Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958

Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958
“Gác lại quá khứ chứ không phải khép lại quá khứ”!
kết quả từ 1 tới 2 trên 2

Ðề tài: “Gác lại quá khứ chứ không phải khép lại quá khứ”!

  1. #1
    Senior Moderator Avatar của Bin571
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    10,303
    Post Thanks / Like

    Mặc định “Gác lại quá khứ chứ không phải khép lại quá khứ”!

    “Gác lại quá khứ chứ không phải khép lại quá khứ”!

    TS TRẦN CÔNG TRỤC

    06:57 17/02/17
    THẢO LUẬN (11)

    (GDVN) - Đánh giá lại cuộc xâm lăng Biên giới Việt Nam 1979-1989 mà Trung Quốc tiến hành, cần đặt nó vào khung pháp lý quốc tế để xác định nguyên nhân, tìm ra bài học.


    TS Trần Công TrụcLTS: Kỷ niệm 38 năm chiến tranh vệ quốc chống xâm lược ở biên giới phía Bắc, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ có bài viết gửi riêng tới Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam.

    Trong bài là nhận thức, quan điểm, góc nhìn và cách hành văn của riêng tác giả, Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

    Ngày này cách đây 38 năm, 17/2/1979, tiếng súng đã vang lên trên bầu trời biên giới, Trung Quốc tung 60 vạn quân xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta, gây ra cuộc chiến vô cùng tàn khốc.

    38 năm qua đi, hai nước đã bình thường hóa quan hệ 26 năm, nhưng nỗi ám ảnh từ cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc năm 1979 và những xung đột quân sự suốt 10 năm sau đó vẫn còn dai dẳng.
    Không ai hiểu rõ hơn những người dân Việt Nam sống dọc tuyến biên giới với Trung Quốc, không ai hiểu hơn những gia đình liệt sĩ, những thương bệnh binh và cựu chiến binh từng có mặt ở tuyến đầu lửa đạn để giữ vững biên cương, lãnh thổ của Tổ quốc.

    Trên tinh thần khách quan, khoa học, cầu thị, bài viết này tiếp cận một sự kiện lịch sử từ góc độ khoa học, tôi hy vọng góp thêm tiếng nói để làm sao nước nhà giữ được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và tránh được chiến tranh.

    Hơn ai hết, chúng ta đã đủ thấm thía nỗi đau của chiến tranh và giá trị của hòa bình. Thiếu đánh giá một cách khoa học, khách quan và cầu thị về cuộc chiến, hậu quả khôn lường

    Có lẽ do tính chất thảm khốc và những hệ lụy to lớn của cuộc chiến, nên ngay sau khi hai nước chính thức bình thường hóa quan hệ, Trung Quốc và Việt Nam đã xác định: "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai".

    Vì vậy những năm đầu sau bình thường hóa, thực hiện chủ trương này, cả hai nước hầu như “khép lại”, không nhắc gì đến cuộc chiến này, chỉ tập trung thúc đẩy các hoạt động hợp tác, hữu nghị.

    Đây là cách ứng xử của chúng ta không chỉ với Trung Quốc, và với cả Hoa Kỳ. Tuy nhiên hiểu như thế nào về việc “khép lại quá khứ” hay chỉ “gác lại quá khứ” cũng là vấn đề cần được bàn bạc thấu đáo.

    Nếu như 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược và thống nhất Tổ quốc đã được đúc kết thành nhiều công trình, bài học, được tái hiện khá cụ thể trong sách giáo khoa, thì còn 4 cuộc chiến / trận chiến khác chưa được mổ xẻ để rút ra bài học:

    Ngoài cuộc chiến bảo vệ Biên giới phía Bắc 1979-1989 chống Trung Quốc xâm lược, còn cuộc chiến bảo vệ Biên giới Tây Nam chống bọn diệt chủng Khmer Đỏ;

    1 cuộc tấn công do Trung Quốc tính toán tổ chức thực hiện vào tháng Giêng năm 1974 để xâm chiếm nốt nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và một cuộc thảm sát để chiếm đoạt một phần quần đảo Trường Sa năm 1988.



    Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong lần viếng Nghĩa trang liệt sĩ Trà Lĩnh (Cao Bằng) ngày 17/2/2016, nơi yên nghỉ của hơn 300 liệt sĩ cuộc chiến Bảo vệ Biên giới phía Bắc năm 1979. Ảnh: VOV.


    Ôn lại các sự kiện lịch sử này với cái nhìn khoa học, khách quan, cầu thị trên tinh thần tôn trọng sự thật để rút ra những bài học cho tương lai, làm sao bảo vệ được độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, làm sao để tránh tối đa nguy cơ nổ ra chiến tranh.
    Thiết nghĩ đó chính là việc làm cần thiết và hoàn toàn phù hợp với chủ trương “gác lại quá khứ” thay vì “khép lại quá khứ” đã từng tồn tại trong nhận thức và chi phối hành vi ứng xử của chúng ta trong mấy thập kỷ qua.

    Thiết nghĩ đó cũng là những việc hết sức hệ trọng và cấp bách, khoa học và tiến bộ, vì lợi ích của chính dân tộc Việt Nam cũng như dân tộc Trung Quốc để tránh vết xe đổ của chiến tranh.

    Chỉ có như vậy mới có thể xây dựng tình hữu nghị, hợp tác lâu dài, hướng tới tương lai.

    Lâu nay chính sự khép lại, im lặng đã khiến những vết thương chưa lành trong dân chúng, trong các cựu chiến binh từ cả hai phía, khi không được chăm sóc đúng cách sẽ dễ mưng mủ, tác hại khôn lường.

    Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi những tranh chấp phức tạp ở Biển Đông đang leo thang trước các hành động phiêu lưu, quân sự hóa từ phía Trung Quốc, bóng ma của cuộc chiến năm xưa đang dần trở lại trong tâm trí nhiều người.

    Chính điều này sẽ là những nhân tố tiềm tàng bất ổn trong lòng xã hội, nó có thể bùng phát thành những diễn biến khó lường như những mặt trái mà chúng ta chứng kiến, trả giá trong cuộc khủng hoảng giàn khoan 981 Trung Quốc hạ đặt bất hợp pháp vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam năm 2014.

    Lòng yêu nước của người dân nếu không được dẫn dắt bởi chính sự hiểu biết thấu đáo về lịch sử nước nhà, sẽ là nơi nuôi dưỡng mầm mống cực đoan và bất ổn.

    Nhiều người lo, nhiều người phàn nàn về việc chúng ta chỉ đưa có "11 dòng" vào sách giáo khoa lịch sử về cuộc chiến bảo vệ Biên giới phía Bắc 1979 - 1989.

    Nhưng theo tôi, quan trọng hơn là chúng ta tiếp cận như thế nào, dạy như thế nào về giai đoạn lịch sử này.

    Sách giáo khoa không dạy, thì người dân quan tâm vẫn có thể tìm đọc trên Internet từ nhiều nguồn khác nhau. Trước những tài liệu thiếu nguồn kiểm chứng, nhưng lại thừa những miêu tả và từ ngữ thể hiện cảm xúc mạnh, tác hại của nó thật khó lường.

    Không phải ai cũng đủ tỉnh táo để tiếp cận một cách đa chiều, nhìn nhận một cách khách quan, đánh giá theo hướng rút ra những bài học để tránh chiến tranh và bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nếu các nhà chức trách, đội ngũ trí thức không nhận lãnh lấy trọng trách này.

    Là một người nghiên cứu luật pháp quốc tế về biên giới lãnh thổ, và từng trực tiếp tham gia đàm phán hoạch định biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc, Campuchia, Lào...chúng tôi cũng có không ít những trải nghiệm, gặp không ít vấn đề do cách nhận thức của chúng ta về những sự kiện này.

    Vì vậy, xin nêu lên một số bài học mà chúng tôi cho là có thể có ích cho những công trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tổng hợp về những sự thật nói trên để vận dụng cho tương lai.

    Bài học thứ nhất: tháo ngòi nổ xung đột

    Cho đến nay, phía Trung Quốc vẫn tuyên truyền với người dân của họ và dư luận quốc tế rằng quân đội Trung Quốc đã tấn công sang toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam năm 1979 và kéo dài đến năm 1989 chỉ là cuộc "phản kích tự vệ", chứ không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược.

    Sự thật về hành động và mức độ dã man của cái gọi là “phản kích tự vệ” mà Trung Quốc gây ra với Việt Nam năm 1979 - 1989 không thể biện minh bằng bất cứ lý do nào.



    Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong lần đến dâng hoa, thắp hương tại nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên. Ảnh: Nguyễn Khang – TTXVN.


    Đó đích thực là một cuộc “xâm lược biên giới”, chứ không phải là cuộc chiến tranh biên giới, càng không phải là một cuộc “phản kích tự vệ”.

    Tuy nhiên, tại sao nó diễn ra và có cơ hội nào để tránh chiến tranh hay không là điều chúng ta cần làm rõ.
    Hiện tại do phần lớn tài liệu về cuộc chiến hai bên đều chưa giải mật, nhưng đặt trong bối cảnh địa chính trị khu vực Đông Dương và cục diện quan hệ quốc tế thời bấy giờ, có thể nhận thấy những cơ hội tháo ngòi xung đột đã bị bỏ lỡ.

    Thứ nhất là cuộc chiến ý thức hệ giữa phe XHCN với phe TBCN đã dần biến thành cuộc chiến tranh giành ngôi bá chủ giữa 3 siêu cường Mỹ - Trung - Xô, đã đẩy các nước nhỏ trở thành nạn nhân của các nước lớn.

    Việt Nam đã trở thành đối tượng tranh giành ảnh hưởng gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô trong cuộc đua trở thành "lãnh tụ cách mạng toàn cầu", đứng hẳn về bên nào cũng có thể khiến Việt Nam trở thành kẻ thù của bên còn lại.

    Thứ hai, việc Việt Nam tấn công đánh trả các hành động chiến tranh đánh phá biên giới Tây Nam của bè lũ diệt chủng Khmer Đỏ và sau đó giúp nhân dân Campuchia loại bỏ bè lũ diệt chủng man rợ ấy là việc làm cần thiết, chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Campuchia.

    Nhưng trong bối cảnh đất nước Chùa Tháp vừa mới thoát khỏi cơn ác mộng diệt chủng, tàn dư Khmer Đỏ với sự hà hơi tiếp sức của Trung Quốc vẫn tiếp tục quấy phá, tìm cách lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ… lực lượng quân tình nguyện Việt Nam buộc phải duy trì sự hiện diện của mình thêm một thời gian cần thiết.

    Chính hoàn cảnh này đã một mặt gây bất lợi vì tạo ra những hiểu lầm trong dư luận quốc tế và một bộ phận người Khmer, một mặt tạo cớ để Trung Quốc gây hấn.

    Thứ ba, cho dù Trung Quốc thường nói rằng họ theo chủ nghĩa Mác - Lenin, nhưng thực chất tư tưởng coi mình là "trung tâm thiên hạ", tham vọng bành trướng xuống Đông Nam Á vẫn âm ỷ trong một bộ phận lãnh đạo cấp cao nước này qua nhiều thế hệ.

    Chính vì thế, mọi động thái của họ trong quan hệ quốc tế luôn luôn có những tính toán phục vụ cho lợi ích và ý đồ chiến lược của họ là trên hết.

    Chúng ta không bao giờ được quên và phủ nhận những đóng góp to lớn của Trung Quốc đã giúp Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, không phải vì thế mà quên rằng Việt Nam là cửa ngõ là phên dậu chống lại "phe TBCN" từ phía Nam dưới con mắt của một số chiến lược gia Trung Quốc.

    Việt Nam là nước nhỏ, nhưng lại bị nhiều siêu cường nhòm ngó. Nếu ứng xử không khéo léo, không tìm cách tháo ngòi nổ xung đột, thì nguy cơ trở thành nạn nhân của những cuộc chiến tranh xâm lược là điều khó tránh khỏi.

    Trong tình hình hiện nay, khi Biển Đông căng thẳng, đã có không ít quan điểm cho rằng Việt Nam phải liên minh với nước này, dựa vào nước kia để chống Trung Quốc.

    Vì vậy, bên cạnh sự tự lực tự cường, việc đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại là hết sức cần thiết, không liên minh nước này để chống nước kia là lựa chọn sống còn đối với Việt Nam. Nếu điều đó xảy ra, thì một cuộc chiến bảo vệ Biên giới 1979 - 1989 có nguy cơ lặp lại.

    Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể tìm cách đối thoại, tháo ngòi xung đột. Còn đương nhiên khi “cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”, thì giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.

    Nghiên cứu về cuộc chiến đấu bảo vệ Biên giới phía Bắc 1979-1989 mà không đặt vào bối cảnh địa chính trị khu vực, quốc tế thời kỳ đó để tìm cách tháo ngòi nổ xung đột, thì nguy cơ chiến tranh sẽ vẫn còn treo lủng lẳng trên đầu chúng ta.

    Bài học thứ hai: chính sách đối ngoại cần dựa trên luật pháp quốc tế

    Khách quan nhìn lại cách ứng xử của chúng ta trong quan hệ bang giao với các nước, đặc biệt là với Trung Quốc, qua cách nhìn đối với cuộc chiến bảo vệ Biên giới phía Bắc, có thể thấy rõ đã có lúc màu sắc của cảm xúc, tuyên truyền và các mục tiêu chính trị thường lấn lướt các nguyên tắc pháp lý trong bang giao quốc tế.

    Có lẽ tình cảm yêu - ghét mãnh liệt đến cực đoan trong chúng ta đã dẫn đến những phản ứng còn mang nặng cảm xúc hơn lý trí trong quan hệ bang giao với một nước lớn đầy tham vọng và toan tính như Trung Quốc.
    Những năm quan hệ nồng ấm chúng ta đã hết lời ca ngợi, nhiều khi thái quá.

    Nhưng khi “cơm không lành, canh không ngọt”, "anh cả Liên Xô" và "anh hai Trung Quốc" mâu thuẫn nhau, đẩy Việt Nam vào thế phải lựa chọn, rồi đến khi mâu thuẫn lợi ích lên đến cao trào, chúng ta chỉ trích không tiếc lời, thậm chí đưa cả vào những văn kiện chính thức.

    Không cuộc chiến nào kéo dài mãi, không mâu thuẫn nào không có điểm dừng, đến khi bình thường hóa quan hệ, chính chúng ta rơi vào thế bí vì những tuyên bố giàu cảm xúc, lập trường chính trị ấy.

    Thậm chí có những văn kiện chúng ta ban hành gây bất lợi cho chính chúng ta sau này trong đàm phán phân định biên giới với Trung Quốc bởi những câu chuyện đẫm mùi tuyên truyền mà thiếu tính khoa học, thiếu tính kiểm chứng.

    Nó gây chia rẽ trong chính nội bộ của ta, và là đề tài cho các thế lực chính trị chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
    Đó là hạn chế của thời cuộc bởi dấu ấn của cuộc chiến ý thức hệ suốt mấy chục năm không dễ gì gột rửa. Nhưng nay thế thời đã thay đổi, quan hệ bang giao giữa các quốc gia là quan hệ giữa nhà nước với nhà nước, dựa trên luật pháp quốc tế và được thế giới thừa nhận.

    Mọi mối quan hệ thân mật về chính trị chỉ có ý nghĩa tạo môi trường thuận lợi, tạo nhiều kênh đối thoại để giải quyết các tồn tại cũng như thúc đẩy hợp tác song phương.
    Chính trị không thay thế được pháp lý, mà làm nền tảng cho pháp lý.



    Tiến sĩ Trần Công Trục trong một lần quay trở lại thăm thác Bản Giốc, ảnh do tác giả cung cấp.


    Vì vậy, đánh giá lại các sự kiện lịch sử như cuộc chiến bảo vệ Biên giới phía Bắc 1979-1989, cuộc chiến bảo vệ Biên giới Tây Nam, cuộc xâm chiếm Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988 rất cần một lăng kính khoa học, một thái độ khách quan, một cách tiếp cận cầu thị và bình tĩnh.

    Mọi đánh giá áp đặt một chiều đều có mặt mạnh của nó trong những tình huống, hoàn cảnh nhất định để phục vụ một ý đồ nhất định, giúp đạt mục tiêu nhanh hơn. Nhưng về lâu dài, tác hại của nó lớn hơn rất nhiều, khó lường hết được.

    Trong nội bộ dư luận Việt Nam có không ít quan điểm băn khoăn, hoài nghi về Hội nghị Thành Đô mà thực chất chỉ là những thỏa thuận chính trị giữa lãnh đạo hai Đảng để tạo nền tảng cho bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

    Còn mọi văn kiện hợp tác, ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ có ý nghĩa pháp lý dưới ánh sáng công pháp quốc tế, nếu nó được chính thức ký kết và thông qua bởi cơ quan quyền lực nhà nước có thẩm quyền của hai nước.

    Những câu chuyện về thác Bản Giốc, Hữu Nghị Quan, núi Đất - Hà Giang vẫn âm ỷ trong lòng xã hội Việt Nam cho dù hiệp định phân định biên giới đã được ký kết sau quá trình đàm phán hết sức nghiêm túc, khách quan và thượng tôn pháp luật.
    Bởi lẽ những tài liệu tuyên truyền của ta trong cuộc chiến bảo vệ Biên giới 1979 - 1989 có những nội dung không chính xác, nhưng lại không được giải ảo, giải mật mà xếp vào kho bí mật, nhạy cảm.

    Cái thời của phe XHCN với phe TBCN đã qua, cái "thế giới đại đồng" hay còn được gọi bởi tên mới "cộng đồng chung vận mệnh" đã được chứng minh là một ảo mộng.

    Thực tiễn khu vực và quốc tế hiện nay, nhất là sau Brexit và bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ cho thấy, chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc là không thể xóa nhòa. Ngược lại, nó sẽ được củng cố và hoàn thiện trong một sân chơi toàn cầu được bảo đảm bởi luật pháp quốc tế.

    Chính vì vậy, khi đánh giá lại cuộc xâm lăng Biên giới Việt Nam 1979-1989 mà Trung Quốc tiến hành, cần đặt nó vào khung pháp lý quốc tế để xác định nguyên nhân, tìm ra bài học thay vì đứng trên lập trường chính trị, quan điểm chính trị.

    Chỉ có như thế mới giúp hai đất nước, hai dân tộc thực sự hợp tác trên tinh thần “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”.

    Đây cũng chính là bài học quan trọng để giúp hai bên giải quyết các tranh chấp bất đồng trên Biển Đông hiện nay, nhất là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như việc ứng dụng, giải thích UNCLOS 1982, chứ không phải niềm tin chính trị.

    Bài học thứ ba: đề cao cảnh giác, tự lực tự cường

    Đây là bài học muôn thủa trong hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của cha ông ta. Bài học Mỵ Châu - Trọng Thủy cần được thấm nhuần trong mọi hoạt động bang giao, đối ngoại của Việt Nam với các nước chứ không riêng gì Trung Quốc.

    Chúng ta không phủ nhận vai trò và ý nghĩa của ngoại lực - sự giúp đỡ từ bạn bè quốc tế trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây, cũng như việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

    Trước khi nổ ra cuộc xâm lăng Biên giới phía Bắc 1979-1989, quan hệ Việt - Trung đã liên tục xấu đi và biểu hiện rõ bởi hoạt động "cắt viện trợ". Thực tiễn ấy cho thấy, mọi viện trợ đều có những tính toán chiến lược đằng sau nó.Nhưng tinh thần tự lực tự cường, đề cao cảnh giác vẫn phải được đặt lên hàng đầu. Người Mỹ đã từng rút ra bài học mà chính chúng ta cũng đã từng nếm trải: miếng ăn miễn phí chỉ có trên bẫy chuột!

    Chúng ta nhận và nhận đến đâu, nhận như thế nào là một bài toán cần có một lời giải nghiêm túc.

    Câu chuyện vay vốn ODA ngày nay cũng vậy, quan trọng không nằm ở chỗ vay được bao nhiêu tiền, mà là sử dụng đồng vốn vay thế nào cho hiệu quả nhất, ít thất thoát nhất mà không đánh đổi những lợi ích chiến lược.

    Tháng Tư năm nay, Trung Quốc sẽ tổ chức một hội nghị quốc tế để quảng bá sáng kiến "một vành đai, một con đường" của họ và mời lãnh đạo nhiều nước tham dự, trong đó có Việt Nam.

    Chúng ta nên chủ động tiếp cận trên tinh thần dùng luật pháp quốc tế soi sáng mục đích, ý nghĩa và cách thức vận hành của dự án "con đường, vành đai" này.

    Những gì có thể hợp tác cùng có lợi thì nên triển khai, nhưng những gì cần bảo lưu về mặt chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia dân tộc thì không thể không tính đến.

    Hợp tác và cạnh tranh đan xen nhau là một xu thế khách quan của lịch sử hiện đại. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hay với các nước khác đều không nằm ngoài xu thế ấy.

    Sẽ có những cuộc chiến không tiếng súng, nhưng tác hại và hệ lụy của nó không kém gì chiến tranh nếu mất cảnh giác, trông chờ vào những nguồn vốn giá rẻ đi kèm công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường và một đội quân lao động tay chân tràn qua biên giới đến những địa bàn xung yếu của đất nước để làm ăn, kết hôn, sinh con đẻ cái.

    Những ngày qua, báo chí cũng đã ôn lại sự kiện này như nén hương tưởng nhớ, tri ân những người ngã xuống và nhắc nhở thế hệ mai sau: đừng bao giờ “khép lại quá khứ”, ngoảnh mặt với lịch sử, và đừng quên quá khứ, dù quá khứ ấy có cả những chuyện vui, chuyện buồn.

    Người con đất Việt trong hay ngoài nước vẫn hướng về cuộc chiến vệ quốc vĩ đại bằng nhiều cách khác nhau. Những tiếng nói cần đưa vào trường học, vào sách giáo khoa bài học cụ thể về cuộc chiến ngày một nhiều.

    Cá nhân người viết cũng chung tâm trạng ấy, mong muốn ấy. Trong khuôn khổ bài viết này, xin không nhắc lại những con số thương vong, những nỗi đau kéo dài theo năm tháng.

    Chỉ xin tổng kết lại một số bài học từ cuộc chiến vệ quốc vĩ đại mà khốc liệt ấy, nhìn thẳng quá khứ để thấy rõ tương lai và vì vậy, chỉ có thể “gác lại quá khứ” chứ không được phép “khép lại quá khứ”!

    TS Trần Công Trục

    http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Gac-lai-qua-khu-chu-khong-phai-khep-lai-qua-khu-post174469.gd

    Last edited by Bin571; 17-02-2017 at 11:45 PM.
    NAM QUỐC sơn hà NAM ĐẾ cư
    TIỆT NHIÊN định phận tại THIÊN THƯ

    Đây là link Fanpage của Diễn đàn TGVH anh em nha https://www.facebook.com/thegioivohinh.fanpage/

  2. #2
    Senior Moderator Avatar của Bin571
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    10,303
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Bài học Chiến tranh Biên giới 1979-1989 với khủng hoảng Biển Đông

    TS TRẦN CÔNG TRỤC
    07:00 26/02/16
    THẢO LUẬN (30)

    (GDVN) - Việt Nam cần phải thể hiện cho Trung Quốc thấy, chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là bất khả xâm phạm.

    Ts Trần Công TrụcLTS: Trong những ngày tháng Hai lịch sử này, dân tộc Việt Nam nghiêng mình tưởng nhớ đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979-1989 chống lại cuộc xâm lược tàn bạo và phi nghĩa của quân đội Trung Quốc, cũng là khoảng thời gian căng thẳng leo thang từng ngày trên Biển Đông bởi các hành động phá vỡ hiện trạng, quân sự hóa bất hợp pháp của Trung Quốc.

    Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ gửi đến bạn đọc Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài phân tích của ông về một số bài học cá nhân ông rút ra khi suy ngẫm về Chiến tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc 1979-1989.

    Những bài học này rất ý nghĩa đối với việc bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, hòa bình và ổn định, tự do an toàn hàng không hàng hải ở Biển Đông ngày nay. Để rộng đường dư luận, xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bài bình luận của ông. Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả.

    Mỗi năm đến ngày 17/2, ký ức về cuộc Chiến tranh Bảo vệ Biên giới phía Bắc chống quân Trung Quốc xâm lược giai đoạn 1979-1989 lại ùa về trong lòng mỗi người con đất Việt.

    Nhưng năm nay, ký ức ấy có phần mãnh liệt hơn bởi những nguy cơ xung đột, chiến tranh lặp lại. Chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích hợp pháp của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, hòa bình ổn định của khu vực, tự do hàng hải hàng không đang bị Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng với một loạt hành động leo thang, phiêu lưu quân sự trên Biển Đông.

    Chưa bao giờ câu chuyện Biển Đông lại thu hút sự chú ý của dư luận Việt Nam, khu vực và thế giới như lúc này. Cá nhân người viết cho rằng, nhìn lại cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, chống Khmer Đỏ phá hoại biên giới Tây Nam hay bài học Hoàng Sa bị xâm lược năm 1974, Gạc Ma bị xâm lược năm 1988 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cấp bách.

    Việt Nam chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quý báu cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ những sự kiện lịch sử này, bằng cách nhìn nhận nó một cách thực sự khách quan và cầu thị, trong đó lấy chuẩn mực pháp lý quốc tế theo từng thời kì, giai đoạn làm thước đo để đánh giá.

    Chỉ khi nào đánh giá đúng và sòng phẳng về lịch sử, chúng ta mới tránh được "lặp lại vết xe đổ" trong tương lai. Cũng chỉ có như vậy, chúng ta mới không mắc bẫy đối phương, củng cố vững chắc đoàn kết dân tộc và tận dụng được tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ từ bè bạn quốc tế và dư luận nhân loại tiến bộ.

    Bài học cảnh giác thứ nhất: Âm mưu và biến tướng

    Thiết nghĩ câu chuyện Trọng Thủy - Mỵ Châu và ngàn năm Bắc Thuộc đã quá đủ cho mỗi chúng ta về bài học cảnh giác, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trước âm mưu bành trướng, thôn tính từ phương Bắc.

    Chỉ có điều khi xã hội phát triển, nhân loại tiến bộ hơn và đặc biệt là sự thể chế hóa và hoàn thiện của hệ thống pháp lý quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, giải quyết tranh chấp lãnh thổ hàng hải ngày nay, tham vọng của Trung Quốc đã có những biến tướng nhưng giữ nguyên bản chất mà chúng ta cần đề cao cảnh giác.

    Biến tướng thứ nhất chính là cái "trỗi dậy hòa bình", và gần đây là "giấc mộng Trung Quốc", "phục hưng Trung Hoa" mà ông Tập Cận Bình thường xuyên nhắc tới và thúc đẩy, vẫn là tư tưởng Đại Hán, bá quyền nước lớn nhằm tranh giành ảnh hưởng, tiến tới vượt mặt Hoa Kỳ trở thành lực lượng thống trị quốc tế.



    Đặng Tiểu Bình đã khơi mào cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam ngày 17/2/1979. Xung đột kéo dài đến năm 1989. Ảnh: Internet


    Biển Đông nằm trong bức tranh chung, mục tiêu chung ấy. Và thật không may cho khu vực cũng như Việt Nam khi Trung Quốc chọn Biển Đông làm đột phá khẩu.

    Mọi phương tiện, công cụ khác từ kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, tuyên truyền được Trung Quốc sử dụng đều nhằm tiến tới mục tiêu đầy cuồng vọng này. Trong đó có Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ 21, Ngân hàng Đầu tư hạ tầng châu Á AIIB hay Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP...

    Do đó, Biển Đông cần đặt trong bức tranh tổng thể này để chúng ta nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp.

    Điều này cũng giống như cuộc Chiến tranh Bảo vệ Biên giới phía Bắc 1979-1989 hay Hoàng Sa bị xâm lược năm 1974, Gạc Ma bị xâm lược năm 1988 phải được đặt trong bối cảnh lịch sử phức tạp và quan hệ giữa các siêu cường thời kỳ đó.

    Trong cả 3 cuộc chiến này, Trung - Mỹ về một phe, Liên Xô một phe, chưa kể đến các lực lượng chính trị khác trong khu vực như Khmer Đỏ. Nhưng bối cảnh hiện nay, Nga - Trung gần như đồng minh, còn Trung - Mỹ lại là đối thủ.

    Riêng đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, xin nhắc lại rằng nhà nước Trung Quốc qua các thời kỳ dù thể chế chính trị hay thế hệ lãnh đạo thay đổi khác nhau, nhưng âm mưu bành trướng không đổi. Họ đã chính thức đưa vào yêu sách và mục tiêu chiếm đoạt từ đường lưỡi bò năm 1947, bằng hành động quân sự các năm 1946, 1956, 1974, 1988, 1995 và hiện nay.

    Tháng 3/1988 Trung Quốc đánh Gạc Ma khi súng vẫn nổ trên địa đầu biên giới phía Bắc. Nhưng ngay từ ngày 30/7/1977, Hoàng Hoa - Ngoại trưởng Trung Quốc lúc đó đã tuyên bố: "Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Trường Sa mà không cần phải thương lượng gì hết".

    Chỉ trong năm ngoái ông Tập Cận Bình đã 3 lần công khai tuyên bố với dư luận, "các đảo ở Biển Đông thuộc chủ quyền Trung Quốc từ thời cổ đại", kể cả ngay khi vừa bước chân rời khỏi Việt Nam tháng 11/2015.

    Thuộc cấp của ông, Thứ trưởng Ngoại giao Lưu Chấn Dân thì không giấu diếm ý đồ chiếm đoạt nốt phần còn lại ở Trường Sa với cái cớ gọi là "thu hồi". Trung Quốc không nói chơi mà đang làm rất mạnh.

    Bài học cảnh giác thứ hai: "Đại cục và Tiểu cục"

    Biến tướng thứ 2 cần cảnh giác là "Đại cục - Tiểu cục". Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 11 năm ngoái, ông Tập Cận Bình liên tục nhấn mạnh rằng, hai bên cần "lấy đại cục làm trọng". Cái gọi là đại cục được các nhà lãnh đạo Trung Quốc xác định là quan hệ chính trị giữa hai Đảng, hai Nước, còn "Tiểu cục" theo họ chỉ là những "bất đồng" trên Biển Đông.



    Ông Tập Cận Bình khi thăm Việt Nam tháng 11 năm ngoái nhấn mạnh cái gọi là "Đại cục - Tiểu cục", nhưng chỉ hôm sau qua Singapore, ông tuyên bố "các đảo ở Biển Đông thuộc chủ quyền Trung Quốc". Ảnh: AP.

    Tuy nhiên dưới góc độ pháp lý quốc tế, đây là một cái bẫy thực sự nguy hiểm mà chúng ta cần hết sức tỉnh táo, làm sao để không mắc bẫy đối phương mà còn có thể tương kế tựu kế giành quyền chủ động, hay nói như người Trung Quốc là "phản khách vi chủ".

    Trung Quốc đang cố gắng lái các nước láng giềng gần gũi hoặc các nước có quan hệ gần gũi với họ lấy quan hệ chính trị - đảng phái chính trị thay thế cho quan hệ Nhà nước - Nhà nước trong các vấn đề bang giao, đặc biệt là xử lý mâu thuẫn hay bất đồng cần giải quyết. Việt Nam chúng ta là một đối tượng họ đặc biệt tập trung vào.

    Có thể thấy rằng, có những giai đoạn lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, thân mật, gần gũi và cũng có những lúc thăng trầm, đối địch.

    Nhưng ngay cả khi Trung Quốc giúp Việt Nam trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, chưa bao giờ sự giúp đỡ đó là vô tư, chí tình như những gì họ tuyên truyền. Đằng sau mỗi miếng pho mát luôn là một cạm bẫy.

    Cạm bẫy nguy hiểm nhất chính là làm cho đối phương nhầm lẫn và đảo ngược vị trí vai trò, chức năng của quan hệ chính trị, đảng phái - chính trị với quan hệ Nhà nước - Nhà nước theo Công pháp quốc tế.

    Rõ ràng phải thừa nhận rằng, quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc là yếu tố tạo môi trường, điều kiện rất thuận lợi cho đối thoại giải quyết mâu thuẫn tranh chấp, nhưng không phải là căn cứ, cơ sở để giải quyết mâu thuẫn tranh chấp.

    Giữa Trung Quốc và Việt Nam, tranh chấp chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ bắt đầu xuất hiện từ năm 1909 với sự kiện Lý Chuẩn đổ bộ bất hợp pháp ra Phú Lâm, Hoàng Sa, và năm 1946 quân Tưởng Giới Thạch chiếm đảo Ba Bình, Trường Sa.

    Trước đó, Hoàng Sa và Trường Sa đã được Nhà nước Việt Nam xác lập và thực thi chủ quyền một cách hòa bình, hợp pháp và liên tục. Sau này do Trung Quốc nhảy vào tranh chấp và tạo ra tranh chấp, thậm chí dùng vũ lực xâm lược và chiếm đóng trái phép mới dẫn đến những hệ lụy ngày nay.

    Đó là một câu chuyện pháp lý, không phải một vấn đề chính trị. Nhưng người Trung Quốc đang tìm mọi cách chính trị hóa các vấn đề pháp lý bằng mệnh đề "Đại cục - Tiểu cục".



    Bức tranh "Vòng tròn bất tử" tái hiện cuộc chiến đấu bi hùng giữ Gạc Ma trước họng súng quân Trung Quốc, ảnh: Bùi Lệ Trang.


    Do đó chúng ta cần đặc biệt cảnh giác với âm mưu này. Việt Nam cần phải thể hiện cho Trung Quốc thấy, chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là bất khả xâm phạm, là điều thiêng liêng đối với mỗi người Việt Nam nên đó không thể xem là "Tiểu cục".

    Mặt khác, duy trì hòa bình và ổn định, bảo vệ luật pháp quốc tế, thượng tôn công lý, giải quyết mọi tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình và phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 mà thông qua Cơ quan tài phán phân xử là ví dụ điển hình, đó mới là "Đại cục", là cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp, bất đồng song phương và củng cố quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước.

    Chỉ có thượng tôn công lý, tôn trọng lẽ phải và sự thật mới có thể mang lại "Đại cục" hòa bình, ổn định, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị lâu dài giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong đó, quan hệ chính trị giữa hai nước đóng vai trò tạo môi trường và cầu nối rất quan trọng mà hai bên cần giữ gìn, nhưng đó không phải là cơ sở để đàm phán, thương lượng.

    Nếu còn mơ hồ về "Đại cục - Tiểu cục", rất có thể chúng ta sẽ bị hớ, bị mắc bẫy Trung Quốc. Mà như dân gian đã nói, "bút sa gà chết".

    Bài học cảnh giác thứ ba: Thủ đoạn không đánh mà thắng

    Dân tộc Việt Nam không bao giờ khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào dù hung hãn tới đâu, nhưng Dân tộc Việt Nam cũng hết sức trân quý hòa bình, yêu chuộng hòa bình.

    Và để bảo vệ hòa bình thì không cách nào khác là phải giáo dục cho các thế hệ nhận thức đúng đắn về lịch sử, trong đó có 3 cuộc chiến 1974, 1979-1989 và 1988. Chúng ta gác lại quá khứ, hướng tới tương lai không có nghĩa là quay lưng với lịch sử, không được phép lãng quên lịch sử.

    Ngược lại chúng ta cần học hỏi tìm kiếm từ lịch sử những bài học để làm sao tránh được chiến tranh trong hiện tại và tương lai. Còn một khi cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, chúng ta cũng sẽ đánh bại mọi thế lực cướp nước và bán nước.

    Bối cảnh quốc tế và khu vực ngày nay đã khác thời điểm 1974 - 1979 - 1988. Trung Quốc đang ra sức phát triển sức mạnh quân sự sau mấy chục năm tăng trưởng kinh tế. Họ cảm thấy đã đến lúc tranh hùng với Hoa Kỳ và Biển Đông được chọn làm đột phá khẩu.

    Nhưng dư luận nhân loại ngày một văn minh và tiến bộ, luật pháp quốc tế ngày một hoàn thiện khiến Trung Quốc khó có thể tiến hành các hoạt động phiêu lưu quân sự, chiến tranh xâm lược như trong những năm 1974, 1979 và 1988.

    Tuy nhiên họ lại sử dụng chiêu "không đánh mà thắng" cực kỳ lợi hại. Họ không/chưa sử dụng vũ lực, nhưng đe dọa sử dụng vũ lực. Họ hô hào đàm phán trong khi "dí súng" vào đầu đối phương. Những gì diễn ra ở Phú Lâm, Hoàng Sa hay một số đảo nhân tạo xây bất hợp pháp ngoài Trường Sa những ngày gần đây là minh chứng rõ nét.



    Nếu đối đầu quân sự hay chiến tranh ở Biển Đông, có lẽ Trung Quốc khó lòng thắng nổi Hoa Kỳ thời điểm hiện nay. Nhưng họ cứ nghênh ngang bành trướng từng chút một bằng đủ mọi loại phương tiện, công cụ từ ngư dân trá hình cho đến hải cảnh, hải quân hay thậm chí là giàn khoan, Mỹ khó có cớ gì can thiệp.

    Mỹ phản đối cứ phản đối, Mỹ tuần tra cứ tuần tra, còn Trung Quốc thì vẫn cứ ngày đêm liên tục quân sự hóa các tiền đồn quân sự phi pháp. Các bên liên quan trong đó có Hoa Kỳ chưa thực sự tìm ra giải pháp gì ngăn chặn đà bành trướng ấy. Sự kiện Scarborough là bài học cay đắng không chỉ của Philippines, mà còn là cảnh báo rõ rệt đối với Việt Nam.

    Có lẽ Trung Quốc sẽ không cần phải đánh như cuộc chiến xâm lược Gạc Ma năm 1988. Người viết lo rằng, không lâu nữa khi hệ thống tiền đồn quân sự bất hợp pháp ở Hoàng Sa và Trường Sa hoàn thiện, nhẹ thì Trung Quốc tìm cách ép Việt Nam "hợp tác khai thác chung" trong chính vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam.

    Nặng hơn một chút, họ hoàn toàn có thể uy hiếp hay chiếm các bãi cạn thềm lục địa phía Nam Việt Nam, nơi có nhiều mỏ dầu chúng ta đang khai thác, chỉ bằng thủ đoạn bao vây chặn đường tiếp viện. Còn bất chấp tất cả, có thể lại tái diễn một vụ giàn khoan 981 như năm 2014. Cái họa này đã rất gần và chúng ta cần tìm cách hóa giải.

    Bài học "lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo"

    Cá nhân người viết cho rằng, chúng ta cần phải tìm hiểu rõ về Trung Quốc để có cách ứng xử phù hợp trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng, trên cơ sở bảo vệ và giữ gìn luật pháp - công lý quốc tế. Do đó thái độ của chúng ta cần tỉnh táo.
    Cái "hung tàn, cường bạo" ở Biển Đông hiện nay chúng ta đã quá rõ.

    Nhưng còn đâu là "nhân nghĩa", "chí nhân", đâu là lẽ phải? Đó chính là luật pháp và công lý quốc tế, đó là thế mạnh và cũng là bàn đạp của chúng ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như hòa bình, ổn định của khu vực và luật pháp quốc tế, tự do hàng không hàng hải trên Biển Đông.



    Muốn có công lý, phải biết bảo vệ công lý và lẽ phải. Ảnh: Internet

    Chỉ có điều cá nhân người viết nhận thấy, mặt trận này chúng ta chưa thực sự phát huy hết sức mạnh của mình, chưa thực sự thuyết phục hiệu quả đối với bạn bè quốc tế để họ ủng hộ lập trường chính nghĩa và quyền lợi hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vấn đề nằm ở cách chúng ta làm chứ không phải ý chí.

    Ngay dư luận nội bộ, trong xã hội chúng ta cũng còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, hàng hải cho đến các quan hệ chính trị - ngoại giao phức tạp giữa Việt Nam với các cường quốc mà chủ yếu là Hoa Kỳ và Trung Quốc.

    Nhưng một khi biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, biết ứng xử thượng tôn pháp luật và công lý, hành xử theo pháp luật và thông lệ quốc tế thì không những chúng ta củng cố được đoàn kết nội bộ, thống nhất lòng người mà còn tạo ra được sự đồng thuận, chia sẻ của bạn bè quốc tế.

    Đơn cử như việc Mỹ tuần tra bảo vệ tự do hàng không hàng hải ở Biển Đông là một việc làm rất hợp pháp, văn minh theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

    Chỉ riêng việc là một thành viên Công ước, chúng ta đã nên ủng hộ mạnh mẽ động thái này, huống hồ trong lúc chính chủ quyền, quyền và lợi ích của chúng ta ở 2 quần đảo này cũng như vùng đặc quyền kinh tế trên Biển Đông đang bị Trung Quốc đe dọa, còn hành động của Mỹ có tác động tích cực chống lại các mối đe dọa ấy.

    Ví dụ nữa là với vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc áp dụng và giải thích sai Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 ở Biển Đông cũng tạo cho chúng ta một lợi thế rất lớn về pháp lý.

    Không những Việt Nam cần ủng hộ mạnh mẽ các phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực PCA với tư cách thành viên Công ước, mà còn với tư cách một bên liên quan biết thượng tôn pháp luật.

    Ủng hộ phán quyết của PCA, chúng ta cần chuẩn bị cụ thể, chi tiết phương án, kịch bản của riêng mình trên mặt trận pháp lý. Cá nhân người viết rất mừng và dấy lên niềm hy vọng khi nghe ngài Tổng thống Obama cũng như các nhà lãnh đạo khác của Hoa Kỳ phát biểu về Biển Đông gần đây.

    Tiếp theo những tuyên bố chính thức đòi Trung Quốc làm rõ yêu sách đường lưỡi bò, các nhà lãnh đạo Mỹ mới đây cũng đã công khai khẳng định, Mỹ sẽ buộc Trung Quốc phải trả giá nếu chống lại phán quyết của PCA.

    Tuy nhiên người viết có cảm giác dường như Hoa Kỳ còn đơn độc trong cuộc chiến bảo vệ hòa bình, ổn định, tự do hàng không hàng hải và luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Có người nói rằng, Mỹ chỉ bảo vệ lợi ích của họ. Không sai, nhưng chưa đủ.

    Riêng ở Biển Đông, lợi ích của Hoa Kỳ đang trùng lặp với lợi ích của khu vực, các bên liên quan, trong đó có Việt Nam.
    Việc ủng hộ những tiếng nói, việc làm chính nghĩa của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ, duy trì luật pháp quốc tế ở Biển Đông hoàn toàn không có nghĩa là theo nước này, chống nước kia như ai đó suy diễn. Lấy Công pháp quốc tế làm chuẩn, cái gì đúng chúng ta ủng hộ, cái gì sai chúng ta phản đối.

    Thời thế thay đổi, quan hệ bạn - thù cũng đổi thay, nhưng lợi ích quốc gia dân tộc, đặc biệt là độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thì không bao giờ thay đổi.

    Chúng ta muốn tận dụng ngoại lực, đầu tiên cần thể hiện rõ thiện chí và lòng tin chiến lược ở đối tác. Trong quá trình đó, cứ bám sát luật pháp quốc tế và biết bảo vệ, thượng tôn luật pháp quốc tế, chúng ta sẽ tránh được những nguy cơ, rủi ro.

    Ngược lại nếu chính trị hóa các vấn đề pháp lý, chúng ta sẽ cực kỳ bất lợi, và khi hữu sự khó có thể nhận được sự chia sẻ, giúp đỡ từ bè bạn.

    Ts Trần Công Trục

    Last edited by Bin571; 18-02-2017 at 12:26 AM.
    NAM QUỐC sơn hà NAM ĐẾ cư
    TIỆT NHIÊN định phận tại THIÊN THƯ

    Đây là link Fanpage của Diễn đàn TGVH anh em nha https://www.facebook.com/thegioivohinh.fanpage/

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •