Vài nét về tác giả .
Cù Hựu (瞿 佑) :
Vĩnh Châu Dã Miếu Ký được trích từ Tiễn Đăng Tân Thoại 箭 燈 新 話của Cù Hựu.
Cù Hựu tự là Tông Cát, biệt hiệu là Tồn Trai người Tiền Đường, nay thuộc Hàng Huyện tỉnh Triết Giang. Ông sinh năm Chí Chính nguyên niên nhà Nguyên tức năm 1341.Hồi còn trẻ nổi tiếng là người đa tài đa nghệ, giỏi thi thơ, nhưng thường bất đắc chí. Đầu năm Hồng Võ đời Minh Thái Tổ, Cù Hựu được lần lượt bổ nhậm làm Huấn Đạo tại Nhân Hoà, Lâm An, Tuyên Dương, rồi thăng làm Hữu Trưởng Sử trong Chu Vương Phủ. Khoảng năm Vĩnh Lạc đời Minh Thành Tổ, nhân làm thơ bị tội, đầy đến huyện Bảo An (nay là tỉnh Cam Túc) làm nhung thú, trải qua mười năm, đến năm Hồng Hy (tức năm 1425) đời vua Minh Tông mới được xá, về làm gia sư cho Anh Quốc Công ba năm, đến năm Tuyên Đức nhị niên thì mất, thọ tám mươi bẩy tuổi.
"Tiễn Đăng Tân Thoại" được viết vào khoảng Hồng Võ thập nhất niên, tức 1378, gồm bốn quyển, hai mươi truyện.Phần lớn những truyện trong Tiễn Đăng Tân Thoại đều lấy ma quỷ quái dị, hôn nhân luyến ái, làm đề tài phản ánh những hiện thực xã hội hắc ám, hủ bại dưới triều nhà Nguyên, cũng như chống lại những điều vô lý trong chế độ hôn nhân phong kiến cũ. Nhưng Tiễn Đăng Tân Thoại lại mạnh dạn tuyên dương tư tưởng "Trung, Hiếu, Tiết , Nghĩa" và những phong tục mê tín quỷ thần.Một số truyện có mầu sắc nhân qủa báo ứng của nhà Phật
Ngoài Tiễn Đăng Tân Thoại, được người đời truyền tụng và khen là có những ngôn từ hoa lệ, uỷ uyển như "ôm thuý ấp hồng",ảnh hưởng rất nhiều đối với tiểu thuyết thuộc loại truyền kỳ của hai triều Minh và Thanh, như Liêu Trai Chí Dị,Dạ Đàm Tuỳ Lục, Huỳnh Song Dị Thảo, Cù Hựu còn để lại cho đời sau một số tác phẩm như :
- Hương Đài Tập
- Du Nghệ Lục
- Tồn Trai Loại Biên
-Qui Điền Thi Thoại.
-Vịnh Vật Biên
-Nhạc Phủ Di Âm


Vaì hàng chú thích của Phạm Xuân Hy :

Tam Sinh 三牲:
Thời cổ, tại ba triều Hạ, Thương, Chu, sử dụng ba loài súc vật là trâu, dê, lợn (thỉ 豕), để cúng tế, gọi tam sinh. Theo Khổng An Quốc chú dẫn thì ngưu, dương, thỉ là tam sinh.
Nhưng về sau việc sử dụng tam sinh trâu, dê, lợn, làm tế phẩm, đối với những gia đình nghèo khó ít có điều kiện thi hành, nên việc cúng tế trong dân gian được sử dụng bằng ba súc vật khác là gà, cá ,lợn (trư 豬) thay thế cho tam sinh trâu, dê, lợn.
Theo đạo gia, tam sinh có phần khác biệt, đó là con hươu, con hoẵng, và con chương, một loài giống như con hươu mà chân nhỏ.

Nguyên Triều 元朝 :
Nguyên là danh xưng của một triều đại tại Trung Quốc.
Năm 1206, lãnh tụ của bộ tộc Mông Cổ là Thành Cát Tư Hãn sau kiến lập Mông Cổ Hãn Quốc, khuyếch trương thế lực đến lưu vực sông Hoàng Hà.Từ Thành Cát Tư Hãn đến thời Mông Ca Hãn, liên tiếp diệt được các vương triều Tây Liêu, Tây Hạ, Kim, Đại Lý, rồi thành lập các cơ cấu hành chánh ở Thổ Phiên, trực tiếp tiến hành thống trị.
Đến năm 1271, Hốt Tất Liệt đặt quốc hiệu là Nguyên.Đến năm 1279 Hốt Tát Liệt diệt được Nam Tống, thống nhất toàn Quốc, định đô ở Yên Kinh, sau đổi tên là Đại Đô, nay là Bắc Kinh, dựng lên một đế quốc rộng lớn.
Đến năm Chí Chính thập nhất niên, đời vua Thuận Đế nhà Nguyên,tức năm 1351, bạo phát cuộc nổi dậy của Hồng Cân Quân ,do các lãnh tụ của bốn chi phái do Lưu Phúc Thông, rồi Qúach Tử Hưng, Từ Thọ Huy, Vương Quyền, lợi dụng Bạch Liên Giáo phát động, làm dao động nhà Nguyên.
Năm 1368, Chu Nguyên Chương phái đại tướng Từ Đạt công chiếm Đại Đô, lật đổ sự thống trị của nhà Nguyên.
Nhà Nguyên kể từ Hốt Tất Liệt định quốc hiệu năm 1271, trải qua 11 đời vua, cộng 98 năm.

Nguyên Thành Tông 元 成 宗 :
Thành Tông nhà Nguyên là ông vua thứ hai của Nguyên triều, cháu đích tôn của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, tên gọi Kỳ Ác Ôn Thiết Mộc Nhĩ, con của Hoàng Thái Tử Chân Kim, mẹ là Hoằng Cát Liệt Thị, sinh năm 1265, lên ngôi năm 1294, có hai niên hiệu là Nguyên Trinh và Đại Đức.
Năm 1307, Nguyên Thành Tôn mất, chung niên 43 tuổi.

Hành Sơn 衡 山:
Hành Sơn là tên một trong Ngũ Nhạc nổi tiếng của Trung Quốc, thường gọi là Nam Nhạc, nằm ở phía tây huyện Hành Sơn tỉnh Hồ Nam, chu vi rộng 800 dặm, có 72 ngọn núi lớn nhỏ.Nổi tiếng là nguy nga,rậm rạp là các ngọn Chúc Dong, Thiên Trụ, Tử Cái, Phù Dung, cao chót vót chọc trời,thác nước như những giải lụa trắng xoá, bay phơi phới.
Tương Truyền, ngày xưa vua Thuấn đi tuần phương nam và vua Vũ trị thuỷ từng đặt chân đến đây.
Các đời vua sau, đều đến đây để cử hành những đại điển tế tự.Nổi tiếng là sơn linh kỳ tú, bên trong núi có những chùa miếu, nơi tu trì của giới tăng lữ và đạo sĩ, và là nơi có nhiều thắng cảnh,cổ tích, đã lưu dấu chân của các tao nhân mặc khách đến đây du lãm, như Chúc Thánh Tự, Nam Nhạc Đại Miếu, Tàng Kinh Điện, Ma Kính Đài, Hoàng Đình Quan.
Tương truyền rằng ngọn Chúc Dong Phong là táng địa của họ Chúc Dong Thị thời viễn cổ.
Từ trên đỉnh núi này nhìn xuống, thấy la liệt vô số những hòn núi nhỏ, mây và núi như dao động, được xem là chỗ đẹp nhất để ngắm cảnh mặc trời mọc, tưởng chừng như từ dưới biển đi lên. Trong núi còn đủ loại kỳ hoa dị thảo, được Trung Hoa coi là kho tàng những bảo vật.
Đời Đường, đầu năm Khai Nguyên Tư Mã Thừa Trinh đến đây tu đạo, lập ra Bạch Vân Am.Đời Ngũ Đại, có Nhiếp Sư Đạo cũng đến đây tu hành.

Bố y 布衣 :
Y phục được may bằng vải ma bố (vải gai) hoặc bằng cát bố (vải đay) gọi là bố y.Nước Tàu thời cổ ,trước khi có việc chuyển nhập bông vải vào,vật liệu vật phẩm làm quần áo là gai,đay,và tơ .Thông thường thì chỉ có quý tộc và quan viên được mặc y phục dệt bằng tơ,còn giới bình dân thì mặc quần áo bằng vải gai,vải đay,gọi chung là bố y.Vì thế,bố y trở thành từ ngữ chỉ người bình dân.
Lý Tư ,trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, bị gọi một cách khinh thị là ''Thượng Sái bố y,lư hạng chi kiềm thủ 上 蔡 布 衣 閭 巷之 黔 首'' -dân áo vải đất Thượng Sái,kẻ đầu đen trong xóm ngõ- tức kẻ bình dân.Sau Lý Tư làm thừa tướng nước Tần.
Bố y,còn chỉ người học trò lúc tay trắng nghèo,chưa hiển đạt.

Diêm Vương 閻王
Diêm Vương là do dịch âm từ chữ phạnYamaraja mà ra,cùng gọi là "Diêm La Vương","Diêm Ma Vương",hay "Diêm La".Còn dịch ý thì "diêm" có nghĩa là "trói buộc",trói buộc tội nhân.
Theo thần thoại cổ Ân Độ,thì Diêm Vương là vị vua quản lý cõi âm,Phật Giáo duyên dụng theo thần thoại của Ân Độ,coi Diêm Vương là Ma Vương quản lý địa ngục.
Trong phong tục của Trung Quốc,Diêm Vương được coi là vị vua của cõi âm.Người ta sau khi chết,phải đến cõi âm để chịu thẩm phán của Diêm Vương,nếu lúc sinh tiền làm điều lành,việc thiện,thì lên thiên đường hưởng phú quý,còn làm điều ác thì phải xuống địa ngục,chịu hình phạt.
Phật Giáo Trung Quốc cho rằng có Thập Điện Diêm La, là từ ngữ dùng để chỉ mười vị Diêm Vương trông coi địa ngục,thuyết này có từ cuối đời Đường.Mười vị Diêm Vương đó là :1-Tần Quảng Vương.2-Sơ Giang Vương.3-Tống Đế Vương.4-Ngũ Quan Vương.-5 Diêm La Vương.6-Biến Thành Vương.7-Thái Sơn Vương.8-Bình Đẳng Vương.9-Đô Thị Vương.10-Ngũ Đạo Chuyển Luân Vương.
Mười vị này phân ra cư trú ở mười điện dưới địa ngục,nên được gọi là Thập Điện Diêm Vương.

Thành Hoàng 城 隍 :
Theo thần thoại đời xưa của người Trung Quốc, thì Thành Hoàng là vị thần trông coi bảo hộ thành trì. Sau được Đạo Giáo tin thờ cúng tế.
Ngôi miếu Thành Hoàng được kiến lập sớm nhất là vào năm Xích Ô nhị niên nhà Ngô đờiTam Quốc (tức năm 239).
Các triều đại kể từ nhà Đường trở về sau, các quận, huyện đều có sự cúng tế Thành Hoàng.Trương Thuyết, Hàn Dũ, Đỗ Mục đều từng làm văn tế Thành Hoàng. Từ sau đời nhà Tống trở đi, việc cúng tế Thành Hoàng được phổ biến trên toàn quốc.Ở Tô Châu thờ Xuân Thân Quân làm Thành Hoàng.Ở Hàng Châu thờ Văn Thiên Tường. Ở Thượng Hải thờ Tần Duệ Bá.
Thành Hoàng thường là những người có công với đương địa.
Năm 934 nhà Hậu Đường phong "vương" cho Thành Hoàng.Và Minh Thái Tổ cũng từng phong "đế" cho Thành Hoàng ở kinh đô.
Đạo Giáo tôn Thành Hoàng là vị thần "Trừ gian diệt ác, bảo quốc an bang", có thể đáp ứng những cầu khẩn của con người. Trời hạn hán thì gíang mưa, trời lụt lạo thì cho nắng, để bảo hộ mùa màng phong phú, nhân dân xung túc.Đạo Gíao còn coi Thàng Hoàng là vị thần quản lãnh các vong hồn, nên đạo sĩ có thể lập đàn siêu độ vong hồn nhưng phải lập văn báo trước; mới gọi vong hồn đến đàn được.

Trừ yêu khử hại duyên thọ nhất kỷ 除 妖 去 害 延 壽 一 紀 :
Có công diệt trừ yêu quái, trừ hại cho dân, cho thọ thêm một kỷ nưã.(Một kỷ là 12 năm.)