như vậy thì bây giờ cái sắc trần hồi nãy cũng trở nên chập chờn hết, qua cái sắc trần thấy hội tụ thì bây giờ không còn thấy hội tụ nữa mà chỉ thấy là hào quang, rồi trở về hội tụ chập chờn, rồi trở về hào quang.
    Cái Nhập lưu thì không được như vậy. Cái Nhất vãng lai thì thấy được cái Nhập lưu và thấy được cái sắc trần và thấy được cái cảm giác. Cái sắc trần thì chưa có cảm giác, bây giờ thấy được cảm giác thì thấy được sắc trần đó cũng chỉ là le lói thôi, đó là quả Thánh 2 và 3.
    Rồi chúng ta tiến tới Mặt trăng 1 nữa, chúng ta sẽ chiếu soi căn-trần và tư tưởng chỉ là cái vùng hào quang rực rỡ sáng soi hơi mờ thôi, thì không những tư tưởng chỉ là rực rỡ hơi mờ, mà cả cái căn là cái óc và câu niệm Phật cũng là hào quang rực rỡ hơi mờ. Mà chẳng những như vậy cảm giác bấy giờ cũng trở thành hào quang rực rỡ hơi mờ và câu niệm Phật cũng vậy. Mà chẳng những như vậy cảm giác lúc nãy le lói, bây giờ cũng trở thành hào quang rực rỡ hơi mờ, sắc uẩn cũng trở thành hào quang rực rỡ hơi mờ và toàn thể võ trụ cũng là hào quang rực rỡ hơi mờ. Nói tới đây thôi, kỳ tới chúng ta lập lại và đi sâu thêm chút nữa.
    Chúng ta nói về tứ thiền, tam thiền, nhị thiền, sơ thiền rồi đi thẳng xuống địa ngục. Bấy giờ còn trở lên tứ không nữa, qua Mặt trăng 1- Mặt trăng 2- Mặt trăng 3 nữa, phải chiếu soi hết mới đắc quả Alahán. Nói quá rồi chư phật tử nói tôi mát rồi chư phật tử cũng mát theo, cả pháp hội chúng ta đều mát hết.
    Vậy Nhãn thức là một trạng thái manh nha phôi thai của cái biết. Rồi do có tác ý căn-trần-thức tiếp xúc nhau mới có Thọ, thọ là cảm giác, là cái biết vui buồn mà chưa phân biệt tại sao vui buồn. Đưa lên Nhãn ái mới phân biệt tại sao vui buồn. Đó là tiến trình khác nhau giữa Nhãn thức, Nhãn xúc, Nhãn thọ và Nhãn ái.
    Làm sao để chuyển hóa những cái này thành Thánh nhân ? Có 2 cách chuyển hóa:
    - Chuyển hóa theo tư tưởng đè nén đối trị lấy đá dần cỏ thì nó tạm lắng mà tưởng chuyển hóa được nhưng thật sự nó ngủ ngầm.
    - Chuyển hóa theo Bát nhã thì thấy rõ mà không có cải sửa nữa. Mà thấy rõ bằng cách nào thì chúng ta đi các câu hỏi ở dưới.
    Thôi tới đây dừng hén. Nam mô A Di Đà Phật. Mô Phật.















    GIẢNG BÀI KINH SÁU SÁU
    VÕ TRỤ QUAN BAO HÀM NHÂN SINH QUAN
    ----------------
    Hôm nay chúng ta tiếp tục học. Hai lần nữa là đủ 3 lần, chúng ta bắt đầu trả lời câu hỏi số 1. Chúng ta đem bài kinh Sáu Sáu ra, chúng ta thấy rằng bài kinh này chia làm 6 phần tất cả. Thời xưa Đức Phật làm rất sáng tỏ mà khoa học giờ cũng không qua nổi. Chúng ta biết rằng phần nhập đề, phần kết luận là 2 phần và phần thân bài. Thì thường trong kinh Đức Phật đó cũng như khoa học là Phần Nhập đề có 6 dẫn chứng: thứ nhất là thời gian, thứ hai là không gian, thứ ba là ai giảng, thứ tư giảng cho ai nghe, thứ năm giảng về đề mục gì, thứ sáu là mục đích của bài giảng đó.
    Ở đây chúng ta thấy: 1/ Thời gian là một thuở nọ. 2/ Không gian là thành Xá Vệ, rừng Kỳ Đà, tịnh xá Cấp-Cô-Độc. 3/ Người giảng là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tức là Đức Thế Tôn. 4/ Giảng cho 1250 vị Tỳ kheo nghe. 5/ Bài kinh Sáu Sáu. 6/ Đưa tới giải thoát tức là có văn có nghĩa: sơ thiện, trung thiện và hậu thiện, đưa đến phạm hạnh thanh tịnh giải thoát viên mãn. Đó là mục đích của Đạo Phật đưa đến đạo quả Alahán vậy. Đó là xong phần nhập đề.
    Đến phần thân đề. Chúng ta thấy cái độc đáo của Đức Phật là trước hết Ngài trình bày về võ trụ trước tức là chánh báo và y báo của chúng ta. Chánh báo là cái nhận thức xuyên qua xác thân và y báo là đối tượng nhận thức tức là toàn thể võ trụ vậy. Thứ hai là Ngài nói về toàn thể võ trụ đó là không có một cái ta cố định theo cái chấp của chúng sanh. Thời nào cũng vậy, có xác thân này là chấp toàn thể võ trụ có mà thật, thành ra Ngài bác toàn thể 36 pháp, toàn thể chánh báo và y báo đều là không có một cái gì cố định, trường tồn, vĩnh cữu. Mà chúng ta lại thích cái gì trường tồn, vĩnh cữu. Nhưng mà những cái gì có hình tướng hữu hình hay vô hình đều là không có một cái ta trường tồn, vĩnh cữu. Đó là cái độc đáo của Đạo Phật. Thành ra Niết bàn là vô ngã. Chúng ta phải đi sâu vào đó. Nếu Niết bàn là vô ngã thì làm sao chúng ta tu? Và cuối cùng mục đích của chúng ta đi đến đâu? Thì cái đó chúng ta phải hiểu.
    Phần thứ tư Ngài chỉ cách tu tập để đi đến cái trạng thái vô ngã đó gọi là Niết bàn. Đầu tiên là chúng ta phải phá đi những kiết sử, những sợi dây trói cột, mà sợi dây trói cột độc đáo đầu tiên đó là xác thân chúng ta, đó là thân kiến. Chúng ta thấy thân kiến là vật lý và sinh lý đấy, nó liên can đến vấn đề giới cấm thủ cũng ở xác thân và nó liên can đến nghi não. Nghi Đức Phật chết rồi còn lại cái gì? Niết bàn là cái gì? Rồi Ngài cũng sanh-già-bệnh-chết ? Thì không biết như thế nào. Thì trước tiên Ngài phá xác thân này, kế đó Ngài phá cảm giác. Xác thân tức là vật lý, sinh lý. Xác thân sinh lý là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tim, gan, tỳ, phế, thận,..., còn vật lý là đối tượng tức là: đất, đá, nhà cửa, cỏ cây,... đó là cảnh giới xung quanh, đó là cái cảm giác. Rồi kế đó nữa là phá tới cái tư tưởng tức là những cái tham, sân, si của chúng ta, tất cả những cái tư tưởng được quán xét thì cảm giác yên lặng. Nếu phá đi những vật lý, sinh lý, phá luôn cảm giác, phá luôn tư tưởng thì tam giới này không còn gì hết, thì cái đó gọi là Niết bàn. Nhưng không còn gì hết không có nghĩa là Đạo Phật là hư vô. Đây là phá những cái tham-sân-si, phá những cái sóng con trâu, con bò, con chó, con heo,... chứ không phải phá nước, dòng nước. Chúng ta phải hiểu như vậy. Dứt đi cái tham-sân-si thì còn lại cái không tham-không sân-không si, còn lại sự yên lặng sáng suốt của hào quang rực rỡ sáng soi. Đạo Phật kêu đó là Niết bàn. Đức Phật thuyết như vậy là hết đấy. Con đường tu tập của chúng ta rất là sáng tỏ. Ở đây, phần kết luận cuối cùng thì tất cả chư vị Tỳ kheo yểm ly 36 pháp tức là nhàm chán những cái tham lam, sân giận, si mê, xa rời nó và vĩnh viễn không trở lại với nó nữa thì ở một trạng thái yên lặng sáng suốt hoàn toàn rực rỡ, theo Đạo Phật kêu đó là Niết bàn. Và phần thứ hai là liền lúc đó 60 vị Tỳ kheo cũng như đất đã dọn sạch cỏ, chuẩn bị sẵn sàng, sau khi nghe bài pháp thì biết mình đã đắc quả Alahán. Đó là hết bài kinh Sáu Sáu.
    Phần của tôi đã xong, tới chư phật tử. Tôi tóm cách khác nữa đó hén. Chư Phật tử tóm như vậy cho nó rõ hơn nhưng mà nó không đi vào chi tiết. Mình đã nghe nhiều lần rồi mình tóm làm sao cho nắm vững vấn đề. Chúng ta nhập đề có 6 phần, kết luận có 2 phần là phần các Tỳ kheo hiểu và tu tập, có những vị tu tập rồi thì biết mình đã đắc quả Alahán. Còn phần ở giữa (phần thân) có 4. Trước hết là nói về võ trụ; thứ hai là bác võ trụ không có một cái ta; thứ ba là đưa tới quả Thánh đầu tiên là diệt trừ đi những trói cột của xác thân vật lý và sinh lý, kế đó diệt trừ đi những cái cảm thọ: lạc thọ, khổ thọ; rồi kế đó diệt trừ đi những cái tư tưởng phân biệt, những cái tập khí, dứt luôn những cái tư tưởng mà không còn nằm ở trong lạc thọ, khổ thọ nữa, những cái vượt lên cao cũng bị dứt luôn. Cái gì còn hình tướng, vô hình hữu hình đều dứt trừ hết, còn lại cái gì không có thời gian, không có không gian thì đó là Niết bàn. Bây giờ tới chư phật tử trả bài, 2 người thôi. Ai trả rồi thì thôi. Ai trước đây cầm giấy bây giờ có thể trả lại, còn ai thuộc lòng rồi thì thôi. Mô Phật.
    Phật tử cố gắng trả bài suôn như vậy là chúng ta nắm được bài kinh thì chúng ta có thể đi suốt được. Khi ngồi thiền mình có đem giấy theo đâu, ngồi mình ôn lại, nhờ cái đó nó hiện ra rồi mình nghiền ngẫm mà đi vào chiều sâu. Bài kinh này khó đấy, chư phật tử phải thực hành tức là phải nghiền ngẫm, ngồi thiền ít nhất là trên 1 tiếng. Theo Đức Phật thì người cư sĩ tại gia ngồi thiền ít nhất trên 1 tiếng, còn người xuất gia phải 2 tiếng trở lên, đó là nói tối thiểu đấy, nếu cao nữa thì có thể 3-4-6-7 tiếng,... cả đêm càng tốt. Chúng nên nhớ phải ngồi thiền, phải có sự nghiền ngẫm thì đó mới là cái của mình, mới thành xương thịt da máu của mình. Còn nếu chỉ nghe qua như vậy thôi thì trớt lớt hết không đi sâu vào được, thì cái đạo quả không có.
    Theo Đạo Phật, Niết bàn cũng là do cái nhận thức, cái hiểu biết của mình, cõi trời cũng là do cái nhận thức, cái hiểu biết của mình, cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cũng do cái nhận thức, cái hiểu biết của mình. Chỉ có sự hiểu biết mà thôi, chỉ có cái nhìn mà thôi.
    Chúng ta có cái nhìn, cái thấy, cái biết khác nhau mà chúng ta đau khổ chứ không phải cảnh giới, không phải là hoàn cảnh, vì lẽ đó mà các vị Bồ tát phát tâm xuống địa ngục mà người ta vẫn hưởng Niết bàn. Đó là cái điều lạ nhất của chúng ta. Trong kinh thường kêu là thỏng tay vào chợ, tức là các Ngài tùy thuận vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, atula mà không lúc nào các Ngài đau khổ hết. Chẳng hạn như Phật Thích Ca của chúng ta thị hiện ở cõi này cũng sanh, cũng già, cũng bệnh, cũng chết nhưng nhất định là không có đau khổ. Đây là cái đặc biệt mà chúng ta cần lưu ý.
    Vậy thì Ngài có cái nhận thức rất là độc đáo. Thành ra Đạo Phật là không phải bỏ cuộc đời này. Ở trong cái khổ mà vẫn siêu việt và viên dung cái khổ thì đó chính là Đạo Phật. Thành ra ở đây là cần thay đổi cái nhận thức của chúng ta. Mà muốn thay đổi thì chúng ta phải nghe pháp, chúng ta nghiền ngẫm, chúng ta tu tập. Chúng ta phải tìm hiểu để thay đổi cái hiểu biết của chúng ta. Cái hiểu biết này là nguyên nhân chính của sự đau khổ, cũng là nguyên nhân chính của hạnh phúc và cũng là nguyên nhân chính của giải thoát và tùy thuận với cuộc sống này.
    Bây giờ chúng ta vô câu hỏi thứ 1 “Giải thích và cho thí dụ sự khác nhau giữa nhãn thức, nhãn xúc, nhãn thọ và nhãn ái”. Đó là bài kinh đầu tiên trình bày về võ trụ. Đây là nói về con mắt. Mà nếu chúng ta giải thích về con mắt thì lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, cái thân, cái ý cũng một thứ thôi.
    Ở đây, hôm trước tôi có giảng nó có 2 cái chiều chuyển biến. Nếu mặt trăng thật là Niết bàn thì nó bất sanh bất diệt, bất biến đứng lặng, nó là nước. Còn khi nó qua dòng nước rồi, nó chuyển biến từng sátna, mà chưa có chu kỳ, tức là bắt đầu có thời gian tuyệt đối mà chúng ta kêu là "cái nhìn hiện tiền" thì cái này nó âm thầm kêu là pháp chấp đó. Rồi từ đó chúng ta nương vào dòng nước này mới chụp mũ, mới có sóng con chó, con trâu, con bò,… thì bây giờ mới có thế giới của chúng ta là có thời gian và không gian tương ưng.
    Chẳng hạn khi chúng ta tiếp xúc với cái đồng hồ trước mặt thì có con mắt và cái đồng hồ. Thì do duyên con mắt, do duyên sắc trần là cái đồng hồ thì phát hiện nhãn thức. Chúng ta nhớ rằng có 3 cách chuyển biến.
    3 cách chuyển biến: một là cái bất biến đứng lặng, còn 2 cách chuyển biến là: một cái chuyển biến đứng lặng và một cái chuyển biến xao động. Chuyển biến xao động tức là thế giới chúng ta bây giờ. Còn chuyển biến đứng lặng là thế giới sátna, thế giới nền tảng để cho chuyển biến xao động nương vào đó mà phát hiện. Hay nói cách khác thế giới chuyển biến xao động là thế giới sóng con chó, con trâu, con bò,… nương vào thế giới của dòng nước chỉ có hình thôi, đó là thế giới chuyển biến từng sátna hay là thế giới chuyển biến mà đứng lặng. Nhưng mà thế giới chuyển biến đứng lặng phải nương vào thế giới của bất biến tức là nước, thì ở đây chúng ta thấy có 3 cách nhìn.
    3 cách nhìn: một là cách nhìn của 4 đường ác và 4 đường thiện, đó là sóng con chó con trâu con bò ; hai là cách nhìn của 3 quả Thánh Nhập lưu, Nhất vãng lai, Bất lai là nhìn về dòng nước, tức là tất cả hiện tượng giới đều chỉ có chuyển biến sátna chưa có chu kỳ ; ba là cách nhìn của Alahán tức là nhìn thấy nước, tức là tất cả chuyển biến đứng lặng của Nhập lưu, Nhất vãng lai, Bất lai và chuyển biến xao động của 4 đường ác 4 đường thiện đều là không có hình không có tướng gì hết, chỉ là sự yên lặng hoàn toàn sáng suốt rực rỡ hồn nhiên, thì đó là nước.
    Nhưng mà theo cái nhìn đó đạo Phật kêu là chưa rốt ráo nữa mà phải cái nhìn về biển nữa tức là nước tùy thuận với dòng nước và tùy thuận vô lượng sóng con chó, con trâu, con bò thì cái này mới là cái nhìn rốt ráo của chư Bồ tát và chư Như lai. Thành ra tất cả có 4 cách nhìn, đó là:
    - Cách nhìn 4 đường ác, 4 đường thiện là sóng con chó, con trâu, con bò, sóng tốt và sóng xấu.
    - Cách nhìn Nhập lưu, Nhất vãng lai, Bất lai là 3 bậc thánh hữu học, 3 bậc Thánh còn tu tập đó cái nhìn dòng nước mà thấy rằng sóng con chó, con trâu, con bò,… chưa có.
    - Cách nhìn Alahán là cái nhìn nước, tức là tam giới mất tiêu hết, cả chuyển biến đứng lặng, chuyển biến xao động mất tiêu hết chỉ còn trạng thái yên lặng sáng suốt rực rỡ hồn nhiên mà thôi.
    - Cách nhìn chư Bồ tát, Như lai đi cao hơn nữa. Tức là từ nước trở ra tùy thuận với dòng nước và tùy thuận vô lượng sóng con chó, con trâu, con bò nhưng không lúc nào rời nước. Không rời nước mà vẫn tùy thuận vô lượng dòng nước và sóng con chó, con trâu, con bò thì đó chúng ta kêu là biển.
    Như vậy là có 4 cách nhìn. Nếu 4 đường ác 4 đường thiện mà chia làm 2 nữa thì có 5 cách nhìn, còn nếu nhập chung thì có 4 cách nhìn, chúng ta theo đó mà tu tập.
    Bây giờ chúng ta đang ở 4 đường ác, 4 đường thiện. Chúng ta muốn đi qua thiện thì chúng ta qua tứ thiền, tứ không. Mà theo Đức Phật Tứ thiền gồm có: - Sơ thiền là tầm sát hỷ lạc tịnh định xả, nó tập trung tầm sát, nếu tập tu đó tức là niệm Phật đếm từ 1 đến 10 và niệm Phật khỏi đếm thì 2 trạng thái này không thể qua Bát nhã được. - Qua trạng thái thứ 3, nhị thiền tức là niệm Phật khỏi đếm mà trong kinh kêu là định sanh hỷ lạc. Còn tầm sát là ly dục mà sanh hỷ lạc tức là trạng thái giằng co giữa tạp niệm và nhất niệm, do đó không thể qua Bát nhã được. Trạng thái thứ 3 là định sanh hỷ lạc không còn giằng co nữa, mà tiếng niệm Phật tự nhiên có trên không gian, chúng ta chỉ lắng nghe mà thôi, thì trạng thái này tâm ở đâu tiếng niệm Phật ở đó, tiếng niệm Phật đâu tâm ở đó, trạng thái này chúng ta có thể qua Bát nhã, nhưng mà qua quả Nhập lưu thôi, tức là nhận được Mặt trăng thứ 3 thôi. - Còn muốn tiến tới Mặt trăng thứ 2, muốn diệt trừ cảm thọ chúng ta phải qua Mặt trăng thứ 1 - Còn muốn diệt trừ tư tưởng thì quả Thánh thứ 4. Quả Thánh thứ 2 và thứ 3 thì phải tam thiền, rồi qua tứ thiền mới dứt cảm thọ. Từ đó quả Alahán mới diệt trừ luôn tư tưởng tức là tứ thiền và diệt trừ luôn tứ không, diệt trừ luôn ngã mạn, diệt trừ luôn Mặt trăng thứ 1, Mặt trăng thứ 2, Mặt trăng thứ 3 để trở về với nước. Trừ 5 kiết sử này chúng ta mới đắc quả Alahán, đó là cái tiến trình nó đi như vậy.
    Giờ chúng ta trở lại câu hỏi. Nó đi dài như vậy mà cho nó rõ, còn nếu trả lời câu hỏi này “khi do duyên con mắt tiếp xúc sắc trần, con mắt của tôi tiếp xúc sắc trần là cái đồng hồ phát hiện nhãn thức” thì nói về thế giới chuyển biến đứng lặng chỉ là một khối lù lù mà chúng ta hay nói là cái nhìn hay nói là đứng lặng bất biến, trực giác được cái nhìn. Thì con mắt với sắc trần chỉ là 1 trạng thái rực rỡ là hào quang hơi mờ đó thôi. Qua trạng thái thứ 2, trạng thái thứ 2 do duyên con mắt do duyên sắc trần phát hiện nhãn thức, điểm gặp gỡ 3 pháp là xúc, là khi căn-trần-thức tiếp xúc nhau mới có thọ. Thì trạng thái thọ ở đây nếu mà nói Mặt trăng đứng lặng, thì đây là một trạng thái bất lạc bất khổ, tức là chập chờn le lói dường như có hình dường như chưa có hình. Rồi qua trạng thái thứ 3 là do duyên thọ là ái, thì bây giờ mới có cái biết. Cái thấy trạng thái Hư minh le lói sẽ thấy trạng thái Dung thông. Hư minh le lói là cái thấy về cảm thọ, rồi mới nhìn thấy được cái Dung thông tức là sự vật hội tụ thì tới đây cái thức mới bắt đầu phát hiện, tức là mạtna cung cấp chất liệu cho ý thức. Ý thức mới sửa lại, bây giờ thức phát hiện là có căn, có trần và có tư tưởng. Căn đây là cái óc, trần đây là cái đồng hồ là đối tượng và tư tưởng mới phát hiện phân biệt: có người nhận thức, có con mắt và có cái đồng hồ, thì đó là ái. Do ái, chúng ta mới ái nhiễm đi xuống mất luôn tư tưởng, tư tưởng chuyển thành ra cảm giác thì bắt đầu có cái đồng, có cảm giác tức là dây thần kinh thị giác là căn, cái đồng hồ là trần và có cảm giác là lạc hay khổ. Và từ đó mới đi xuống, hễ mà lạc tất nhiên tới hoan hỷ-tán thán-trú ở, đó là 4 đường thiện, rồi 4 đường ác đi tới ái trước thành địa ngục tức là thành ra vật lý và sinh lý. Còn nếu bên đây là khổ thọ mà đi xuống nữa là sầu muộn, than van, than khóc đập ngực rơi vào bất tỉnh thì đi xuống địa ngục. Tôi tính làm cái bản sơ đồ nhưng mà làm không kịp. Tôi cứ vừa viết 1 chút xíu là có khách, nó khó, không tập trung được. Kỳ tới tôi viết cái bản thì nó dễ hơn.
    Bây giờ chúng ta có thể nói ngắn gọn là khi con mắt tiếp xúc sắc trần là cái đồng hồ. Đầu tiên con mắt tôi tiếp xúc với cái đồng hồ thì phát hiện 1 trạng thái lù lù, đó là nhãn thức tức bắt đầu cái biết. Giai đoạn thứ 2 cái đồng hồ nằm trên võng mô của tôi thì dây thần kinh tiếp xúc đồng trên võng mô, ban đầu đó là cảm giác bất lạc bất khổ thọ, rồi tư tưởng mới sửa thành cảm giác lạc thọ khổ thọ. Rồi tới giai đoạn thứ 3, cái đồng hồ, cái cảm giác được đưa lên óc, tư tưởng mới tiếp xúc đồng hồ trên óc thì mới phân biệt đây là cái đồng hồ tốt hay xấu. Và nhờ mạtna cung cấp chất liệu thì đó chúng ta kêu là trạng thái hiện hành, nếu trong đem ra. Còn nếu chúng ta bắt đầu hoạt động muốn kiếm đồng hồ, muốn mua thì chúng ta tìm cách để mua, chúng ta tìm cách sai 5 thức đầu tức là mắt, tai, mũi, lưỡi tạo tác cái đó kêu là huân tập. Khi mà tạo tác rồi có phước, có tội huân tập vào alaya thì cái đó kêu là huân tập. Chúng ta sống với cái hiện hành và huân tập, nghĩa là chúng ta không sống trạng thái tánh cảnh của 5 thức đầu mắt-tai-mũi-lưỡi-thân mà chúng ta sống bằng ý căn tiếp xúc pháp trần và phát hiện ý thức, thành ra cái đứng lặng trong đó chúng ta chưa nhận được, chúng ta sống trạng thái thứ 3. Ở đây, trên bảng chúng ta thấy do duyên con mắt tiếp xúc sắc trần phát hiện nhãn thức. Rồi tới nhãn xúc, nhãn thọ, nhãn ái. Thì ở đây chúng thấy mắt-tai-mũi-lưỡi-thân tiếp xúc sắc-thinh-hương-vị-xúc với nhãn thức-nhĩ thức-tỷ thức-thiệt thức-thân thức là trạng thái của thế giới đứng lặng chuyển biến. Mà đứng lặng rồi sau đó ý căn mới tiếp xúc pháp trần là nhận được sắc-thinh-hương-vị-xúc này mới sửa thành ra pháp trần tức là chuyển biến xao động là tiếp xúc, sau đó sửa thành nhãn xúc, nhãn thọ và nhãn ái thì chúng ta sống với thế giới xao động.
    Thành ra bây giờ trả lời chúng ta có thể nói như thế này: “sự khác nhau giữa nhãn thức, nhãn xúc ,nhãn thọ và nhãn ái” thì chúng ta nói nhãn thức là cái nhìn chưa có cái biết ; tới nhãn thọ là cái biết lạc thọ khổ thọ mà chưa có phân biệt. Còn nhãn ái là cái biết mà có sự phân biệt. Sự khác nhau nó như vậy.
    Tôi nói lại nhãn thức do duyên con mắt, do duyên sắc trần phát hiện nhãn thức là cái nhìn chưa có cái biết, cái biết mới bắt đầu phôi thai thôi. Rồi do tác ý có tiếp xúc giữa căn-trần-thức thì chúng ta có nhãn thọ. Nhãn thọ là cái biết cảm giác mà chưa có sự phân biệt. Tới nhãn ái là cái biết tư tưởng là có sự phân biệt. Đó là 3 cái khác nhau. Cái thứ 1: nhãn thức là cái nhìn, nhãn thọ là cái thấy, nhãn ái là cái biết. Từ đó, từ cái biết chúng ta mới phân biệt, chúng ta mới chiếm hữu qua nhãn thọ, chiếm hữu tới cái cuối cùng mất luôn cảm giác, còn sắc trần, còn vật lý và sinh lý. Từ đó vật lý và sinh lý mới tập trung thì chúng ta mới có sự phân biệt nữa, có cái biết mà chưa phân biệt, mới qua tư tưởng phân biệt, có tạo tác rồi mới huân tập vào chủng tử, rồi chủng tử mới cung cấp chất liệu hiện hành ra. Chúng ta cứ sống như vậy mãi, đó là cuộc sống lang thang vô định của chúng ta. Như hôm trước tôi nói, cuối cùng thì nhãn thức, nhãn xúc, nhãn thọ, nhãn ái khi chết rồi nó chấm dứt, chỉ còn tất cả chủng tử nằm trong kho alaya. Và mạtna chấp lấy chủng tử đó "là ta" thì mạtna là cái nghiệp, cái alaya là linh hồn thì nằm trên không gian.
    Last edited by pvhunghung; 18-03-2018 at 10:20 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 18-03-2018, 05:29 AM
  2. Tỏa Ánh Lưu Ly- HT Thich Pháp Hòa
    By viewtronic in forum Đạo Phật
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 18-12-2014, 09:33 PM
  3. Xin giúp giải thich nặng vía nghĩa lả gì
    By rubik in forum Hỏi Đáp, Tư Vấn
    Trả lời: 15
    Bài mới gởi: 21-11-2010, 10:02 PM
  4. Thich Thong Lac vi A La Han
    By lamquochung in forum Đạo Phật
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 05-06-2010, 02:35 AM
  5. Thich Quang Duc?????
    By khongkhongkhong in forum Đạo Phật
    Trả lời: 21
    Bài mới gởi: 05-11-2009, 01:06 PM

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •