kết quả từ 141 tới 160 trên 252

Ðề tài: TÂM VŨ TRỤ - SỬA CHỮA VÀ BỔ XUNG

Threaded View

  1. #1
    Đai Nâu Avatar của doxuantho
    Gia nhập
    Mar 2011
    Bài gởi
    315
    Post Thanks / Like

    Mặc định TÂM VŨ TRỤ - SỬA CHỮA VÀ BỔ XUNG

    Đỗ Xuân Thọ - TÂM VŨ TRỤ 2012


    CHƯƠNG 1
    VŨ TRỤ VÀ TÂM VŨ TRỤ
    Chương 1 là chương rất quan trọng vì nó là cơ sở cho những chương sau. Chương 1 gồm ba phần: Vũ trụ, Tâm Vũ trụ và Kết luận. Chương này đã được công bố trên tạp chí Triết học tháng 1 năm 2003. Phần Tâm Vũ trụ là phần trọng tâm của chương 1.
    1. VŨ TRỤ
    Trước khi đưa ra những tiên đề, định lý về Vũ trụ chúng ta phải xây dựng được các khái niệm cơ bản. Các khái niệm này như là vật mang tin. Nó giống như chữ viết và ký hiệu để diễn đạt một ngôn ngữ. Tuy nhiên, nội dung thông tin chứa trong chúng là vô hạn, đến mức mà cùng với sự phát triển của lý thuyết chính những khái niệm cơ bản này cũng thay đổi. Mặc dù vậy, vận tốc của sự thay đổi này là nhỏ hơn nhiều lần sự thay đổi của các tiên đề, các định lý. Nói một cách khác, chúng “ổn định” hơn các tiên đề, định lý và chúng ta có thể “cứng hoá” các khái niệm đó.
    Ta sẽ bắt đầu bằng khái niệm Đối tượng. Đối tượng dùng để chỉ mọi thứ: bát cơm, manh áo, con người, trái đất, hệ mặt trời, thiên hà, ý nghĩ,khái niệm, học thuyết, xã hội, một chính thể v.v... Khái niệm Đối tượng có tác dụng tạo ra một sự khu biệt trong tư duy khi ta xét đến một vật, một thực thể, một khái niệm, một hệ thống v.v... nào đó. Đối tượng, như sau này sẽ thấy, nó gần giống như khái niệm tập hợp nhưng không phải tập hợp vì không có đối tượng nào trống rỗng tuyệt đối.
    Tiếp theo là khái niệm Lớp và Tập hợp. Đầu tiên ta tạm hiểu nó như khái niệm lớp và tập hợp cổ điển đã trình bầy trong chương 0 và lớp mờ, tập hợp mờ theo nghĩa của A.L. Zadeh trình bầy trong phụ lục B.
    Khái niệm Vô cùng dùng để chỉ sự vô biên, vô tận, không bờ bến, không bị hạn chế v.v...
    Duy nhất là khái niệm chỉ sự: chỉ có một không có hai.
    Tiếp theo là khái niệm Vận động. Vận động có thể hiểu như sự đổi chỗ trong không gian và thời gian, sự thay đổi trong các phản ứng hoá học, sự phát triển hoặc suy thoái của một quốc gia, một học thuyết hoặc một chính thể. Nó chỉ sự sinh trưởng hoặc chết đi của một sinh vật, sự thay đổi trong tư duy của một con người v.v...
    Cùng với sự vận động còn có khái niệm vận tốc, gia tốc v.v...
    Như vậy ta đã trình bầy một số khái niệm cơ bản. Nội dung thông tin chứa trong các khái niệm cơ bản là vô hạn, bởi thế không nên hy vọng có thể hiểu được ngay tức thì. Ý nghĩa của chúng sẽ hiện dần ra cùng lý thuyết.
    Ta sẽ bắt đầu bằng việc đưa ra quan niệm của chúng ta về Vũ trụ.
    Định nghĩa 1 :
    Vũ trụ là một lớp V tất cả các đối tượng x sao cho x=x:
    V= { x | x = x }.
    Định nghĩa 1 nói lên quan niệm của chúng ta về vũ trụ, đó là một lớp các đối tượng sao cho « nó » là « nó » và ngược lại bất cứ một cái gì mà « nó » là « nó » thì nó sẽ thuộc vũ trụ V.
    Như sau này chúng ta sẽ thấy, các đối tượng trong Vũ trụ không phải chỉ là những đối tượng rời rạc nằm cạnh nhau mà giữa chúng có những mối liên hệ chằng chịt và chính những mối liên hệ này đã liên kết các đối tượng khác nhau, thậm chí tưởng chừng đối nghich nhau trong Vũ trụ để tạo nên một Vũ trụ hiện tồn.
    Cũng theo định nghĩa 1, ta thấy Vũ trụ của thiên văn học chỉ là một phần của Vũ trụ vừa được định nghĩa. Vũ trụ của thiên văn học không chứa hồn của một làn điệu dân ca Quan họ Bắc Ninh (với tư cách là một đối tượng) chẳng hạn…
    Định lý 1
    Giữa hai đối tượng bất kỳ bao giờ cũng tồn tại ít nhất một mối liên hệ
    CM: Giả sử A và B là hai đối tượng bất kỳ, V là vũ trụ. Vì A=A nên A thuộc V, vì B=B nên B thuộc V . Khi đó mối liên hệ “A và B cùng thuộc vũ trụ V” hiển nhiên là một trong các mối liên hệ giữa A và B => đ.p.c.m
    Định lý này thật ra là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến mà Hêghen đã đề cập nhưng chưa được chứng minh chặt chẽ. Nó được Hêghen xem như một tiên đề.
    Từ nay, khi nói đến một đối tượng ta phải hiểu nó cùng với tập hợp các mối liên hệ của nó với các đối tượng khác. Đôi khi để nhấn mạnh ta sẽ gọi là đối tượng đầy đủ.
    Tiếp theo ta sẽ thừa nhận tiên đề mà hầu như mọi triết học đều công nhận
    Tiên đề 1
    Mọi đối tượng trong Vũ trụ đều luôn luôn vận động.
    Tiên đề này cho ta thấy vận động là thuộc tính của mọi đối tượng. Mọi đối tượng trong Vũ trụ đều vận động theo vô vàn các phương thức khác nhau. Từ định nghĩa 1 và tiên đề 1 ta thấy rằng mọi đối tượng trong vũ trụ đều có đặc trưng “nó” là “nó” nhưng lại không phải là “nó”... Thật kỳ diệu !…
    Định lý 2:
    Vũ Trụ V là vô cùng theo mọi phương
    CM: Giả sử H là một hệ quy chiếu có gốc O tuỳ ý thuộc vũ trụ V và các trục Oxi , với i thuộc tập các chỉ số C tuỳ ý (C có thể là tập có vô hạn phần tử). Các trụ Oxi là những đường thẳng, làm thành các trục số của tập số thực R. (Sự tồn tại một hệ quy chiếu như thế, trong vật lý có thể còn tranh cãi nhưng trong vũ trụ V của chúng ta , vũ trụ bao gồm cả vật chất và ý thức, là điều hiển nhiên. Ví dụ hệ quy chiếu đó tồn tại ngay trong tư duy của ta chẳng hạn) Ta sẽ chứng minh bằng phản chứng. Giả sử tồn tại một chỉ số j thuộc C sao cho Vũ Trụ V hữu hạn trên trục Oxj. Không giảm tổng quát ta giả sử nó hữu hạn ở phần dương của Oxj (Nếu hữu hạn ở phần âm CM tương tự). Khi đó tồn tại một số thưc A để sao cho mọi đối tượng của V đều có toạ độ theo phương Oxj đều nhỏ hơn hay bằng A. Chọn điểm M có tất cả các toạ độ khác bằng 0 trừ toạ độ trên Oxj là bằng A+1. Rõ ràng A+1>A và M=M nên điểm M (với tư cách là một đối tượng) thuộc vũ trụ V (theo định nghĩa vũ trụ). Sự vô lý này chứng tỏ V vô hạn trên Oxj suy ra không tồn tại một chỉ số i nào thuộc C để vũ trụ V hữu hạn theo phương Oxi => điều phải chứng minh.
    Chú ý: Việc chọn các trục tọa độ là đường thẳng chỉ là một trong vô hạn cách chọn để nhấn mạnh và làm dễ hiểu cho độc giả. Các trục tọa độ của hệ quy chiếu H có thể là bất cứ cái gì: đường cong, một sợi tư duy thậm chí chỉ là một ước mơ… trong đầu của một người nào đó (ở Trái Đất hoặc ngoài Trái Đất).
    Như vậy ta đã chứng minh được một định lý vô cùng quan trọng. Từ định lý 2 ta thấy Vũ Trụ V của chúng ta khác xa với Vũ Trụ hiểu theo nghĩa A.Einstein
    Đến đây ta đưa ra một định lý rất quan trọng.
    Định lý 3
    Vũ trụ là duy nhất
    CM: Giả sử V1và V2 là hai Vũ trụ khác nhau. Khi đó với đối tượng d bất kỳ thuộc V1 thì suy ra d=d do V1 là vũ trụ. Mặt khác vì d = d nên d thuộc V2 vì V2 cũng là vũ trụ. Suy ra V1 được chứa trong V2 (1). Ngược lại với đối tượng d bất kỳ thuộc V2 thì d =d do V2 là vũ trụ. Mặt khác vì d = d nên d thuộc V1 vì V1 cũng là vũ trụ. Suy ra V2 được chứa trong V1 (2). Từ (1) và (2) suy ra V1 trùng với V2. Suy ra đ.p.c.m.
    Định lý 3 khẳng định Vũ trụ của chúng ta là duy nhất, không có Vũ trụ thứ hai.
    Như đã nói ở trên, các đối tượng trong Vũ trụ liên kết với nhau vô cùng chặt chẽ bởi các mối liên hệ. Các mối liên hệ này có được là nhờ các đối tượng trong Vũ trụ nhưng chính chúng lại làm cho Vũ trụ này là duy nhất. Hơn thế nữa chính chúng lại là các đối tượng và bởi thế nó luôn luôn vận động và phát triển.
    Vũ trụ của chúng ta thật vô cùng vô tận mà sống động. Đó là Vũ trụ duy nhất, không có Vũ trụ thứ hai.
    2. TÂM VŨ TRỤ
    Đến đây ta sẽ đưa vào một khái niệm mới – Tâm Vũ trụ. Khái niệm này được trình bày một cách ngắn gọn nhất nên nó là một khái niệm hết sức trừu tượng nhưng lại là khái niệm trung tâm của chương này. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng một định nghĩa ngắn gọn:
    Định nghĩa 2
    Tâm Vũ Trụ là một đối tượng TVT sao cho TVT là miền giao của mọi đối tượng của vũ trụ V : TVT = ∩ V
    Định nghĩa này cho ta thấy Tâm Vũ trụ là cái chung nhất của tất cả các đối tượng trong Vũ trụ. Nó là “Thuộc tính” có trong mọi đối tượng.
    Ngay sau đây ta sẽ chứng minh hai định lý mang tính nhận thức luận.
    Định lý 4
    Tâm Vũ Trụ là tồn tại :TVT ≠ 0
    CM: Ta phải chứng minh miền giao của mọi đối tượng trong Vũ trụ là khác trống. Thật vậy vì tính vận động là có trong mọi đối tượng như tiên đề 1 đã khẳng định nhưng tính vận động đến lượt nó lại là một đối tượng trong Vũ trụ nên giao của mọi đối tượng trong Vũ trụ chứa đối tượng vận động nên rõ ràng khác trống => đ.p.c.m.
    Để ý rằng vận động chỉ là một trong các thành tố tạo nên Tâm Vũ trụ. Vận động chỉ là một biểu hiện của Tâm Vũ trụ. Hay nói cách khác, chính vì các đối tượng luôn vận động mà chúng ta cảm nhận thấy sự tồn tại của Tâm Vũ trụ. Ngoài vận động, Tâm Vũ trụ có thể còn những thành tố khác.
    Định lý 5
    Tâm Vũ Trụ là duy nhất
    CM : Giả sử TVT1 và TVT2 đều là Tâm Vũ trụ. Ta phải chứng minh TVT1 trùng với TVT2. Thật vậy vì TVT1 là Tâm Vũ trụ và TVT2 là một đối tương nên
    TVT1  TVT2 (TVT1 được chứa trong TVT2) (1).
    Vì TVT2 là Tâm Vũ trụ và TVT1 là một đối tượng nên
    TVT2  TVT1 (TVT2 được chứa trong TVT1) (2)
    Từ (1) và (2) suy ra TVT1  TVT2 (TVT1 trùng với TVT2) => đ.p.c.m
    Như vậy chúng ta đã định nghĩa Tâm Vũ trụ và chứng minh hai định lý hết sức quan trọng khẳng định Tâm Vũ trụ là tồn tại và duy nhất. Tuy nhiên, cách chứng minh của hai định lý trên mới chỉ chỉ ra một cách định tính sự tồn tại và duy nhất cuả Tâm Vũ trụ.
    Ngay tại đây chúng ta sẽ đưa ra một hệ quả trực tiếp từ định nghĩa Tâm Vũ trụ:
    Định lý 6
    Tâm Vũ Trụ có trong mọi đối tượng
    CM: Tâm Vũ trụ là miền giao của mọi đối tượng và Tâm Vũ trụ tồn tại duy nhất. Theo định nghĩa phép giao trong lý thuyết Tập hợp suy ra nó có trong mọi đối tượng trong Vũ trụ. (đ.p.c.m.)
    Thực ra, đã từ lâu loài người đã cảm nhận được sự tồn tại của Tâm Vũ trụ và gọi nó với các cái tên khác nhau như: Thuộc tính, Bản chất, Tạo hoá, Chân lý Tối thượng, Tự nhiên, Trời, Thượng đế v.v... Nhưng có thể nói khái niệm Tâm Vũ trụ ở đây rành mạch, sâu sắc và tổng quát hơn nhiều những khái niệm kể trên.
    Đến đây ta đưa vào một khái niệm cơ bản nữa đó là một khái niệm hóc hiểm : Thời gian
    Thời gian là một đại lượng biến thiên và là thành phần của một hệ thống đo lường được dùng để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, để so sánh độ dài của các sự kiện, và khoảng cách giữa chúng, để lượng hóa chuyển động của các đối tượng. …Như vậy thời gian là một thành tố tạo nên khái niệm vận động do đó ta có ngay một định lý

    Định lý 7
    Tâm Vũ Trụ chứa thời gian
    CM :Theo tiên đề 1, mọi đối tượng đều vận động mà thời gian là một thành tố tạo nên vận động do đó mọi đối tượng đều chứa thời gian. Theo định nghĩa Tâm Vũ Trụ suy ra Tâm Vũ Trụ chứa thời gian. Đ.p.c.m.
    Hai đối tượng khác nhau có thời gian khác nhau. Ta gọi thời gian của chúng là thời gian tương đối.
    Thời gian ở Tâm Vũ Trụ được gọi là thời gian tuyệt đối
    Tâm Vũ trụ huyền ảo vô cùng. Nó có trong mội đối tượng nhưng hiểu được nó là vô cùng khó khăn, Nó là thuộc tính, nó là bản chất chung nhất của mọi đối tượng. Nó chứa các quy luật tự nhiên phổ quát nhất. Nó là chân lý Tối thượng của mọi chân lý Tối thượng. Nó là siêu hạt cơ bản của mọi hạt cơ bản tạo nên mọi vật.
    Định lý 8
    Mọi đối tượng trong Vũ trụ không tự nhiên mất đi một cách vĩnh viễn mà chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác.
    CM : Giả sử rằng A là một đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ. Khi đó theo định lý 6, A chứa Tâm Vũ trụ. Nếu A bị mất đi vĩnh viễn suy ra Tâm Vũ trụ sẽ bị mất đi vĩnh viễn. Điều này trái với hai định lý về sự tồn tại và duy nhất của Tâm Vũ trụ. Suy ra đ.p.c.m.
    Đối với những đối tượng hữu hình thì định lý trên là một điều dễ hiểu. Nhưng đối với những đối tượng vô hình như truyền thống dân tộc, một nền văn hoá, một học thuyết, một ý thức của một con người v.v…thì việc nhận thức được như vậy không phải luôn luôn dễ ràng.
    Nếu ta xem các hệ thống triết học hoặc các tôn giáo chỉ là những đối tượng thì một hệ quả nữa có thể được rút ngay ra từ định lý Tâm vũ trụ là duy nhất là:
    Định lý 9
    Đối với mọi triết học chỉ có một chân lý tối thượng.
    Đối với mọi tôn giáo chỉ có một Thượng Đế.
    Các khuynh hướng tư tưởng có thể khác nhau, thậm trí tưởng chừng đối lập nhau một mất một còn nhưng chúng vẫn có một miền giao khác trống (ví dụ Tâm Vũ trụ), bởi vậy xu thế đối thoại thay thế cho sự đối đầu, loại trừ nhau đang trở thành xu thế của thời đại.
    Ta có thể hình dung ra một sự hợp nhất vĩ đại trong tương lai - Sự thống nhất các triết học và sự hợp nhất các tôn giáo trên phạm vi toàn cầu và toàn Vũ trụ.
    3. KẾT LUẬN CỦA CHƯƠNG 1
    Vũ trụ là vô cùng vô tận nhưng duy nhất, không có Vũ trụ thứ hai. Các đối tựợng trong Vũ trụ không ngừng vận động. Tâm vũ trụ là miền giao của mọi đối tượng nên nó có trong mọi đối tượng. Nó tồn tại và duy nhất. Tâm Vũ trụ là khái niệm mạnh hơn khái niệm chân lý tuyệt đối, siêu hạt cơ bản v.v... Nó huyền ảo, lung linh. Nó có mặt ở khắp nơi nhưng không thể thấy được và không thể nắm bắt được. Nó là chân lý Tuyệt đối của mọi chân lý tuyệt đối. Nó là Siêu hạt cơ bản có trong mọi hạt cơ bản để tạo nên mọi vật. Tâm Vũ trụ chứa toàn bộ sức mạnh của Vũ trụ.
    Những cái đầu mạnh nhất của loài người chỉ có thể hiểu được những vùng lân cận của Tâm Vũ trụ, hiểu được Tâm vũ trụ là hiểu được cả Vũ trụ.
    Nếu xem mỗi con người, mỗi vật là các đối tượng thì Tâm vũ trụ không ở đâu xa mà ở trong chính lòng ta, ở chính trong tâm trí ta, ở chính trong các vật giản dị nhất.
    Không có đối tượng nào mất đi một cách vĩnh viễn mà nó chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác, kể cả những đối tượng hữu hình hoặc vô hình.
    Tâm vũ trụ tồn tại và duy nhất càng khẳng định Vũ trụ này là thống nhất mặc dù các đối tượng thuộc Vũ trụ là cực kỳ phong phú muôn hình vạn trạng. Trước khi hiểu được Tâm Vũ trụ, những khuynh hướng tư tưởng của loài người nằm ở lân cận Tâm Vũ trụ bởi thế chúng là những cánh hoa cùng chung một nhụy và vô cùng đa dạng.
    Vũ trụ của chúng ta đa dạng mà thống nhất, thống nhất trong sự đa dạng.
    Cuối cùng chúng tôi xin có một vài lời trước khi kết thúc chương 1.
    Thực ra có một sự tiếp cận khác đối với Vũ trụ và Tâm Vũ trụ. Cách tiếp cận đó là đầu tiên ta xây dựng các Vũ trụ sau đó hợp chúng lại để có Vũ trụ duy nhất. Tương tự, ta cũng xây dựng các Tâm Vũ trụ sau đó dùng phép giao để có một Tâm Vũ trụ duy nhất.
    Cách tiếp cận này dễ được chấp nhận vì nó đi theo một mạch tư duy thông thường của loài người nhưng tiếc thay số trang viết sẽ lên đến hàng trăm trang.
    Cách tiếp cận như vừa trình bầy là một cách tiếp cận cô đọng và có tính khái quát cao tuy nhiên mới đọc ta cảm thấy hơi khiên cưỡng. Rất mong bạn đọc thông cảm.

    CHƯƠNG 2
    TÂM VŨ TRỤ VÀ THÔNG TIN

    Trong chương 1 đã đưa ra định nghĩa Tâm Vũ trụ đồng thời chứng minh một số định lý và hệ quả liên quan tới Tâm Vũ trụ. Hai định lý khẳng định Tâm Vũ trụ là tồn tại và duy nhất đã được chứng minh. Tuy nhiên các chứng minh này mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra một cách định tính sự tồn tại và duy nhất của Tâm Vũ trụ. Ngoài vận động ra, Tâm Vũ trụ còn có thành tố nào nữa không?
    Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bầy định nghĩa về thông tin đồng thời chứng minh thông tin là một thành tố nưã tạo nên Tâm Vũ trụ sau đó đưa ra một số định lý, hệ quả và kết luận liên quan.
    Công cụ để diễn đạt trong chương 1 là lý thuyết Tập hợp và phương pháp tiên đề. Tuy nhiên cần nhấn mạnh là trong chương 1 chỉ mượn một cách tạm thời công cụ trên để làm công cụ diễn đạt. Ý nghĩa triết học nằm đằng sau những suy luận Toán học đó sâu sắc hơn nhiều. Trong chương này chúng tôi vẫn sử dụng công cụ trên .
    Bây giờ chúng ta sẽ đi vào nội dung của chương này. Trước hết ta sẽ đưa ra khái niệm thông tin.

    1. THÔNG TIN
    Trong Tin học định nghĩa: “Mọi yếu tố đem lại sự hiểu biết đều được gọi là thông tin”. Nhưng định nghĩa này mới nói đến sự hiểu biết của con người nên chưa tổng quát. Một số nhà triết học mô tả khái niệm thông tin như sau: Mọi vật trong thế giới tự nhiên đều có thuộc tính phản ánh khi bị tác động bởi một vật khác. Quá trình này được gọi là quá trình nhận thông tin, xử lý thông tin và đưa ra kết quả của sự xử lý.
    Để thống nhất, chúng tôi đưa ra định nghĩa về khái niệm cơ bản này như sau và sẽ dùng nó trong toàn bộ tác phẩm:
    Định nghĩa 3:
    Giả sử A và B là hai đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ, ta gọi lớp tất cả những mối liên hệ giữa A và B là thông tin giữa A và B. A được gọi là nội dung thông tin của A trong B và ngược lại B được gọi là nội dung thông tin của B trong A. Bản thân tập hợp các mối liên hệ giữa A và B, đôi khi để nhấn mạnh ta gọi là vật mang tin.
    Như vậy thông tin bao gồm nội dung thông tin và vật mang tin. Định nghĩa trên đảm bảo độ khái quát cao của khái niệm thông tin.
    Bây giờ ta sẽ bàn đến Tâm Vũ trụ và thông tin.
    2. TÂM VŨ TRỤ VÀ THÔNG TIN
    Trước hết ta chứng minh một định lý vô cùng quan trọng khẳng định thông tin như một thành tố nữa ngoài vận động có ở Tâm vũ trụ.
    Định lý 10 :
    Tâm vũ trụ chứa thông tin.
    CM: Theo định lý về mối liên hệ phổ biến trong chương 1 khẳng định với hai đối tượng bất kỳ trong vũ trụ bao giờ cũng tồn tại ít nhất một mối liên hệ. Trong trường hợp đặc biệt, với một đối tượng A bất kỳ của vũ trụ thì A có ít nhất một mối liên hệ với chính nó Theo định nghĩa 3 vừa nêu trên suy ra thông tin là thuộc tính của mọi đối tượng trong Vũ trụ và do đó, theo định nghĩa Tâm vũ trụ trong chương 1 suy ra Tâm vũ trụ chứa thông tin (đ.p.c.m).
    Định lý 10 vừa nêu đã cho ta thấy có thêm một thành tố nữa ngoài tính vận động và thời gian ở Tâm vũ trụ: đó là thông tin.
    Ở đây cần nhấn mạnh là vì nhận thức của chúng ta mới chỉ ở lân cận U(TVT) của Tâm vũ trụ nên chưa hiểu một cách chính xác về Tâm vũ trụ vì thế mới sinh ra việc phát hiện thành tố này thành tố kia tạo nên Tâm vũ trụ chứ thực chất, nếu suy cho cùng các thành tố đó chỉ là một. Điều này được suy ra từ định lý Tâm vũ trụ là duy nhất. Tuy nhiên xem xét Tâm vũ trụ từ nhiều phía sẽ cho ta một hình ảnh rõ hơn về Tâm vũ trụ. Chúng ta sẽ thu hẹp dần lân cận U(TVT) của Tâm vũ trụ trong chúng ta càng nhiều càng tốt.
    Đến đây ta đưa ra một định lý thứ hai:
    Định lý 11:
    Thông tin giữa hai đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ bao giờ cũng phải thông qua Tâm vũ trụ.
    CM: Giả sử A và B là hai đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ và f là một mối liên hệ bất kỳ nào đó giữa A và B. Theo định nghĩa 3 suy ra f là một thông tin giữa A và B. Nhưng đến lượt mình, f lại là một đối tượng trong Vũ trụ. Theo định lý 6 trong chương 1 suy ra f phải chứa Tâm vũ trụ. Hay nói cách khác f phải thông qua Tâm vũ trụ. Suy ra điều phải chứng minh (đ.p.c.m).
    Định lý 11 rất quan trọng bới nó cho ta một định lý trực tiếp:
    Định lý 12:
    Tâm vũ trụ chứa toàn bộ thông tin của mọi đối tượng trong Vũ trụ
    CM: Giả sử A là một đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ có một phần F(A) các thông tin không có ở Tâm Vũ trụ. Từ điều này suy ra tồn tại thông tin f của F(A) không thông qua Tâm Vũ trụ. Điều này trái với định lý 11 suy ra đ.p.c.m.
    Định lý 12, một lần nữa khẳng định nếu hiểu được Tâm vũ trụ thì ta có thể hiểu được toàn bộ Vũ trụ. Ta có thể ví một cách thô thiển Tâm Vũ trụ như là một chiếc máy tính chủ chứa toàn bộ thông tin của mọi đối tượng trong Vũ trụ. Các đối tượng trong Vũ trụ muốn “liên lạc” với nhau đều phải thông qua chiếc máy chủ Vĩ đại này.
    Bây giờ chúng ta đưa ra một định lý cực kỳ quan trọng liên quan tới vận tốc truyền thông tin của Tâm Vũ trụ.
    Định lý 13:
    Tâm vũ trụ truyền thông tin đến mọi đối tượng trong Vũ trụ là tức thời.
    CM: Ta chứng minh bằng phản chứng. Giả sử tồn tại một đối tượng A trong Vũ trụ nhận thông tin từ Tâm vũ trụ đến mình là không tức thời. Suy ra tại một thời điểm t0 nào đó giữa A và Tâm vũ trụ không có một mối liên hệ nào. Vì Tâm Vũ trụ cũng là một đối tượng nên điều này trái với định lý về mối liên hệ phổ biến trong chương 1 suy ra (đ.p.c.m).
    Định lý 13 cho ta khả năng giải thích một điều rất khó hiểu trong Định lý 6 của chương 1: “Tâm vũ trụ có trong mọi đối tượng”.
    Tại sao có vô vàn các đối tượng trong Vũ trụ mà đối tượng nào cũng chứa Tâm vũ trụ trong khi Tâm vũ trụ là duy nhất? Thì ra các đối tượng trong Vũ trụ chỉ chứa nội dung thông tin của Tâm vũ trụ trong nó hay nói cách khác, các đối tượng trong Vũ trụ chỉ chứa “ảnh” của Tâm vũ trụ. Vì việc truyền thông tin từ Tâm vũ trụ đến các đối tượng là tức thời nên sự phân biệt Tâm vũ trụ và ảnh của Tâm vũ trụ là cực kỳ khó khăn. Đôi khi ta cảm thấy chúng chỉ là một. Thậm chí, việc tách chúng làm hai, cho dù trong tư duy cũng là khiên cưỡng. Chính vì điều này mà định lý 6 trong chương 1 không hề mâu thuẫn.
    Từ định lý 13 ta suy ra ngay một định lý quan trọng nữa để thấy rõ Vũ Trụ theo định nghĩa 1 khác hẳn với Vũ Trụ vật lý của Eintein.
    Định lý 14:
    Vận tốc của ánh sáng
    c 300000 km/s (c gần bằng 300000 km/s)
    không phải là giới hạn vận tốc của các thông tin trong Vũ trụ
    CM : Ta chỉ cần chỉ ra vận tốc truyền thông tin giữa hai đối tượng nào đó lớn hơn vận tốc ánh sáng c là đủ. Giả sử A và B là hai đối tượng cách nhau 10 tỷ km, f là một thông tin giữa A và B và d là quãng đường mà f phải đi. Theo định lý 11 f phải đi qua TVT. Vì vậy d=d1+d2, trong đó d1 là khoảng cách từ A đến TVT và d2 là khoảng cách từ TVT đến B.Theo định lý 12 suy ra thời gian t1 để f đến TVT là tức thời (gần bằng 0) . Theo định lý 13, thời gian t2 để f đi từ TVT đến B là tức thời (gần bằng 0). Vận tốc trung bình của f trên d1 là v1=d1/t1. Do t1 tiến tới 0 nên v1 tiến tới vô cùng. Tương tự vận tốc trung bình của f trên d2 là v2=d2/t2. Do t2 tiến tới 0 nên v2 tiến tới vô cùng.Từ đó suy ra vận tốc v của f đi từ A đến B là vô cùng lớn. A và B cách nhau 10 tỷ km nên rõ ràng v>>c rất nhiều lần. đ.p.c.m.
    Định lý 14 cho ta thấy tiên đề Einstein không còn đúng trong Vũ trụ của chúng ta nữa.
    Thông tin giữa Tâm vũ trụ và một đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ không chỉ diễn ra theo một chiều từ Tâm vũ trụ đến đối tượng đó mà còn có thông tin ngược từ đối tượng đó đến Tâm vũ trụ. Sự thông tin giữa hai đối tượng bất kỳ đều phải đi qua “Máy Chủ” vĩ đại- Tâm vũ trụ.
    3. KẾT LUẬN CỦA CHƯƠNG 2
    +Như vậy, ngoài vận động và thời gian, Tâm vũ trụ còn chứa một thành tố nữa đó là thông tin. Tuy nhiên thông tin và vận động thực chất là một. Thông tin là một dạng của vận động và ngược lại vận động chỉ là một biểu hiện của thông tin. Hai khái niệm này suy cho tới cùng chúng như là tách ra mà lại dường như là một.
    +Với việc chứng minh có những thông tin vượt vận tốc ánh sáng hàng triệu triệu lần, ta có thể thấy hàng ngày, hàng giờ, hàng giây, hàng micro giây v.v... chúng ta, những người trên Trái đất vẫn nhận được thông tin từ vô vàn các nền văn minh ngoài Trái đất đến Trái đất, đến chúng ta thông qua Tâm Vũ trụ. Vì có các nền văn minh yếu hơn Trái đất và có những nền văn minh mạnh hơn Trái đất nên trong mỗi con người đều có cái ác và cái thiện, có đê hèn và cao thượng, có ngu xuẩn và thông minh, có hận thù và tình yêu v.v... Để vươn tới cái thiện, cái tốt, cái hoàn mỹ v.v... thì ta phải luôn hướng tới Tâm Vũ trụ tức là sống, hành động và tư duy phù hợp với những quy luật phổ quát nhất của Vũ trụ.
    +Thông tin từ một đối tượng bất kỳ đến chúng ta đều phải thông qua Tâm Vũ trụ. Điều này cho ta một nhận thức luận quan trong là: nếu nghiên cứu kỹ càng, cùng kiệt một đối tượng bất kỳ, cho dù đối tượng đó tầm thường đến mức nào ta cũng tìm thấy chân lý vĩ đại thậm chí là chân lý tối thượng.
    +Gần đây có những luận thuyết cho là mọi đối tượng trong Vũ trụ đã được lập trình sẵn bới một đấng Tối cao nào đó và rằng mọi đối tượng, đặc biệt là con người là đã “an bài ” và không tránh khỏi “số mệnh”. Điều này mới chỉ đúng một nửa. Như trên đã nói thông tin giữa Tâm vũ trụ và một đối tượng bất kỳ là một thông tin hai chiều. Đến một lúc nào đó, khi chúng ta hiểu sâu sắc hơn về Tâm vũ trụ thì rất có thể có những “hacker” truy nhập vào “chiếc máy chủ vĩ đại” –Tâm vũ trụ để chỉnh lại một đoạn mã nào đó làm thay đổi “định mệnh” của mình và của cả một Dân tộc.

    CHƯƠNG 3
    TÂM VŨ TRỤ VÀ NĂNG LƯỢNG
    Trong chương 1 và chương 2 đã khẳng định Tâm Vũ trụ chưa 3 thành tố: Vận động, thời gian và Thông tin. Trong chương này chúng tôi sẽ mô tả khái niệm Năng lượng và khẳng định năng lượng là một thành tố thứ 4 có ở Tâm Vũ trụ. Việc chứng minh Tâm Vũ Trụ chứa toàn bộ năng lượng của vũ trụ và truyền năng lượng đó đến từng đối tượng một cách tức thời sẽ cho ta một vũ trụ quan mới mẻ.
    Trước khi đưa ra các định lý, hệ quả và kết luận liên quan ta hãy xây dựng khái niệm cơ bản - Năng lượng.
    1. NĂNG LƯỢNG
    Năng lượng lượng là một khái niệm mà hầu như ai cũng biết nhưng để hiểu thấu đáo về nó, đặc biệt khi ta nói đến năng lượng của các đối tượng phi vật lý, phi vật thể thì không phải bao giờ ta cũng đi đến chỗ nhất trí. Trong bài viết này chúng tôi dùng năng lượng với nghĩa tổng quát sau đây:
    Định nghĩa 4
    Giả sử A là một đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ. Mọi yếu tố gây ra sự vận động của A đều được gọi là năng lượng có trong A.
    Trong chương 1 chúng tôi đã đưa ra khái niệm vận động. Ở đây cần nhắc lại và bổ sung như sau: Vận động là khái niệm chỉ sự đổi chỗ trong không gian; sự thay đổi trong các phản ứng hoá học; sự hưng thịnh hoặc suy thoái của một quốc gia, một thể chế; sự sinh trưởng hoặc diệt vong của các sinh vật; sự thay đổi tư duy của một con người; sự chuyển động của các thông tin v.v...
    Năng lượng là yếu tố gây ra sự vận động của một đối tượng bất kỳ. Không có sự vận động nào mà không cần đến năng lượng.
    2. TÂM VŨ TRỤ VÀ NĂNG LƯỢNG
    Đến đây, ta đưa ra một định lý khẳng định năng lượng là một thành tố thứ ba có ở Tâm Vũ trụ.
    Định lý 15
    Tâm Vũ trụ chứa năng lượng.
    CM: Giả sử A là một đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ. Theo tiên đề 1 trong chương 1 suy ra A vận động. Theo mô tả khái niệm năng lượng suy ra A chứa năng lượng. Hay nói cách khác, A có năng lượng là một thuộc tính của A. Theo định nghĩa Tâm Vũ trụ trong chương 1 suy ra Tâm Vũ trụ chứa năng lượng. Suy ra đ.p.c.m.
    Như vậy, ta đã chứng minh mọi đối tượng trong Vũ trụ đều có năng lượng. Năng lượng là nguyên nhân sinh ra vận động nhưng năng lượng được biết đến thông qua vận động. Vì bản thân năng lượng cũng là một đối tượng trong Vũ trụ nên nó, tuân theo tiên đề 1 trong chương 1 cũng không ngừng vận động.
    Thông tin là một dạng của vận động nên để truyền thông tin giữa các đối tượng cũng cần phải có năng lượng. Ngược lại, năng lượng mà hai đối tượng truyền cho nhau chính là mối quan hệ của hai đối tượng đó nên năng lượng cũng chính là thông tin.
    Tóm lại, ba thành tố: vận động, thông tin và năng lượng tạo nên Tâm Vũ Trụ, nếu suy cho đến kiệt cùng thì chỉ là một mà thôi. Tuy nhiên, vẫn cần nhắc lại là sự hiểu biết của chúng ta mới chỉ ở một lân cận U(TVT) nào đó của Tâm Vũ trụ nên việc nhìn Tâm Vũ trụ từ nhiều phía sẽ cho ta hình ảnh rõ hơn về nó.
    Đến đây ta bàn đến việc truyền năng lượng giữa các đối tượng trong Vũ trụ. Ta sẽ chứng minh một định lý nói về cơ chế chung nhất của việc truyền năng lượng giữa chúng
    Định lý 16
    Năng lượng được truyền giữa hai đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ đều phải thông qua Tâm Vũ trụ.
    CM: Giả sử A và B là hai đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ. E là năng lượng được truyền giữa A và B. Khi đó rõ ràng E là mối liên hệ giữa A và B. Theo định nghĩa thông tin trong chương 2 suy ra E là thông tin giữa A và B. Theo định lý 11 trong chương 2, E phải thông qua Tâm Vũ trụ. Suy ra đ.p.c.m.
    Giống như chương 2, định lý này cho ta một định lý rất quan trọng
    Định lý 17
    Tâm Vũ trụ chứa toàn bộ năng lượng của các đối tượng trong Vũ trụ
    CM: Giả sử tồn tại một đối tượng A mà năng lượng E của nó có một phần năng lượng E(A) không chứa trong Tâm Vũ trụ. Khi đó nếu A truyền năng lượng e thuộc E(A) cho bất cứ đối tượng nào thì e cũng không thông qua Tâm Vũ trụ. Điều này mâu thuẫn với định lý 16. Suy ra đ.p.c.m.
    Như vậy chúng ta đã chứng minh được một điều vô cùng quan trọng là: cùng với việc nắm giữ toàn bộ thông tin, Tâm Vũ trụ còn chứa toàn bộ năng lượng của mọi đối tượng trong Vũ trụ.
    Tiếp theo ta sẽ chứng minh một định lý liên quan tới vận tốc của việc truyền năng lượng từ Tâm vũ trụ đến các đối tượng.
    Định lý 18:
    Năng lượng được truyền từ Tâm Vũ trụ đến mọi đối tượng trong Vũ trụ là tức thời .
    CM: Ta chứng minh bằng phản chứng. Giả sử A là một đối tượng bất kỳ nào đó mà nhận năng lượng từ Tâm Vũ trụ đến nó là không tức thời. Khi đó tồn tại thời điểm to nào đó sao cho A không có năng lượng. Hay nói cách khác tại thời điểm to đó A không vận động. Điều này trái với tiên đề 1 trong chương 1. Suy ra đ.p.c.m.
    Như vậy ta đã chứng minh bốn định lý nói tới năng lượng cho ta xem xét lại bức tranh toàn cảnh của Vũ trụ.
    2. KẾT LUẬN CỦA CHƯƠNG 3
    + Vì Vũ trụ là vô cùng vô tận nên nguồn năng lượng ở Tâm Vũ trụ là vô cùng vô tận. Nguồn năng lượng vĩ đại này cung cấp năng lượng cho từng đối tượng trong Vũ trụ một cách tức thời khiến cho ta có cảm giác năng lượng đó đã có sẵn, tiềm ẩn trong đối tượng đó.
    + Bất cứ đối tượng nào muốn truyền năng lượng cho đối tượng khác đều phải truyền thông qua Tâm Vũ trụ. Điều này là mới mẻ đối với quan niệm xưa của chúng ta.
    + Nếu chúng ta sống càng gần Tâm Vũ trụ, tức là sống phù hợp với các quy luật phổ quát nhất thì trí tuệ càng minh mẫn vì Tâm Vũ trụ là miền giao của các chân lý vĩ đại. Sống càng gần Tâm Vũ trụ thì sức khoẻ càng được nâng cao vì Tâm Vũ trụ chứa toàn bộ năng lượng của Vũ trụ.
    + Quốc gia nào có một xã hội và tổ chức nhà nước càng gần Tâm Vũ trụ tức là phù hợp với các quy luật phổ quát nhất của Vũ trụ thì quốc gia đó càng hùng mạnh.
    + Bất cứ hành vi nào của con người, dù có giữ bí mật đến đâu vẫn để lại dấu vết ở Tâm Vũ trụ vì Tâm Vũ trụ chứa toàn bộ thông tin của Vũ trụ.









    CHƯƠNG 4
    VŨ TRỤ Ý THỨC
    Chúng ta lại tiến thêm một bước về phía Tâm Vũ Trụ để khám phá những thành tố mới mà trong một chừng mực nào đó có thể nói là sâu sắc hơn các thành tố vận động, thời gian, thông tin và năng lượng được mô tả trong ba chương đầu của học thuyết Tâm Vũ Trụ. Đó là ý thức.
    Trong chương này chúng ta sẽ xây dựng khái niệm ý thức và Vũ Trụ Ý Thức. Việc mô tả loài người trên Trái Đất như những đối tượng khác trong Vũ Trụ đã và đang được nhúng trong Vũ Trụ Ý Thức Vyt, luôn được nuôi dưỡng bởi vô hạn song ý thức (SYT) của Vyt là một sự chứng minh chặt chẽ rằng : ngoài thức ăn, nước, khí trời…(những thứ hữu hình) ra loài người còn cần đến SYT để tồn tại. Một vài ứng dụng của SYT cũng được trình bầy một cách ngắn gọn.
    Vật Chất sẽ được đưa vào chút ít trong chương này để tạo sự cân đối của lý thuyết.
    1. Ý THỨC
    Trước hết, ta đưa vào hai khái niệm cơ bản: đối tượng hữu hình và đối tượng vô hình
    Định nghĩa 5:
    Đối tượng hữu hình là đối tượng có kích thước hình học
    Cái bàn, cái cốc, thân thể con người, con sông, dãy núi, trái đất, hạt nhân nguyên tử, hạt quắc, các phô tông ánh sáng, thân xác các siêu vi khuẩn. v.v… là các ví dụ về các đối tượng hữu hình
    Định nghĩa 6:
    Đối tượng vô hình là đối tượng không có kích thước hình học
    Tư duy, ý nghĩ, khái niệm, truyền thống, tình yêu, hạnh phúc, lòng căm thù, tính cao thượng, linh hồn, điểm hình học, văn hoá phi vật thể...v.v…là các ví dụ về các đối tượng vô hình.
    Do đó ta có định lý 19
    Định lý 19:
    Tâm Vũ Trụ vừa là đối tượng hữu hình vùa là đối tượng vô hình
    CM: Vì các đối tượng hữu hình hay đối tượng vô hình đều là đối tượng trong Vũ Trụ nên theo định lý 6 chúng đều chứa Tâm Vũ Trụ. Điều này suy ra Tâm Vũ Trụ vừa là đối tượng vô hình vừa là đối tượng hữu hình (đ.p.c.m).
    Đừng nghĩ rằng đối tượng vô hình không có năng lượng. Thật vậy vì đối tượng vô hình cũng chứa Tâm Vũ Trụ mà năng lượng là thành tố của Tâm Vũ Trụ nên đối tượng vô hình vẫn có năng lượng
    Đến đây chúng ta phát biểu một định nghĩa nói lên quan điểm rứt khoát của chúng ta về ý thức.
    Định nghĩa 7:
    Giả sử A là một đối tượng đầy đủ bất kỳ trong vũ trụ. Ý thức của A là lớp tất cả các thành tố vô hình tạo nên A.
    Như vậy ý thức của A bao gồm lớp những phần vô hình trong A và lớp tất cả các mối liên hệ vô hình của A với mọi đối tượng trong Vũ Trụ
    Ở đây ta thấy khái niệm ý thức của chúng ta tường minh, tổng quát và sâu sắc hơn tất cả những quan niệm về ý thức của loài người trước đây.
    Tiếp theo đây ta sẽ chứng minh một định lý cực kỳ quan trọng
    Định lý 20:
    Tâm Vũ trụ chứa ý thức
    .CM: Theo định lý 19 Tâm Vũ Trụ vừa là đối tượng hữu hình vừa là đối tượng vô hình nên theo định nghĩa 7 suy ra Tâm Vũ Trụ chứa ý thức (đ.p.c.m.)
    Định lý 21:
    Mọi đối tượng trong Vũ trụ đều có ý thức
    CM: Giả sử A là một đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ., theo định lý 6, A chứa Tâm Vũ Trụ . Vì Tâm Vũ Trụ chứa ý thức nên A có ý thúc Suy ra điều phải chứng minh (đ.p.c.m).
    Mọi đối tượng đều có ý thức kể cả những vật mà loài người cho là vô tri nhất. Do khái niệm về đối tượng vô hình và định nghĩa ý thức suy ra hòn đá có hồn của hòn đá, nó cũng có các cảm xúc như yêu thương, giận hờn v.v… và ta có thể giao tiêp với nó. Định lý 20 còn cho ta giải thích tại sao loài người, đặc biệt là trong văn chương lại có loại văn nhân cách hoá; tại sao loài người lại thờ nhiều thần như thế : thần biển, thần núi, thần gió, thần mặt trời v.v…; tại sao lại có các khái niệm “ hồn nước”, “hồn thiêng song núi”,v.v…
    Mọi đối tượng đều có ý thức nhưng đối tượng nào “gần” Tâm Vũ Trụ hơn sẽ có ý thức mạnh hơn. Ví dụ loài người và loài chó đều có ý thức nhưng loài người gần Tâm Vũ Trụ hơn nên có ý thức mạnh hơn nên có thể thuần dưỡng và điều khiển được loài chó.
    Để ý một chút, chúng ta thấy ý thức chính là một trường hợp đặc biệt của thông tin do đó việc truyền ý thức từ Tâm Vũ Trụ đến mọi đối tượng trong Vũ Trụ là tức thời trong mọi hệ quy chiếu tuy nhiên cơ chế truyền ý thức trong Vũ Trụ có nhiều điểm đặc biệt mà ta sẽ nói kỹ sau.
    Vì ý thức cũng là một đối tượng trong Vũ trụ nên nó tuân theo tiên đề 1 trong chương 1: Nó luôn luôn vận động
    Để cho hoàn chỉnh và theo mạch tư duy giống như khi bàn đến thông tin, ta sẽ chứng minh một loạt các định lý sau.
    Định lý 22:
    Ý thức truyền cho nhau giữa hai đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ bao giờ cũng phải thông qua Tâm Vũ Trụ
    CM: Giả sử A và B là hai đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ, f là một mối liên hệ vô hình bất kỳ giữa A và B. Theo định nghĩa ý thức suy ra f là ý thức. Nhưng đến lượt mình f lại là một đối tượng trong Vũ Trụ. Theo định lý 6 chương 1, f phải chứa Tâm Vũ Trụ. Hay nói cách khác f phải thông qua Tâm Vũ Trụ. Suy ra đ.p.c.m.
    Định lý 23:
    Tâm Vũ Trụ chứa toàn bộ ý thức của mọi đối tượng trong Vũ Trụ
    CM: Ta chứng minh bằng phản chứng. Giả sử tồn tại một đối tượng A có một phần ý thức F(A) không có trong Tâm Vũ Trụ. Khi đó tồn tại một ý thức f chứa trong F(A) không thông qua Tâm Vũ Trụ. Điều này trái với định lý 22 vừa phát biểu. Suy ra đ.p.c.m.
    Định lý 24
    Tâm Vũ Trụ truyền ý thức đến mọi đối tượng trong Vũ trụ là tức thời trong mọi hệ quy chiếu
    CM: Ta chứng minh bằng phản chứng. Giả sử tồn tại một đối tượng A trong Vũ Trụ nhận được ý thức từ Tâm Vũ Trụ đến mình không tức thời. Suy ra tồn tại một thời điểm t0 A không có ý thức. Điều này trái với định lý 21 suy ra điều phải chứng minh(đ.p.c.m.)
    Tiếp theo, ta sẽ chứng minh một định lý để nói lên sự khác nhau cơ bản của Vũ Trụ được định nghĩa theo định nghĩa 1 với Vũ Trụ A.Eintein. Điều này chỉ làm cho độc giả phân biệt rõ ràng rằng: Vũ Trụ theo định nghĩa 1 là Vũ Trụ bao gồm cả Vật Chất lẫn Ý Thức. Còn Vũ trụ Eintein chỉ nghiên cứu những đối tượng Vật Chất.
    Định lý 25 :
    Vận tốc của ánh sáng
    c  300000 km/s (c gần bằng 300000 km/s)
    không phải là giới hạn vận tốc của các ý thức trong Vũ trụ
    CM: Giả sử A và B là hai đối tượng cách nhau 1 tỷ năm ánh sáng, f là một ý thức từ A đến B. Theo định lý 22 “đoạn đường” mà f chuyển động được chia thành 2 phần d1: từ A đến Tâm Vũ Trụ và d2: từ Tâm Vũ Trụ đến B. Theo định lý 23 suy ra f chuyển động trên d1 là tức thời (1). Theo định lý 24 f chuyển động trên d2 cũng tức thời (2). Từ (1) và (2) suy ra f chuyển động từ A đến B là tức thời. A và B cách nhau 1 tỷ năn ánh sang nên f có vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng c hàng tỷ lần. Suy ra đ.p.c.m.
    Chúng ta đã chứng minh chặt chẽ một loạt các định lý vô cùng quan trọng. Những chứng minh đó rất đơn giản đến mức mà có nhà Triết học lừng danh cho là rất sơ sài… nhưng nó chứa đựng một Vũ Trụ Quan khác hẳn với loài người từ trước tới nay. Tâm Vũ Trụ chứa toàn bộ ý thức của Vũ Trụ và ban phát những ý tưởng, những cảm xúc, những tình yêu, những chân lý.v.v.. xuống các đối tượng một cách tức thời làm cho chúng ta tưởng rằng những thứ đó có sẵn trong các đối tượng. Bộ não của chúng ta thực chất chỉ là cái sơ mướp không hơn không kém nếu Tâm Vũ Trụ không truyền ý thức đến chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta không phải bù nhìn, con dối vì theo định lý 6 suy ra chúng ta chứa Tâm Vũ Trụ. Nếu chúng ta tiến về Tâm Vũ Trụ thì đến một lúc nào đó ta là Tâm Vũ Trụ và Tâm Vũ Trụ chính là ta. Sự hòa hợp Thượng Đế này diễn ra ngay từ khi ta đạt đến lân cận số 3 của Tâm Vũ Trụ. Khi đó ta dần dần hiểu được cả Vũ Trụ vô cùng vô tận hiện tồn này như hiểu lòng bàn tay của mình vậy.
    Khi truyền tình yêu hoặc lòng căm thù đến một người nào đó thì tình yêu đó, lòng căm thù đó phải tập kết ở Tâm Vũ Trụ rồi mới được truyền đến người đó…không có gì có thể giấu được Tâm Vũ Trụ…
    Ở Tâm Vũ Trụ không có cái gì là tương đối, là ngẫu nhiên, là may dủi. Tất cả là tuyệt đối là chính xác hoàn toàn là chắc chắn vĩnh cửu.
    Mọi sự độc ác, mọi sự đê tiện, mọi sự hèn hạ…khi tiến đến gần Tâm Vũ Trụ đều biến đổi và trở thành lòng tốt tuyệt đối, cao thượng tuyệt đối, dũng cảm tuyệt đối….
    Dễ dàng chứng minh chặt chẽ rằng Tâm Vũ Trụ là nỗi cô đơn tuyệt đối, là niềm hạnh phúc tuyệt đối, là tình yêu tuyệt đối.
    Tiến đến một lân cận nào đó của TVT ta có thể yêu một cơn bão “tàn bạo vô tri” như yêu một người đàn bà đẹp, hiền thục… Thương kẻ đã thọc dao sau lưng ta như thương một người khuyết tật…Và ta điều khiển mọi đối tượng trong vũ trụ bằng một tình yêu khủng khiếp mang dấu ấn của Tâm Vũ Trụ.

    2.VẬT CHẤT
    Vật chất đã được các nhà vật lý nghiên cứu rất kỹ nên ta chỉ nói lướt qua, việc đưa nó vào lúc này chỉ để tạo sự cân đối cho lý thuyết.
    Định nghĩa 8:
    Giả sử A là một đối tượng đầy đủ bất kỳ trong Vũ trụ. Lớp tất cả các thành tố hữu hình tạo nên A được gọi là vật chất của A
    Đến đây ta chứng minh định lý 26
    Định lý 26:
    Tâm Vũ Trụ chứa vật chất
    CM: Theo định lý 19, Tâm Vũ Trụ vừa là đối tượng hữu hình vừa là đối tượng vô hình nên theo định nghĩa 8 suy ra Tâm Vũ Trụ chứa vật chất (đ.p.c.m.)
    Định lý 27:
    Mọi đối tượng trong Vũ Trụ đều có vật chất
    CM: Giả sử A là một đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ., theo định lý 6, A chứa Tâm Vũ Trụ . Vì Tâm Vũ Trụ chứa vật chất A có vật chất Suy ra điều phải chứng minh (đ.p.c.m).
    Như vậy một đối tượng A bất kỳ trong Vũ Trụ đều gồm 2 phần: phần vật chất và phần ý thức .Đôi khi, hai phần này còn được gọi là phần xác và phần hồn của A.
    Chú ý:
    1) Đối với một đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ bao giờ cũng có cả phần xác và phần hồn trong nó. Không có đối tượng nào là vô tri. Núi có hồn của núi, sông có hồn của sông, các cơn bão cũng có ý thức.v.v..Ngược lại không có đối tượng nào chỉ có thuần túy ý thức. Linh hồn của một người đang sống hoặc đã chết vẫn có các mối liên hệ vật chất với các đối tượng hữu hình. Tư duy của một con người có thể biến thành một sức mạnh vật chất.
    2) Mọi đối tượng đều có ý thức nhưng mạnh, yếu khác nhau. Đối tượng nào càng gần Tâm Vũ Trụ thì ý thức càng mạnh. Trong hai đối tượng, đối tượng nào có ý thức mạnh hơn sẽ điều khiển được đối tượng kia. Ví dụ, loài người và loài chó đều có ý thức nhưng loài người gần Tâm Vũ Trụ hơn nên có ý thức mạnh hơn . Do đó loài người có thể thuần dưỡng và điều khiển được loài chó
    3) Có một cách phân biệt vật chất và ý thức tương đối thô thiển nhưng được các đệ tử của Einstein dễ chấp nhận đó là dựa vào vận tốc vận động: Đối tượng nào chuyển động với vận tốc nhỏ hơn hoặc bằng vận tốc ánh sáng là đối tượng vật chất và những đối tượng nào chuyển động nhanh hơn vận tốc ánh sáng là đối tượng ý thức. Tuy thô thiển nhưng cách phân biệt này rất lợi hại trong công nghệ điều khiển SYT bắn phá vào huyệt đạo của một đối tượng, một hệ thống
    4)Vật chất và ý thức trong một đối tượng là thống nhất không thể tách rời do đó câu hỏi cơ bản của triết học: “ Vật chất và ý thức cái nào có trước? Cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào?” là một câu hỏi vô nghĩa.

    3.VŨ TRỤ Ý THƯC
    A. VŨ TRỤ VẬT CHÂT VÀ VŨ TRỤ Ý THỨC
    Trước hết, để cho cân đối ta định nghĩa Vũ Trụ Vật Chất và Vũ trụ Ý Thức và phát biểu 2 định lý khẳng định sự tồn tại của chúng
    Định nghĩa 9:
    Vũ trụ Ý Thức là lớp tất cả các ý thức của mọi đối tượng trong Vũ Trụ và ký hiệu là Vyt
    Định nghĩa 10:
    Vũ trụ Vật Chất là lớp tất cả các vật chất của mọi đối tượng trong Vũ Trụ và ký hiệu là Vvc
    Hiển nhiên Vyt và Vvc là hai Vũ trụ con của Vũ Trụ. Vũ trụ Einstein là một tập con của Vvc.
    Vì một đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ đều có hai thành tố vật chất và ý thức nên sự tồn tại của Vyt và Vvc là hiển nhiên. Do đó ta có hai định lý
    Định lý 28:
    Vũ trụ Vật Chất Vvc là tồn tại.
    Định lý 29:
    Vũ trụ Ý Thức Vyt là tồn tại
    Đến đây ta chứng minh một định lý tuyệt vời cho thấy mối lien hệ chặt chẽ giữa vũ trụ Ý thức và vũ trụ V. Định lý này tạm gọi là:”Định lý Cầu được, ước thấy”
    Định lý 30: Định lý MUỐN LÀ ĐƯỢC
    Giả sử Vyt là vũ trụ Ý thức, V là vũ trụ. Khi đó mọi tập con khác trống A của Vyt bao giờ cũng tồn tại một ánh xạ 1-1 f và một tập con B khác trống của V sao cho B là ảnh của A qua ánh xạ f
    CM: Giả sử a1 là một phần tử của tập A và b1 là một phần tử của V (Theo tiên đề chọn ta luôn chọn được b1). Vì a1 và b1 đều là các đối tượng nên theo định lý 1 chương 1 tác phẩm Tâm Vũ Trụ của Thọ về mối lien hệ phổ biến suy ra tồn tại ít nhất một mối liên hệ giữa a1 vả b1. Ta chọn một mối liên hệ f1 giữa a1 và b1. Tương tự với phần tử a2 (khác a1) ta chọn b2 thuộc V khác b1. và vẫn theo định lý 1 ta lại chọn được mối liên hệ f2 giữa a2 và b2…v.v . Sau khi chọn hết các phần tử của A ta có tập các mối liên hệ f gồm các mối liên hệ fi và tập con B của V gồm các bi vừa kể trên. Rõ rang f là ánh xạ 1-1 từ A vào B. suy ra điều phải chứng minh
    Ánh xạ f vừa mô tả trong chứng minh có thể từ vũ trụ Ý Thức Vyt đến vũ trụ Vật Chất Vvc hoặc đến chính vũ trụ Ý Thức Vyt
    Định lý này có thể suy ra:" Mọi sự tưởng tượng của chúng ta dù điên rồ đến đâu bao giờ cũng tồn tại một thực tế có thực trong vũ trụ đúng như ta tưởng tượng"......Các bạn cứ ước mơ đi dù điên rồ tới đâu cũng được.....sẽ có một vùng nào đấy của vũ trụ mà ở đó ước mơ của bạn là hiện thực....Người Pháp có câu ngạn ngữ tuyệt hay:" Muốn là được" nhưng chưa chứng minh chặt chẽ . Việt Nam cũng có câu tuyệt hay:”Cầu được ước thấy” .Các bạn có thể khuyên con mình phải tiết kiệm tiền nhưng khi ước mơ đừng bao giờ tiết kiệm....

    B. VŨ TRỤ Ý THỨC
    Bây giờ ta sẽ bàn sâu về Vũ trụ Ý Thức Vyt, một phần của Vũ Trụ mà loài người còn biết rất mù mờ về nó.
    Trước hết ta sẽ đưa ra định nghĩa về nền văn minh Trái Đất sau đó sẽ chứng minh trong Vũ Trụ có vô hạn các nền văn minh tương tự như nền văn minh Trái Đất
    Định nghĩa 10:
    Lớp tất cả ý thức của loài người trên Trái Đất được gọi là nền Văn Minh Trái Đất và ký hiệu Nyt
    Để khẳng định Vũ Trụ Ý Thức Vyt theo quan niệm của chúng ta khác hẳn với loài người ta sẽ phát biểu và chứng minh định lý sau đây
    Định lý 31:
    Tồn tại vô hạn các nền Văn Minh tương tự như nền văn minh Trái Đất Nyt trong Vũ Trụ
    Có hàng loạt cách chứng minh định lý 31 này. Ở đây ta sẽ đưa ra một cách chứng minh dễ hiểu nhất
    CM cách 1 :Ta sẽ chứng minh bằng phản chứng. Giả sử trong Vũ Trụ chỉ tồn tại hữu hạn các nền Văn Minh tương tự như Nyt. Gọi f là phương “các nền Văn Minh tương tự như Nyt” suy ra Vũ Trụ bị hữu hạn theo phương f. Điều này trái với định lý 2 về tính vô cùng vô tận của Vũ Trụ . Suy ra đ.p.c.m.
    CM cách 2: Do định lý 31 là một tập con khác trống A của vũ trụ Ý thức Vyt nên theo định lý Cầu được, ước thấy 30 tồn tại một tập con khác trống B trong vũ trụ V cùng với một ánh xạ 1-1 f từ A vào B sao cho B là ảnh của A qua f. Điều này có nghĩa rằng có vô hạn các nền văn minh tương tự như Trái Đất Nyt trong Vũ Trụ. Suy ra đ.p.c.m.
    Như vậy có vô hạn các nền Văn Minh ngoài trái đất. Nếu lấy Nyt làm gốc ta sẽ thấy có những nền Văn Minh yếu hơn Nyt (lạc hậu hơn Nyt), có những nền Văn Minh mạnh hơn Nyt (tiến bộ hơn Nyt). Lẽ dĩ nhiên nền Văn Minh mạnh nhất Vũ Trụ chính là Tâm Vũ Trụ. Nền Văn Minh A gần Tâm Vũ Trụ hơn nền Văn Minh B thì A sẽ mạnh hơn B và “chỉ huy “ được B
    Vũ trụ Ý Thức Vyt được “dệt” nên bởi vô hạn các đường truyền ý thức của vô hạn các đối tượng trong Vũ Trụ. Như định lý 3 về mối liên hệ phổ biến và định nghĩa ý thức, suy ra về nguyên tắc chúng ta luôn luôn phải “thu” tất cả các đường truyền ý thức của mọi đối tượng trong Vũ Trụ và “phát” đi bằng ấy các đường truyền phản xạ.
    Do đó suy ra chúng ta, những con người trên Trái đất, hàng ngày hàng giờ,hàng phút, hàng giây, hàng nano giây... đang được “nhúng” trong một “mạng lưới” các đường truyền ý thức của Vyt.
    Vì các đường truyền ý thức của Vyt không nhìn thấy được kể cả khi dùng các thiết bị hiện đại nhất của loài người nên chúng ta không biết nó tồn tại .
    Sau này ta sẽ thấy, những đường truyền này có dạng sóng với vô hạn tần số. Ta sẽ gọi các đường truyền đó là Sóng Ý Thức (SYT). Chúng ta có thể nhịn thở được 3 phút nhưng không thể thiếu SYT trong 3 nano giây....
    SYT có vô hạn tốc độ. Chúng có thể truyền tức thời vào đầu ta từ một đối tượng cách chúng ta hàng tỷ năm ánh sáng và cũng có thể truyền vào đầu ta chậm như rùa bò một một bài toán cực khó đối với ta trong quyển sách bài tập toán trên bàn làm việc.
    Không một bức tường vật chất nào cản được SYT nên mọi đặc trưng chuyển động của nó chỉ có thể đo bằng chính ý thức.
    Mọi đường truyền của SYT của mọi đối tượng trong Vũ Trụ đều phải “tập kết” ở Tâm Vũ Trụ trước khi đến “địa chỉ” cần truyền.
    Ngay bây giờ ta sẽ chứng minh 4 định lý có tính ứng dụng cao. Bốn định lý này là kết quả của những buổi thiền của tác giả sau ngày 15/4/2012. Do đó nó sẽ được đánh số đặc biệt:
    Định lý IV.1:
    Tại Tâm Vũ Trụ chỉ có một ngôn ngữ duy nhất. Hiểu được ngôn ngữ này ta có thể trò chuyện với mọi đối tượng trong Vũ Trụ.
    CM: Mọi ngôn ngữ của mọi đối tượng suy cho đến cùng cũng chỉ là các đối tượng. Theo định lý 6 (chương 1) chúng đều chứa Tâm Vũ Trụ do đó giao của mọi ngôn ngữ của mọi đối tượng phải chứa Tâm Vũ Trụ. Vì Tâm Vũ Trụ là tồn tại và duy nhất nên tại Tâm Vũ Trụ chỉ có một ngôn ngữ duy nhất đ.p.c.m.
    Định lý IV.2:
    Tại Tâm Vũ Trụ có vô hạn màu sắc. Các màu sắc đó luôn luôn biến đổi.
    CM: Vì Vũ trụ có vô hạn các đối tượng (xem định lý 48 ở chương 5) với vô hạn màu khác nhau. Tâm Vũ Trụ là miền giao của mọi đối tượng nên rõ ràng nó có vô hạn màu. Các màu sắc này luôn luôn biến đổi ở Tâm Vũ Trụ vì nó tuân theo tiên đề 1: Mọi đối tượng trong Vũ Trụ đều luôn luôn vận động đ.p.c.m.
    Định lý IV.3:
    Tại Tâm Vũ Trụ có vô hạn mùi. Các mùi luôn biến đổi.
    Chứng minh tương tự định lý IV.2.
    Định lý IV.4:
    Tại Tâm Vũ Trụ có vô hạn vị. Các vị đó luôn biến đổi.
    Chứng minh tương tự định lý IV.2.
    Các định lý IV.1; IV.2; IV.3 và IV.4 có tính ứng dụng rất cao. Ví dụ với định lý IV.1, khi hiểu được ngôn ngữ của TVT ta có thể “đàm đạo” với một tế bào ung thư và “thuyết phục” để nó không hung dữ; ta có thể “đàm đạo” và “thuyết phục” một bầy virus HIV đang tiêu diệt một người bệnh; ta có thể “thuyết phục” sinh vật N1 (sinh vật chứa toàn bộ Vũ trụ Einstein như một nội tạng trong người nó) không uống thuốc kháng sinh để tiêu diệt những con virus Người…
    Khi đã biết được ngôn ngữ của Tâm Vũ Trụ (TVT) ta có thể dạy các thai nhi 1 ngày tuổi từ lớp 1 đến đại học....
    Khi đã biết được ngôn ngữ của Tâm Vũ Trụ (TVT) chúng ta có thể nghe được cuộc chuyện trò của Trái Đất với Mặt Trời và biết được lúc nào và ở đâu có động đất hoặc sóng thần....
    Khi đã biết được ngôn ngữ của Tâm Vũ Trụ (TVT) chúng ta có thể tâm tình với một cơn bão ở Biển Đông và thuyết phục nó đổi hướng....
    ............................
    Sự hiểu biết đó khủng khiếp vô cùng!
    Chúng ta sẽ thuyết phục mọi đối tượng trong Vũ Trụ bằng ngôn ngữ của Thượng đế (TVT) thay vì tiêu diệt nhau. Bởi vì sự tồn tại của các virus nào đó chính là ý muốn của TVT!.
    Một sự hòa bình đích thực trong toàn Vũ Trụ được ca vang lên trong toàn Vũ Trụ bằng một bản nhạc và ca từ của Thượng đế (TVT).

    Phải chăng các mớ kiến thức học được của chúng ta là vứt đi hết (trừ toán học) bởi đó là kiến thức của các con virus!
    Chúng ta cần phải cho con em người Kinh rất vững vàng về toán và những tư duy của sinh vật N1 ở mức 1, sinh vật N1 ở mức 2,… sinh vật N1 ở mức n với n tiến tới .
    Mức 1 là mức mà sinh vật N1 chứa toàn bộ vũ trụ V1 Einstein, mức 2 là mức mà N1 sống cùng với đồng loại trong một vũ trụ V2 nào đó, và cái vũ trụ V2 này lại là một nội tạng của N1 ở mức 2… Cứ như thế, một sự lồng nhau vô hạn…
    Chúng ta không được lạm dụng thuốc kháng sinh! Chúng ta hãy ngồi thiền và thuyết phục những virus gây bệnh trong bản thân chúng ta bởi trong những con virus đó có những con virus cực kỳ thông minh…
    ……
    *
    * *
    Như đã biết, vận tốc của SYT có thể nhanh hơn vận tốc của ánh sáng rất nhiều lần nên SYT có thể trở về quá khứ, tiến tới tương lai, dừng lại hiện tại của Vũ Trụ Einstein…
    Sau này các đứa trẻ Việt Nam, từ những bào thai 1 tháng đến những thanh niên 24 tuổi sẽ cùng học trong 1 giảng đường được trang bị thiết bị thu và lọc SYT để cùng cảm nhận những bài giảng của các Giáo Sư ở các nền Văn Minh mạnh nhất trong Vũ Trụ. Những bài giảng này “ngấm” vào đến gien di truyền của chúng và chỉ sau một thế hệ, trẻ em Việt Nam sẽ thông minh gấp 1000 lần dân tộc Do Thái...

    CHƯƠNG 5
    TÂM VŨ TRỤ VÀ BẢN SỐ
    (Vì không hiển thị được các kí hiệu Toán Học nên tác giả căt bớt )
    Như đã biết, từ chương 1 đến chương 4 chúng ta đã khám phá thấy 6 thành tố có trong Tâm Vũ Trụ đó là: Vận động, Thời gian, Thông tin, Năng lượng, Vật chất và Ý thức.
    Trong chương này ta sẽ thấy Tâm Vũ Trụ có thêm một thành tố nữa, thành tố thứ 7 đó là Bản Số (bản chất có số lượng của mọi đối tượng).
    Chúng ta, tại lúc này, phải đặc biệt chú ý rằng :
    1) Không có đối tượng nào trong Vũ trụ V của chúng ta trống rỗng hoàn toàn vì nó luôn chứa Tâm Vũ Trụ
    2) Nếu x không là tập hợp thì nó vẫn là đối tượng x
    3) Vì đối tượng x bất kỳ luôn thuộc Vũ trụ V nên theo định nghĩa 1 trong chương 0 chúng lại là tập hợp.
    Tất cả sự kỳ diệu này sẽ được giải thích bằng lý thuyết tập hợp mờ của Zadeh (Phụ lục B) nhưng ngay ở đây ta có thể giải thích sơ bộ thế này :
    Vì chúng ta chưa phải là Thượng Đế (Tâm Vũ Trụ), chưa hiểu được Chân Lý Tuyệt Đối (Tâm Vũ Trụ) v.v… nên đến ngay cả số 0 như nhiệt độ 0 tuyệt đối, gia tốc tuyệt đối bằng 0… hay tập hợp trống 0 như việc chúng ta loại bỏ tất cả các phần tử tư duy trong đầu ta….trên thực tế chúng ta chưa bao giờ đạt được mặc dù chúng ta sẽ đạt được ! Chúng ta chỉ có thể nói rằng 2 - 2 = 0 hoặc tập A\A= 0.v.v… với độ tin cậy =0.9999 (nếu coi 1 là đúng hoàn toàn và 0 là sai hoàn toàn)… ! Khi chúng ta hiểu được TVT thì phải chăng Tâm Vũ Trụ (TVT) là tập hợp trống 0 ????.... Điều đó lý giải vì sao đối tượng vừa là tập hợp vừa không phải tập hợp !
    Chúng ta tiếp tục mạch tư duy nhé
    Trong chương 6 ta sẽ xét đến việc tách 7 thành tố trên thành hai phần âm và phần dương đo đó về thực chất ta có 14 thành tố tạo nên Tâm Vũ Trụ.
    Như vậy, 14 cánh sao của mặt trống đồng Ngọc Lũ đã được khám phá đó là 14 thành tố tạo nên Tâm Vũ Trụ của người Việt, của các Vua Hùng…
    Việc phát hiện ra rằng mọi đối tượng trong vũ trụ đều có thể lượng hóa đã khiến chúng ta, về nguyên tắc có thể cân, đong, đo, đếm, cộng, trừ, nhân, chia, lấy tích phân và đạo hàm… mọi thứ trong vũ trụ. Hơn thế nữa, chúng ta có thể lập trình trên máy tính để mô phỏng và dự đoán các kết quả khủng khiếp….
    1. TÂM VŨ TRỤ VÀ BẢN SỐ
    Tự số của một đối tượng A là bản chất có số lượng của A.
    Bản số của một đối tượng A là tự số lớn nhất của A
    Trong phần này ta sẽ chứng minh rằng mọi đối tượng trong vũ trụ đều có bản số.
    Bản số đã được trình bầy chặt chẽ trong chương 0. Ở đây sẽ nhắc lại các tiên đề, định nghĩa và định lý quan trọng nhất liên quan đến khái niệm bản số để cho ta liền mạch tư duy. Cuối cùng ta sẽ phát biểu và chứng minh định lý khẳng định Tâm Vũ Trụ chứa Bản Số. Nếu cần nghiên cứu kỹ mong các bạn quay lại chương 0.
    Gọi V là Vũ Trụ, TVT là Tâm Vũ Trụ

    Định lý 47:
    Tâm Vũ Trụ chứa bản số
    CM: Giả sử V là Vũ Trụ và TVT là Tâm Vũ Trụ, theo định lý trên , P là một hàm, (miền xác định của P)=V và (miền giá trị của P) = C . Điều này có nghĩa là mọi đối tượng của vũ trụ V đều có bản số. Vì TVT= V nên TVT chứa bản số. Suy ra đ.p.c.m
    Như vậy ta đã chứng minh được một định lý vô cùng quan trọng khẳng định Tâm Vũ Trụ chứa thêm thành tố thứ 7 đó là Bản số
    Từ định lý 47 nay ta có một niềm tin vững chắc rằng chúng ta sẽ lượng hóa được tất cả các đối tượng trong vũ trụ kể cả các đối tượng hữu hình lẫn các đối tượng vô hình và dù đối tượng đó là một ý niệm trong đầu hoặc một sóng ý thức từ vũ trụ bao la bắn vào đầu ta…
    Cũng chính nhờ định lý 47 nên chúng ta hoàn toàn yên tâm khi kế thừa các thành quả tuyệt vời và vô cùng mạnh mẽ của Toán Học để khám phá vũ trụ .
    Bằng kinh nghiệm, và suy ngẫm trong hơn 20 năm Thiền Toán, tác giả có thể khẳng định:
    “Toán Học là công cụ duy nhất mà Thượng Đế (Tâm Vũ Trụ) ban cho loài người để loài người tiến tới Chân Lý Tuyệt Đối (Tâm Vũ Trụ) mà không bị lạc lối !”
    Cũng chính vì mọi đối tượng đều có bản số nên nếu coi các học thuyết về triết học, về văn học, về văn hóa… thậm chí các quyển kinh thánh của mọi tôn giáo trên trái đất bé bỏng và vô cùng yêu thương này chỉ là các đối tượng thì chúng đều có thể lượng hóa được.
    Tất cả các học thuyết đó, các tôn giáo đó đều sẽ được mô tả bởi các phương trình, các tiên đề , định lý… của toán học và kinh khủng nhất là có thể lập trình trên máy tính để mô phỏng và phán xét sự đúng sai của chúng được!!!
    Vì Bản Số cũng là một đối tượng trong Vũ Trụ nên, cho đến lúc này, nó chứa cả 7 thành tố có ở Tâm Vũ Trụ. Tức là Bản Số cũng vận động, Bản Số có thời gian, Bản Số có thông tin, Bản Số có năng lượng, Bản Số chứa vật chất, Bản Số chứa ý thức và Bản Số có thể lượng hóa chính Bản Số (lượng hóa của lượng hóa). Thật kỳ diệu!
    Vì Vũ Trụ là một đối tượng đặc biệt nên nó cũng có Bản Số . Bây giờ ta sẽ phát biểu và chứng minh một định lý nói về số lượng các đối tượng trong vũ trụ
    Định lý 48:
    Vũ trụ có vô hạn các đối tượng.
    CM: Ta sẽ chứng minh bằng phản chứng.
    Giả sử Vũ Trụ có hữu hạn các đối tượng, khi đó tồn tại một số x thuộc tập số thực R sao cho số lượng của các đối tượng trong vũ trụ đều nhỏ hơn x.
    Bây giờ ta chọn số y= x+1. Rõ ràng y>x và y là một đối tượng của vũ trụ vì y=y (theo định nghĩa vũ trụ)
    Điều vô lý này suy ra vũ trụ có vô hạn các đối tượng. (đ.p.c.m)
    Tiếp theo ta sẽ phát biểu và chứng minh một định lý để thấy mọi đối tượng đầy đủ trong vũ trụ đều mang “hình hài” của vũ trụ
    Định lý 49:
    Giả sử A là một đối tượng đầy đủ bất kỳ trong vũ trụ. Khi đó số các đối tượng con tạo nên A là vô hạn.
    CM:Vì A là một đối tượng bất kỳ trong vũ trụ nên đối với một đối tượng B nào đó trong vũ trụ thì theo định lý 1 về mối liên hệ phổ biến, giữa A và B tồn tại ít nhất một mối liên hệ. Theo định lý 48 Vũ trụ có vô hạn các đối tượng B như thế nên A có vô hạn các mối liên hệ giữa A và các đối tượng trong vũ trụ. Mặt khác, các mối liên hệ đó suy cho cùng cũng chỉ là các đối tượng. Vì A là đối tượng đầy đủ nên những đối tượng con đó là các đối tượng tạo nên A. Suy ra A có vô hạn các đối tượng con tạo nên A.(đ.p.c.m)
    2. KẾT LUẬN CỦA CHƯƠNG 5
    + Trong chương 5 chúng ta đã định nghĩa tự số, bản số và chứng minh được một định lý vô cùng quan trọng rằng Tâm Vũ Trụ chứa thêm một thành tố nữa, thành tố thứ 7 đó là Bản Số (tự số lớn nhất của một đối tượng bất kỳ). Chính vì điều này, chúng ta có thể lượng hóa được mọi đối tượng trong Vũ trụ kể cả các đối tượng vô hình như các sóng ý thức (SYT), các tư duy v.v…thành các con số và vững tâm sử dụng mọi thành quả vĩ đại của Toán học mà không sợ là khiên cưỡng.
    Ví dụ chúng ta có thể thác triển một sóng ý thức bằng một chuỗi Furie hoặc mô tả một quyển kinh thánh bằng một hệ phương trình vi phân đạo hàm riêng hoặc mô phỏng quá trình tư duy để phát minh ra thuyết tương đối của Einstein trên máy tính chẳng hạn…
    + Trong một chừng mực nào đó, chúng ta đã giải thích rõ sự giống nhau và khác nhau giữa hai khái niệm đối tượng và tập hợp thông qua lý thuyết tập hợp mờ (phụ lục B) mà lý do cốt lõi là chúng ta chưa hiểu được chân lý tuyệt đối (tức Tâm Vũ Trụ). Từ các lý luận đó chúng ta yên tâm sử dụng các phép toán của lý thuyết tập hợp vào đối tượng mà không sợ là “ râu ông nọ cắm cằm bà kia”
    + Mỗi con người đều mang hình hài của vũ trụ. Con người chính là một tiểu vũ trụ
    + Vì các mối liên hệ được đề cập trong phép chưng minh định lý 49 đều là thông tin nên suy ra : Mỗi con người đều có thông tin về mọi đối tượng trong vũ trụ.
    Do các quy luật phổ quát nhất của vũ trụ suy cho cùng cũng chỉ là các đối tượng nên bất kỳ con người nào, về nguyên tắc đều có thể khám phá được các quy luật đó. Điều này củng cố niềm tin cho chúng ta rằng: đến một lúc nào đó, chúng ta, những con người sẽ khám phá ra Chân lý Tuyệt đối- Tâm Vũ Trụ
    Các điều bí mật, dù điều bí mật đó được bảo mật nghiêm ngặt nhất, thậm chí được giấu ở trong một cái đầu của ai đó thì vì nó là đối tượng của vũ trụ nên thông tin về nó, mỗi con người trên trái đất này đều có và do vậy điều bí mật đó, về nguyên tắc sớm hay muộn cũng sẽ bị lộ ! Chúng ta đã được đọc câu truyện cổ tích tuyệt vời “Ông vua có đôi tai lừa” . Đó chính là một minh chứng cho kết luận này.
    Chúng ta không nên sống đạo đức giả ! Hãy sống thật lòng mình như những đứa trẻ ! Nếu bạn chỉ cần xuất hiện trên ti vi, thuyết trình một vấn đề không đúng lòng mình thì sẽ có một người nào đó trên trái đất này có khả năng đọc được ý nghĩ của bạn.
    +Tuy nhiên, một số câu hỏi chát chúa được đặt ra là:
    - Tại sao ai cũng có thông tin về quy luật Vạn Vật Hấp Dẫn mà chỉ có một mình Nưu-tơn là phát hiện ra?
    - Nếu lập luận như trên thì ai đánh sổ số cũng trúng à?
    ….
    Thực ra vì trong đầu chúng ta luôn luôn nhận được vô hạn các thông tin từ vô hạn các đối tượng trong vũ trụ nên để có các phát minh vạch thời đại hay đánh sổ số trúng thưởng… thì con người đó phải có một bộ lọc nhiễu để hướng sự quan tâm của mình vào các thông tin có ích…
    Ngoài ra khi đọc chương 6 , ta sẽ hiểu khái niệm “Thông tin âm” và “Ý thức âm” , khi đó ta biết rằng có những thông tin, những ý thức có ích bị bắn ra khỏi đầu ta bay vào vũ trụ. Chính vì thế các Bí mật của Thượng Đế hoặc các thông tin và ý thức khác chỉ tồn tại trong đầu ta trong vòng vài nano giây…

    CHƯƠNG 6
    SỰ PHÂN LOẠI ÂM, DƯƠNG CỦA BẨY THÀNH TỐ
    CÓ TRONG TÂM VŨ TRỤ

    Trong chương này ta sẽ phân loại âm, dương của 7 thành tố tạo nên Tâm Vũ Trụ và tạo thành 14 thành tố. Sự phân loại này là cần thiết vì nó phù hợp với các quy luật phổ quát nhất của Vũ Trụ. Nó là những mặt đối lập trong một thể thống nhất (Tâm Vũ Trụ) nói theo cách của Hêghen trong phép biện chứng. Nó phù hợp với Thuyết Âm Dương, Kinh Dịch và Phật Giáo…
    Mười bốn thành tố đó là:
    1 )Vận động âm ký hiệu là -VĐ
    2 )Vận động dương ký hiệu là +VĐ
    3 )Thời gian âm ký hiệu là -TG
    4 )Thời gian dương ký hiệu là +TG
    5 )Thông tin âm ký hiệu là -TT
    6 )Thông tin dương ký hiệu là +TT
    7 )Năng lượng âm ký hiệu là -NL
    8 )Năng lượng dương ký hiệu là +NL
    9 )Vật chất âm ký hiệu là -VC
    10)Vật chất dương ký hiệu là +VC
    11)Ý thức âm ký hiệu là -YT
    12)Ý thức dương ký hiệu là +YT
    13)Bản số âm ký hiệu là -BS
    14)Bản số dương ký hiệu là +BS
    Bây giờ ta sẽ định nghĩa 14 khái niệm mới này
    Định nghĩa 34:
    Giả sử A là một đối tượng bất kỳ trong Vũ trụ.
    Vận động của A hướng về Tâm Vũ Trụ do bị TVT hút được gọi là Vận động dương và ký hiệu là +VĐ .
    Vận động của A hướng ra xa Tâm Vũ Trụ do bị TVT đẩy được gọi là Vận động âm và ký hiệu là -VĐ
    Đối với mỗi con người, nếu cái tâm (tư duy trong cái đầu của người đó) mà luôn hướng đến sự trong sáng, chân thành, hướng đến cái chân, thiện, mỹ thì có nghĩa sự vận động của cái tâm của người đó là +VĐ, vận động hướng tới TVT. Vì TVT chứa toàn bộ thông tin, ý thức … của cả vũ trụ nên cái tâm đó ngày càng sáng vì hiểu được các chân lý vỹ đại. Ngược lại nếu tâm của người đó vận động ra xa TVT tức là –VĐ thì con người đó càng ngày càng ngu si và chính vì thế nên số phận sẽ chẳng ra gì.
    Vì tâm của mỗi con người luôn có cả +VĐ và –VĐ nên việc rèn luyện đạo đức chính là việc triệt tiêu dần cái –VĐ và tăng cường cái +VĐ trong sự vận động tâm trí của mình.
    Định nghĩa 35:
    Giả sử A là một đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ.
    Thời gian trôi từ Tâm Vũ Trụ đến A được gọi là thời gian âm và ký hiệu là -TG.
    Ngược lại thời gian trôi từ A đến Tâm Vũ Trụ được gọi là thời gian dương và ký hiệu là +TG
    Như vậy +TG là thời gian của hiện tại và tương lai. –TG là thời gian của quá khứ.
    Trong mỗi con người hay một đối tượng bất kỳ trong vũ trụ luôn tồn tại cả cái quá khứ cả cái hiện tại và cả cái tương lai nên có cả +TG và –TG.
    Định nghĩa 36:
    Giả sử A là đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ.
    Thông tin có hướng đi từ Tâm Vũ Trụ đến A được gọi là thông tin dương và ký hiệu là +TT .
    Ngược lại thông tin có hướng đi từ A đến Tâm Vũ Trụ được gọi là thông tin âm và ký hiệu là –TT.
    Đối với mỗi con người, với tư cách là một đối tượng, theo định lý 1 nó có các mối liên hệ với mọi đối tượng trong Vũ Trụ . Theo định nghĩa khái niệm thông tin thì các mối lien hệ đó chính là các thông tin. Do đó về nguyên tắc, mọi con người đều có thể tìm ra các chân lý vĩ đại (với tư cách là các đối tượng) như A.Einstein …Nhưng vì thông tin bao gồm thông tin âm –TT và thông tin dương +TT (do mọi thông tin đều phải thông qua TVT) nên những thông tin của mọi đối tượng trong Vũ Trụ (trong đó có các chân lý vĩ đại) chỉ tồn tại trong đầu ta trong vòng 1 phần tỷ nano giây nếu chúng ta không “Bẫy” được +TT của chân lý đó và “Thải” các –TT của các đối tượng mà chúng ta không quan tâm thì không thể tìm ra chúng….Trong chương 8 ta sẽ bàn về bộ lọc sóng ý thức.
    Định nghĩa 37:
    Giả sử A là đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ.
    Năng lượng gây ra vận động dương của A được gọi là năng lượng dương và ký hiệu là +NL
    Năng lượng gây ra vận động âm của A được gọi là năng lượng âm và ký hiệu là –NL
    Năng lượng dương +NL làm cho con người tiến tới Tâm Vũ Trụ.
    Năng lượng âm -NL là năng lượng làm cho con người rời xa Tâm Vũ Trụ.
    Một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để tăng năng lượng dương +NL? Điều này chỉ có thể thực hiện được ở trong những buổi Thiền Toán. Chúng ta cố gắng để những chân lý đạt được trong buổi thiền đó là những chân lý hướng đến cái chân, những chân lý hướng đến cái thiện và những chân lý hướng tới một sự thẩm mỹ hoàn hảo…
    Nếu trong một buổi thiền mà không đạt được như thế thì đến ngày hôm sau rất khoát phải tiêu diệt cái chân lý mà ngày hôm trước không đạt được.
    Định nghĩa 38:
    Giả sử A là đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ.
    Vật chất của A vận động hướng về Tâm Vũ Trụ gọi là vật chất dương và ký hiệu là +VC .
    Vật chất của A vận động do Tâm Vũ Trụ đẩy ra xa gọi là Vật Chất âm và ký hiệu là -VC
    Thân xác của một con người có thể đang rời xa Tâm Vũ Trụ (-VC) nhưng trí tuệ của con người đó lại đang hướng Tâm Vũ Trụ (+YT). Khi đó dù ốm yếu, bệnh tật nhưng tinh thần lại rất mạnh mẽ. Điều này làm cho bệnh tật, ốm đau có thể suy giảm…
    Định nghĩa 39:
    Giả sử A là đối tượng bất kỳ trong Vũ Trụ.
    Thông tin dương vô hình của A được gọi là Ý Thức dương và ký hiệu là +YT
    Thông tin âm vô hình của A được gọi là Ý Thức âm và ký hiệu là -YT
    Ý thức âm -YT là ý thức bắn ra khỏi đầu ta
    Ý thức dương +YT là ý thức mà chúng ta nhận được từ Tâm Vũ Trụ.
    Cả hai đều cực kỳ cần thiết bởi những ý thức không cần thiết cần phải loại bỏ khỏi đầu ta (-YT). Còn những ý thức cần thiết (được định hưởng bởi lý tưởng của từng con người) cần phải giữ lại (+YT)…
    Định nghĩa 40:
    Giả sử A là một đối tượng bất kỳ trong vũ trụ.
    Nếu bản số của A thuộc tập số thực âm R- thì ta nói A có bản số âm và ký hiệu – BS
    Nếu bản số của A thuộc tập số thực không âm R+ thì ta nói A có bản số dương và ký hiệu + BS
    Có thể xem bản số âm -BS và bản số dương +BS là phần âm và phần dương của một trục số. Điều này rất tiện lợi khi ánh xạ các thành tố âm dương trong Tâm Vũ Trụ vào trục số này.
    Định lý 50:
    Mười bốn thành tố : +VĐ, -VĐ, +TG, -TG, +TT, -TT, +NL, -NL, +VC, -VC, +YT, -YT, +BS và –BS đều có ở Tâm Vũ Trụ.
    CM : Vì +VĐ hay –VĐ đều là vận động mà vận động có ở Tâm Vũ Trụ nên +VĐ hay –VĐ đều chứa trong Tâm Vũ Trụ.
    Chứng minh 12 thành tố còn lại tương tự nên định lý 36 đã được chứng minh.
    Ngôi sao ở trung tâm trên mặt trống đồng Ngọc Lũ của người Việt cổ có 14 cánh . Bây giờ ta đặt tên 14 cánh sao đó bằng 14 thành tố có trong Tâm Vũ Trụ như hình vẽ:
    Mười bốn cánh sao của ngôi sao nằm ở trung tâm
    mặt trống đồng Ngọc Lũ được gắn tên như sau:

    Phải chăng các Vua Hùng, Tổ tiên của người Việt đã có một Minh Triết cách đây gần 5000 năm.
    Chúng ta tự hào vì chúng ta có một vị Vua Hùng cực kỳ thông thái.
    Như vậy, mọi đối tượng trong Vũ trụ đều vận động trong một "không gian" 14 chiều. Một sóng ý thức là một đối tượng nên có thể mô tả sự dao động của nó bằng một hàm điều hoà phụ thuộc vào ít nhất 14 tham số. Nếu khai triển thì có thể mô tả sóng ý thức bằng một hệ 14 phương trình vi phân đạo hàm riêng.
    Tuy nhiên, do trình độ có hạn, tác giả chưa thể tìm hết các thành tố có ở trong Tâm Vũ Trụ. Cho nên ngoài 14 thành tố trên có thể còn các thành tố khác.
    KẾT LUẬN CỦA CHƯƠNG 6
    + Như vậy 14 cánh sao của ngôi sao trung tâm trên mặt trống đồng Ngọc Lũ của Việt Nam chính là 14 thành tố có trong Tâm Vũ Trụ như đã kể trên. Phải chăng từ thời các Vua Hùng, Việt Nam đã có một minh triết?
    + Gọi +F là một trong 7 thành tố dương: Vận động dương, Thời gian dương, Thông tin dương, Năng lượng dương, Vật chất dương , Ý thức dương và Bản số dương và -F là một trong 7 thành tố âm tương ứng : Vận Động âm, Thời gian âm, Thông Tin âm, Năng Lượng âm, Vật Chất âm, Ý Thức âm và Bản số âm .
    Mọi đối tượng đều chứa cả +F lẫn - F. +F và -F như các cực đối lập có trong cùng một đối tượng tuy nhiên chúng vẫn thống nhất vì giao của chúng chứa Tâm Vũ Trụ .
    Giá trị tuyệt đối của +F và -F luôn luôn không bằng nhau nên đối tượng luôn luôn vận động.
    Giả sử A là một đối tượng bất kỳ có +F và -F. Nếu |+F| > | - F| thì ta nói A hướng Tâm Vũ Trụ.
    Lượng U(TVT)= | +F|-| -F| được gọi là lân cận tương đối của A .
    U(TVT) phản ánh độ hội tụ đến Tâm Vũ Trụ của A
    Nếu U(TVT) < 0 thì ta nói A đang rời xa Tâm Vũ Trụ
    Nếu U(TVT) > 0 thì ta nói A đang tiến tới Tâm Vũ Trụ
    + Việc lượng hóa số phận của chúng ta hoặc lượng hóa số phận của một dân tộc sẽ được bàn đến khi tác giả viết phần 2 của thuyết Tâm Vũ Trụ, phần nhân sinh quan.
    + Ngoài 14 thành tố trên, tại Tâm Vũ Trụ có thể có những thành tố khác mà tác giả vẫn chưa tìm ra được. Rất mong độc giả phát hiện thêm.


    CHƯƠNG 7
    LÝ THUYẾT HUYỆT ĐẠO

    Trong chương này tác giả sẽ trình bầy sơ lược lý thuyết huyệt đạo.
    Trước hết ta sẽ trình bầy các khái niệm cơ bản
    Tác động là một khái niệm cơ bản chỉ sự tương tác, va đập, một cú huých,v.v…Một thiên thạch va đập vào một hành tinh nào đó, một toán tử tác động vào một biến, một chất xúc tác gây ra sự thay đổi trong phản ứng hóa học, một lượng phân vi sinh tác động vào quá trình sinh trưởng của lúa, một sự gợi ý của thầy làm ta giải được bài toán v.v… là những ví dụ về tác động.
    Hệ thống là tập hợp các đối tượng có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động chi phối lẫn nhau theo các quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể. Từ đó xuất hiện thuộc tính mới gọi là tính trội của hệ thống mà từng đối tượng riêng lẻ không có hoặc có không đáng kể.
    Định nghĩa 41:
    Giả sử H là một hệ thống bất kỳ. v là một đối tượng thuộc H. Ta gọi v là huyệt đạo của H nếu với một tác động nhỏ t, tác động vào lân cận U(v) cực nhỏ của v thì sẽ biến H thành H' sao cho các phần bù
    H/H’ hoặc H’/H
    là một lượng cực lớn.
    Không nên hiểu huyệt đạo chỉ có tính tiêu diệt mà nó còn có tính phát triển.
    Một tác động cực nhỏ vào một huyệt đạo nào đó có thể biến một nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế hùng cường.
    Nếu tác dụng một lực có tần số trùng với tần số riêng của một cây câu thì cây cầu đó sẽ bị dao động cộng hưởng và sụp đổ
    Các mũi kim của GS Nguyễn Tài Thu châm cứu vào một loạt huyệt đạo sẽ làm một người bị liệt có thể đi lại được
    Lô-ba-xep-ky chỉ cần thay đổi nội dung của 1 tiên đề trong số các tiên đề của hình học Ơ-cơ-lit, (tiên đề đường thẳng song song) đã tạo ra một hình học "điên rồ" mới, hình học Lô-ba-xep-ky
    Một sóng ý thức, có tần số thích hợp, phóng vào tâm của một cơn bão thong qua Tâm Vũ Trụ có thể làm đổi hướng cơn bão đó
    Còn biết bao ví dụ mà không kể hết
    Như vậy, để cho một hệ thống phát triển hoặc bị tiêu diệt thì việc đầu tiên là phải tìm ra các huyệt đạo của hệ thống đó
    Để tìm ra tập hợp các huyệt đạo của một hệ thống bất kỳ thì việc đầu tiên là phải phân tích hệ thống. Những hệ thống đơn giản có thể tìm được ngay những huyệt đạo của nó nhưng với những hệ thống vô cùng phức tạp thì đòi hỏi phải có một chủ thuyết (công cụ ) để phân tích. Ví dụ như phép biện chứng, học thuyết Mác-Lênin, phương pháp tiệm cận, phương pháp phần tử hữu hạn, phương pháp số v.v…Đối với tác giả, tác giả thường dùng học thuyết Tâm Vũ Trụ của chính mình để tìm ra chúng

    Định nghĩa 42:
    Lý thuyết dùng học thuyết Tâm Vũ Trụ để tìm ra những huyệt đạo của một hệ thông bất kỳ gọi là “lý thuyết huyệt đạo Đỗ Xuân Thọ”.
    Bây giờ ta phát biểu và chứng minh một số định lý
    Định lý 51:
    Tâm Vũ Trụ là huyệt đạo của mọi hệ thống trong Vũ Trụ
    CM: Giả sử H là một hệ thống bất kỳ trong Vũ Trụ, h là một huyệt đạo bất kỳ của H tức là tồn tại một tác động nhỏ t sao cho khi t tác động vào một lân cận nhỏ U(h) của h sẽ làm H biến thành H’ và phần bù : H’/H hoặc H/H’ là một lượng cực lớn. Nhưng vì h là một đối tượng nên theo định lý 5 trong thuyết Tâm Vũ Trụ suy ra h chứa Tâm Vũ Trụ TVT.Vì H cung là đối tượng nên TVT thuộc H, do đó lân cận U(h) cũng chính là lân cận U(TVT) của Tâm Vũ Trụ, tác động t cũng chính là tác động cần tim. Theo định nghĩa Huyệt đạo suy ra TVT là huyệt đạo của H, suy ra đ.p.c.m
    Qua chưng minh trên suy ra đối với một hệ thống H bất kỳ, Tâm Vũ Trụ (TVT) là huyệt đạo quan trọng nhất
    Vì mọi huyệt đạo của hệ thống đều chứa TVT nên để tìm huyệt đạo bất kỳ của một hệ thống H bất kỳ, ta chỉ cần biết TVT nằm ở những hệ thống con nào của H.
    Tiếp theo, dễ dàng chứng minh một định lý tuyệt vời nhất
    Định lý 52:
    Tâm Vũ Trụ TVT là huyệt đạo của Vũ Trụ V
    CM: Vì vũ trụ V cũng là một hệ thống nên theo định lý 51 suy ra TVT là huyệt đạo của V suy ra đ.p.c.m.
    Như vậy ta đã chứng minh được một định lý vô cùng quan trọng.
    Nếu ta gọi tập hợp đếm được Ui(TVT) các lân cận của Tâm Vũ Trụ (đánh số từ trong ra ngoài) thì các một sóng ý thức (SYT) của một con người tác động vào U8(TVT) trở vào cũng đủ làm rung chuyển Vũ Trụ V
    Tiếp theo,dễ dàng chứng minh một loạt các định lý sau đây
    Định lý 53:
    Tâm Trái Đất là huyệt đạo của Trái Đất
    Định lý 54:
    Tâm Mặt Trời là huyệt đạo của Mặt Trời
    Định lý 55:
    Niềm tin vào Tâm vũ trụ là huyệt đạo của mỗi con người.
    Bây giờ ta xét tới một định nghĩa
    Định nghĩa 43:
    Giả sử S là một hệ thống bất kỳ trong Vũ Trụ. Ta gọi tập hợp tất cả các huyệt đạo của S là hệ thống huyệt đạo của S và ký hiệu là HĐ(S)
    Dễ dàng chứng minh được định lý
    Định lý 56:
    Giả sử QGyt là hệ thống bao gồm mọi ý thức của một quốc gia nào đó. Khi đó HĐ(QGyt) là các trí thức hàng đầu của quốc gia đó.
    Ta gọi HĐ(QGyt) là các tâm ý thức của quốc gia đó.
    Vì thế khi truyền bá một học thuyết nào đó chỉ cần truyền bá vào đầu của các tâm ý thức của quốc gia đó là đủ
    KẾT LUẬN CHƯƠNG 7
    Thực ra lý thuyết Huyệt đạo sẽ phải nói sâu sắc hơn nhưng vì an ninh của quốc gia cho nên không thể nói dài hơn được nữa.
    1. Những đứa trẻ của Việt Nam, đặc biệt là những đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ hoặc chưa đi học lớp một sẽ được cảm thụ hệ giáo dục của một nền văn minh Omega nào đó mạnh hơn một tỷ lần Trái Đất thông qua bộ lọc sóng ý thức sẽ là chủ nhân của một quốc gia mạnh nhất hành tinh này!!! Vì sao như thế? Vì tác giả sẽ nắm được tần số riêng sóng ý thức của toàn bộ dân tộc Kinh và điều khiển được sự tác động của nền văn minh Omega vào quần tụ ý thức của những đứa trẻ đó thông qua Tâm Vũ Trụ.
    2. Dải tần số riêng SYT của một dân tộc là hệ thống huyệt đạo của dân tộc đó!!! Tác động để dân tộc đó phát triển hay diệt vong đều phải tác động vào hệ thống huyệt đạo đó.





    CHƯƠNG 8
    PHÉP THIỀN-TOÁN VIỆT NAM

    Đạo Phật dạy các phật tử của mình cách ngồi Thiền rất hình thức, rất khó hiểu và khó thực hiện. Hoặc là các hòa thượng đó giấu kín các bí kíp để họ tu riêng cho mình hoặc họ chả hiểu gì về Thiền. Sau nhiều năm nghiền ngẫm tác giả đã tự mình xây dựng chặt chẽ phương pháp Thiền của riêng mình. Tác giả đã luyện tập theo phương pháp đó và ứng dụng nó vào đời sống rất hiệu quả. Tác giả tạm gọi là phép THIỀN-TOÁN VIỆT NAM viết tắt là TTVN.
    1.THIỀN LÀ GÌ ?
    Thiền là trạng thái tĩnh lặng, cân bằng và vô cùng hạnh phúc của tư duy khi đạt đến lân cận Ut(TVT) rất gần Tâm Vũ Trụ (tức Chân Lý Tối Thượng, Chúa Trời, Thượng Đế, Tạo Hóa, Trời, Tự Nhiên, Cõi Niết Bàn….).Trạng thái tĩnh lặng này là kết quả của một dao động tuần hoàn, cân bằng và có tần số cực, cực lớn của tư duy (Để dễ hiểu, ta hãy quan sát một con quay cân bằng và có tốc độ quay cực, cực lớn. Khi nó đạt tới tốc độ tối đa, ta thấy con quay như bất động, đứng im…) Khi đạt đến trạng thái Thiền, con người ta có nhưng khả năng phi thường về trí tuệ và thể chất. Lân cận Ut(TVT) càng nhỏ tức là càng gần Tâm Vũ Trụ thì khả năng kỳ diệu đó càng khủng khiếp như có thể chữa các bệnh nan y, có các phát minh vạch thời đại, có thể lái được một cơn bão, gây ra động đất thậm trí làm nổ tung Trái Đất...bằng chính sóng ý thức của mình….
    2. TẠI SAO ĐẠT ĐẾN MỨC THIỀN, CON NGƯỜI LẠI CÓ KHẢ NĂNG PHI THƯỜNG NHƯ THẾ ?
    Ta đã biết, Tâm Vũ Trụ chính là Thượng Đế, Chúa Trời, Chân Lý Tối Thượng …. và do đó Tâm Vũ Trụ có thể làm được mọi chuyện kể cả những việc siêu phàm, kinh khủng…. ngoài sự tưởng tượng của loài người. Tâm Vũ Trụ làm được như thế vì nó chứa toàn bộ Năng Lượng, Thông Tin, Ý Thức… của toàn bộ Vũ Trụ. Tuy nhiên Tâm Vũ Trụ chẳng qua là một chiếc máy tính chủ vĩ đại điều khiển toàn bộ Vũ Trụ….Khi đạt đến mức Thiền, thực chất là chúng ta đã đạt tới trình độ của các hacker, những người am hiểu sâu sắc Tâm Vũ Trụ, có khả năng truy nhập vào chiếc Máy Chủ Tâm Vũ Trụ Vĩ Đại đó để nắm một phần quyền điều hành trong vài tíc tắc…Trong vài tíc tắc đó hacker này có thể làm được những việc phi thường nhất như Thượng Đế có thể làm !
    Khi đạt đến mức Thiền, chúng ta có thể cảm thông đến chẩy nước mắt trước một nhành cây bị gẫy...lúc đó là lúc tâm trí ta tan hòa với Vũ Trụ.... bởi Tâm Vũ Trụ có trong mọi đối tượng... nhưng cũng chỉ trong một nano giây sau, tư duy của chúng ta lại tụ lại, nhọn hoắt như một mũi chủy có khả năng xuyên thủng mọi bức tường dù được xây bằng thép của Thượng Đế,... bởi Tâm Vũ Trụ là miền giao của mọi đối tượng....Cứ như thế, tư duy của chúng ta khi đạt đến mức Thiền là một dao động tuần hoàn có tần số cực, cực lớn...Lúc thì tụ lại nhọn hoắt ở lân cận Tâm Vũ Trụ, lúc thì hòa nhập đến tận cùng với từng đối tượng, dù đối tượng đó tầm thường nhất của Vũ Trụ...tức là lúc thì tụ lại tĩnh lặng ở Nội Hàm lúc thì tung hoành khắp nơi ở Ngoại Diên... Khi đạt đến mức Thiền, một người ngu xi nhất cũng trở thành một nhà bác học...Một kẻ giết người trước đây cũng trở thành Bồ Tát trong trạng thái Thiền...Trạng thái Thiền còn tác động đến gien di truyền của một con người và do đó Thiền làm thay đổi về chất của nòi giống....
    Tuy nhiên trạng thái Thiền kéo dài lâu hay chóng là tùy thuộc vào phương pháp tu luyện và bản năng gốc của người tu, nhưng bất kỳ ai có dòng máu Việt cũng có thể rèn luyện để đạt tới THIỀN theo phương pháp của tác giả được trình bầy dưới đây.
    Sở dĩ chỉ hạn chế ở con Lạc cháu Hồng vì Sóng ý thức (SYT) của Việt Nam chỉ bảo vệ được những người có tần số riêng của SYT phù hợp với người Kinh và 83 dân tộc trên đất nước Việt Nam.
    Bởi thế, tác giả không dám đảm bảo rằng những người không phải con Lạc cháu Hồng luyện theo TTVN là không bị điên hoặc đứt mạch máu não.
    3.LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐẠT TỚI MỨC THIỀN ? PHÉP THIỀN-TOÁN VIỆT NAM
    Thực chất của phép Thiền-Toán VN là tự mình đặt câu hỏi (bài toán) một cách hết sức tự do cho chính mình rồi bằng phép suy luận của Toán Học tự trả lời, lý giải hoặc chứng minh câu hỏi (bài toán) đó… rồi lại tiếp tục đặt câu hỏi cho chính câu trả lời vừa nhận được… rồi cố gắng trả lời…Cứ như thế cho đến kiệt cùng, đến lúc không thể hỏi hoặc trả lời được nữa…Khi đó đầu của chúng ta tĩnh lặng bởi chữ KHÔNG, lòng tràn ngập hạnh phúc của người khám phá, của nhà phát minh…chúng ta như những đứa trẻ vừa tự vẽ được một tác phẩm tuyệt vời cho chính mình….Đó là lúc chúng ta đã đạt tới một lân cận Un(TVT) nào đó của Tâm Vũ Trụ….Dù còn rất xa Tâm Vũ Trụ ….Hai điều tiên quyết ở đây là:
    1) Trả lời và đặt câu hỏi cần phải dựa chắc chắn vào logic Toán, một công cụ mà từ khi ra đời cho đến nay dã 21 nghìn năm mà chưa bao giờ bị đổ vỡ . (Nên nhớ rất khoát không dung logic biện chứng vì đây là liều thuốc giảm đau gây nghiện. Nó làm tê liệt dũng khí tiến tới CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI ) Điều này khiến chúng ta không bị lạc lối vì trong quá trình tự hỏi và trả lời đó có rất nhiều phương án, rất nhiều lối rẽ
    2) Chỉ tập Thiền khi lòng yêu nước Việt Nam (tức lòng yêu bố, mẹ, ông, bà, tổ tiên, lòng yêu những anh hùng liệt sỹ xả thân cho đất Việt, lòng yêu các Vua Hùng, lòng yêu núi sông của Tổ quốc….) làm chúng ta xúc động…Điều này sẽ giữ tư duy của chúng ta vững chắc khi kết thúc thời gian Thiền trở về thực tế mà không bị điên
    Ngày hôm sau, vào buổi Thiền chúng ta lại bắt đầu từ lân cận Un(TVT) của ngày hôm trước. Chúng ta sẽ dùng mọi khả năng có thể để tiêu diệt chân lý cuối cùng mà ngày hôm trước đạt được. Những gì còn lại mới là chân lý ở lân cận Un(TVT)…Cứ làm lại như thế để đạt tới lân cận Un-1(TVT) của Tâm Vũ Trụ… Sau một khoảng thời gian, cái dãy lân cận Un(TVT), Un-1(TVT), Un-2(TVT)…. đó sẽ hội tụ tới Tâm Vũ Trụ….
    Trong các buổi Thiền, trước hay sau chúng ta cũng sẽ động chạm tới Triết Học, Vũ Trụ Quan bởi thế để rút ngắn thời gian, chúng ta cố gắng đọc quyển Tâm Vũ Trụ của tác giả. Tác phẩm này là kết quả của hàng chục năm Thiền của tác giả và nó là những nguyên lý cho phép Thiền-Toán… Các bạn không được tin ai, tin bất cứ điều gì cho dù người ta bảo là lời của Chúa nếu chưa chứng minh được một cách chặt chẽ bằng Toán Học, công cụ duy nhất mà Thượng Đế ban tặng cho loài người để họ tìm thấy con đường đến với CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI mà không lạc lôi… Khẩu quyết của chúng ta trong giai đoạn đầu là:
    "Hướng Tâm Vũ Trụ tìm Chân Lý
    Mẹ Việt Nam luôn ở trong Tim
    Bằng logic Toán quyết tìm
    Trong Sóng Ý Thức niềm tin Vĩnh hằng"

    VÍ DỤ
    Đầu tiên các bạn đặt một câu hỏi rất bình thường:
    - Tại sao ta phải ăn?
    - Vì đói
    - Tại sao con người thấy đói?
    - Vì con người cần năng lượng
    - Năng lượng là gì?
    Cứ như thế đến một lúc nào đó các bạn không trả lời được nữa…khi đó bạn sẽ thấy đầu óc tĩnh lặng và lòng tràn ngập hạnh phúc… Đây cũng là phương pháp rèn luyện sự tập trung tư tưởng. Khi đạt tới lân cận rất gần Tâm Vũ Trụ, mỗi phút Thiền lúc đó bằng một ngày miệt mài học tập…bằng hàng trăm thang thuốc bổ…bằng cả một tháng tập thể dục… Chúng ta không cần chọn một địa điểm lý tưởng như một sơn động yên tĩnh, gần thác nước v.v…và cũng không cần ngồi theo tư thế thiền của đạo Phật. Các bạn có thể tập Thiền ở giữa chợ, các bạn có thể vừa đi vừa Thiền v.v…Cái đầu tự vấn đáp là quan trọng nhất
    Chúng ta phải cực kỳ TỰ TIN và TỰ DO…Chúng ta không được xem mình kém hơn A.Einstein, Hồ Chí Minh …. nhưng cũng không được xem mình giỏi hơn một bà quét rác!!!
    Chúng ta phải dũng cảm xét lại ngay cả các truyền thống đạo đức mà loài người coi là khuôn vàng thước ngọc xưa nay.
    Dám đánh đổ các thần tượng, phá tan các hệ trục tọa độ trong không gian Ý thức của loài người để vươn tới CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI (Tâm Vũ Trụ ) là mục đích của các buổi tập Thiền Toán Việt Nam
    *
    * *
    Ngoài thức ăn, nước uống, khí trời ra, mọi sinh vật sống được còn nhờ sóng ý thức (SYT) phát ra từ mọi đối tượng trong Vũ Trụ thông qua Tâm Vũ Trụ (chương 4). Chúng ta có thể nhịn thở được 3 phút nhưng không thể thiếu SYT trong 3 nano giây.
    Khi đạt trạng thái Thiền, đầu ta trống không. Đó chính là điều kiện để những SYT từ các nền Văn Minh ngoài Trái Đất mạnh tương đương hoặc mạnh hơn so với chân lý cuối cùng mà ta đạt được trong buổi Thiền tràn vào lấp đầy đầu ta….Đây là nguyên nhân gây ra niềm hạnh phúc, cảm nhận thây bản thân đầy sức mạnh và sẽ tác động đến gien di truyền của chúng ta Trong trạng thái Thiền chúng ta được giáo dục bởi các nền Văn minh mạnh hơn Trái Đất 10,100, 1000 thậm trí hàng tỷ lần.
    Last edited by doxuantho; 17-07-2013 at 09:53 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. CHÂN CHÍNH CHỈ RA CON ĐƯỜNG TU ĐẠO (Toàn Tập)
    By huy_hitech85 in forum Đạo Học - Học Đạo
    Trả lời: 30
    Bài mới gởi: 22-06-2014, 02:43 PM
  2. Những qui luật của vũ trụ
    By tuyenhoa1985 in forum Tâm linh – Tín ngưỡng – Siêu hình học – Ngoại cảm
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 04-06-2013, 03:57 PM
  3. đạo đức kinh
    By phanquanbt in forum Đạo Học - Học Đạo
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 12-12-2012, 05:06 PM
  4. Trả lời: 10
    Bài mới gởi: 14-04-2012, 07:14 AM
  5. TÂM VŨ TRỤ
    By doxuantho in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 242
    Bài mới gởi: 26-03-2012, 02:27 PM

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •